Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:43:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phi công tiêm kích (phần II)  (Đọc 350343 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #460 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2013, 11:05:24 pm »

Chào các đồng đội, đặc biệt là chào huyphongssi vì lâu lắm mới thấy huyphongssi trở lại ! Xin được trả lời các câu hỏi của các đồng đội. Cám ơn huyphongssi đã trả lời giúp tôi về thời gian tiêu thụ ăc-quy trên máy bay. Khi máy bay MiG-21 bị tắt máy trên không thì máy bay rơi xuống với tốc độ thẳng đứng là 50 m/s. Cần phải giữ tốc độ lao xuống bằng 470 - 490 km/h. Trường hợp này nếu thu càng , cự li sẽ tăng gấp 6 - 6,5 lần độ cao, nếu càng thả thì 2,5 - 3 lần độ cao.
......
 Ac-quy máy bay MiG-21 thì tôi nghĩ không ai có thể có được để xài theo tư cách cá nhân vì nó thuộc loại bảo quản, bảo vệ nghiêm ngặt. Một thời rất dễ bị mất trộm bởi một bộ ăc-quy có đến 5 kg bạc ròng, rất có giá. Vì vậy, tôi hơi nghi ngờ bộ ăc-quy ở nhà China không phải là bộ của MiG-21. China thông cảm cho nhá !

Đơn vị em cuối năm phải viết báo cáo rất mệt và máy ở nhà lại bị nhiễm virus vào mạng rất phập phù nên không thường xuyên tham gia được với các anh em.

Về bộ ắc quy của MiG trước nay vẫn dùng loại bạc-kẽm 15STS45B vừa dùng để đề máy tại các sân dã chiến thiếu điện nguồn, đề lại máy trên không và dự phòng chạy thiết bị khi máy bay gặp sự cố trên không. Cực dương của ắc quy là các thanh ô xít kẽm, còn cực âm là các miếng bạc ròng. Loại ắc quy này ít độc hại nhưng thời gian sạc lâu. Ở các loại Su của ta lại dùng ắc quy kền-cađimi 20NKBN-25T-U3 tin cậy hơn nhưng cũng độc hại hơn. Với SuC/D, bộ ắc quy dự phòng chỉ duy trì được thiết bị trên máy bay trong vòng 10 phút +\- 3 kể từ lúc bị chết cả 2 máy.
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #461 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2013, 09:07:38 pm »

Không chiến trên bầu trời VN - nhìn từ hai phía - Kỳ 1:

KẾ HOẠCH X-1

TT - Trung đoàn không quân đầu tiên của VN chính là trung đoàn không quân tiêm kích 921, thường được gọi với cái tên trung đoàn Sao Đỏ.

Ảnh tư liệu


Đây là biên đội MiG-17 đã bắn rơi hai chiếc F-8 của Mỹ: Phạm Ngọc Lan, Phan Văn Túc, Hồ Văn Quỳ, Trần Minh Phương - Ảnh tư liệu

Về nước tham chiến

Đoàn Sao Đỏ thành lập ngày 30-5-1963 và chính thức được công bố quyết định ngày 3-2-1964 với 70 phi công được đào tạo và huấn luyện tại Trung Quốc, trong đó có 33 phi công có thể trực chiến được ngay. Về máy bay, theo Hiệp định ký giữa VN và Liên Xô năm 1963, Liên Xô đã bàn giao cho VN 36 chiếc MiG-17 (32 chiếc MiG-17A và 4 chiếc UMiG-15). Số máy bay này được biên chế hoàn toàn cho trung đoàn 921.

Sau sự kiện vịnh Bắc bộ ngày 5-8-1964, không quân và hải quân Mỹ ồ ạt tấn công đánh phá các mục tiêu ven biển từ Quảng Ninh vào đến vĩ tuyến 17. Bộ Quốc phòng quyết định mở mặt trận trên không, gấp rút đưa trung đoàn không quân 921 đang rèn luyện và “ém quân” tại Trung Quốc về nước tham gia chiến đấu. Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trực tiếp chỉ đạo Quân chủng Phòng không - không quân thực hiện kế hoạch này - kế hoạch mang mật danh X-1.

Sáng sớm 6-8-1964, từ sân bay Mông Tự (Trung Quốc), hơn 30 chiếc MiG-17 nổ máy và cất cánh theo từng biên đội bốn chiếc với đầy đủ cơ số đạn, sẵn sàng chiến đấu hướng về sân bay Nội Bài, Hà Nội. Biên đội đầu tiên do trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện bay số 1, bay số 2 là chủ nhiệm dẫn đường trung đoàn Phạm Ngọc Lan, bay số 3 là phi công Trung Quốc Tào Song Minh (trưởng đoàn chuyên gia Trung Quốc, sau này là thượng tướng - tư lệnh không quân Trung Quốc giai đoạn 1992-1994), bay số 4 là chủ nhiệm xạ kích của trung đoàn Lâm Văn Lích.

Về đến sân bay Nội Bài, số 1 Đào Đình Luyện bay thông thường một vòng, nghiêng cánh chào đất mẹ rồi biên đội giải tán và hạ cánh. Số 2 Phạm Ngọc Lan vinh dự là người đầu tiên ép độ nghiêng, thiết lập vòng kín để hạ cánh, sau đó lần lượt 30 máy bay của trung đoàn hạ cánh xuống Nội Bài an toàn. Trung tá Đào Đình Luyện, viên phi công cao lớn và hùng dũng trong bộ đồ bay, chạy lên đài chỉ huy báo cáo Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng: “Toàn bộ trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện và trở về, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu!”.

Đó là giây phút lịch sử khi Quân đội nhân dân VN chính thức có thêm một binh chủng mới và hiện đại: không quân.

Mở mặt trận trên không


Theo thông tin tình báo, ngày 3-4-1965, các biên đội cường kích của không quân Mỹ sẽ đánh phá cầu Hàm Rồng và các mục tiêu lân cận. Bộ Tư lệnh không quân VN đã giao nhiệm vụ chiến đấu theo phương án: dùng tốp hai chiếc MiG-17 làm nhiệm vụ nghi binh yểm hộ trên độ cao 6.000m, biên đội đánh chính gồm bốn chiếc MiG-17 sẽ đánh tốp cường kích bắn phá các khu vực cầu Hàm Rồng và Bỉm Sơn, Thanh Hóa. Đây là trận đấu mở mặt trận trên không nên từ chỉ huy đến người bay đều quyết tâm rất cao. Lệnh được phổ biến xuống các phi đội từ tối 2-4.

Lúc 5g30 sáng 3-4, các biên đội trực chiến đã sẵn sàng. Phương án chiến đấu là sử dụng sáu chiếc MiG17-A. Trong đó, biên đội tấn công có bốn máy bay MiG-17 A: Phạm Ngọc Lan số 1, Phan Văn Túc số 2, Hồ Văn Quỳ bay số 3, Trần Minh Phương số 4. Biên đội nghi binh, thu hút tiêm kích địch và sẵn sàng yểm trợ cho phi đội tấn công: Trần Hanh số 1 và Phạm Giấy số 2. Nhiệm vụ của các biên đội là không chiến bảo vệ cầu Hàm Rồng.

7g sáng, máy bay trinh sát của hải quân Mỹ xuất hiện, sau đó bầu trời yên tĩnh tuyệt đối. Cả sở chỉ huy căng thẳng vì không biết hướng đánh chính của cường kích Mỹ sẽ là khu vực nào.

9g40, các trạm quan sát báo phát hiện các máy bay Mỹ đang bay vào không kích các cây cầu trên quốc lộ số 1.

Ngay từ những phút đầu, pháo phòng không của trung đoàn 234 và phòng không địa phương đã bắn rơi một chiếc A-4C của hải quân Mỹ, bắt được thiếu tá phi công Raymond Arthur Vohden thuộc phi đoàn VA-216, tàu sân bay USS Hancock.

9g45, cả hai biên đội trực chiến được lệnh vào cấp 1 và mở máy ngay. Lúc 9g47, biên đội hai chiếc nghi binh cất cánh bay vào vùng trời Ninh Bình. Một phút sau, biên đội tấn công cất cánh. 10g09, số 4 Phương báo cáo phát hiện mục tiêu sáu chiếc F8 bên phải đang bay đối đầu, một số chiếc khác đang không kích các trận địa phòng không quanh cầu Hàm Rồng.

Trận đầu đánh thắng


Ngay lúc đó, số 1 Phạm Ngọc Lan lập tức ra lệnh: “Vứt thùng dầu phụ, tăng tốc tiếp cận đội hình F-8”! Biên đội tách thành hai tốp. Đúng lúc đó những chiếc F-8 cũng phát hiện có MiG, vòng gấp vào để không chiến. Lúc này chiếc F-8 của thiếu tá S.Thomas sau khi thoát ra khỏi không kích đang kéo vọt lên độ cao 10.000ft (3.300m) và tìm kiếm số 2 bị lẫn trong những đám mây, thì số 1 MiG-17 Phạm Ngọc Lan đã nhanh chóng bám theo phía sau. Số 1 Lan đưa được chiếc F-8 vào vòng ngắm, đến đúng cự ly anh bóp cò, máy bay F-8 trúng đạn bốc cháy, lao xuống đất. Đó là lúc 10g14 ngày 3-4-1965. Đây là giờ phút lịch sử khi MiG của không quân Việt Nam lần đầu tiên bắn rơi chiếc F-8 của Hải quân Mỹ trong cuộc không chiến trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

Thiếu tá Thomas thấy máy bay của mình bị trúng đạn, lúc đầu Thomas tưởng là đạn súng phòng không, nhưng ngay khi ngoái lại phía sau anh ta nhận ra có bốn chiếc MiG đang bám theo các máy bay Mỹ. Chiếc F-8 của thiếu tá Thomas bị trúng đạn pháo của MiG-17 do trung úy Phạm Ngọc Lan điều khiển, đạn pháo của MiG-17 bắn vỡ nắp buồng lái, cánh và đuôi đứng, hệ thống thủy lực bị hỏng khiến chiếc F-8 bị rơi. Cùng lúc đó, số 2 Túc đã phát hiện chiếc F-8 số 2, anh từ phía sau có độ cao cao hơn đã nhào xuống bắn một loạt đạn, chiếc F-8 trúng đạn bốc cháy lao xuống đất.

Lúc 10g15, số 3 và số 4 MiG-17 cũng phát hiện mục tiêu, báo cáo xin vào không kích. Cả hai chiếc MiG bám theo chiếc F-8 số 4, số 3 Hồ Văn Quỳ bám theo chiếc F-8 rất quyết liệt và bắn ra hai loạt đạn dài, nhưng do cự ly bắn còn xa nên đối phương chạy thoát ra phía biển, số 3 tiếp tục bám theo nhưng cự ly đã quá xa không không kích được.

Quá bất ngờ khi bị MiG tấn công, các máy bay F-8 tăng tốc lực bỏ chạy, bỏ mặc các máy bay cường kích A-4 không có lực lượng hộ tống. Số 1 Phạm Ngọc Lan, sau khi nổ súng bắn rơi chiếc F-8 đã lao qua đám mây mù, bám theo các máy bay cường kích A-4. Khi thoát ra khỏi lớp mây, anh đã nổ thêm một loạt đạn, ngay lúc đó anh thấy phía trước là biển, đã nhanh chóng đổi hướng bay quay về sân bay.

Như vậy, trong trận ngày 3-4-1965, biên đội MiG-17 Lan, Túc, Quỳ, Phương bắn rơi hai chiếc F-8 của hải quân Mỹ. Đây là trận đầu đánh thắng của không quân Việt Nam.

NGUYỄN SỸ HƯNG

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/586428/ke-hoach-x-1.html#ad-image-1
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #462 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2013, 08:25:05 am »

                  Chào bác chủ, chào các bác! Hôm nay đúng ngày kỷ niệm thành lập Quân Đội. Vào trang nhà Tranphu341 được đọc trận không chiến đầu tiên và thắng lợi của không quân Việt Nam. Chuyện kể thật hay. Thắng lợi thật to lớn và nhiều ý nghĩa. Chúc mừng bác chủ, chúc mừng không quân Việt Nam Anh Hùng.

                   Chúc bác chủ cùng gia đình có nhiều sức khỏe cùng nhiều niềm vui cuộc sống!
Logged
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #463 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2013, 09:37:02 am »

Không chiến trên bầu trời VN - nhìn từ hai phía - Kỳ 2:

MIG-21 VÀO TRẬN

TT - Sau khi MiG-21 được trang bị cho Trung đoàn 921, các phi công VN đã tích cực tập luyện để nắm vững kỹ thuật điều khiển và chiến đấu với máy bay mới. Để chuẩn bị tốt cho MiG-21 xung trận lần đầu, Bộ tư lệnh quân chủng đã quyết định tạo điều kiện để MiG-21 đánh thử vài trận nhằm rút kinh nghiệm không chiến.


Ảnh: Từ Phương Thảo

Đối tượng tác chiến cho những trận đầu này tốt nhất là máy bay cường kích hoặc máy bay trinh sát không người lái. Vinh dự trận đầu xuất kích trên MiG-21 đã được bộ tư lệnh trao cho phi công Nguyễn Hồng Nhị - đoàn trưởng đoàn học bay MiG-21 đầu tiên của Không quân VN. Phi công Nguyễn Đăng Kính trực dự bị.

Phát tên lửa đầu tiên

Tại sở chỉ huy Trung đoàn 921, trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện và phó trung đoàn trưởng Trần Mạnh chủ trì kíp trực.

Thời cơ cho MiG-21 xuất trận lần đầu đã đến. Từ ngày 3-3-1966, không quân Mỹ lợi dụng thời tiết tốt liên tục cho máy bay trinh sát không người lái tầng cao vào các khu vực ngoại vi Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương với thủ đoạn mới là dùng nhiều tốp hai chiếc vào từ nhiều hướng khác nhau. Lúc 13g53, ngày 4-3-1966, khi rađa phát hiện tốp máy bay trinh sát tầng cao bay vào khu vực Việt Trì, Thái Nguyên, đường số 1 và hướng ra phía đông bắc, bộ tư lệnh lệnh cho phi công Nguyễn Hồng Nhị cất cánh. Tuy nhiên, khó khăn cho phi công MiG-21 lần đầu xuất kích là máy bay không người lái bay ở độ cao trên 18.000m, tại độ cao đó tính năng điều khiển máy bay rất kém.

Chiếc MiG-21 đầu tiên về VN tháng 12-1965 và tham gia chiến trận đầu tiên ngày 4-3-1966. MiG-21 được sản xuất và đưa vào sử dụng ngày 14-2-1965. MiG-21 được coi là chiến đấu cơ thành công nhất trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Mặc dù trước đó, trong chiến tranh Trung Đông, các phi công Ai Cập và Syria đã không thành công với MiG-21, nhưng khi về VN MiG-21 đã nhanh chóng được các phi công VN làm chủ và đã chiến thắng trong rất nhiều cuộc không chiến. Trong cuốn Vietnam air war debrief, các chuyên gia quân sự Mỹ đã đánh giá rất cao Mig-21 dù có tầm bay không xa và rất khó khi học bay.

Trong chiến tranh VN, các phi công MiG đã bắn rơi 174 máy bay Mỹ các loại, trong đó có cả B-52, đã có 56 phi công MiG VN bắn rơi máy bay Mỹ, 18 người bắn rơi 4 chiếc trở lên, trong đó phi công Nguyễn Văn Cốc bắn rơi 9 chiếc.


Lúc 13g55, sở chỉ huy lệnh cho phi công Nhị vào cấp 1, đến 14g01 lệnh cất cánh ngay. Sau khi cất cánh, phi công Nhị bay hướng 270 độ, khi lên đến độ cao 6.000m, Nhị xin phép bỏ thùng dầu phụ. Sau khi qua mức 8.000m, sở chỉ huy lệnh mở tăng lực toàn phần lấy tốc độ M 1,8 và lên độ cao 18.000m. Do điều khiển máy bay trên độ cao 18.000m rất khó, phi công Nguyễn Hồng Nhị phải tính toán và điều khiển máy bay rất chính xác để đạt được độ cao và tốc độ cần thiết. Lúc này sở chỉ huy cho bay hướng 90 độ và thông báo mục tiêu cách 60km. Sau đó giây lát, phi công Nguyễn Hồng Nhị đã phát hiện bên trái 40km có vệt kéo khói, anh phán đoán đó là mục tiêu và quyết định bám theo. Khi đến gần, Nguyễn Hồng Nhị đã nhận ra đó là máy bay không người lái, cánh dài và vểnh lên.

Thời điểm lúc 14g21 ngày 4-3-1966 đã đi vào lịch sử của Không quân nhân dân VN khi phi công MiG-21 Nguyễn Hồng Nhị ấn nút phóng quả tên lửa thứ nhất tiêu diệt chiếc máy bay trinh sát không người lái, như phát tên lửa báo hiệu sự xuất hiện của một loại vũ khí mới, một thế hệ phi công mới, mở ra một trang sử mới của Không quân nhân dân VN.

Trích từ nhật ký chiến đấu của phi công Nguyễn Hồng Nhị


“Ngày 4-3-1966, buổi sáng trời nhiều mây, nhưng đến trưa trời quang mây, thuận lợi cho máy bay chụp ảnh tầng cao. Đồng chí trung đoàn trưởng điện thoại và thông báo có tin tình báo máy bay U-2 và không người lái sẽ trinh sát chụp ảnh các mục tiêu, yêu cầu tôi chuẩn bị tất cả các phương án đánh địch. Tôi mở bản đồ xem lại các phương án. Phương án đánh không người lái dễ thì ít mà khó thì nhiều... Sau bữa ăn trưa, tôi đứng trước hiên nhà trực chiến quan sát và dự báo đây là thời điểm chụp ảnh tốt nhất vì tấm ánh sáng đều, không bị bóng che.

Đúng lúc đó tôi nghe tiếng hô: “Một chiếc cao không cấp 1!”. Tôi nhanh chóng mặc quần áo cao không rồi chạy ra máy bay leo vào buồng lái, mở máy. Tôi cho máy bay lăn ra và cất cánh, bay hướng 270 độ, sau 5 phút sở chỉ huy cho bay hướng 210 độ và lên 8.000m, ngay sau đó sở chỉ huy lệnh tăng lực, lên độ cao 16.000m. Khi sở chỉ huy cho khẩu lệnh “Bình Minh”, đó là lệnh mở rađa để sục sạo, tìm kiếm mục tiêu. Tôi báo cáo đã phát hiện mục tiêu và xin phép không kích. Lúc này máu trong người như dồn hết về tim để cho tôi một sức mạnh kỳ diệu là bình tĩnh, chính xác đưa mục tiêu vào tâm vòng ngắm đồng thời ấn nút “bám sát mục tiêu” để xác định cự ly bắn, còn động tác cuối cùng là ấn nút phóng tên lửa!

Quả tên lửa hồng ngoại “K-13” vọt ra khỏi cánh máy bay và bay về phía mục tiêu. Tôi báo cáo về sở chỉ huy: “Đã uống bia xong!” (mật khẩu có nghĩa là đã phóng tên lửa). Sở chỉ huy thông báo trên màn hình mục tiêu đã biến mất, cho tôi quay về hạ cánh...

Tuy bắn rơi máy bay Mỹ nhưng các phi công MiG-21 hiểu rằng đây chỉ là lần tập dượt ban đầu, vì mục tiêu mới chỉ là máy bay trinh sát không người lái. Ngoài yếu tố phức tạp do điều khiển máy bay trên tầng cao không thì đây cũng mới chỉ như một trận tập dượt. Tuy nhiên, chiến thắng trận đầu có tác dụng rất tốt về tâm lý, điều quan trọng hơn là yếu tố tự tin vào khả năng làm chủ kỹ thuật của mình. Đó là các yếu tố tinh thần giúp phi công VN vững vàng khi bước vào trận không chiến với các loại máy bay cường kích và tiêm kích của Mỹ trong suốt những năm tháng tiếp theo.

Ông Nguyễn Văn Bảy “A” (phải), anh hùng số 1 của không quân VN, bắn rơi nhiều máy bay có người lái tối tân nhất của không lực Hoa Kỳ và không lực của hải quân Hoa Kỳ. Ông chỉ sử dụng súng đại bác 37mm trên máy bay chiến đấu phản lực nhỏ bé “lạc hậu“ MiG-17 của Liên Xô, bắn bằng mắt. Các phi công Mỹ sử dụng các tên lửa hồng ngoại tự điều khiển tối tân, có rađa hiện đại, máy bay hiện đại nhất thế giới bấy giờ là F-4, F-105, giờ bay của họ có hàng vài ngàn giờ mà không thể bắn rơi ông Bảy lần nào.

Ông là biểu tượng xây dựng nên tượng đài “Đại tá Tomb” mà các phi công Mỹ truyền miệng nhau về một phi công huyền thoại của VN bắn rơi 13 máy bay Mỹ. Nghe thấy giọng nói của ông trên vô tuyến điện thì lập tức sĩ quan nghe trộm trên máy bay trinh sát điện tử EC 121 lập tức cảnh báo cho các phi công Mỹ trên trời về sự xuất hiện của ông!

Ảnh Trên là lúc ông Bảy trao tặng ông P. Peterson (nguyên phi công lái F-4 bị bắt làm tù binh năm 1966 và thả năm 1973, đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại VN) quyển sách Các trận không chiến trên bầu trời VN 1965-1975 - Nhìn từ hai phía tại TP.HCM tháng 11-2013.

TS NGUYỄN SỸ HƯNG và nhóm tác giả
 
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/586560/ky-2-mig-21-vao-tran.html
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Hai, 2013, 01:42:48 pm gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #464 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2013, 01:46:53 pm »

Không chiến trên bầu trời VN - nhìn từ hai phía - Kỳ 3:

TRẬN CHIẾN CỦA CÁC "ÁCH"

TT - Chiều 26-4-1966, không quân Mỹ tổ chức cho các biên đội bay vào không phận miền Bắc Việt Nam, với ý đồ đánh đường 1B đoạn Bình Gia - Bắc Sơn và đường sắt Lạng Sơn -  Hà Nội. Sau khi đánh giá tình hình, Sở chỉ huy Quân chủng cho sử dụng phương án tác chiến hợp đồng giữa MiG-17 và MiG-21. Biên đội bốn chiếc MiG-17 gồm Hồ Văn Quỳ, Lưu Huy Chao, Nguyễn Văn Bảy A và Trần Triêm của trung đoàn 923 cất cánh từ sân bay Kép lúc 14g31.


Anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc (Ảnh tư liệu, trái) và Đại tá Robin Olds - Ảnh: nationalmuseum.af.mil

Huyền thoại Nguyễn Văn Bảy A


Sau khi cất cánh, biên đội MiG-17 được dẫn bay hướng 360 độ, lên độ cao 3.500m, bay vào khu vực Nam Bình Gia - Bắc Sơn 15km rồi hướng về phía Bắc Kạn. Khi biên đội MiG-17 đang vòng về hướng 360 độ thì phát hiện mục tiêu phía trái, cự ly 5.000m.

Trận không chiến giữa MiG-17 và F-4C của không quân Mỹ diễn ra trong vòng 5 phút, các phi công Lưu Huy Chao và Nguyễn Văn Bảy A mỗi người bắn rơi một chiếc. Phi công Nguyễn Văn Bảy A bắn rơi chiếc F-4C do thiếu tá John Roberton điều khiển. Đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị phi công huyền thoại Nguyễn Văn Bảy A bắn rơi.

Đại tá, phi công Nguyễn Văn Bảy A sinh năm 1936 tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ông gia nhập quân đội năm 1954 khi mới 18 tuổi, tập kết ra Bắc theo Hiệp định Geneve năm 1954. Được chọn đi học lái máy bay MiG-17 tại Trường Không quân Trung Quốc, Nguyễn Văn Bảy A tốt nghiệp về nước năm 1964 và bắt đầu tham gia trực chiến từ ngày 14-5-1965. Trận xuất kích chiến đấu đầu tiên của Nguyễn Văn Bảy A là ngày 7-10-1965. Trong cuộc chiến với không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy A đã xuất kích 94 lần, 13 lần nổ súng và bắn rơi bảy máy bay Mỹ mà không bị bắn rơi một lần nào (tỉ số 7-0). Trong trận không chiến ngày 26-4-1966, Nguyễn Văn Bảy A đã bắn rơi chiếc F-4C của thiếu tá John Roberton, chỉ đúng một tuần sau khi trung úy Bảy A trẻ tuổi cưới vợ.

Nguyễn Văn Bảy A được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967. Sau chiến tranh, đại tá, phi công Nguyễn Văn Bảy A đã nghỉ hưu và sống tại huyện Lai Vung, Đồng Tháp. Với chòm râu bạc như một nông dân Nam bộ, hằng ngày chăm sóc ruộng vườn, không ai nghĩ rằng lão nông rất khiêm nhường này từng là phi công huyền thoại, một “ách” (ace - thuật ngữ chỉ những phi công ưu tú, bắn rơi nhiều máy bay đối phương) của không quân Việt Nam.

Trận đấu của ba “ách”: Ngân, Cốc và Robin Olds


Ngày 4-5-1967, Bộ Tư lệnh không quân nhận định nhiều khả năng không quân Mỹ sẽ đánh các mục tiêu quanh Hà Nội và các sân bay nên đã giao nhiệm vụ chiến đấu cho hai trung đoàn 921 và 923. Biên đội Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Cốc cất cánh từ sân bay Nội Bài chặn đánh tốp F-105 và F-4 từ xa, ngoài vòng hỏa lực pháo và tên lửa trên bầu trời Nghĩa Lộ - Tam Đảo

Sau khi cất cánh, biên đội vòng trái đi hướng 350 độ. Khi biên đội đang bay trên độ cao 2.000m, ngang Tam Đảo, số 1 phát hiện tốp máy bay Mỹ bay vào bao gồm 12 chiếc F-105 và tám chiếc F-4 vừa bay hộ tống vừa làm nhiệm vụ tấn công. Chỉ huy là đại tá Robin Olds - một “ách” nổi tiếng của không quân Mỹ

Ba biên đội bốn chiếc F-105 bay theo đội hình bàn tay xòe ở cự ly 7km. Số 1 Phạm Thanh Ngân lệnh cho số 2 Nguyễn Văn Cốc tăng lực, lao vào công kích, riêng Ngân bám theo chiếc F-105 bay bên trái. Đến cự ly thích hợp, âm lượng đầu tên lửa nghe kêu tốt, Ngân ấn nút phóng một quả R-3S. Ngay khi đang thoát ly, Ngân nghe thấy số 2 Cốc hô: “Cơ động trái gấp”, Ngân lập tức cơ động vòng trái. Sau đó khi quay lại, Ngân phát hiện thêm ba chiếc máy bay đối phương, anh quyết định cắt bám theo ba chiếc này, đến cự ly 1.200-1.500m, Ngân đã phóng quả tên lửa thứ hai hạ một chiếc F-105.

Riêng phi công Nguyễn Văn Cốc, khi đang vòng trái bám theo yểm hộ số 1, phát hiện phía sau có bốn chiếc F-4 đang bám theo, anh nhắc số 1 cơ động trái gấp, đồng thời Cốc cũng ép cần lái vòng trái gấp để bám theo. Nhưng ngay lúc đó, Cốc nghe tiếng nổ lớn phía sau, đoán bị trúng tên lửa không đối không của F-4 phóng ra, anh quyết định về hạ cánh trực tiếp tại sân bay Nội Bài. Nhưng biết không thể hạ cánh trên đường cất cánh được, anh quyết định kéo máy bay lên trên 100m rồi nhảy dù an toàn xuống gần đài xa sân bay, máy bay rơi xuống cách đó 500m.

Các tình tiết của trận không chiến (thời gian, địa điểm góc tiếp cận...) cho thấy chiếc F-4C đã phóng tên lửa về phía chiếc MiG của Nguyễn Văn Cốc là do đại tá Robin Olds điều khiển. Robin Olds phóng hai quả tên lửa AIM-7 và hai quả AIM-9 về phía chiếc MiG của Cốc nhưng đều không trúng, đến quả AIM-9 tiếp theo thì nổ phía dưới đuôi đứng chiếc MiG chỉ khoảng vài mét.

Nhớ lại trận này, phi công Nguyễn Văn Cốc kể:

“Trận ngày 4-5-1967 tôi và anh Ngân cất cánh, vừa ra khỏi mây thì phát hiện tốp F-4, anh Ngân số 1 hô vứt thùng dầu phụ, vào công kích. Hôm đó trời nhiều mây, tôi giữ đội hình hơi xa, khi vừa ra khỏi mây, nghe tiếng nổ lớn phía sau tôi biết tên lửa của F-4 nổ rất gần. Tôi quyết định quay về sân bay hạ cánh, đến đài xa tốc độ chỉ còn 360km/giờ, độ cao giảm nhanh. Đến trước đài gần tôi quyết định kéo lên trên 100m để nhảy dù. Lúc đó, dù chỉ mở ra lắc qua lắc lại hai cái thì đã thấy ngồi xuống ruộng đỗ, máy bay rơi cạnh đài xa... Sau này tôi được biết là mình đã đụng độ với chính viên đại tá, phi công ba lần ace của không quân Mỹ, và chắc ông ta sẽ rất bất ngờ nếu biết rằng đó là trận đụng độ giữa ba phi công ace của Việt Nam và Hoa Kỳ!”.

Trận ngày 4-5-1967 chính là trận không chiến giữa các phi công ace của không quân Hoa Kỳ và không quân nhân dân Việt Nam (Nguyễn Văn Cốc và Phạm Thanh Ngân). Vào thời điểm đó, đại tá Robin Olds, người đã bắn rơi 12 máy bay Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai với hàng ngàn giờ bay, đã công bố bắn rơi ba chiếc MiG trong chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam. Còn thiếu úy, phi công Nguyễn Văn Cốc chưa đầy 25 tuổi, mới bay được trên 300 giờ và mới lập được một chiến công trong trận ngày 30-4-1967.

Trận này, Robin Olds bắn bị thương chiếc MiG của Nguyễn Văn Cốc. Nhưng viên đại tá Mỹ này không ngờ là người phi công VN trẻ tuổi ấy sau này đã trở thành người duy nhất trong lịch sử không chiến hiện đại dùng MiG-21 bắn rơi chín chiếc máy bay Mỹ, trở thành một trong những huyền thoại của không quân Việt Nam.

TS NGUYỄN SỸ HƯNG và nhóm tác giả

Các quốc gia khác nhau có nhiều chuẩn khác nhau để ghi nhận chiến công cho phi công ace, nhưng đa số cho rằng ít nhất phải bắn hạ năm máy bay đối phương thì người phi công mới được ghi nhận là ace. Phi công đầu tiên tham gia không chiến và sử dụng vũ khí lắp trên máy bay để bắn rơi đối phương là phi công người Pháp - Roland Garros (hiện nay được đặt tên cho giải tennis ở Pháp)

Không quân Mỹ cơ bản chấp nhận cách tính của không quân Pháp. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, không quân Mỹ ghi nhận có hơn 700 phi công ace. Phi công ace duy nhất của không quân Mỹ tham chiến cả hai cuộc chiến tranh (Chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Việt Nam) là đại tá Robin Olds.

Theo các tài liệu thống kê của hai phía, trong chiến tranh trên không ở Việt Nam, không quân Việt Nam có 16 phi công ưu tú (bắn rơi năm chiếc trở lên).

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/586657/tran-chien-cua-cac-ach.html
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #465 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2013, 08:29:48 pm »

Không chiến trên bầu trời VN - nhìn từ hai phía - Kỳ 4:

CHIẾN DỊCH BOLO - CUỘC KHÔNG CHIẾN ÁC LIỆT

TT - Trưa 2-1-1967, đội hình của chiến dịch Bolo do đại tá Robin Olds dẫn đầu bay vào miền Bắc VN với mật danh liên lạc “Olds”. Trong đội hình 90 máy bay của đại tá Olds có 56 chiếc F-4C, 28 máy bay F-105 làm nhiệm vụ chế áp tên lửa SAM và 8 máy bay F-104 Starfighters, tổng số gần 100 chiếc. Ngoài ra, ít nhất cũng có số lượng gần 100 chiếc máy bay làm nhiệm vụ hỗ trợ (như các máy bay EB-66, EC-121, A-1 Skyraider, các máy bay trực thăng).


Phi công anh hùng Trần Hanh, trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 921, tại sở chỉ huy - Ảnh tư liệu


Những phi công trẻ của không quân VN những năm 1960 - Ảnh tư liệu
 
MiG-21 liên tiếp rơi

Ngày 2-1-1967, chủ trì kíp trực tại Trung đoàn 921 là trung đoàn trưởng Trần Mạnh, phó trung đoàn trưởng Đỗ Hữu Nghĩa, trực ban dẫn đường Lê Thành Chơn, Lê Thiết Hùng. Vào buổi trưa, khi phát hiện nhiều tốp mục tiêu bay vào hướng Phú Thọ, có thể sẽ đánh Hà Nội, Trung đoàn 921 xin xuất kích.

Lúc 13g46, biên đội MiG-21 thứ nhất, gồm Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Đăng Kính, Bùi Đức Nhu. Tất cả bốn chiếc MiG đều đeo tên lửa R-3S cất cánh, xuyên mây lên Phù Ninh thì gặp tốp bốn chiếc F-4 từ Phú Thọ vào, biên đội bám theo đến phía tây sân bay lại gặp bốn chiếc F-4 khác. Số 1 Vũ Ngọc Đỉnh tăng lực đuổi theo, tốp F-4 lập tức cơ động đan chéo rất quyết liệt khiến Đỉnh không có điều kiện phóng được tên lửa. Khi Đỉnh quyết định vòng trái quay về, thấy hai chiếc F-4 phía sau đã phóng tên lửa, Đỉnh không kịp cơ động tránh, máy bay bị trúng tên lửa chấn động mạnh không điều khiển được, Đỉnh quyết định nhảy dù.

Số 3 Kính sau khi phát hiện tốp bốn chiếc F-4 khác đã quyết định bám theo, bốn chiếc F-4 tăng tốc kéo cao. Một phi công trong đội hình Ford đã thông báo cho số 1/Olds biết có MiG xuất hiện. Đại tá Olds bám theo, phóng ra hai quả tên lửa Sparrow và một quả Sidewinder về phía chiếc MiG-21. Chỉ trong tích tắc, chiếc MiG của Kính bị chấn động mạnh, anh biết máy bay đã bị trúng tên lửa nên quyết định nhảy dù. Theo mô tả các tình tiết của trận đánh, nhiều khả năng chiếc F-4C do đại tá Robin Olds điều khiển đã phóng ra hai quả AIM-7 nhưng không trúng mục tiêu, sau đó R.Olds đã chuyển công tắc sang tên lửa nhiệt (heat) và phóng ra quả AIM-9B, quả tên lửa này đã nổ bên cạnh máy bay của Kính.

Hai chiếc MiG-21 số 2 và số 4 sau khi bị mất đội với số 1 và số 3 đã đuổi theo và quần nhau với các máy bay F-4, nhưng do phía F-4 số lượng đông, liên tục phóng tên lửa nên cả hai phi công cũng đã bị trúng tên lửa. Như vậy, đội hình MiG-21 sau khi lên khỏi mây đã bị kẹp vào giữa, cả bốn chiếc đều trúng tên lửa của đối phương.

Lúc 13g55, sở chỉ huy lệnh cho biên đội thứ hai gồm Nguyễn Ngọc Độ, Đặng Ngọc Ngự, Đồng Văn Đe và Nguyễn Văn Cốc cất cánh (hai chiếc MiG-21 của Ngự và Cốc đeo rocket). Sau khi lên khỏi mây, biên đội đang bay độ cao 3.000m, Đe hô phát hiện mục tiêu, vòng trái gấp. Lúc này số 1 Độ cũng phát hiện mục tiêu, vứt thùng dầu phụ, vòng trái. Sau khi vòng một vòng, Độ thấy F-4 bắn hai phát tên lửa về phía đội hình MiG, Độ quyết định bám theo hai chiếc phía trước, đến cự ly 2.000m điểm ngắm ổn định, Độ ấn nút phóng một quả tên lửa, nhưng sau khi phóng thấy máy bay xoay nghiêng và mất độ cao, Độ quyết định nhảy dù và tiếp đất ở thôn Nam Liên, Sơn Dương, Tuyên Quang. Trong khi đó các số 2,3,4 của biên đội MiG thứ hai đã quần nhau với F-4 rất quyết liệt, nhưng cả hai phía đều không chiếm được vị trí để không kích, cả ba chiếc MiG-21 đành quay về sân bay.

Bài học sau chiến dịch Bolo

5 chiếc MIG-21 bị bắn rơi. Một tổn thất lớn.

Trận này phía không quân Mỹ đã thực hiện có thể nói là thành công chiến dịch Bolo. Tuy nhiên, không quân VN không giấu giếm thất bại mà qua trận này (và trận sau đó ngày 6-1) đã quyết định dừng bay MiG-21 đến ngày 23-4-1967, rút kinh nghiệm rất nghiêm túc, chỉ ra nguyên nhân, bài học và tìm ra phương án đối phó với các thủ đoạn chiến thuật mới của không quân Mỹ, sẵn sàng cho các trận đánh tiếp theo.

Bài học là gì?

Trận ngày 2-1-1967, không quân Mỹ triển khai chiến dịch Bolo rất bài bản, giữ bí mật ý đồ tác chiến nên đã gây bất ngờ cho không quân VN. Các phi công Mỹ tham gia trận không chiến được tập trung nghiên cứu kỹ mọi chi tiết của chiến dịch, cách sử dụng các thiết bị tác chiến điện tử, cách nghi binh, sử dụng vũ khí. Để nghi binh đánh lạc hướng hệ thống rađa của miền Bắc VN, không quân Mỹ sử dụng kết hợp bố trí đội hình (đội hình bay, thời gian cất cánh, tốc độ, độ cao) và các thiết bị tác chiến điện tử, gây nhiễu (máy bay F-4 đeo khối ECM Pod với thiết bị gây nhiễu QRC-160 Jamming Pod, giống các máy bay F-105). Khi chiến dịch bắt đầu, các máy bay tiêm kích Mỹ bay trực chiến trên mây ngay trên vùng trời sân bay, sẵn sàng tấn công khi các máy bay MiG-21 mới xuyên mây lên chưa tập hợp xong đội hình.

Phía không quân VN, sau những trận thắng lợi cuối tháng 12-1966 của MiG-21, đã không nắm được ý đồ của địch, lại có tư tưởng nóng vội muốn phát huy tiếp các chiến thắng của tháng 12-1966 bằng cách đánh chặn các tốp cường kích. Nhưng các tốp F-4 của đại tá R.Olds đã bay vào ở độ cao thấp khiến rađa của Bắc VN không phát hiện được, khi qua dãy Tam Đảo đã triển khai bay phục kích MiG-21 ở ngay hai đầu sân bay trước khi các tốp F-4 với cấu hình giống F-105 bay vào. Khi MiG-21 cất cánh để đi đánh chặn đã bị phục kích bất ngờ, chịu tổn thất ngay khi mới cất cánh lên.

Đây cũng là bài học về công tác tình báo và hoạt động cảnh báo của hệ thống rađa, cũng như đánh giá đúng những thay đổi trong ý đồ chiến thuật của không quân Mỹ. Theo nhận xét của một số tài liệu của không quân VN thì nguyên nhân là do “không nắm được ý đồ của địch, cho cất cánh chậm, lại có tư tưởng nóng vội nên chỉ trong hai ngày 2-1 và 6-1, Trung đoàn 921 xuất kích ba biên đội, không bắn rơi địch, ta tổn thất bảy máy bay và một phi công hi sinh...”. Một tài liệu khác thì đánh giá nguyên nhân: “... Chúng ta không phát hiện ra chúng đã chiếm độ cao ưu thế. Đây là bài học lớn cho công tác nắm địch, không những cho cán bộ chỉ huy các cấp mà cho cả đội ngũ phi công, dẫn đường, sĩ quan tham mưu của ta, khi máy bay ta mới cất cánh xuyên mây lên, chưa kịp tập hợp đội hình, tốc độ còn chậm, khó cơ động, lại bị bất ngờ không tránh được tên lửa địch, vì vậy tổn thất khó tránh...”.

“... Không hiểu sao thời tiết ngày 2-1 lại có vẻ bất lợi cho ta khi mây dày, đáy 200 và trần mây là 600, dễ cho không quân Mỹ thực hiện ý đồ che giấu lực lượng để đón lõng MiG trên mây. Do ta không nắm được ý đồ của địch nên sau khi cất cánh lên xuyên mây, cả 4 chiếc đều bị bắn rơi, bốn phi công nhảy dù an toàn. Chắc do phía Mỹ giữ bí mật tuyệt đối ý đồ đánh trận này nên các thông tin tình báo về thủ đoạn chiến thuật của Mỹ ta không nắm được nhiều. Dù sao qua trận này cũng rút được kinh nghiệm, có điều cả bốn anh em đều khỏe, vài hôm sau lại tham chiến được”.


(ghi theo lời kể của phi công VŨ NGỌC ĐỈNH)

TS NGUYỄN SỸ HƯNG và nhóm tác giả

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/586802/chien-dich-bolo-cuoc-khong-chien-ac-liet.html#ad-image-1
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười Hai, 2013, 08:38:00 pm gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #466 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2013, 12:58:49 pm »

Không chiến trên bầu trời VN - nhìn từ hai phía - Kỳ 5:

NGÀY DÀI NHẤT

TT - Ngày 10-5-1972 là một trong những ngày không chiến dài nhất ở Việt Nam. Có đến bốn mặt trận và chín cuộc không chiến trong một ngày. Máy bay MiG của không quân VN bị bắn rơi và phi công hi sinh chưa khi nào nhiều như vậy.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại sở chỉ huy không quân tháng 12-1972 - Ảnh tư liệu

Dàn trận

Ngày 10-5-1972 phía Mỹ tiến hành đồng thời hai chiến dịch Linebacker I và Operation Custom Tailor trên quy mô lớn, với 414 lần/chuyến cất cánh của lực lượng máy bay chiến đấu thuộc Bộ tư lệnh không quân số 7 và Bộ tư lệnh đặc nhiệm 77 của hải quân Mỹ.

Phía Mỹ huy động lực lượng lớn các máy bay A-6 (Intruder), A-7 (Corsair) và F-4 (Phantom) từ các tàu sân bay trên biển Đông cất cánh bay vào đánh phá các mục tiêu quanh khu vực Hải Phòng và các mục tiêu phía đông nam Hà Nội.

Lúc 8g sáng, các phi đội tấn công đầu tiên cất cánh từ tàu USS Constellation và USS Kitty Hawk hướng về Hải Phòng, sau đó 20 phút là các biên đội từ hai tàu USS Coral Sea và USS Okinawa cất cánh để tiến hành chiến dịch tấn công mang mật danh Alpha Strike.

Trong trận này các máy bay Mỹ đeo bom hạng nặng để ném bom sân bay Kiến An và các trận địa tên lửa phòng không.

Trong khi đó tại các căn cứ không quân ở Thái Lan, các phi đoàn không quân chiến thuật Mỹ đã chuẩn bị cất cánh từ sáng sớm để tấn công các mục tiêu sâu trong lãnh thổ miền Bắc Việt Nam.

Trong ngày 10-5-1972, không quân Mỹ huy động 120 máy bay tham gia tấn công, trong đó 16 máy bay F-4 và năm chiếc F-105 bay vào trước để chế áp lực lượng phòng không và máy bay MiG, 20 chiếc F-4 và năm chiếc F-105 khác làm nhiệm vụ đánh cầu Long Biên, 24 chiếc F-4 và năm chiếc F-105 tham gia đánh nhà ga Yên Viên, ngoài ra còn có 88 chiếc máy bay các loại làm nhiệm vụ hỗ trợ.

Một trong những nhiệm vụ của không quân và hải quân Mỹ trong ngày 10-5-1972 là phải đánh sập cầu Long Biên bắc qua sông Hồng mà trước đó, trong suốt bảy năm trời không quân Mỹ chưa đánh sập được.

Lúc 4g sáng tại khách sạn Metropol, một nhóm các nhà báo quốc tế được đánh thức dậy để di chuyển xuống Hải Phòng, nơi dự kiến có thể ghi nhận các hình ảnh về các trận đánh phá của hải quân Mỹ xuống Hải Phòng và tham dự buổi họp báo về việc tố cáo Mỹ thả mìn phong tỏa cảng Hải Phòng.

Trong số các nhà báo quốc tế có hai nhà báo Pháp Theodore Ronco và Claude Julien của tờ L’Humanité và tờ Le Monde. Đây sẽ là các nhân chứng sống chứng kiến các máy bay Mỹ đánh phá các mục tiêu.

Bầu trời khốc liệt

Tại Trung đoàn không quân 921, lúc 8g52 sở chỉ huy lệnh biên đội MiG-21 của Đặng Ngọc Ngự và Nguyễn Văn Ngãi cất cánh từ sân bay Kép.

Khi biên đội mới rời đất và thu càng thì hai chiếc F-4J của Mỹ phát hiện, xông vào công kích. Đây là hai chiếc F-4J do đại úy Austin Hawkins thuộc phi đoàn VF-92, tàu sân bay USS Constellation dẫn đầu đang bay tuần tiễu trên độ cao 5.000m.

Khi bay ngang qua sân bay Kép, hai chiếc F-4 này đã phát hiện MiG của Ngự và Ngãi cất cánh. Chiếc F-4 số 2 do đại úy Curt Dose và thiếu tá James McDevitt điều khiển bám theo, phóng hai quả tên lửa AIM-9G, quả thứ hai đã trúng chiếc MiG số hai của Ngãi. Lúc đó anh mới lên độ cao 150-200m, Ngãi không kịp nhảy dù nên đã hi sinh.

Sau đó chưa đầy một tiếng, ở hướng tây bắc, 84 chiếc F-4 và năm chiếc F-105 với đội hình có cả máy bay ném bom, qua phía Bắc Lào và Thái Lan bay vào miền Bắc Việt Nam.

Do nắm trước được ý đồ không quân Mỹ sẽ đánh đập Bái Thượng và sân bay Yên Bái, sở chỉ huy không quân đã chuẩn bị phương án và quyết định sử dụng biên đội MiG-21 (Nguyễn Công Huy số 1 và Cao Sơn Khảo số 2) làm nhiệm vụ nghi binh và yểm trợ cho MiG-19 đánh bảo vệ các mục tiêu ở khu chiến Yên Bái - Tuyên Quang.

Lúc 9g39 chiến dịch bắt đầu, biên đội MiG-21 của Huy và Khảo cất cánh. Huy số 1 - Khảo số 2, sau khi cất cánh bay hướng 320 độ, giữ độ cao 2.000m.

Đến 9g53, sở chỉ huy cho lên 6.000m. Do bị nhiễu nặng không liên lạc đối không được, sở chỉ huy cho chuyển sang rãnh liên lạc số 5.

Lúc này biên đội bốn chiếc F-4D (mật danh Oyster) của Mỹ do thiếu tá Robert A. Lodge và đại úy Roger C. Locher dẫn đầu, làm nhiệm vụ chế áp MiG trên vùng trời Tuyên Quang.

Các máy bay F-4D này là thế hệ F-4 cải tiến, được lắp thêm cánh tà trước, và là những chiếc F-4D đầu tiên được trang bị hệ thống tác chiến điện tử - chỉ dẫn tập trung APX-80 Combat Tree IFF Interrrogator. Vì vậy mà biên đội F-4 tiếp cận các máy bay MiG-21 trong khi các phi công VN không hề hay biết.

Một chiếc F-4 đã tiếp cận và phóng hai quả tên lửa về phía chiếc MiG-21 của Khảo. Anh không còn liên lạc gì từ lúc 9g57. Anh đã kịp bắn rơi một chiếc F-4 trước khi bị trúng tên lửa địch và rơi ở Trấn Yên, Yên Bái. Cao Sơn Khảo nhảy dù nhưng không thành công. Anh hi sinh sau khi tiếp đất.

8 MiG-19 đấu với 32 chiếc F-4 trên bầu trời Yên Bái

Gần như cùng lúc với biên đội MiG-21 bay nhiệm vụ nghi binh cất cánh, sở chỉ huy Trung đoàn 925 đã quyết định cho biên đội trực ban cất cánh.

Lúc 9g44, bốn chiếc MiG-19 ở đầu nam sân bay Yên Bái gồm các phi công Tâm, Sơn, Phúc và Oánh cất cánh, bay chờ trên đỉnh sân bay. 20 phút sau, bốn chiếc MiG-19 ở đầu bắc sân bay Yên Bái gồm các phi công Bổng, Hà Cương và Tưởng cất cánh, cũng bay chờ trên đỉnh sân bay Yên Bái chuẩn bị đánh tốp cường kích của không quân Mỹ.

Khi phát hiện đội hình máy bay Mỹ gồm 32 chiếc F-4, biên đội MiG-19 lao về phía mục tiêu. Lúc này hai chiếc F-4 đang mải bám theo chiếc MiG-21 số 1 bay nhiệm vụ nghi binh trên độ cao 6.000m, nên không phát hiện hai chiếc MiG-19 (số 3 và số 4) đang lao đến với tốc độ rất lớn, thậm chí xông lên ngang với chiếc F-4.

MiG-19 số 3 Nguyễn Văn Phúc bám sát được và nổ hai loạt đạn pháo vào chiếc F-4D. Phi công trên chiếc F-4D bị bắn rơi này gồm thiếu tá Robert A.Lodge, chủ nhiệm về vũ khí chiến thuật (chủ nhiệm xạ kích) của không đoàn 432 TFW, và phi công ngồi buồng sau là đại úy Roger C.Locher.

Thiếu tá Lodge được coi là chết trận, riêng đại úy C.Locher nhảy dù và lang thang trong rừng 23 ngày trước khi được cứu thoát. Locher trở thành phi công Mỹ có thời gian sau khi bị bắn rơi đến khi được giải cứu dài nhất, với một chiến dịch giải cứu cũng dài nhất.

Riêng số 4 Oánh trong khi yểm hộ cho số 3 đã phát hiện một tốp F-4 phía sau. Anh quyết định quay lại phản kích, bắn gần hết cơ số đạn nhưng không trúng mục tiêu. Một chiếc F-4 đã phóng tên lửa trúng máy bay của anh. Oánh nhảy dù nhưng bị tuột mất dù, rơi tự do và hi sinh ở chân núi Là, Tuyên Quang

Trận đánh kéo dài 20 phút, các máy bay MiG-19 đã gần cạn dầu nhưng máy bay Mỹ tiếp tục vào. Lúc này sở chỉ huy lệnh cho biên đội số 2 từ đầu bắc sân bay cất cánh yểm trợ cho biên đội số 1 về hạ cánh.

Biên đội thứ hai cất cánh từ đầu bắc lúc 10g02, gồm các phi công Hoàng Cao Bổng số 1, Phạm Cao Hà số 2, Nguyễn Văn Cương số 3, Lê Văn Tưởng số 4 cũng đã gặp tốp máy bay F-4 của không quân Mỹ.

Đó là biên đội F-4E làm nhiệm vụ yểm hộ tốp cường kích ném bom laser (mật danh là Cleveland). Bốn chiếc MiG-19 tiếp cận đối phương với góc gần như 90 độ. Cả biên đội vòng gắt để cắt vào sau đội hình F-4.

Riêng số 4 Lê Văn Tưởng, do bay phía sau có cự ly đủ xa hơn, đã vòng cắt một cách đáng kinh ngạc và bám được phía sau chiếc F-4E. Anh nhanh chóng đặt điểm ngắm và bắn ra hai loạt đạn. Chiếc F-4E rơi xuống phía tây nam sân bay. Khi gần hết dầu anh quay về hạ cánh từ trên độ cao 1.400m, động cơ chết máy, anh lao xuống hạ cánh nhưng khi tiếp đất cao phi công Lê Văn Tưởng đã hi sinh.

Mất sáu máy bay và năm phi công chỉ trong buổi sáng ở mặt trận hướng tây và đông bắc, ngày 10-5 quá khốc liệt và nhiều đau thương đối với các phi công VN.

TS NGUYỄN SỸ HƯNG và nhóm tác giả

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/586951/ngay-dai-nhat.html
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #467 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2013, 06:42:42 pm »

Không chiến trên bầu trời VN - nhìn từ hai phía - Kỳ cuối:

HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI HI SINH CUỐI CÙNG

TT - Ngày 28-12-1972 cũng là một ngày mà những phi công chiến đấu VN không thể quên được. Trong cùng một ngày họ đã mất hai phi công ưu tú.


Phi công Vũ Xuân Thiều và Phi công Hoàng Tam Hùng - Ảnh tư liệu

Nhưng họ cũng đã có niềm vinh quang không gì sánh được: đồng đội của họ đã thật sự hạ gục B-52 bằng một cách quả cảm nhất của những phi công huyền thoại.

Buổi trưa ngày 28-12, phi công trẻ tuổi Hoàng Tam Hùng đã hi sinh anh dũng sau khi bắn rơi hai chiếc máy bay Mỹ ngay trong trận đầu xuất kích trên MiG-21, trở thành một trong những phi công Việt Nam bắn rơi hai chiếc trong một trận không chiến. Chiếc RA-5C bị Tam Hùng bắn rơi là chiếc máy bay loại này đầu tiên của hải quân Mỹ bị không quân Việt Nam bắn rơi, bổ sung một loại máy bay trong danh mục các loại máy bay Mỹ bị không quân Việt Nam hạ gục. Trung úy Hoàng Tam Hùng hi sinh khi chưa tròn 24 tuổi

Đêm hôm ấy, Vũ Xuân Thiều vào trận.

Trận đánh của phi công Vũ Xuân Thiều đêm 28-12

Theo tin tình báo, đêm 28-12, lúc 21g30-23g50, sẽ có 50 lần/chiếc B-52 vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Bộ Tư lệnh không quân yêu cầu tất cả các sở chỉ huy và các đơn vị trực chiến phải theo dõi chặt chẽ và sẵn sàng cất cánh chiến đấu. Trong khi đó, phi công Vũ Xuân Thiều trực ban chiến đấu tại sân bay Cẩm Thủy; phi công Đinh Tôn trực ban chiến đấu ở sân bay Nội Bài đã sẵn sàng.

Lúc 21g28, tốp B-52 thứ hai rồi thứ ba xuất hiện ở đông nam Pạc Xan 90km. Tại sở chỉ huy tiền phương, phó tư lệnh Trần Mạnh nhận định đây chính là các tốp B-52 bay vào đánh Hà Nội. Ông lệnh cho các sĩ quan dẫn đường và quân báo theo dõi chặt diễn biến của tốp máy bay này, đồng thời lệnh phi công Vũ Xuân Thiều chuẩn bị cất cánh.

Lúc 21g41, Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến Cẩm Thủy (người trực chỉ huy tại sân bay Cẩm Thủy là đại tá, phi công Hoàng Biểu, một trong những phi công bay đêm dày dạn kinh nghiệm). Sở chỉ huy Thọ Xuân cho Thiều đi hướng tây để sẵn sàng đón đánh tốp B-52 vào theo hướng này. Tại sở chỉ huy tiền phương, phó tư lệnh Trần Mạnh và kíp trực nhận định đội hình B-52 bay từ Thái Lan lên hướng bắc, khi đến Sầm Nưa sẽ vòng lên Mộc Châu, tiến vào đánh phá Hà Nội. Kíp chỉ huy tính toán và quyết định dẫn MiG vào đánh B-52, đồng thời lệnh Vũ Xuân Thiều lấy độ cao, bay tránh tốp tiêm kích hộ tống.

Lúc 21g52, Sc B-1 (Thọ Xuân) lệnh Thiều vòng phải, bay hướng 360 độ, thông báo mục tiêu phía trước 50 độ, cự ly 15km, nhưng do nhiễu quá nặng, Vũ Xuân Thiều vẫn chưa phát hiện được mục tiêu. Lúc này tại sở chỉ huy, sĩ quan dẫn đường trên hiện sóng rađa Trần Xuân Mão, bằng kinh nghiệm của mình đã phát hiện chấm trắng đục giữa nền nhiễu, anh khẳng định đó là B-52, chúng đã đổi hướng, bay ngược lên Sơn La rồi mới vòng xuống đánh phá Hà Nội. Sở chỉ huy lập tức lệnh Thiều vòng phải gấp, bay hướng 90 độ, qua Sầm Nưa, lên hướng bắc đuổi theo tốp B-52 đang bay về hướng Nà Sản, Sơn La.

Giây phút cảm tử

Nhận định của sở chỉ huy hoàn toàn chính xác. Lúc 21g58, khi đến Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện mục tiêu, anh lập tức báo cáo và tăng tốc độ bám sát. Trong bầu trời tối đen, rađa lại bị nhiễu rất nặng nên rất khó phán đoán cự ly, nhưng Thiều đã bình tĩnh phán đoán cự ly bằng mắt, theo tín hiệu đèn hàng hành của B-52. Lúc này tại sở chỉ huy tiền phương phó tư lệnh Trần Mạnh nhắc: “046 bật công tắc bắn cả loạt, kiên quyết tiêu diệt địch”. Phi công Vũ Xuân Thiều trả lời: “Nghe rõ!”.

Anh tiếp tục bám theo mục tiêu, khi thấy âm lượng đầu tên lửa bắt mục tiêu tốt và cự ly có thể phóng hiệu quả, anh ấn nút phóng ra hai quả tên lửa. Chiếc B-52 bùng cháy, rơi xuống gần khu vực bản Cò Nòi, Sơn La. Sau đó, sở chỉ huy mất liên lạc với Thiều. Lúc này từ sở chỉ huy B-1 liên tục gọi: “046 công tác tốt không?” nhưng không thấy tín hiệu trả lời của Thiều. Cả sở chỉ huy im lặng, hồi hợp chờ đợi tín hiệu trả lời của Thiều, nhưng đó là sự im lặng vĩnh viễn. Với kinh nghiệm và linh cảm của người chỉ huy, phó tư lệnh Trần Mạnh và phó tư lệnh Trần Hanh đều hiểu có điều gì đó không bình thường nhưng rất phi thường đã xảy ra. Trong đầu cả hai ông lóe lên ý nghĩ có thể do cự ly phóng tên lửa quá gần (do ban đêm rất khó ước lượng cự ly bằng mắt), sau khi phóng hai quả tên lửa trúng mục tiêu, máy bay của Thiều đã lao thẳng vào chiếc B-52.

Vũ Xuân Thiều hi sinh anh dũng sau khi hạ chiếc B-52 trên vùng trời Cò Nòi, Sơn La. Xác chiếc B-52 và các mảnh vỡ của chiếc MiG cùng rơi tại đây.

Quân chủng Phòng không - không quân đã xác minh và công nhận phi công Vũ Xuân Thiều hạ tại chỗ một chiếc B-52 tại vùng trời Sơn La.

Lúc 21g48, tại sân bay Nội Bài, phi công Đinh Tôn nhận lệnh cất cánh. Sau khi rời đất, anh được dẫn ra Hòa Bình - Suối Rút, rồi lên bắc Mộc Châu để chặn đánh tốp B-52 đang bay về hướng Phù Yên. Lúc 22g04, Đinh Tôn phát hiện thấy đèn hàng hành của đội hình B-52, nhưng sau đó lại mất vì góc vào quá lớn. Sở chỉ huy cho vòng phải bay hướng 90 độ để cắt vào phía sau mục tiêu, nhưng do tốp B-52 đã phát hiện có MiG bám theo nên tắt đèn hàng hành và cơ động tránh MiG. Đồng thời Đinh Tôn phát hiện nhiều tiêm kích Mỹ đang bám phía sau. Thấy tiếp tục bám theo không có lợi, sở chỉ huy cho giảm độ cao, hướng 360 độ, thoát ly về hạ cánh an toàn tại Nội Bài.

Quân chủng đã tổ chức một đoàn cán bộ do phi công Phạm Ngọc Lan dẫn đầu lên xã Tạ Khoa, huyện Yên Châu, Sơn La để nắm tình hình. Cùng với đại úy Phạm Đức Thuận, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bộ binh đang đóng quân tại Cò Nòi, đoàn cán bộ đã đến tận hiện trường để xác minh. Đứng trên đỉnh đồi, các cán bộ không quân nhìn thấy bên kia quả đồi là xác chiếc B-52 với các mảnh vỡ cháy sém, phía bên này đồi là các mảnh máy bay MiG-21 trắng bạc. Khi quan sát trực tiếp hiện trường, thiếu tướng, phi công Phạm Ngọc Lan chợt lóe lên ý nghĩ: “Chiếc MiG của Thiều đã húc (taran) vào B-52, với tinh thần cảm tử, quyết tiêu diệt B-52”. Trên bầu trời tối đen của đêm 28-12 mùa đông, không ai nhìn thấy những giây phút cuối cùng của cuộc chiến quyết tử đã diễn ra thế nào, nhưng những gì mà đoàn cán bộ nhìn thấy ở hiện trường đã minh chứng rõ ràng cho chiến công của phi công Vũ Xuân Thiều.

Tối 27-12-2012, nhân kỷ niệm 40 năm ngày hi sinh của phi công Vũ Xuân Thiều, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (người được cử lên địa điểm nơi Thiều bắn rơi B-52 đêm 28-12-1972) đã kể lại: “... Ngay tối 28-12-1972, lúc khoảng 12g đêm, tôi nhận được điện từ sở chỉ huy giao dẫn đầu đoàn cán bộ lên địa điểm nơi phi công Vũ Xuân Thiều bắn rơi B-52 tại Sơn La để nắm và xác minh tình hình. Đoàn chúng tôi lập tức khởi hành trong đêm và lên đến nơi vào sáng hôm sau. Khi đến nơi, tôi có gặp các chiến sĩ bộ binh đóng quân tại khu vực, mọi người đều nói tối hôm qua thấy hai bó lửa rất to bùng cháy và rơi xuống. Các chiến sĩ của tiểu đoàn bộ binh đã dùng ngựa đưa tôi leo lên quả đồi gần nơi máy bay MiG của Vũ Xuân Thiều bắn rơi B-52. Đứng trên đồi chúng tôi nhìn thấy xác B-52 cháy sém một phía, phía bên kia quả đồi là xác chiếc MiG màu ánh bạc. Chúng tôi còn nhặt được hai mảnh xác máy bay MiG và B-52 găm vào nhau, đó là dấu hiệu cho thấy máy bay của Thiều đã lao vào chiếc B-52. Tôi lập tức điện về báo cáo tình hình cho Bộ tổng tham mưu và Quân chủng Phòng không - không quân: “Chúng tôi đã đến hiện trường, sờ được xác máy bay B-52, chính xác Vũ Xuân Thiều đã bắn rơi ở cự ly gần và lao vào chiếc B-52, tôi sẽ mang hai mảnh xác máy bay găm vào nhau về báo cáo”. Với kinh nghiệm nhiều năm chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, tôi linh cảm rằng trong giây phút cuối cùng Vũ Xuân Thiều đã quyết tử để quyết tâm tiêu diệt B-52”.

Vũ Xuân Thiều và Hoàng Tam Hùng là hai phi công cuối cùng hi sinh trong cuộc chiến bảo vệ vùng trời Việt Nam.

TS NGUYỄN SỸ HƯNG và nhóm tác giả

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/587129/huyen-thoai-ve-nguoi-hi-sinh-cuoi-cung.html
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #468 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2013, 11:22:57 pm »


 Chuyện chắn bụi, che mưa, chống chim lọt vào động cơ trên MiG-21 thì không có bộ phận nào cấu tạo đặc biệt để "ngăn chặn" đâu, Giangtvx ạ ! Thi thoảng bọn tôi vẫn bị chim chui vào động cơ đấy. Khi bị chim vào động cơ là biết liền vì ngay sau đấy là ngửi thấy được mùi thịt cháy "tuồn" qua ống dưỡng khí ! Đương nhiên, đấy là những con chim nhỏ như là chim sẻ thôi, chứ còn những con như đại bàng ... chẳng hạn thì khi bị hút vào động cơ là nghe "khực" một cái rồi động cơ chết máy luôn. Chuyện chim làm chết máy rồi va vào máy bay gây tai nạn, phi công phải nhảy dù không phải là không có. Một số đã "bị" rồi đấy ạ !
Nhân anh Phi công tiêm kích nói chuyện ngửi mùi "chim nướng" khi chim lọt vào động cơ, Huyphong làm rõ thêm về vụ này: nguyên do máy bay Mig-21 cấp dưỡng khí cho phi công, cấp khí cho bộ đồ bay và điều áp buồng lái từ hệ thống máy cấp dưỡng khí trên khoang.

Trong hình dưới là sơ đồ nguyên lí vận hành hệ thống cấp dưỡng khí KKO-5 trên loại Mig-21bis.


Dưỡng khí được lấy từ cửa trích khí tại tầng nén cao áp trong động cơ máy bay ở vị trí tầng nén số 6 của động cơ tuốc bin phản lực 2 dòng R25-300. Lúc này dòng khí nén có nhiệt độ lên tới 350oC và được dẫn qua bộ làm mát, bộ lọc trước khi tới các ống tiêu thụ. Khi bị hút vào qua cửa hút khí phía mũi máy bay, chim bị va đập với thành cửa hút khí và cánh nén của các tầng nén thấp áp (3 tầng), các tầng nén cao áp (3/5 tầng) khiến lông thịt tan tác, gặp nhiệt độ và áp suất cao lập tức bốc cháy tạo khói và một phần khói này được hút vào hệ thống KKO qua cửa trích khí gây mùi thịt cháy.
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
Phicôngtiêmkích
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 674


« Trả lời #469 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2013, 08:43:49 pm »

 Chào các đồng đội !
 Mấy ngày qua tôi quá bận nên không liên lạc với các đồng đội được. Các đồng đội thông cảm cho nhé !
 Cám ơn lexuantuong 1972 đã đăng trích giúp cho những trận không chiến và cám ơn huyphongssi đã "xuất kích" trở lại, yểm hộ cho tôi !
 Chuyện chim va vào động cơ của MiG-21 thì bản thân tôi đã bị. Đấy là chuyến cất cánh từ sân bay Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hóa ra khu vực Hòn Mê. Khi quay trở về, trên đường đi gặp một đàn chim Hải Âu, tôi thấy chúng bay nhào qua phía dưới cánh máy bay tôi và ngay lập tức sau đó là mùi thịt nướng xộc vào mũi. Tôi báo cáo :
     - Máy bay tôi va vào chim, ngửi được cả mùi thịt nướng !
     - Báo cáo chính xác nhé ! Không đùa cợt ở trên không ! - Sở chỉ huy cảnh báo, nghe chừng không tin tôi.
     - NGhe tốt ! Nhưng đúng là tôi ngửi thấy mùi thịt nướng thật !
 Khi hạ cánh xong, tất cả ra kiểm tra máy bay thì lông chim và máu chim vẫn còn dính đầy quanh miệng hút khí. Mấy anh phi công khác cũng từng bị, từng ngửi thấy như tôi, nhưng không "mau mồm mau miệng" báo cáo như tôi mà thôi.
 Sau này, ở khu vực sân bay Kép, loại đại bàng đất bay rất nhiều. Đã có phi công va ào nó, phải nhảy dù đấy ! Chúng tôi phải bật ra-đa trên máy bay, sử dụng sóng siêu âm để xua đuổi chúng phần nào khi cất hạ cánh !.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM