Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:25:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyện kể về một gia đình liệt sĩ  (Đọc 73570 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #60 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2013, 01:25:06 am »

        Như hai kẻ say, họ ngã lăn xuống cát. Kiêm lồm cồm bò dậy, anh đỡ Vượng đứng lên. Trong lúc Kiêm phủi cát trên người, Vượng hỏi:

        -  Anh không nói chi với em sao?

        -  Anh nói rồi đấy thôi.

        -  Anh nói chi?

        -  Anh nói là... l..à: “Anh... anh yêu em”, thế còn em?

        -  Em cũng nói rồi đấy thôi.

        -  Em nói chi?

        -  Em ghét anh! Anh ngốc lắm, cứ để người ta phải chờ mãi.

        Kiêm cười xòa, hai người quay lại đường cũ. Khác với lúc đi, hai người đã tự nhiên hơn. Kiêm dắt tay Vượng thong thả đưa nàng về Tiên Vực. Vầng trăng, làn gió như đùa giỡn với đôi trẻ mới yêu nhau. Họ về tới nhà thì đã hơn 10 giờ đêm.

        Trong nhà, mọi người đã ngủ yên. Kiêm cầm tay kéo Vượng vào lòng mình, anh hôn nhẹ lên tóc, lên má, lên môi nàng. Sau những giây phút nồng nàn, Vượng nhẹ ẩy Kiêm ra:

        - Thôi! Anh về đi...! Về không muộn rồi!

        Kiêm ôm chặt Vượng, hôn một lần nữa rồi mới chịu ra về.

        Chiều hôm sau, Kiêm được Lại mời đến dự liên hoan chia tay để đi học xa. Kiêm súng sính trong bộ quần áo mới, lên nhà người yêu. Suốt cả buổi chiều Lại dẫn Kiêm đi chơi lòng vòng quanh làng chào bà con để anh đi học trung cấp giao thông tại thị xã Thanh Hoá. Lại giới thiệu với mọi người Kiêm là bạn thân. Chả cần Lại giới thiệu, cả làng đều đã biết Kiêm rồi. Nhiều người còn huỵch toẹt:

        - Thì anh cứ giới thiệu là em rể luôn đi cho nó gần vòng vo làm chi.

        Những lúc ấy, hai chàng gà tồ chỉ biết cười trừ.

        Trong lúc Lại và Kiêm đi chào họ hàng thì mẹ và Vượng ở nhà lo thịt gà làm cơm tiễn chân Lại. Đến lúc ấy mẹ mới hỏi Vượng về quan hệ của hai đứa:

        - Thế quan hệ giữa con với anh Kiêm là chi?

        - Là cái chi thì mẹ hỏi anh ấy chứ? Mẹ yên tâm, việc chi thì anh ấy sẽ phải nói với mẹ. Mần chi mà mẹ phải sốt ruột

        - Con ranh này! Thế chẳng nhẽ tau lại phải đi gạn cho mi à! Lạ nhỉ!

        Nói vậy, mẹ lặng lẽ ra vườn hái rau, rồi mẹ tranh thủ ra chợ mua thêm thức ăn. Vượng ở nhà bếp núc.

        Ngồi nấu cơm, ánh lửa làm hai má Vượng ửng hồng, nàng đang phân vân không biết có nên thúc Kiêm thưa chuyện với mẹ không. Đúng lúc ấy Kiêm từ ngoài đi vào, nhìn trước, nhìn sau thấy chẳng có ai, anh cúi xuống hôn một cái thật nhanh vào đôi má ửng hồng của Vượng rồi định bỏ chạy. Vượng nhanh tay túm áo anh lôi trở lại:

        - Anh định đi mô? Ngồi đây! Em nói cái ni!

        Kiêm vơ nắm rạ ngồi xuống bên cạnh Vượng:

        - Nào nói chi! Nói lanh lên, anh Lại đang chờ.

        - Anh phải nói chi với mẹ em chớ, chẳng lẽ anh cứ mần thinh răng?

        - ừ! Thì em muốn anh nói chi?

        - Anh nói chi thì nói để mẹ đồng ý cho mình...

        - Tưởng chuyện chi, cái nớ mặc anh.

        Nói rồi Kiêm vọt lên nhà trên chuyện phiếm với Lại.

        Khi bóng tối dần buông cũng là lúc mặt trăng từ từ nhô lên, bữa cơm tiễn người đi học xa đã được Vượng đặt trên bàn. Cả nhà quây quần quanh mâm cơm thật là đầm ấm. Kiêm ngồi bên Vượng. Mẹ, Lại, Viến, Chiến và cu Văn thi nhau lựa những miếng ngon bỏ vào bát Kiêm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #61 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2013, 01:23:43 am »

        Bên mâm cơm, mẹ hỏi Kiêm nhiều về tình hình gia đình, về sức khỏe thầy mẹ anh. Khi câu chuyện đã thật sự cởi mở bà mới hỏi Kiêm:

        - Anh Kiêm à! Anh em chơi với nhau đã lâu, anh thấy con Vượng nhà bác có vụng lắm không?

        - Cháu chưa biết mô bác. Bác cho cháu xin phép tìm hiểu thêm, khi mô hiểu kỹ cháu sẽ thưa với bác.

        Kiêm không ngờ mình lại có thể ứng xử nhanh đến thế. Vậy mà nói xong mặt anh đã nóng ran. Cũng may là trời tối nên mọi người không ai nhìn thấy mặt Kiêm đã đỏ nhừ. Bà mẹ hiểu được sự lúng túng của anh nên đỡ lời:

        - Tui giao nó cho anh đó. Khi mô anh hiểu được thì nói ngay cho tui, để tui nẹt nó.

        Cu Văn như sợ chị theo anh Kiêm đi, nên nó vội cự nự:

        - Không giao đâu! Mẹ không được giao đâu. Chị phải ở nhà với con chứ.

        - Chắc mẹ đã sợ con gái ế rồi đ..ây!. Anh Kiêm còn khối người để ý!

        Câu nói của Văn và Vượng làm cả nhà bật cười. Sự căng thẳng, nghiêm túc như giãn ra. Kiêm như được cởi trói, câu chuyện gia đình về việc đi học của Lại làm không khí cởi mở hơn. Kiêm không ngờ nhiệm vụ phức tạp mà Vượng giao, anh lại có thể hoàn thành thuận buồm xuôi gió như thế.

        Mấy hôm sau, hai gia đình đã đặt trầu để đôi trai gái tự do tìm hiểu và bàn công tác tổ chức thành hôn cho đôi trẻ. Đám cưới đã được xác định ngay là sau đó một tháng

        Từ hôm Lại đi học, chiều nào Kiêm cũng có mặt ở nhà Vượng. Tập dần rồi cũng quen, anh không còn bác cháu với mẹ nữa. Khi gia đình có công việc gì xốc vác, Kiêm xắn tay làm, đôi khi xong việc thì đã muộn, anh ngủ luôn trên giường của Lại.

        Trong lúc Kiêm và Vượng còn đang say men tình ái thì đám cưới của anh chị đã được hai gia đình và chi đoàn thanh niên hai thôn chuẩn bị tích cực.

        Ngày cưới, Kiêm mặc quần xanh, áo trắng, đầu đội mũ lá, còn Vượng mặc áo hồng, quần láng đen, đầu đội nón quang dầu sáng bóng.

        Đám cưới được tổ chức theo nếp sống mới nên cũng thật giản dị. Bà con hai họ, chi đoàn hai thôn tập trung ăn trầu, uống nước và thưởng thức bánh kẹo để mừng cho đôi vợ chồng trẻ.

        Sau lời giới thiệu của ban tổ chức và lời phát biểu của đại diện hai họ. Kiêm, Vượng đi đến từng bàn cám ơn và mời trầu từng người. Tiếp đó là các tiết mục văn nghệ của hai chi đoàn. Đám cưới đơn giản mà vui.

        Sau đám cưới, Vượng ở luôn nhà chồng, chị hoà nhập rất nhanh với cuộc sống gia đình và các hoạt động thanh niên địa phương. Vốn nhanh nhẹn sôi nổi, mạnh mẽ nên ngay buổi sinh hoạt chi đoàn đầu tiên, mọi người đề nghị đoàn viên mới hát một bài. Chị đứng dậy cất tiếng chào hỏi và hát ngay không một chút e ngại.

        Cả chi đoàn im lặng nghe chị say sưa hát: “Bồ câu tung cánh bay, trên nền trời xanh thắm tươi. Lòng hân hoan sướng vui, đón hoà bình ta ca vang khắp nơi...”. Giọng chị vút lên và mọi người cùng hoà theo: “Tuổi thanh xuân chúng ta, như bông lúa đang lên đòng. Ta lớn lên không ngừng trên những cánh đồng. Mẹ ta già, em ta tuổi còn thơ. Tổ quốc ta thân mến vô bờ...” Lời ca vui tươi sôi nổi ngân vang trên những mái nhà tranh làng Hồ.

        Nghe tiếng hát, các em nhỏ ở các nhà xung quanh đổ đến xem. Kiêm bất ngờ, anh không nghĩ vợ mình lại có thể hát hay đến thế và anh cũng chẳng biết Vượng học hát từ khi nào.

        Cưới vợ xong được hơn một tháng thì Kiêm có giấy báo đi khám nghĩa vụ quân sự. 15 tháng 3 năm 1962, Kiêm có lệnh gọi nhập ngũ. Tình cảm vợ chồng đang lên men say thì anh chị đã phải chia xa.

        Nhận giấy báo nhập ngũ, Kiêm phơi phới trong lòng. Cả xã chỉ có 5 người, còn làng Hồ Nam chỉ có một mình anh. Anh nghĩ tới những miền quê xa, những điều mới lạ đang chờ đón ở phía trước.

        Mấy ngày tiếp sau đó là liên hoan chia tay, là tiễn đưa của các đoàn thể địa phương. Anh ít có mặt ở nhà, bởi thế anh không thấy nỗi hiu buồn của thầy mẹ cũng như sự ưu tư của Vượng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #62 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2013, 07:52:45 am »

        Còn hai ngày nữa thì tập trung lên đường, mẹ bảo anh ngồi bên mà hỏi:

        - Con đã nói chi với vợ con chưa? Con cứ đi suốt vợ con nó buồn đấy.

        - Có chi mô mẹ! Vượng vẫn hát đấy thôi?

        - Ngốc lắm con ơi! Nó khóc trước mặt mọi người răng được. Cái miệng nó hát mà nó đang buồn thối ruột thối gan đấy con ạ! Con phải động viên nó. Vừa mới cưới được ít ngày rồi chồng lại đi xa. Không buồn răng?

        Kiêm lặng lẽ đứng dậy vẻ suy tư, anh nói chỉ vừa đủ mẹ nghe: “Vâng!” Thế rồi anh bước ra vườn nơi Vượng và chị Nghi (vợ anh Khới) đang nhổ lạc, anh không kịp nhận thấy những giọt nước mắt đang lăn dài trên má mẹ.

        Kiêm lặng lẽ tham gia nhổ lạc cùng hai chị em. Đang nhổ lạc, ngẩng lên nhìn thấy Kiêm, chị Nghi vội nói: “Chú Kiêm cứ để đấy chị em chúng tôi làm. Chú tranh thủ đi chào bà con không rồi người ta lại trách”. “Em chào hết lượt rồi, chị để chúng em làm cùng cho nhanh”

        Chợt nhận ra điều gì, chị Nghi đổi ý: “Thôi chú thím nhổ nốt để tôi vào cơm nước không thì tối mất”. Nói rồi chị đứng dậy vào nhà để hai vợ chồng Kiêm cùng nhau nhổ nốt đám lạc còn lại.

        Kiêm thương vợ lắm, nhưng bản tính hiền lành nhút nhát nên anh chưa biết nói sao để an ủi vợ. Trong lúc anh đang còn lúng túng thì Vượng đã quay sang hỏi anh:

        - Anh đã nói chi với mẹ chưa?

        - Anh biết nói chi?

        - Nói chi thì tuỳ anh, nhưng anh phải động viên mẹ. Anh đi lần này mẹ buồn lắm đấy.

        - Mô có. Mẹ đang sợ em buồn nên mẹ bảo anh phải động viên em đấy.

        - Anh ngốc ơi! Sao mà anh ngốc thế. Em hiểu anh, em còn phải động viên anh nữa cơ. Còn mẹ, ai hiểu cho mẹ. – Nói đến đây giọng Vượng chùng xuống. Chị nói như chỉ để một mình nghe: Mẹ cứ tảo tần nuôi các anh. Lớn rồi các anh lại ra đi. Mẹ lại vò võ trông chờ...

        - Em ơi! Anh chỉ đi xa có hai năm thôi. Hết nghĩa vụ anh lại về với mẹ, với em.

        - Em cũng trông cho như thế. Còn Mỹ - Diệm ở miền Nam. Em sợ lắm! Em sợ lắm!

         “Em sợ lắm!”. Nhìn Vượng lắc đầu Kiêm hiểu là vợ mình nói thật. Nhổ lạc xong, Kiêm muốn ngồi với vợ thêm chút nữa nhưng chị đã đứng dậy bê rổ lạc đi nhanh vào nhà. Anh đành đứng dậy bước theo.

        Vào đến sân, Kiêm thấy mẹ ngồi nơi bậc thềm, mắt nhìn xa vợi tận đâu đâu, không hiểu mẹ đang nghĩ gì. Anh lặng lẽ ngồi xuống bên mẹ. Phải một lúc lâu sau, mẹ mới chợt nhận ra anh đang ngồi cạnh, mẹ bảo:

        - Hai vợ chồng chuẩn bị sang Tiên Vực ăn cơm với bà Lại. Bà nhắn từ trưa rồi, hình như hôm nay anh Lại cũng về thì phải.

        Kiêm chưa biết nói gì với mẹ nên chỉ khẽ “Vâng” và cùng Vượng chuẩn bị để hai vợ chồng về Tiên Vực.

        Khi hai vợ chồng đã sóng bước trên đường, Kiêm mới lan man nghĩ về hai người phụ nữ mà anh vô cùng yêu quý. Cả hai người đều yêu quý anh, ai cũng muốn có anh bên cạnh vậy mà cả hai cùng nhắc anh phải chú ý động viên người kia. Vậy anh phải động viên ai? Cả hai đều cho anh là ngốc. Hay là anh ngốc thật?

        Hai vợ chồng Kiêm về đến nhà thì mẹ, Viến, Chiến đã chuẩn bị xong mọi thứ cho bữa ăn. Khi cả nhà ngồi vào mâm, mẹ mới cho biết anh Lại bận thi không về được. Trong lúc vui chuyện, mẹ nói với Kiêm:

        - Anh Kiêm ạ! Ngay từ hồi anh ở nhà cụ Sâm tôi đã rất quý anh. Tôi mẹ goá con côi, chỉ có năm anh em thằng Lại. Nay có anh làm bạn với con Vượng là tôi yên tâm được một phần. Chờ thằng Lại học xong lấy vợ cho nó, tôi yên được phần thứ hai. Còn lũ ranh này (mẹ chỉ Viến, Chiến và Văn) tôi nhờ các anh các chị là yên tâm hết được rồi. Trông cho anh “chân cứng đá mềm”, hết nghĩa vụ về rồi hai vợ chồng có cháu, để tôi và bà nhà anh còn bế ẵm.

        - Mẹ để yên để anh ấy đi cho vui vẻ. Còn cháu mẹ đừng lo, con chỉ sợ mẹ không có sức mà bế ẵm thôi!

        - Tiên sư nhà chị! Tôi trông sao nói vậy chứ tôi có lên cái giọng lãnh đạo như chị đâu. - Mẹ mắng yêu Vượng.

        Câu chuyện quanh mâm cơm thật vui vẻ. Bé Chiến còn dặn đi dặn lại anh Kiêm phải năng viết thư về nhà kẻo chị Vượng và mẹ lại trông.

        Ngày anh nhập ngũ, chị Vượng và cả nhà tiễn anh đến tận vị trí giao quân. Chị Vượng chuẩn bị cho anh rất chu đáo từ bàn chải đánh răng, khăn mặt đến tập phong bì, giấy, bút... những gì cần thiết cho một người lính.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #63 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2013, 12:49:21 am »

        Sau khi anh Kiêm nhập ngũ, chị Vượng ở nhà tham gia vào tất cả các công việc mà anh Kiêm vẫn làm. Cuối năm 1962, chị được bầu vào Ban Chấp hành xã Đoàn xã Tân Dân và Bí thư chi đoàn thôn Hồ Nam. Thương nhớ anh, chị chăm chút công việc gia đình và lo toan các công tác xã hội ở địa phương.

        Lên đến đơn vị, Kiêm lao vào học tâp, rèn luyện. Anh mong hoàn thành hai năm nghĩa vụ để trở về gia đình. Anh sẽ cùng Vượng xây dựng một ngôi nhà nho nhỏ. Anh chị sẽ có những đứa con xinh xắn, đáng yêu. Anh sẽ chăm chút cho mẹ con Vượng, sẽ không bao giờ để cho vợ con anh phải thiếu thốn.

        Hoàn thành nghĩa vụ rồi anh chị sẽ không bao giờ phải xa nhau nữa. Những điều miên man ấy anh đã gửi vào những lá thư cho Vượng. Giấc mơ hạnh phúc đã giúp anh có thêm nghị lực để vượt qua mọi thử thách.

        Tháng 2 năm 1963, Kiêm được về phép. Mười lăm ngày phép, anh chỉ tranh thủ buổi tối cùng Vượng đi thăm bà con bạn bè. Ban ngày, anh lại cùng tham gia công việc đồng áng với vợ. Làng xóm nhìn cảnh vợ chồng anh xoắn xuýt đều mừng cho anh chị. Nhiều người tấm tắc: “Đúng là vợ chồng sam”. Mười lăm ngày phép qua đi quá nhanh.

        Đêm trước ngày trả phép, anh chị nói chuyện rất lâu. Chị nói với anh về ước muốn có một đứa con vậy mà lần này thì chưa thể. Kiêm động viên vợ: “Lần này chưa được thì sẽ có lần khác, mình còn trẻ mà...”.

        Sáng hôm sau, chị đưa anh ra tận bến xe. Trước khi lên xe về đơn vị, anh lấy hết tiền trong túi ra đưa cả cho chị:

        - Em cầm về lo công việc gia đình.

        - Ra ngoài anh cần tiêu nhiều. Bộ đội như anh làm gì có tiền. Em không lấy đâu. Anh cất đi.

        Anh dúi vào tay chị, chị lại trả cho anh. Cuối cùng Kiêm giữ lại năm đồng còn bao nhiêu anh đưa chị mang về:
 
        - Năm đồng là anh đủ tiêu cả tháng rồi, còn chỗ này em giữ giùm anh.
 
        Không thể từ chối được nữa, chị đành cầm số tiền còn lại. Cuộc chia tay bịn rịn, Kiêm nhận thấy những nét buồn trong đôi mắt vợ. Muốn có một lời động viên vợ mà anh chẳng biết nói gì. Anh cởi chiếc khăn dù quàng lên cổ cho vợ.
 
        Vượng chợt ngước lên nhìn Kiêm, nước mắt giàn giụa. Kiêm lúng túng lấy khăn lau nước mắt cho vợ. Chị gục đầu vào ngực anh khẽ nức nở. Từ ngày quen nhau, anh chưa thấy chị khóc bao giờ. Anh ôm chị vào lòng mà vỗ về:

        - Anh sẽ sớm về với em. Thôi em về đi.

        - Anh bộ đội ơi lên xe đi! Lên xe đi thôi! - Tiếng gọi của người phụ xe làm cả hai người bừng tỉnh.

        - Anh phải đi thôi! Anh sẽ sớm về...

        Nói rồi, Kiêm vội vã khoác ba lô chạy về phía chiếc ô tô đang nổ máy chờ anh. Bước chân lên xe, anh ngoái nhìn lại vẫn thấy Vượng đang đứng lặng một mình, chiếc khăn dù vẫn bay bay theo gió và bàn tay chị đang vẫy chào anh. Hình ảnh ấy cứ ẩn hiện trong đầu anh suốt chặng đường về đơn vị.
 
        Sau gần hai năm huấn luyện, các động tác cá nhân trong chiến đấu và các hình thức tác chiến phân đội nhỏ các anh đều đã thành thục, đơn vị Kiêm đã chuyển sang huấn luyện các khoa mục tiểu đoàn vận động tấn công, tiểu đoàn phòng ngự và chuẩn bị để tham gia diễn tập cấp trung đoàn. Công việc dồn dập làm cho Kiêm không còn chút thời gian nào để viết thư về cho vợ và gia đình nữa.

        Mãi đến tháng 4 năm 1963 anh mới gửi được một lá thư về cho gia đình, trong thư anh kể là ngày 25 tháng 3, anh cùng bộ phận tiền trạm của đơn vị đi nghiên cứu địa hình chuẩn bị diễn tập. Qua đơn vị anh Khới, anh em chỉ gặp nhau trò chuyện được chừng hai giờ đồng hồ, rồi ai lo việc của người ấy. Công việc khẩn trương anh lại phải đi ngay. Cuối thư anh dặn thầy mẹ giữ gìn sức khoẻ, còn Vượng chuẩn bị tinh thần nếu không có gì thay đổi anh sẽ được giải ngũ sớm...".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #64 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2013, 03:46:27 am »



Liệt sĩ Lê Thị Vượng (1942 - 1967)


LS Bùi Khắc Kiêm (1941 - 1965)

                                                     
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #65 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2013, 03:54:03 am »

        - Sắp đến lối rẽ rồi! – Anh Thành gióng lên với mọi người – Hai bác cháu dừng chuyện, xuống xe mua đồ để về thắp hương.
 
        Mọi người xuống xe vào chợ, chỉ còn tôi và anh Tiềm, tôi hỏi anh:
 
        - Làm sao mà anh kể lại câu chưyện cứ như anh là người trong cuộc vậy?
 
        - Những chuyện này tôi cũng chỉ kể lại theo lời chị Vượng mà thôi. Chả là năm 1965 và 1966 tôi vẫn ngày đi học, tối vác súng đi tuần tra bờ biển đề phòng biệt kích xâm nhập cùng chị với trung đội dân quân Hồ Nam. Trên đường đi về tôi hỏi thì chị lại kể cho nghe. Chị còn kể về anh Kiêm nhiều lắm!

        Mọi người mua bán xong đã lục tục về xe, chỉ còn một đoạn ngắn nữa là đến nhà nên Tuyên không đòi bác Tiềm kể chuyện nữa.

        Buổi chiều, tôi đã đi một vòng quanh làng để anh em trong nhà bàn những công việc gia đình. Tôi cứ một mình thả bước trên con đường giữa làng, vừa đi vừa ngắm cảnh một làng quê ven biển và để tìm ra những điều khác biệt với quê tôi.

        Nhìn lũ trẻ chơi, các bà già ngồi trông cháu và những người dân cặm cụi làm vườn, tôi thấy những con người nơi đây cũng cần cù lam lũ chẳng khác gì người dân quê tôi. Cũng nhọc nhằn tần tảo, hạt lúa củ khoai được làm ra từ những giọt mồ hôi chát mặn.
 
        Điều khác biệt mà tôi có thể nhận ra ngay là ở đây đất rất rộng, phóng khoáng hơn quê tôi. Những năm chiến tranh phá hoại người dân ở đây phải hứng chịu bom pháo nhiều lần hơn quê tôi.

        Khi tôi trở về thì mọi người đã chuẩn bị sẵn sàng để đi thăm mộ chị Vượng. Anh Tiềm mở cửa cho tôi lên xe rồi đi luôn.

        Mộ chị Vượng được đặt trong nghĩa trang huyện Tĩnh Gia, bên cạnh là mộ những người bộ đội cùng hy sinh với chị trong trận đánh ngày 1 tháng 9 năm 1967. Chúng tôi lên thắp hương ở đài liệt sỹ rồi đến thắp hương trên mộ chị và các đồng đội của chị.

        Sau khi thắp hương xong, Tuyên lại hỏi bác Tiềm:

        - Vì sao bác Vượng lại hy sinh cùng với bộ đội?

        - Vì bác là trung đội trưởng dân quân tham gia chiến đấu cùng bộ đội.

        - Bác lại kể cho cháu nghe về bác Vượng tham gia dân quân như thế nào và vì sao bác lại hy sinh đi?

        - Được rồi bác sẽ kể nhưng cháu không được ngắt lời bác mô đấy.

        Anh Thành xen vào câu chuyện của hai bác cháu:

        - Anh kể đi để mọi người cùng nghe. Anh kể hấp dẫn đấy.

        Thế rồi câu chuyện của anh Tiềm lại tiếp tục:

        "Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ đã dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” và dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc.
 
        Từ năm 1964 đến năm 1968, quê mình nằm trong vùng trọng điểm đánh phá của Mỹ. Hàng ngày máy bay từ trên trời dội bom xuống, tàu chiến địch từ ngoài khơi bắn pháo vào. Quê mình, phía Đông là biển, phía Tây là đường số 1 vì thế không ngày nào không ì ầm tiếng bom, tiếng pháo, tiếng máy bay gầm rú.
 
        Để chống trả chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, lực lượng phòng không nhân dân được phát động khắp nơi. Người lớn, trẻ em, đi học, đi làm đều phải đội mũ rơm để đỡ mảnh bom đạn. Trong làng ngoài đồng đều có giao thông hào và hầm hố tránh bom pháo.
 
        Lực lượng dân quân được trang bị súng máy phòng không 12 ly 7 và 14 ly 5. Hồi ấy, nam giới được huy động vào bộ đội, ở quê phần lớn dân quân là phụ nữ, học sinh và người già.
 
        Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mở rộng ra miền Bắc, cả nước có chiến tranh. Lực lượng bộ đội áp dụng chính sách động viên thời chiến nên không còn chế độ nghĩa vụ quân sự thời bình nữa. Anh Kiêm được động viên tiếp tục phục vụ trong quân đội.
 
        Tháng 10 năm 1964, chị Vượng nhận được thư của anh Kiêm báo tin đơn vị anh có thể sẽ đi chiến trường. Tình hình hiện đang rất khẩn trương, khi nào chính thức anh sẽ báo sau. Sau lá thư đó chị không còn nhận được một tin tức gì của anh nữa.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #66 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2013, 04:33:10 am »

        Vậy là ước mơ làm mẹ của chị đã trở nên xa vời. Chị sẽ kiên tâm chờ anh, nhưng chờ đến bao giờ? Chị không biết và chẳng ai có thể biết để trả lời cho chị. Chị nén hết mọi mong mỏi, đợi chờ, lo âu để lấy công việc làm niềm vui.

        Là người khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, lại là Bí thư chi đoàn thôn, Uỷ viên Ban Chấp hành xã Đoàn nên chị Vượng được giao nhiệm vụ làm trung đội trưởng, trung đội nữ dân quân. Vào thời gian huấn luyện tập trung, dân quân được thoát ly hẳn khỏi công việc sản xuất. Sau khi đã thành thạo các loại súng, mỗi khẩu đội có hai kíp trực, thay nhau vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu.

        Trong ba năm 1965, 1966, 1967 trung đội nữ dân quân của chị nhiều lần đã hiệp đồng chiến đấu cùng bộ đội rất hiệu quả, góp phần cùng quân dân địa phương bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.

        Ngày địa phương báo tử anh Khới, cả nhà đau đớn, bất ngờ. Anh Khới là người rất chăm viết thư vì thế chỉ sau hai tháng không nhận được thư anh, mẹ đã rất bồn chồn, lo lắng.

        Trước lễ truy điệu anh một ngày, Đảng uỷ, Uỷ ban xã đã gặp riêng chị, báo trước để chị làm công tác tư tưởng cho gia đình. Chị Vượng rất thương mẹ nhưng cũng không biết nói chi để mẹ yên lòng, bởi trong lòng chị cũng đang rối bời bời.

        Cả một năm rồi chị vẫn chưa có một thông tin nào của anh Kiêm. Chị chỉ biết anh đã vào chiến trường B. Chiến trường khốc liệt không biết anh sống chết ra sao?

        Sau lễ truy điệu anh Khới khoảng một tháng, nhiều lời bàn tán xì xào là anh Kiêm cũng đã hy sinh. Chẳng ai trực tiếp nói với chị, đôi khi người ta chỉ nói rất bâng quơ để chị nghe thấy.

        Chị buồn não nề nhưng không biết chia sẻ cùng ai. Để biết rõ thực hư chị gặp trực tiếp ông chủ tịch xã để hỏi, ông chỉ trả lời lửng lơ:

        - Chúng tôi chưa nhận được giấy báo, nếu có tôi sẽ thông báo để cô biết ngay. Chắc là tin đồn nhảm thôi chẳng có căn cứ chi mô. Thôi! Cô phải kiên tâm, không được lung lạc tinh thần ảnh hưởng đến tư tưởng gia đình cũng như anh em thanh niên.

        Người có trách nhiệm đã nói vậy, nên chị phải bỏ ngoài tai mọi lời đồn đại. Trách nhiệm của người trung đội trưởng nữ dân quân, Bí thư chi đoàn không cho phép chị làm ảnh hưởng xấu đến tinh thần chiến đấu của trung đội. Chị nén chặt sự ngờ vực vào lòng.

        Một buổi tối, hai chị em trên đường từ trận địa phòng không về, chị kể cho tôi nghe câu chuyện của mình:

        - Chú Tiềm này! Chú biết chi về anh Kiêm chưa?

        - Chưa! Có chi mới phải không chị?

        - Nhiều khả năng anh đã hy sinh thật rồi chú ạ!

        - Chị đừng tin người ta đồn nhảm – Tuy nói với chị như vậy nhưng tôi cũng đã nghe có người nói hai tờ giấy báo tử (anh Khới và anh Kiêm) cùng báo về xã, sát ngày nhau. Xã chọn báo tử anh Khới trước mà không báo một lần để gia đình khỏi xốc.

        - Không phải người ta đồn. Chú để tôi kể chú nghe: Đêm qua tôi đang ngủ chợt thấy anh Kiêm về, tôi định chạy ra đón anh thì anh ra hiệu cho tôi đừng tới. Thế nhưng anh cũng không chịu bước qua bậc cửa. Tôi nhìn rất rõ anh mặc bộ quần áo gabađin còn mới lắm, anh gầy và xanh. Tôi lại định chạy ra thì anh đã ngăn lại. Tôi nghe anh nói rất rành mạch: “Vượng ơi! Em đừng chờ anh nữa! Anh đi đây!” Thế rồi anh vụt biến mất. Tôi thấy lạnh toát hết cả người, giật mình choàng dậy. Thì ra tôi nằm mơ. Tôi nhìn ra cửa, dưới ánh trăng tôi thấy rõ một bóng người đang ngồi ngoài bậc thềm. Tôi nổi gai ốc khắp người, suýt nữa thì tôi bật kêu to. Định thần lại một lúc tôi mới nhận ra mẹ.

        Mẹ ngồi đó tự bao giờ. Tôi bật dậy và bước đến bên mẹ: “Mẹ! Sao mẹ không ngủ” – “Mẹ không ngủ được” – “Sao thế mẹ?” – “Mẹ mơ thấy thằng Kiêm, thằng Khới bỏ mẹ mà đi cả rồi”. Tôi ngồi xuống an ủi mẹ. Mẹ ôm lấy tôi mà thầm khóc: “Khổ thân con quá! Thằng Kiêm nó không về được với con nữa đâu”.

        Không hiểu sao lúc ấy tôi lại nói với mẹ: “Mẹ đừng tin người ta đồn nhảm. Con đã hỏi kỹ rồi, không có chuyện đó đâu!” Sau đó tôi còn nói thêm: “Mẹ cứ yên tâm, có chuyện gì ở xã con phải biết trước”. Trước những lời nói cứng của tôi, mẹ có vẻ nguôi nguôi. Tôi đề nghị: “Thôi! Mẹ đi ngủ đi để giữ sức. Mẹ mà làm sao thì cả nhà lo đấy”.

        Tôi dìu mẹ đứng dậy, đi vào giường. Tôi trở về buồng mà vẫn nghe mẹ thở dài. Thế là từ đó đến sáng, tôi không sao ngủ được.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #67 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2013, 04:28:38 am »

        Tôi cứ nghĩ miên man, thương anh, thương mẹ lại thương cho hoàn cảnh của mình. Rồi tôi lại nghĩ, tất cả do chiến tranh. Mong sao chiến tranh sớm kết thúc để không còn cảnh chia ly nữa.

        Hình như cả mẹ và chị Vượng đều nghĩ anh Kiêm đã hy sinh. Thế nhưng cả hai người đều cố gắng kìm nén để người khác giữ vững được ý chí.

        Bước sang năm 1967, chiến tranh phá hoại càng thêm ác liệt. ở miền Nam, lực lượng quân Mỹ đã lên đến gần 50 vạn. Các cuộc hành quân “Tìm diệt” của quân đội Mỹ đã bị đánh tan tác.

        Mỹ càng điên cuồng ném bom miền Bắc dữ dội hơn hòng ngăn cản sự tiếp viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến. Tang tóc đau thương cứ từng ngày, từng ngày diễn ra trên mảnh đất quê hương.

        Chị Vượng đi làm hợp tác xã, nhưng cứ hai ngày lại có một buổi trực chiến. Gian khổ, vất vả cũng không làm chị nản chí, nhưng mỗi khi nghĩ đến anh, lòng chị lại rối như tơ vò.

        Anh đang ở đâu mà sao không có tin tức gì? Cái tin đồn kia là sao? Tại sao địa phương không có biện pháp tìm và trừng trị người tung tin bịa đặt? Chị đã hỏi người có trách nhiệm cao nhất của chính quyền xã rồi nên chẳng biết hỏi đến đâu nữa.

        Khi ở nhà chị Vượng luôn tỏ ra cứng rắn, nhưng mỗi lần về nhà mẹ, chị lại ra vườn sau lén khóc. Có lần Chiến bắt gặp hỏi chị: “Làm sao chị khóc?”. Chị ôm chầm lấy Chiến mà khóc to hơn: “Chị khổ lắm em ơi!” Sau khi khóc một hồi, chị nẹt Chiến: “Chuyện ni em không được nói với mẹ và cũng không được cho ai biết đâu nhé.” Bởi rất quý trọng chị nên Chiến đã giữ kín chuyện này.

        Nghe tin đồn, thầy vẫn bình thản, thầy chẳng bàn tán hay tỏ thái độ gì. Mỗi khi mẹ nhắc thầy đi hỏi xem thực hư ra sao thì thầy chỉ nói: “Hỏi mần chi? Họ đồn nhảm đấy mà. ở làng này thiếu chi bộ đội đi B lâu ngày có tin tức mô. Bà phải tin ở chính quyền chứ”.

        Mặc dù vậy nhưng nếu quan sát kỹ sẽ nhận ra ngay sự lo lắng của thầy. Thầy hay thức khuya, nhiều đêm thầy dậy hút thuốc lào và trầm ngâm một mình.

        Ngày 31 tháng 8 năm 1967, máy bay Mỹ quần đảo nhiều lượt, bom nổ dữ dội phía đường số 1. Thỉnh thoảng lại có một loạt pháo từ ngoài biển bắn vào, đạn pháo rú xé trời.

        Trận địa pháo 37 ly nơi đầu làng đã bốn lần nổ súng. Các trận oanh tạc đến hơn 5 giờ chiều mới dứt.

        Buổi tối chị Vượng đi vác đạn cùng dân quân từ núi Bợm Sơn về các trận địa pháo. Sau đó chị lại được mời họp ở xã để chuẩn bị cho kế hoạch mừng Quốc khánh mùng 2 tháng 9.

        5h00 sáng 1 tháng 9 năm 1967, chị Vượng đã có mặt cùng đoàn đại biểu dân chính đảng địa phương đến thăm và tặng quà trận địa pháo 37ly. Đơn vị đón tiếp đoàn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đoàn đến từng mâm pháo động viên các chiến sỹ.

        Tại khẩu đội hai, các pháo thủ đề nghị chị Vượng hát. Chị lại cất lên lời hát say sưa: “Bồ câu tung cánh bay, trên nền trời xanh thắm tươi. Lòng hân hoan sướng vui đón hoà bình ta ca vang khắp nơi. Tuổi thanh xuân chúng ta...” Nắng sớm và gió biển trong lành như chắp cánh cho lời ca của chị vang xa. Nó cổ vũ thêm sức mạnh chiến đấu cho các pháo thủ.

        Vì điều kiện chiến đấu nên 6h30 đoàn rời trận địa, để đơn vị vào vị trí trực chiến.

        Đang trên đường về, chị Vượng nghe hiệu lệnh báo động và phát hiện một tốp máy bay F4 bay rất thấp. Chờ tốp máy bay bay qua, chị quay trở lại trận địa pháo.

        Lúc này, tại trận địa, các pháo thủ đã vào vị trí chiến đấu. Khi chị Vượng quay trở lại thì khẩu đội 3 đang bị khuyết vị trí pháo thủ số 5 (nạp đạn). Đây là vị trí mà chị Vượng đã được huấn luyện thành thục. Chị được bổ sung ngay vào vị trí chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #68 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2013, 03:05:03 am »

        15 phút sau, một tốp 4 chiếc con ma chúi đầu lao vào hướng trận địa, khẩu đội 3 đã cùng cả trận trận địa nổ súng. Tốp máy bay địch vội vàng ngóc lên tháo chạy ra biển, chúng không kịp ném bom hay dùng tên lửa bắn trả.

        Cùng với máy bay, pháo địch từ ngoài khơi cấp tập bắn vào các trận địa phòng không của ta. Các trận địa pháo 122 ly bảo vệ bờ biển nổ súng đáp trả đẩy chúng ra xa để bảo vệ cho các trận địa phòng không.

        Sau đó 15 phút, một tốp bốn chiếc máy bay khác lại lao vào trận địa. Lần này cả bốn máy bay địch đều phóng tên lửa xuống trận địa pháo 37. Cùng với trận địa tại chỗ, các trận địa pháo khác cũng nổ súng chi viện. Một chiếc máy bay bốc lửa, hai chiếc khác cũng loạng choạng bay ra biển.

        Trận địa pháo 37 khói bụi mù mịt. Không đợi khói tan, bộ đội, dân quân, thanh niên ào về phía trận địa, cả Tường và Thành đều có trong đoàn người ấy.

        Khi Thành và Tường chạy đến trận địa, một cảnh tang thương trải ra trước mắt, cả trận địa chìm trong khói bụi dày đặc. Từ trong khói bụi vẳng ra tiếng những tiếng kêu thất thanh: “Cứu chúng tôi!”, “Cứu chúng tôi với!”

        Khói bụi tan dần, các chiến sỹ pháo binh và dân quân đã xông vào trong đám khói bụi. Bộ đội và nhân dân khẩn trương đưa những người bị thương lên cáng. Tất cả thương binh, tử sĩ đều được dân quân, bộ đội đưa về trạm cấp cứu của quân đội tại xã Triêu Dương.

        Trong số các tử sĩ có một phụ nữ. Người ta nhận ra đó là phụ nữ chỉ dựa trên mái tóc dài bị cháy quăn queo và bụi đất bám đầy đã chuyển thành màu đỏ. Hầu hết các thi thể đã bị cháy đen rất khó phân biệt được ai với ai.

        Thành và Tường lách được vào bên trong. Nhìn thấy thi thể người phụ nữ, trên cổ còn vương chiếc khăn dù, Tường nhận ra ngay chị dâu mình. Anh chạy đến bên chị và thét to: “Chị Vượng! Tại sao chị lại ở đây? Tại sao chị lại thế này?” Rồi anh bật khóc. Mọi người vội vàng lôi hai anh em ra ngoài.

        Anh Ngân lúc đó cũng có mặt vội chạy đến ôm lấy Tường mà nói: “Anh Tường! Anh không được khóc, phong tục quê mình chưa phát tang là chưa được khóc đâu” - Tường vặc lại: “Tôi thương chị ấy, tôi khóc. Tôi cần chi phong tục” Nói vậy nhưng anh cũng đã bình tĩnh lại không khóc nữa.

        Đến lúc này Thành mới dám hỏi Tường: “Làm sao anh nói đó là chị Vượng?” – “Không chị dâu mình thì còn ai vào đấy nữa. Sáng nay trước khi đi chị ấy còn quay về lấy chiếc khăn dù anh Kiêm tặng quàng cổ. Chiếc khăn đó chắc chắn là của chị rồi”. Một lúc sau, chiếc túi cứu thương màu đỏ của chị Vượng được mang về thì không còn ai nghi ngờ về sự hy sinh anh dũng của chị nữa.

        Sự xác nhận của các vị trong đoàn đại biểu đến thăm trận địa chỉ củng cố thêm quyết đoán của Tường mà thôi.

        Tin chị Vượng tham gia chiến đấu cùng bộ đội cao xạ và đã hy sinh lan khắp làng, khắp xã. Theo đề nghị của đơn vị bộ đội, được sự nhất trí của địa phương và gia đình, đám tang chị Vượng được tổ chức trọng thể theo nghi thức như một quân nhân hy sinh trong chiến đấu.

        Chị và những người bạn chiến đấu của mình đều được đưa vào nghĩa trang của trạm cứu thương quân đội thuộc xã Triêu Dương cách trận địa pháo 5 km.

        Người vợ thủy chung, người con dâu hiền thảo, người trung đội trưởng dân quân dũng cảm, người cán bộ Đoàn tận tụy đã ngã xuống trên mâm pháo bảo vệ quê hương khi đang còn rất trẻ.

        Giấc mơ hạnh phúc gia đình, niềm khát khao làm mẹ của chị chưa thành. Chị ra đi khi mà sự sống chết đối với người chồng của chị nơi chiến trường xa chưa biết ra sao.

        Sự hy sinh của chị Vượng làm cả xóm làng tiếc thương. Sự hy sinh ấy đã gây xúc động mạnh mẽ trái tim của các chiến sỹ pháo binh. Trong buổi lễ truy điệu, đơn vị đã tỏ lòng biết ơn, sự chia buồn sâu sắc với gia đình và quyết tâm chiến đấu để trả thù cho chị.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #69 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2013, 02:08:58 am »

        Cảm động về tấm gương chung thuỷ, đảm đang và tinh thần chiến đấu hy sinh của chị, một chiến sỹ đã viết tặng chị bài thơ. Bài thơ đó đã được đọc trong lễ truy điệu chị. 41 năm đã trôi qua, nhiều người nơi đây vẫn nhớ bài thơ ấy. Trong buổi hoàng hôn của 41 năm sau, trong thoang thoảng mùi hương, bên mộ chị, anh Tiềm đọc lại cho chúng tôi cùng nghe bài thơ:
                                                              Chị ơi!
        Kính tặng chị Lê Thị Vượng- Người nữ dân quân đã hy sinh anh dũng trong trận chiến đấu ngày 1-9-1967.
                                                   Em đã nghe chị hát, chị ơi!
                                                   “Bồ câu tung cánh bay,
                                                   Trên nền trời xanh thắm...”
                                                   Câu hát vút bay tới miền xa thẳm
                                                   Nơi người chị yêu bạc áo chiến chinh
                                                   Say giấc mơ cuộc sống hoà bình
                                                   Yêu mảnh đất bầu trời xứ sở
                                                   “...Tổ quốc ta thân mến vô bờ...”
                                                   Khao khát tiếng cười, tiếng khóc trẻ thơ
                                                   Mong sẽ có một ngày làm mẹ.
                                                   Chiến tranh đã cướp đi tất cả
                                                   Anh ra chiến trường, chị chắc súng giữ quê
                                                   Người ra đi không hẹn ngày về.
                                                   Người ở lại tay cày, tay súng.
                                                   Giấc mơ gia đình đành gác lại
                                                   Vì đất nước hoà bình thống nhất bền lâu.
                                                   “... Đế quốc Mỹ âm mưu chiến tranh...”
                                                   Bom đạn nổ và máu người đã đổ
                                                   “Kiên quyết chặn bàn tay chúng nó
                                                   Giữ đất này, giữ cuộc sống bình yên”.
                                                   Trên mâm pháo chị anh dũng hy sinh
                                                   Trong tư thế tiến công của người chiến sỹ
                                                   Tổ quốc, nhân dân muôn đời nhớ chị
                                                   Trái tim em... có chị, chị ơi!
                                                   Trong gió chiều nay chị vẫn hát vẫn cười
                                                   Trời biển quê mình vẫn in hình bóng chị
                                                    Và cứ thế, muôn đời vẫn thế
                                                    Chị sẽ còn trẻ mãi tuổi hai mươi.
                                                    ....
                                                   Chúng em sẽ trả thù cho chị, chị ơi!


        Khi đọc những câu cuối, tôi thấy anh Tiềm nhiều lúc đã phải ngừng đọc rất lâu. Mọi người đều nghẹn ngào lắng theo hồn bài thơ.

        Tôi nhận ra những giọt nước mắt lặng lẽ trên má Tuyên. Câu chuyện và bài thơ nói về sự hy sinh của chị Vượng đã làm Tuyên cảm động. Người thanh niên của thế kỷ hai mươi mốt vẫn mãi cảm phục và biết ơn thế hệ cha anh đã cống hiến những năm tháng đẹp nhất của đời mình cho cuộc sống hôm nay.

        Tuyên không hỏi bác Tiềm thêm gì nữa, hắn cầm bó hương, lặng lẽ châm lửa và mang đi cắm vào tất cả các ngôi mộ quanh mộ bác Vượng.
 
        Hơn ba năm sau khi chị Vượng hy sinh, địa phương tổ chức truy điệu anh Kiêm. Vậy là sau hơn 5 năm, kể từ ngày anh hy sinh, gia đình mới nhận được giấy báo tử.
 
        Giấc mơ về một mái ấm gia đình hạnh phúc, anh chị đã hiến dâng trọn vẹn cho tương lai hoà bình của đất nước.
 
        Trước khi ra về, chúng tôi thắp thêm một tuần hương trên mộ chị và trên đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Chúng tôi lên xe khi bóng tối như một tấm màn mỏng mờ ảo đang buông dần phủ khắp nghĩa trang Tĩnh Gia để giữ yên giấc ngủ ngàn thu cho những con người đã vì nước hy sinh anh dũng.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM