Truyện của lính ở Quảng Trị 1 - GIỖ HỤT
Trần Đại Minh (d5/e95/f325)
Hàng năm cứ đến dịp tháng 8, ký ức của những ngày tháng ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị 1972 lại gợi cho tôi cái ngày chúng tôi đã chết hụt vào cái đêm 23/8 năm đó.
Năm nay sau chuyến đi Quảng Trị và Phú Lộc nhân dịp 27/7 để tri ân tới đồng đội trở về tôi và Bi Quỳnh là 2 trong 3 thằng sống sót đêm đó tổ chức gặp mặt tại nhà Bi Quỳnh để làm “giỗ hụt” cho mình. Ngồi quanh mâm giỗ là những đồng đội của d5/e95 với tôi ngày xưa và một số anh em của e101/f325, những người đã gắn bó với tôi sau này. Nhâm nhi chén rượu chúng tôi ôn lại cái đêm định mệnh ấy.
Đầu tháng 8/1972 đại đội quân tăng cường của BTL Thủ đô đã bổ sung chúng tôi cho e95/f325 tại thôn Ái Tử 2, nằm sát căn cứ Ái Tử. Hai ngày nằm tại Ái Tử lũ lính mới chúng tôi đã mò mẫm, sục sạo căn cứ Ái Tử để thỏa chí tò mò cũng như kiếm những gì có thể cải thiện cho bữa ăn của mình như đồ hộp và cơn sấy còn sót lại của địch. Một số anh em đã theo lính cũ đi bắn bò (của dân bỏ lại) để bổ sung cho bữa ăn vốn chỉ có ruốc mặn của lính. Sau 2 ngày chúng tôi chia tay với các cán bộ khung huấn luyện quân tăng cường của BTLTĐ để hành quân vào thôn Nhan Biều 3 do đ/c Số làm c trưởng. Trung đội 1 của tôi ở ngay đầu thôn cách QL1 chừng 200m. Tiểu đội tôi chia làm 3 hầm, hầm của tôi ở ngay cạnh ngôi nhà chỉ còn lại 4 bức tường vì mái tôn đã được dỡ xuống làm hầm, căn hầm khá kiên cố và ở ngay đầu ngõ đi thẳng ra đường 1.
Ở Nhan Biều, lúc này nhiệm vụ của chúng tôi là hàng tối từ 19g30 đến 20g ra các điểm điểm tập kết bốc dỡ súng đạn, lương thực, thuốc men từ ô-tô của mặt trận chuyển vào, sau đó vận chuyển ra bến vượt để bộ phận vận tải trung đoàn đến đêm khi ngớt pháo sáng và pháo cầm canh dùng thuyền chở hàng vượt sông sang tiếp tế cho thị xã. Khi họ quay về chở những thương binh còn có khả năng đi được sang bờ Bắc còn những thương binh nặng thuyền sẽ xuôi theo sông qua chốt An Tiêm để chuyển về phẫu của trung đoàn ở ngay bờ sông Lai Phước. Mỗi lần như thế các trận địa DK của ta bên bờ Bắc phải bắn sang áp chế địch để cho thuyền chở thương binh đi qua. Những đồng đội đã hy sinh mang về bờ Bắc để chôn cất bên Nhan Biều. Sau những đêm bốc dỡ và vận chuyển hàng, ban ngày chúng tôi nghỉ ngơi thoải mái và đi cải thiện tìm đồ ăn. Phải nói rằng những ngày ngắn ngủi ở đây sinh hoạt của chúng tôi khá đầy đủ cơm được nấu bằng gạo dự hương Đồng Tháp của dân để lại rất thơm và ngon cơm, rau cỏ và hoa chuối ê hề ở xung quanh, bữa nào cũng có thịt bò của dân bỏ lại mà chúng tôi cải thiện được. Chúng tôi ăn cơm theo hầm, xung quanh hầm tôi ở rất nhiều rau dền cơm, hái về nấu với thịt hộp ngon tuyệt. Một lần anh em ở b tôi bắn được 1 con bò ở Ái Tử nhưng chỉ lấy mỗi 2 cái đùi để chia cho các hầm, thằng Chung dân Ái Mộ, Gia Lâm dùng thùng đạn đại liên để luộc tim gan, hòm đạn của Mỹ thì kín khi mở nắp ra do áp suất thay đổi nên bị nổ, nước trong nồi cùng tim gan bắn vào mặt gây bỏng nặng phải đi viện. Những lần bốc hàng mà có súng, sau khi dỡ súng khỏi hộp nhựa, lau sạch mỡ bảo quản, chúng tôi giữ lại vỏ nhựa để để đun nấu vì không có khói, lửa xanh nhiệt cao…Duy chỉ mỗi bom và pháo kích của địch thì thôi rồi, mọi sự sống còn đều là sự may mắn.
Đêm hôm đó trăng rằm tháng 7 rất sáng (23/8/1972), cũng như mọi tối khác trung đội tôi được lệnh ra bốc hàng ở địa điểm ngay sát đường 1.Từ hầm tôi ra ra địa điểm tập kết khoảng 150m, tôi đi cùng Như Hải, Văn Quỳnh (cùng a) và một vài anh em khác cùng trung đội ra trước. Cùng lúc xe chở hàng đến thì 1 chiếc A37 của địch lao xuống cắt bom. Lọat đầu bom nổ cách chúng tôi chừng 5, 60m, loạt thứ hai khoảng cách gần hơn. Cả 2 lần đó mỗi lần nghe tiếng rít bổ nhào củaa máy bay và chớp bom nổ, Hải nằm phía trước tôi lại hét lên “Minh ơi nằm xuống…!”. ! Lúc đó tôi chỉ phản xạ tự nhiên và nghĩ: nằm giơ lưng ra dễ ăn mảnh văng lại, nên mỗi lần máy bay bổ nhào cắt bom tôi thấy chớp nổ lại ngồi thụt xuống hào lấy cái xẻng cán gấp của Mỹ che lên đầu (hào này b chúng tôi đào trước đó 2 tối trong 1 vườn chuối sát đường 1, hào sâu 1,2m rộng 0,8m đầu hào sát đường 1 công binh làm 1 hầm chữ A rất kiên cố).
Lúc máy bay bổ nhào cắt bom gần chỗ chúng tôi, xung quanh không có cái hầm nào, hai thằng Bi Quỳnh và Kim Long nhanh chân lao vào một hầm chữ A ở đầu hào nhưng không được vì hầm đã chật mà lại là hầm chỉ huy không được vào. Chúng nó ngồi ngoài hào ấm ức vì không được vào nhưng chính vì thế đã thoát chết trong gang tấc khi bom đánh trúng hầm, 6 người trong đó đã hy sinh.
Đợt máy bay bổ nhào lần thứ 3 tôi nghe thấy tiếng rít đến ghê rợn rồi chỉ nghe kịch một cái toàn thân tôi bị nhấc bổng lên cao, đầu óc lúc đó nhẹ tênh, tôi chỉ kịp nghĩ: ồ mình cũng chết à, và tất cả chìm vào hư vô không biết gì nữa. Thời gian trôi đi không biết bao lâu tôi nghe loáng thoáng tiếng anh em trong c tôi giục nhau đào bới và tôi nghe tiếng ai đó nói: “Thằng Minh còn sống”. Tôi rất muốn nói với anh em nhưng không làm sao nói được, mắt cũng không sao mở được, thần kinh lúc đó tê liệt do sức ép bom.
Bom nổ quá gần cách tôi chừng 3m, cũng may đó là bom phạt nổ trên mặt cát nên sức công phá đã giảm, giá như là bom đào thì số anh em hôm ấy dính hết. Anh em xúm lại đưa tôi về hầm. Khi hồi tỉnh tôi thấy toàn thân nhất là mặt đau đớn vô cùng, vuốt tay lên mặt thấy toàn máu, tôi cảm giác mặt như bị hàng nghìn lưỡi dao đâm vào. Tôi gượng nói với Thanh Hùng (nằm cùng hầm với tôi): “Mày bật lửa lên xem mặt tao có làm sao không”. Khi Hùng bật lửa lên kiểm tra thì không làm sao. Bom nổ gần sức ép làm cát phả vào mặt nên đau và rát, còn máu từ tai và vết thương ở chẩm phải chảy ra làm ướt mặt. Thế là yên tâm dung nhan không làm sao.Tôi cố cười nói với Hùng: “Số tao không chết trận đâu, nhưng vài lần như thế này thì cũng mệt lắm”.
Lúc sau anh em trong c tôi về mang theo 11 người đã hy sinh. Văn Quỳnh của a tôi đang hấp hối, đến 5g sáng thì Quỳnh đi nốt. 12 cái huyệt được anh em chúng tôi đào và chôn luôn 11 người, sáng hôm sau chôn nốt Văn Quỳnh. Trung đội tôi hy sinh 6, trong đó tiểu đội tôi hy sinh 2 .6 người ngồi trong hầm chữ A hy sinh cả gồm 1 thượng uý tiểu đòan trưởng tiểu đòan pháo Bông lau (đ/v phối thộc), 2 trinh sát pháo,1 lái xe, 1 công vụ và thượng uý phó chủ nhiệm hậu cần trung đoàn ra chỉ huy nhận và bàn giao hàng .12 ngôi mộ nằm ngay hầm của tôi. Sau này tháng 10/1973 lúc đi hội diễn văn nghệ sư đoàn tôi có dịp ghé qua nhưng mộ các anh ấy đã được quy tập. Phải nói hôm đó trung đội tôi chưa ra đủ nếu không tổn thất sẽ nặng nề hơn. Nếu như trận bom ấy đánh trúng ô-tô và xe đạn nổ và bốc cháy thì chẳng còn ai sống sót. Sau này tôi được biết khi ô-tô chở hàng vào thì máy bay phát hiện vì đèn gầm của xe, 2 cái A37 lao xuống ném bom vào xe và những người đang bốc dỡ hàng.
Hôm nay ngồi đây nhớ lại chuyện cũ, Mừng ở b2 nhớ là: đêm hôm ấy là rằm tháng tháng bảy trăng rất sáng còn ngày dương là bao nhiêu tháng 8 thì không nhớ, nhưng sau đó 5 hôm là 20 âm thì đơn vị vượt sông vào thị xã. Riêng tôi ngày âm thì không nhớ nhưng vì ngày đó hay ghi nhật ký thì nhớ đêm sang sông là 28/8/72. B1 của tôi qua sông từ bến vượt tiến thẳng vào trường Bồ Đề, chốt Nhà bằng thuộc d5 , b2 của Mừng rẽ trái vào chốt nhà thờ Tri Bưu thuộc d6, b3 và b4 qua sông rẽ phải đi về chốt đầu cầu sắt thuộc d4. Mọi người ngồi ôn chuyện cũ và nhớ lại mới có mấy ngày chiến đấu ác liệt căng thẳng trong TX Quảng Trị, thiếu thốn đủ thứ, mà râu tóc đã mọc tùm lum, người ngợm toàn bùn đất. Lúc ngừng tiếng súng, xoa mặt thấy râu ria lởm chởm như chổi sể. Giữa bom đạn mù trời cái sống và cái chết kề cận nhau nhưng vẫn thắm tình đồng đội chia sẻ cho nhau hơi thuốc, mẩu lương khô và những giọt nước cuối cùng…Tôi đã ngẫu hứng làm một bài thơ theo kiểu văn tế như sau:
Mới có mấy ngày trong chốt thôi !
Mà râu đã mọc kín cằm rồi !
Sáng nay bâng khuâng tôi xoa mặt !
Bàng hoàng khi thấy đã mọc râu!
Ôi chết tuổi mình đâu đã cao !
Xuân xanh nay mới có 19 !
Đã đâu phải tính chuyện Anh hào!
Than ôi đất nước bị chiến tranh !
Xếp bút nghiên gác việc học hành!
Tạm biêt mái trường ra mặt trận !
Súng chắc trong tay diệt quân thù !
Giữ gìn độc lập cho đất nước !
Giải phóng quê hương xứng ức trai......!
Sau này anh Trần Minh Hùng, d phó d5 (sau này là 1/// phó tư lệnh QK5), đọc có chê tôi dùng 2 từ không có quan điểm là
Than ôi 
.
Thời gian trôi nhanh quá, mới ngày nào mà nay đã 41 năm. Với chúng tôi ký ức về những tháng ngày ác liệt gian khổ ấy với tình đồng đội luôn sống mãi trong lòng như mới chỉ hôm qua.
Hà Nội, mùa Thu 2013
T.Đ.M
Đại Minh và Bi Quỳnh (góc phải của ảnh) trong ngày "giỗ hụt" 23/8/2013
Nếu như giỗ thật thì chân dung 2 ông này sẽ đóng khung và đặt trang trọng ở đâu đó...