Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:50:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyện kể về một gia đình liệt sĩ  (Đọc 73526 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2013, 05:00:08 pm »

        Ngồi bên mộ mẹ, trong thoang thoảng mùi hương, anh Tân và chị Yến cùng kể cho chúng tôi nghe về nỗi niềm của mẹ mỗi lần có tin dữ.

        Mùa hè năm 1966, địa phương báo tử anh Khới, cả nhà sững sờ và không thể nào hình dung được. Nỗi đau đột ngột không ai có thể ngờ.

        Anh Khới như cánh chim đầu đàn trong bầy chim non của mẹ. Khi còn nhỏ, anh được cả nhà chăm chút. Anh được học đàn, học hát, học biểu diễn sân khấu. Mười sáu tuổi anh đã vào bộ đội.

        Những năm đầu sau hoà bình, mỗi kỳ nghỉ anh ca hát suốt ngày, anh đàn và tập hát cho thiếu nhi trong xóm. Mỗi lần anh về phép, nhà mẹ luôn đầy ắp tiếng hát, tiếng cười.

        Nhiều đêm trăng sáng người lớn tuổi trong làng lại tập trung nghe anh bộ đội Khới nói chuyện thời sự, tình hình miền Nam và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

        Năm 1959, gia đình cưới vợ cho anh. Đám cưới diễn ra gấp gáp, khẩn trương, ai cũng nghĩ anh sẽ rất hạnh phúc. Có ai ngờ rằng, anh đang day dứt, đau khổ vì hôn nhân không có tình yêu.

        Năm 1963, chị sinh cháu đầu lòng mà không phải con anh. Hai người thuận tình ly hôn. Anh trở lại đơn vị còn chị và cháu bé vẫn ở lại nhà anh. Mẹ và cả gia đình vẫn yêu thương chị và cháu bé.

        Cháu bé sinh thiếu tháng, nó rất yếu và chỉ sống được hơn một năm.

        Cháu bé mất, chị đi lấy chồng.

        Những mong ở hiền gặp lành, mẹ đâu có ngờ anh lại hy sinh sau lần thứ tư trở lại chiến trường C. Anh đã ngã xuống khi còn ấp ủ bao ước mơ và hy vọng. Anh đã hiến dâng cả tuổi trẻ, cả bao ước mơ hoài bão cho tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt - Lào.

        Mẹ khóc lặng lẽ, âm thầm trong nỗi đau cắt xé ruột gan. Nước mắt và tháng năm chưa làm vơi nỗi đau trong lòng mẹ thì tin dữ lại đến từ chính mảnh đất này. Người con dâu thứ hai (vợ anh Bùi Khắc Kiêm) của mẹ đã hy sinh trên trận địa pháo bảo vệ quê hương.
 Hôm ấy là ngày 1 tháng 9 năm 1967, tên lửa từ máy bay địch đã bắn trúng trận địa, chị Vượng và cả khẩu đội pháo phòng không 37 ly đã anh dũng hy sinh.

        Tin đau đớn làm cả làng, cả xã bàng hoàng.

        Nhận tin con dâu hy sinh, mẹ khóc ngất, lặng đi. Mẹ khóc tới mức không thở được. Mẹ ngất lả đi. Thương xót con dâu, mẹ lại càng nhớ thương người con trai thứ hai đang chiến đấu ngoài mặt trận. Giữa nơi “hòn tên mũi đạn” không hiểu giờ đây anh sống chết ra sao. Mẹ lại nhớ về người con cả mới báo tử cách đây hơn một năm.

        Hàng tháng sau, mẹ không ra khỏi nhà, mẹ âm thầm để nỗi đau ngấm vào từng làn da thớ thịt. Không ai thấy mẹ khóc nữa và cũng chẳng ai thấy mẹ thở than gì. Mẹ lầm lũi như một chiếc bóng. Nỗi hoài nghi về sự sống còn của anh Kiêm luôn dằn vặt mẹ.

        Một thời gian sau, người ta thấy mẹ thay đổi. Mẹ lại ra đồng làm việc cùng mọi người và cứ chiều chiều mẹ lại đến nơi này. Từ chính khoảng đất này, mẹ lại ngóng ra phía biển. Biển mênh mông và lòng mẹ không cùng.

        Mẹ phải đứng lên, mẹ phải lo cho các con trai con gái đang từng ngày, từng giờ cần đến mẹ: (Thằng Tân, thằng Tường, thằng Thành và cả con Chính, con Mười nữa chúng còn phải học và phải học giỏi, phải trưởng thành. Chúng sẽ bù đắp cho những mất mát của gia đình, của mẹ). Hàng ngày mẹ vẫn cầu cho anh Kiêm “chân cứng đá mềm ” để có ngày về với mẹ.

        Nghĩ đến anh Kiêm, mẹ lại trăn trở: “Không hiểu nơi sa trường, nó đã biết tin vợ hy sinh chưa?- Sao cuộc sống của vợ chồng nó lại gian nan đến thế? Vợ thì hy sinh để giữ đất quê chồng, còn chồng đang ở nơi đâu?”

        Tháng 10 năm 1969, chú Tường có giấy báo trúng tuyển vào Đại học Tổng hợp Hà Nội. Mẹ khấp khởi mừng vì các con mẹ cũng đã có cơ hội phát triển theo con đường học vấn.

        Gánh nặng kinh tế gia đình cũng vơi dần, đồng tiền bát gạo cũng đã tươm tất hơn nhưng những khó khăn vẫn hiện hữu phía trước. Chiến tranh vẫn còn kéo dài. Thằng Kiêm đang ở đâu? ở đâu mà đã bao năm rồi không hề có tin tức. Biết còn đánh nhau đến bao giờ? Liệu các con mẹ có thể yên ổn mà học không? Mảnh đất quê mình liệu còn phải chịu bom pháo nữa không?
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2013, 08:01:12 am »

        Bao câu hỏi mẹ cứ tự đặt ra để rồi mẹ không thể trả lời được và cũng chẳng ai có thể trả lời rõ ràng được cho mẹ.

        “...Chiến tranh có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do...”.

        Lời hiệu triệu ấy của Hồ Chủ tịch nhiều lần vang lên trên loa truyền thanh. Mẹ chẳng hiểu gì nhiều về chính trị nhưng mẹ cũng hình dung được cuộc chiến tranh còn ác liệt và kéo dài.

        Năm 1970, tôi (anh Tân) một lần nữa thi đậu vào trường Đại học Thủy lợi. Tôi vừa khoác ba lô lên đường ra Hà Nội được mấy ngày thì xã tổ chức truy điệu anh Kiêm. Mẹ chưa kịp vui thì nỗi buồn lại ập đến.

        Nghe thông tin trong giấy báo tử, mẹ mới hay anh Kiêm đã hy sinh từ tháng 6 năm 1965. Vậy là anh đã mất trước cả anh Khới và vợ anh. Thế mà bao tháng năm qua mẹ vẫn phấp phỏng chờ mong.

        Mẹ buồn đến ngây dại cả người. Hai người con trai vạm vỡ, khoẻ mạnh mẹ mang nặng đẻ đau đã vĩnh viễn không bao giờ về gặp mẹ nữa. Mẹ hết khóc con trai lại khóc con dâu. Mẹ nào có ngờ cuộc đời hai vợ chồng chúng lại thê thảm đến thế.

         Năm 1972, chú Thành thi đỗ trường Đại học Tài chính kế toán, mẹ lại một lần nữa hy vọng vào tương lai của các con.

        Trong điều kiện chiến tranh, kinh tế rất khó khăn, điều kiện học hành cũng quá nhiều thiếu thốn. Đau thương, mất mát chất chồng mà các con mẹ vẫn gắng sức vươn lên, vẫn thi đậu vào đại học.

        Không mừng sao được khi mà các con mẹ đã vững vàng theo nhau đến với những giảng đường đại học tại Hà Nội.

        Thế nhưng cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn.

        Tháng 5 năm 1972, Mỹ ném bom trở lại miền Bắc. Chúng phong tỏa cảng Hải Phòng bằng thủy lôi. Chúng ném bom Hà Nội, Hải Phòng và hầu khắp các tỉnh, các thành phố của miền Bắc.

        Mẹ không lo cho mình.

        Mẹ luôn lắng nghe những tin tức từ Hà Nội, các con trai mẹ đang ở đó. Liệu chúng có được yên ổn học hành không?

        Ngày 20 tháng 5 năm 1972, mẹ được tin chú Tường sẽ lên đường nhập ngũ.

        Biết tin này địa phương đã làm công văn khẩn cấp đề nghị nhà trường hoãn cho chú.

        Ở Hà Nội, Tường đã chia tay các bạn, các thầy để sẵn sàng lên đường. Tường chưa biết tại sao khi đến vị trí tập trung tên mình lại không có trong danh sách.

        Không phải suy nghĩ nhiều, rồi chú cũng hiểu là đã có sự can thiệp của chính quyền địa phương.

        Chú trở lại lớp học với tâm trạng của người bước hụt. Biết là ở lại học sẽ tốt hơn nhiều so với việc nhập ngũ, nhưng còn hoài bão ước mơ của người trai thời chiến, bao lời chúc tụng, bao món quà nhỏ trước lúc chia ly, những dòng lưu niệm đầy cảm xúc, cảnh chia tay bịn rịn đã làm Tường khó xử.

        Tường có cảm giác mình còn mắc nợ với bạn bè và mọi người xung quanh. Sự khó xử này đến với Tường không phải lần đầu, nên chú càng bứt rứt. Tường đã chán nản với những lệnh đi, lệnh hoãn lắm rồi.

        Ngày 20 tháng 9 năm 1972, khi trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đang sơ tán về Hiệp Hoà, Hà Bắc, Tường lại có giấy gọi nhập ngũ.

        Chú âm thầm thực hiện lệnh lên đường mà không hề cho ai trong gia đình biết, kể cả các anh, các em đang ở Hà Nội và Hải Phòng. Tường quyết ra đi để bước vào một thử thách mới. Ngày chiến thắng về sẽ học tiếp. Tường tin sẽ chẳng có lệnh hoãn nào nữa, lần này chú đã quyết ra đi.

        Tường nhập ngũ và được biên chế về đại đội 2 tiểu đoàn 495 trung đoàn huấn luyện quân tăng cường (E568) của tỉnh đội Hà Bắc.

        Vậy là, Tường đã lên đường mà không hề có một dòng thông tin nào về cho gia đình, cho mẹ. Chỉ đến khi anh Tiềm về quê mang theo lá thư rất cảm động và lời tạ lỗi của Tường, mẹ mới biết chú đang trên đường ra trận.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2013, 10:08:32 am »

        Mẹ không giận Tường. Mẹ rất lo cho chú. Thế là người con trai thứ năm của mẹ lại dấn thân vào nơi “Hòn tên mũi đạn”, sự sống còn như “Trứng để đầu đẳng”. Mẹ còn phải lo đến bao giờ: “Liệu số phận của nó có may mắn hơn các anh nó không?!” Mẹ cứ bồn chồn trông ngóng trong sự phấp phỏng âu lo.

        Cuối năm 1973, mẹ nhận được một lá thư Tường gửi từ tháng 5 năm 1973, qua một người thương binh cùng quê. Trong thư Tường kể về những ngày đợi ở chân cao nguyên Bôlôven, tỉnh Atôpơ (Lào), suốt ngày đi săn, đi bắt cá hoặc học chính trị. Tường kể chuyện này vui lắm, nên thơ lắm.

        Đọc thư có thể hình dung đường ra trận chẳng khác chi đường du lịch. Trong thâm tâm, mẹ vẫn hiểu Tường đang muốn yên lòng mẹ, chứ thực ra chú đang trải qua những tháng ngày gian khổ.

        Tháng 5 năm 1974, gia đình nhận được lá thư cuối cùng của Tường viết từ 12 tháng 1 năm 1974. Mẹ không đọc được, chỉ nghe mẹ đã thuộc từng câu từng chữ Tường gửi về:

        Ngày 12 tháng 1 năm 1974.

        Thầy mẹ kính mến!

        Các em nhớ thương!

        Mới đó đã năm hết Tết đến rồi. Nhân tiện đơn vị phát giấy viết thư, con tranh thủ biên thư về thăm thầy mẹ và các em.

        Thầy mẹ kính mến! Chắc rằng khi mùa xuân về, ai ai cũng nghĩ tới con cái nơi xa. Vì vậy khi nhận thư con, ít nhất cũng làm thầy mẹ phấn khởi.

        Đầu thư con chúc thầy mẹ sang năm mới (Xuân Giáp Dần) khoẻ mạnh, bình an con mừng. Chúc các em ngoan ngoãn tiến bộ. Qua thầy mẹ, cho con gửi lời chúc sức khoẻ anh em trong toàn gia quyến ta khoẻ mạnh làm ăn phát đạt con mừng.

        Thầy mẹ kính mến!

        Phần con thì thế này. Hiện nay chúng con vẫn làm công tác chiến đấu bảo vệ hoà bình. Vì vậy việc ăn Tết không được phép đàng hoàng lắm. Sức khoẻ của con vẫn bình thường.

        Qua mấy nét như vậy thôi. Còn gia đình ta ăn Tết như thế nào? Có nhiều thịt lợn và bánh chưng không?

        Không khí Tết quê ta chắc vui hơn những năm trước thầy mẹ nhỉ?

        Anh Tiềm, anh Tân có về ăn Tết với gia đình không? Liệu có anh nào xây dựng gia đình chưa? Thành có đi học hay cũng nhập ngũ rồi? Chị Khiêm, Thiện có về ăn Tết không? Nhớ các cháu Chinh, Chanh, Đào lắm.

        Rồi sẽ có ngày con gặp lại thầy mẹ, các em, các cháu, lúc ấy rất nhiều chuyện vui thầy mẹ ạ!

        Bây giờ thời gian không cho phép, con không kể được nhiều. Con tạm dừng bút, thư sau con nói nhiều hơn.

        Cuối thư một lần nữa chúc toàn gia quyến ta sang năm mới thật vui, khoẻ, làm ăn phát đạt con mừng.

        Chào thầy mẹ và các em

        Con của thầy mẹ

        Anh của các em   
   

Bùi Khắc Tường                          
HT: 810.100K9
                           
       TB: Thầy mẹ nhận được thư thì viết thư cho con với. Các em Thành, Chính, Mười nữa. Và bảo anh Tiềm, Tân nữa viết thư, gửi ảnh cho con với. Rất nhớ miền Bắc, nhớ quê hương và gia đình.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2013, 11:23:29 am »

        Từ khi nhận được thư lòng mẹ cồn cào như có lửa. Không đêm nào mẹ ngủ yên giấc. Mẹ cứ trăn trở với điều Tường hằng tin tưởng: “... Rồi sẽ có ngày con gặp lại thầy mẹ, các em, các cháu, lúc ấy rất nhiều chuyện vui thầy mẹ ạ!...”. Liệu niềm tin ấy có thành sự thật được hay không? Liệu nó có về với mẹ được không? Từ những nỗi lo thường trực ấy, đêm nào mẹ cũng gặp ác mộng.

        Có đêm mẹ mơ thấy Tường người đầy máu chạy về, ngã vào lòng mẹ. Mẹ thét lên làm cả nhà thức giấc. Từ giây phút đó mẹ không sao ngủ được. Giấc mơ buồn cứ ám ảnh mãi trong lòng.

        Mẹ cứ âm thầm sống trong tâm trạng thắc thỏm lo âu. Linh cảm mách bảo mẹ, Tường đã gặp chuyện chẳng lành.

        Linh cảm thì vẫn chỉ là linh cảm. Mẹ không thể chia sẻ điều ấy cùng ai, không thể bộc bạch cùng ai.

        Cả năm 1974, lòng mẹ rối bời: “Tường ơi! Con ở đâu? Sao con không thư về cho mẹ. Con có hiểu lòng mẹ đang rối bời không con?” Nhiều khi không kiềm chế được, mẹ đã thốt lên như thế.

        Nỗi đau lâu ngày kìm nén đã khiến mẹ òa khóc vào đêm giao thừa năm ất Mão. Mẹ vật vã thở than mà không ai có thể an ủi được. “Khới ơi!... Kiêm ơi! Vư..ượng ơi!...Tường ơi...ời! Các con tô...ôi đang... ở đâ... âu? Ai đư..ưa các con tôi đi…? Ai đưa chu...úng về... cho tôi…? Trời ơi... ời!” Mẹ khóc than làm không ai còn nén được lòng mình. Không khí ngày Tết buồn thê lương.

        Tết năm 1975, cả nhà chẳng ai đi đâu. Các anh các chị từ Hà Nội, Hải Phòng về ăn Tết đều chỉ quanh quẩn bên thầy mẹ. Ngay cả Chính, Mười cũng ít nói, ít cười.

        Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, cả nước hân hoan trước niềm vui toàn thắng: Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

        Nơi nơi cờ hoa rực rỡ. Loa phóng thanh phát hết cỡ những ca khúc chiến thắng.

        Những bài diễn văn mừng thắng lợi làm nức lòng người. Mặt người ai cũng hân hoan.

        Riêng mẹ, mẹ vẫn âm thầm.

        Niềm vui chung không thể làm dịu nỗi đau lòng mẹ.

        Người ta mời mẹ đến các lễ mừng chiến thắng, nét mặt mẹ vẫn không thể dãn ra được.

        Nỗi lo lắng vẫn xâm chiếm lòng mẹ.

        Các ngày sau đó, những người từ chiến trường theo nhau lần lượt trở về làng. Hễ có tin ai trở về, mẹ lại đến thăm và chỉ với duy nhất một câu hỏi:

        - Anh có biết thằng Tường nhà tôi ở đâu không?

        Câu trả lời cũng luôn lặp lại một lời an ủi:

        - Bác ơi! Bác cứ yên tâm. Chỉ vài ngày nữa thôi anh ấy sẽ có tin về cho Bác!

        “Chỉ vài ngày nữa thôi”. Mẹ đã đợi...

        Càng đợi mẹ càng thấy bặt vô âm tín, lòng mẹ cồn cào.

        Không cầm được lòng mình, mẹ đi bộ ra tận đường cái quan mà hỏi thăm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2013, 04:13:40 pm »

        Gặp anh bộ đội nào mẹ cũng hỏi:

        - Anh ơi! Anh có gặp.. thă...ằng Tư...ường nhà.. tôi khô...ông? - Mẹ hỏi trong nỗi đau đớn ngập ngừng.

        - Mẹ ơi! Con không gặp anh Tường của mẹ. Chắc chỉ ít ngày nữa thôi anh ấy sẽ về mẹ ạ!

        “Chỉ ít ngày nữa thôi” Mẹ lại đợi...!?.

        Mẹ lại ra đường hỏi thăm. Gặp ai mặc quân phục mẹ cũng hỏi. Nhiều lúc mẹ lẩm bẩm như tự hỏi mình.

        Chỉ đến khi có một anh bộ đội trẻ đưa mẹ về nhà, kể lại câu chuyện gặp mẹ, cả nhà mới không dám để mẹ một mình ra đường nữa. Anh bộ đội đã kể với thầy tôi:

        - Cháu đang trên đường về nhà thì gặp bác. Thấy cháu mặc quần áo bộ đội, khoác ba lô, bác cầm tay cháu mà hỏi:

        - Anh có... gặp thă... ằng Tư...ường - Con tô…ôi... không?

        - Cháu không gặp anh Tường đâu bác ạ!

        - Không! Anh...anh nó..ói... dô...ối! Anh có... gặp nó. Nó.. là thă...ằng si..inh viên…

        Chỉ nói đến đó thôi, rồi bác cứ ôm lấy cháu mà khóc. Thấy bác khóc, cháu cũng không cầm nổi nước mắt.

        Cháu là bộ đội chiến trường, đang trên đường về với mẹ nên cháu rất hiểu nỗi lòng của bác. Bác vừa khóc vừa nói:

        - Hai... anh nó, đã... hy... sinh rồi,… anh có...gă..ặp no…ó…Nó …chết... rồi... pha...ải khô...ông? Anh nói thâ...ật với tô..ôi …ức! …ức… đi!

        Bác nấc lên và càng khóc to hơn:

        - Ới! Tư…ờng..ơi.. ơi! Con.. ở ức! ức!.. đâ..âu? Sao con khô...ông về vơ...ới mẹ. Về vơ..ới… mẹ…đi co..on!

        Thế rồi bác lả đi.

        Cháu phải nhờ mấy em nhỏ chỉ đường mới cõng được bác về đây.


        Anh bộ đôi mắt cũng ướt nhòe. Anh cùng người nhà dìu mẹ vào giường, rồi anh vội vã chào mọi người và xin phép ra về.

        Không kịp uống nước, cũng không kịp nhận lời cám ơn và thăm hỏi của gia đình. Cả nhà cuống quýt lo cho mẹ nên chẳng ai kịp hỏi anh bộ đội tên là gì và anh về đâu. Chắc anh cũng đang nóng lòng về với mẹ mình.

        Từ hôm đó mẹ cũng ít ra khỏi nhà và mọi người trong nhà cũng luôn phải canh chừng mẹ.

        Thế rồi tháng 11 năm 1975, xã tổ chức truy điệu Tường.

        Khi biết chắc Tường đã hy sinh, khi không còn chút hy vọng nào nữa về người con trai yêu dấu, mẹ không thể nào gượng dậy được.

        Địa phương và gia đình phải đưa mẹ đi bệnh viện. Hai tháng sau mẹ mới có thể ngồi dậy để tiếp chuyện người đến thăm.

        Nỗi đau xót đã làm mẹ tê dại. Mẹ sống khắc khoải thêm được vài năm nữa. Tháng 10 năm 1980 mẹ đã trút gánh nặng dương gian để về cùng bốn người con mà mẹ hằng yêu quý.

        Trước khi về cõi vĩnh hằng, mẹ vẫn trăn trở vì ba người con trai chưa biết đang ở nơi nào?

        Mười bốn năm sau khi mất (năm 1994), mẹ và em gái của mình là bà Lâm Thị Tam (mẹ Liệt sĩ Lê Đình Nghì) đã được Nhà nước truy phong danh hiệu cao quý: “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”. Mẹ Bùi Thị Trang (chị thầy giáo Bùi Khắc Tráng) cũng được phong “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” vì có con trai duy nhất là anh Lường Đình Tố đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước".

*
*     *

        Sau khi đã hết một tuần hương, chúng tôi lại dắt díu nhau đi sâu vào bãi cát phía trong. Anh Thành chỉ cho tôi ngôi mộ của thầy (cách xưng hô này cũng giống như cách tôi gọi cha mình).

        Nhìn nấm mộ tôi thấy ngỡ ngàng. Các nấm mộ ở đây đều rất to và đều có hình chỏm cầu. Mộ ở đây có lẽ phải đắp to vì toàn là cát. Cát khô gặp gió lớn mà đắp nhỏ chắc sẽ bay hết. Tôi thầm nghĩ: (chắc người nhà phải rất quan tâm tới việc đắp lại, nếu không có thể khó nhận biết về sau).

        Chúng tôi mỗi người cắm một nén hương lên mộ thầy, rồi cùng trầm ngâm nhớ về thuở sinh thời của thầy.

        Để tôi có thể hiểu rõ về cuộc đời đau thương và cống hiến của thầy, anh Tân đã đưa cho tôi xem lời điếu văn của Đảng uỷ, UBND xã Tân Dân ngày thầy ra đi. Trong lúc chờ hết tuần hương tôi thầm đọc. 8h00 ngày 25 tháng 10 năm 2002.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2013, 11:56:55 am »


Lời điếu của Ban Chấp hành Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc xã Tân Dân

       Thưa toàn thể nhân dân, bạn bè, thân hữu cùng gia quyến kính mến!

        Ban Chấp hành Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng gia quyến vô cùng đau thương, luyến tiếc cụ Bùi Khắc Tráng, sinh năm 1918. Cụ là người chồng của cố mẹ Việt Nam anh hùng Lâm Thị Lam và là người cha của bốn liệt sỹ. Các anh, các chị đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

        Cụ Bùi Khắc Tráng đã có một quá trình tham gia hoạt động, đóng góp và cống hiến cho cách mạng từ những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

        Thưa toàn thể nhân dân và các đồng chí!

        Có thể nói rằng suốt cuộc đời của cụ Bùi Khắc Tráng... đau thương chồng chất, dồn nén đau thương. Song với một nghị lực phi thường, cụ đã vượt lên tất cả để sống và đóng góp, hy sinh vì nghĩa lớn.

        Đến hôm nay, vì tuổi cao sức yếu, căn bệnh lại hiểm nghèo, mặc dù các thầy thuốc tận tình cứu chữa, các con, các cháu và toàn thể gia đình hết lòng chăm sóc nhưng cụ đã không thể qua được.

        Trái tim của người chồng cố mẹ Việt Nam anh hùng và người cha của bốn liệt sĩ đã ngừng đập hồi 13h15 ngày 23 tháng 10 năm 2002. Hưởng thọ 85 tuổi.

        Đảng bộ và nhân dân xã Tân Dân mất đi một nhân chứng sống, lịch sử Hội người cao tuổi luyến tiếc người bạn hiền Mẫu mực - Đức độ - Thanh cao, sống trọn đời đầm ấm thuỷ chung.

         Thưa toàn thể nhân dân!

        Cụ Bùi Khắc Tráng với một cuộc đời 85 năm quả thật hiếm. Song vì quy luật của tạo hoá, đó là: “Cuộc sống là vô cùng. Đời người là có hạn”, nhưng thân thế và sự đóng góp, hy sinh của bản thân và gia đình cụ, Đảng bộ, chính quyền các đoàn thể, nhân dân xã nhà rất trân trọng và biết ơn.

        85 năm qua, kể từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, cụ và gia đình đã hy sinh mất mát quá nhiều trên chặng đường cách mạng của dân tộc chúng ta.

        Thưa toàn thể nhân dân và toàn thể các đồng chí!

        Cụ Bùi Khắc Tráng từ buổi thành niên đã sớm ý thức được phong trào cách mạng và sự phát triển xã hội. Từ đó, cụ đã có những tư tưởng tiến bộ. Từ trước cách mạng, cụ đã tham gia các phong trào thanh niên yêu nước. Cụ là một trong những người tham gia cướp chính quyền ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.

        Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào những năm 1946 – 1950, trên mảnh đất làng Hồ Thượng năm xưa, thôn Hồ Nam, xã Tân Dân hôm nay, có người thanh niên Bùi Khắc Tráng, 28 tuổi đã giữ cương vị Phó chủ tịch rồi Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính xã Tân Dân. Sau đó là Trưởng ban Tuyên truyền kháng chiến và Bình dân học vụ xã Triều Dương.

------------------
Tất cả những chứ in nghiêng ở đây là theo nguyên bản. Đề nghị cho phép sử dụng để đưa lên thư viện của diễn đàn.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Tư, 2013, 01:05:11 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2013, 04:38:57 pm »

       Suốt 30 năm là thầy giáo, rồi hiệu trưởng khối vỡ lòng mẫu giáo xã Tân Dân.

        Có biết bao người con của làng Hồ Thượng, của xã Tân Dân đã được cụ dạy cho ghép chữ, đánh vần quốc ngữ trong những năm học đầu đời.

        Cụ là cha của bốn liệt sĩ.

        Đó là các anh: Bùi Khắc Khới, Bùi Khắc Kiêm, Bùi Khắc Tường. Cả ba đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Đặc biệt, chị Lê Thị Vượng là con dâu cụ đã trực tiếp chiến đấu và anh dũng hy sinh trên mảnh đất quê hương chồng, khi chị mới 25 tuổi đời và chồng chị anh Bùi Khắc Kiêm mới hy sinh ngoài mặt trận trước đó 2 năm 3 tháng.

        Sự anh dũng hy sinh của các anh các chị là kết tinh từ dòng máu anh hùng của hai cụ Bùi Khắc Tráng và Lâm Thị Lam với lý tưởng cao cả của các anh, các chị.

        Đó là sự hy sinh xương máu to lớn biết ngần nào so với các gia đình trong xã chúng ta.

        Cụ Bùi Khắc Tráng đã kế thừa, phát huy truyền thống quê hương của các thế hệ đi trước. Cụ đã thể hiện một ý chí kiên cường, đức độ vì nghĩa cả của người dân Việt Nam.

        Với những công lao và sự hy sinh to lớn ấy, cụ xứng đáng được Đảng, Nhà nước, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tôn vinh Huân chương Độc lập hạng Nhì và Huân chương kháng chiến hạng Nhất; Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất và Huy hiệu Vì sự phát triển của ngành giáo dục Việt Nam; Còn gia đình vinh dự đón nhận danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".

        Năm 1994, cụ là một trong những đại biểu gia đình có công với nước được dự cuộc gặp mặt với các vị Lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Phủ Chủ tịch... Ngoài ra, cụ và gia đình còn được nhận nhiều danh hiệu vẻ vang khác.

        Thưa toàn thể nhân dân cùng toàn gia quyến!

        Lúc còn sống cụ Bùi Khắc Tráng đã dành tất cả lòng hiền từ, ấm áp cho gia quyến, dòng tộc, cho bạn bè và cho mỗi chúng ta. Khi mất đi, cụ để lại biết bao tình thân yêu đằm thắm và nỗi niềm luyến tiếc khôn nguôi.

        Vĩnh biệt cụ Bùi Khắc Tráng mỗi người trong gia quyến và mỗi chúng ta trên quê hương Tân Dân này hãy sống và làm việc thật xứng đáng để cụ yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng được yên lòng.

        Cũng trong giờ phút sắp chia ly này, BCH Đảng bộ, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Tân Dân một lần nữa gửi đến gia quyến, họ tộc cụ Bùi Khắc Tráng lời chia buồn thống thiết nhất của chúng tôi. Cầu chúc cho linh hồn cụ được siêu thoát trong cõi phật vi tiên.

        Giây phút sau cùng trước khi vĩnh biệt xin gửi tặng cụ 4 câu thơ sau:

                                                                      “85 năm sống ở đời
                                                                      Hôm nay về với chốn nghỉ ngơi
                                                                      Ra đi thanh thản, lòng tự nhủ
                                                                      Vì nước vì dân, trọn một đời”

        Đề nghị toàn thể tang trường và gia quyến dành một phút vĩnh biệt cụ Bùi Khắc Tráng!

        Ban Chấp hành Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc xã Tân Dân.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2013, 09:49:17 am »



Cụ Bùi Khắc Tráng

        Đọc xong lời điếu, tôi cảm thấy cụ Tráng đã để lại những tình cảm sâu sắc trong lòng người dân nơi đây. Mất mát, đau thương, sự hy sinh to lớn và ý chí cương cường của cụ đã giúp cả gia đình trụ vững và luôn hướng về phía trước

        Anh Tân thấy tôi xúc động khi đọc lời điếu, anh liền kể tôi nghe những điều không có trong điếu văn của Đảng uỷ và chính quyền địa phương. Anh thủ thỉ với tôi những câu chuyện thật cảm động:

        Ngày 21 tháng 8 năm 1945, thầy tôi cùng Đoàn Thanh niên huy động nhân dân dùng khí giới gậy gộc tham gia cướp chính quyền phủ Tĩnh Gia.

        Từ tháng 8 năm 1945, ông làm ủy viên lâm thời Uỷ ban hành chính xã Tân Dân. Năm 1946, tổng tuyển cử toàn quốc, thầy tôi trúng cử Hội đồng nhân dân xã và được bầu chính thức là ủy viên Uỷ ban hành chính kháng chiến.

        Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông làm chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến xã Tân Dân. Ông đã tham gia tổ chức đội ngũ dân quân tự vệ, mở các lớp huấn luyện dân quân tại địa phương.

        Năm 1946, gia đình tôi đã cho Chính phủ mượn nhà làm xưởng đúc vũ khí, đạn và lựu đạn do ông Lê Huy Tuần chủ tịch huyện tổ chức. Xưởng hoạt động đến cuối năm 1948 thì phải di chuyển lên rừng để đảm bảo an toàn.

        Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, thầy tôi và cả nhà tôi luôn ủng hộ hết mình cho cách mạng. Vậy mà kháng chiến thành công, khi mà anh Khới còn đang trong quân ngũ thì gia đình tôi bị quy địa chủ (1955 - 1956).

        Tài sản, nhà cửa bị tịch thu hết. Thầy tôi ngậm đắng nuốt cay nhưng vẫn tin theo cách mạng. Thầy tôi vẫn bình tĩnh nuôi dạy chúng tôi.

        Không tham gia chính quyền, người trở thành ông giáo tận tâm với sự nghiệp trồng người. Ông không có một lời oán hận, mọi việc ông cứ để sự thật tự nói lên tiếng nói của nó.

        Có lần đội cải cách mời một cố nông làm thuê cho gia đình tôi đấu tố thầy. Trước đông đảo nhân dân, anh thẳng thắn tuyên bố:

        - Tôi không có gì để tố ông ấy! Gia đình người ta đã cho tôi việc làm, cho tôi cơm ăn, trả công sòng phẳng và mỗi chiều còn có phần mang về cho con. Nếu tố, tôi chỉ biết tố vậy mà thôi!

        ...!

        Thế rồi cũng đến ngày sửa sai, gia đình tôi được hạ thành phần xuống trung nông. Nhưng của cải đã chia làm sao thu lại được. Đất nhà thì những người được chia đã tự giác trả lại cho gia đình.

        Thầy mẹ tôi lại gò lưng kéo cả đoàn tàu gia đình vượt qua bao khó khăn tủi cực mà vững bước đi lên.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2013, 03:01:18 pm »

        Trong khó khăn vất vả, thầy luôn bền bỉ nuôi dạy chúng tôi nên người. Thầy thường kể cho chúng tôi nghe về những tấm gương hiếu học của người xưa. Trong anh em chúng tôi không ai không thuộc bài thơ “Rắn” của nhà bác học Lê Quý Đôn mà thầy đã nhiều lần đọc cho nghe:

                                                          Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà
                                                          Rắn đầu biếng học, quyết không tha
                                                          Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
                                                          Nay thét mai gầm rát cổ cha.
                                                          Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
                                                          Lằn lưng cam chịu vết roi da.
                                                          Từ nay Trâu, Lỗ xin siêng học.
                                                          Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.


        Khi chúng tôi đến tuổi đi học, thầy tôi cầm tay dạy chúng tôi tập viết. Chính vì thế anh em chúng tôi viết cùng một mẫu chữ và chữ ai cũng đẹp, cũng rõ ràng.

        Thầy luôn dạy chúng tôi phải lấy chữ “Nhân” làm đầu. Khi chị Nghi (vợ anh Khới) sinh con với người khác, thầy đã viết thư cho anh: “Nay tình hình có phần rõ rệt, Nghi đã đẻ một đứa con trai ngày 23 tháng 2 âm lịch rồi. Đứng về thầy mẹ phải lấy đạo đức mà nói mà làm, cho nên cũng bình thường chăm sóc cho mẹ tròn con vuông”. Chính nhờ chữ “Nhân”, chữ “Đức” ấy mà thầy đã được mọi người trong làng ngoài xã kính trọng. Còn với chị dâu thứ hai của chúng tôi, cả nhà chúng tôi thương yêu, quí trọng và cảm phục chị. Yêu quý chị như con đẻ nhưng thầy tôi biết chia sẻ, cảm thông với bố mẹ đẻ của chị. Thầy tôi đã trực tiếp đến Uỷ ban nhân dân xã và các cơ quan đoàn thể có liên quan để chuyển tiêu chuẩn liệt sĩ của chị Lê Thị Vượng về cho bố mẹ đẻ chị. Mặc dù theo đúng lẽ luân thường, con gái đi lấy chồng thì theo nhà chồng…

        Câu chuyện gia đình có thể còn triền miên nhưng tuần hương đã hết và chúng tôi phải lên đường về Hà Nội.

        Tạm biệt anh Tân, chị Yến và những người thân trong gia đình, vợ chồng anh Thành, anh Lâm và tôi lên xe rong ruổi về thành phố Thanh Hoá.

        10h30 chúng tôi đã có mặt tại nhà anh Hồng (TP. Thanh Hoá), tại đây một số anh em trong Ban Liên lạc chi hội CCB E271 Thanh Hoá đã chờ đón chúng tôi. Một lúc sau đại tá Hoàng Vị cũng tới (anh Vị từ thành phố Hồ Chí Minh về quê ăn Tết).

        Chúng tôi cùng nhau quây quần bên bữa cơm ngày Tết ôn lại những kỷ niệm xưa và mạn đàm về tương lai phát triển kinh tế đất nước hiện nay. Câu chuyện đang vui thì anh Thành có điện thoại. Sau khi nghe máy, anh thông báo:
 
       - Em báo tin để các anh cùng chia vui với gia đình em. Cháu Dũng (con chị Thiêm – chị gái em) đã tới nghĩa trang Bù Đăng, cháu đang thắp hương bên mộ anh Tường.

        Thật bất ngờ và thật trùng hợp. Vào ngày chúng tôi về thăm quê Tường, thắp hương trên bàn thờ tổ và thăm viếng mộ cha mẹ anh thì cũng là ngày người thân trong gia đình tìm được chính xác nơi anh đang yên nghỉ.

        Nhận thông tin này, cuộc vui như càng vui hơn. Theo đề nghị của chúng tôi, đại tá Hoàng Vị ca liền mấy bài về vùng đất Long An – Vàm cỏ Đông nơi anh từng nhiều năm gắn bó trong thời kỳ chiến tranh ác liệt.

        Mặc dù đã ngoài sáu mươi nhưng giọng ca của anh Vị vẫn rất quyến rũ. Nghe anh ca, chúng tôi hình dung tuổi hai mươi của mình những năm tháng ở Kiến Phong, Kiến Tường, Long An. Chúng tôi lại nhớ về các cô du kích miền Đông đã chở xuồng đưa chúng tôi về giải phóng Đức Hòa, Đức Huệ.

        14 giờ, chúng tôi chia tay với các anh ở chi hội CCB E271 Thanh Hóa để lên đường về Hà Nội. Trên đường đi tôi lại hồi tưởng về cái Tết đầu tiên trên đường Trường Sơn.

        Tết ấy, chúng tôi được phát mỗi người 2 điếu thuốc lá, 5 cái kẹo chanh, hai người một cái bánh chưng. Chỉ thế thôi mà chúng tôi vẫn rất mừng vì đó là những ngày chúng tôi được ăn uống tươm tất nhất trên đường Trường Sơn.

        19h30, anh Thành đã đưa tôi về đến nhà. Sau chuyến đi tôi nghĩ rất nhiều về thầy mẹ Tường.
 Một người cha vững vàng trước mọi thử thách và mất mát. Một người mẹ thương con, yêu con đến vô hạn. Trước nỗi đau đến vô cùng của lòng mẹ, mẹ vẫn phải gắng gượng, vượt qua để làm chỗ dựa cho những đứa con còn lại vươn tới.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2013, 05:00:35 pm »

        Từ xúc cảm ấy, tôi đã ghi lại thành bài thơ:

                                                                  VỀ QUÊ BẠN

                                                          Đầu xuân tìm về quê bạn
                                                          Ngỡ quê mình vì quá giống nhau
                                                          Cũng quanh co lối vào xóm nhỏ
                                                          Cũng nhà ai mái ngói thâm nâu.

                                                          Lời hẹn xưa của chàng lính chiến
                                                          “ Về nhà tao, nếu mày có ngày sau!”
                                                          Câu hát cũ và lời hẹn cũ
                                                          Day dứt lòng ai - Bạc mái đầu.

                                                          Thắp một nén nhang viếng người dưới mộ
                                                          Ngấm nỗi đau - Người mẹ anh hùng
                                                          Những nhát dao cùn day cứa người đang sống
                                                          Có nỗi đau nào hơn thế này không?

                                                          Nhẹ bước chân trên đường quê mẹ
                                                          Biển vẫn xanh và sóng vẫn dạt dào
                                                          Trong gió chiều vẳng nghe tiếng sáo
                                                          Bạn tôi - Ngợi ca mãi tình yêu.

                                                          Sóng vẫn xanh
                                                          Biển vẫn dạt dào
                                                          Giờ này anh về đâu?
                                                          Về đâu?!


        Sau khi ngẫm nghĩ, sửa đi sửa lại cho thơ thành bài, tôi vẫn không sao ngủ được.

        Không ngủ được, tôi bật máy tính ghi lại cảm xúc của mình sau chuyến đi. Ngay trong buổi tối, tôi đã hoàn thành bài viết: “Báo Điện tử Đảng Cộng sản và câu chuyện nghĩa tình”.

        Trong bài viết này, tôi bày tỏ lòng biết ơn của mình với Ban Biên tập báo Điện tử Đảng Cộng sản, đã đưa lên mạng bài viết: “Bùi Khắc Tường - Giờ này anh về đâu?”. Nhờ bài báo đó tôi đã tìm đến được với thân nhân liệt sĩ và đã có một chuyến đi về với gia đình anh với thật nhiều cảm xúc và ấn tượng.

        Với cảm giác khoan khoái sau khi hoàn thành bài viết, tôi tắt máy, lên giường đi ngủ. Công việc đã hoàn thành cộng một ngày đi đường mệt mỏi, tôi chìm vào giấc ngủ thật nhẹ nhàng.

        11/2/2008:

        Buổi chiều tôi đọc bản thảo bài viết cho con gái tôi nghe. Mặc dù đọc lại, nhiều đoạn tôi vẫn không đọc được liên tục, tôi vẫn bị xúc động nghẹn ngào.

        - Thôi bố ơi! Bố để con đọc bố nghe, bố cứ vừa đọc vừa khóc thế con làm sao cảm thụ hết được - Tuy nói cứng vậy nhưng tôi biết cháu cũng rất xúc động trước những câu chuyện nghĩa tình trong và sau chiến tranh mà tôi kể.

        Sau khi đọc xong, cháu có góp cho tôi một vài ý kiến nhỏ. Tôi sửa lại đôi chỗ và gửi bài. Sau đó bài đã được sử dụng và đưa lên mạng ngày 23 tháng 2 năm 2008. Trong bài viết tôi có gửi kèm ảnh cụ Bùi Khắc Tráng chụp chung với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước năm 1994.


Cụ Bùi Khắc Tráng (người cầm mũ đứng đầu hàng bên trái)và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước năm 1994

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM