Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:33:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung tướng Nguyễn Bình  (Đọc 27682 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #40 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2017, 08:54:45 am »


        Năm Tài trổ tài thuyết khách :

        - Ăn cướp cũng năm bảy đường ăn cướp. Ăn cướp lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo là ăn cướp đáng tôn thờ. Chống thực dân cũng là hảo hớn. Còn bây giờ thời thế đã thay đổi rồi. Nước nhà đã được độc lập do tài đấu tranh ngoại giao của Cựu hoàng Bảo Đại. Những người có tài như ngài sẽ được trọng dụng... Bây giờ tôi nói thật với Ngài : Hai anh em tôi đây là người của Phòng nhì. Tình báo của Nguyễn Bình rất chính xác. Chỉ huy trực tiếp của tôi là ông Lâm Ngọc Đường. Chúng tôi đã làm việc với đại úy Savani giám đốc Phòng nhì. Savani tuyên bố sẵn sàng đón tiếp bộ đội Bình Xuyên bất cứ lúc nào. Sẽ dành riêng một khu vực cho Bình Xuyên đóng, lính Pháp không có quyền xen vào.

        Bảy Viễn vẫn tay chống cằm suy nghĩ, thở dài thườn thượt. Cùng đường y khoát tay bảo Năm Tài :

        - Mày nói nghe cũng hấp dẫn. Đành vậy ! Thôi đi đi ! Ba ngày nữa tao sẽ rút quân theo mày.

        Đêm ấy Bảy Viễn trằn trọc, thao thức không chợp mắt.

        Bảy Viễn cho Năm Tài bí mật về Thành để liên hệ trước với Lâm Ngọc Đường, có một tiểu đội hộ tống. Bảy Viễn vẫn đóng quân ở Nhà Thờ như không có chuyện gì quan trọng xảy ra. Nguyễn Bình cứ thúc giục Bảy Viễn giao nạp Năm Tài. Bảy Viễn trả lời : Tôi để Năm Tài ở Rừng Sác làm chủ trại. Nếu Trung tướng không gấp lắm thì khi về Rừng Sác, tôi sẽ bắt nó giao nạp. Nếu không tin mời Trung tướng đến chỗ tôi, nếu thấy nó thì xin Trung tướng cứ tự nhiên bắt giữ.

        Biết Bảy Viễn đã đánh xổng con mồi của mình, Nguyễn Bình vô cùng tức giận ra lệnh cho Chi đội 15 và Chi đội 5 bám sát hai đại đội hộ tống của Bảy Viễn. Nếu thấy Bảy Viễn trở về Rừng Sác thì thôi, nếu thấy hắn trốn vào Thành phải nổ súng tiêu diệt.

*

*       *

        Cũng trong lúc này ở Quân khu ủy, mặc dầu chưa có sự nhất trí, Chính ủy Hai Trí đã tự ý thành lập Ban thanh trừng bộ đội Bình Xuyên gồm Nguyễn Đức Huy, Việt Hồng, Lê Hiển và chính trị viên các chi đội có vấn đề như Tám Tâm ở Chi đội 9, Vũ Văn Hiệp ở Chi đội 21, Lưu Quý Thoái ở Chi đội 25. Hai Trí đã ra lệnh cho ba đơn vị này có nhiệm vụ bắt chỉ huy của mình rồi thành lập ban chỉ huy mới, gây nên sóng gió dữ dội trong Rừng Sác.

        Tin hỏa tốc từ Rừng Sác cho biết tổng hành dinh Chi đội 9 đã bị tảo thanh làm cho Bảy Viễn thấy mình đã trúng kế "điệu hổ ly sơn" nên yêu cầu Nguyễn Bình phải ngừng ngay việc tảo thanh, rồi hầm hầm ra lệnh rút quân. Được tin này đồng chí Lê Duẩn cũng điện cho Hai Trí và Nguyễn Đức Huy ra lệnh ngừng ngay cuộc thanh trừng, nhưng đã muộn.

        Nguyễn Bình rất bực mình với việc làm của Hai Trí và biết rằng sự việc này sẽ làm cho Bảy Viễn dứt khoát sẽ về Thành đầu Tây nên ra lệnh cho Chi đội 15 và Chi đội 5 phải bám sát ngày đêm. Lúc đầu các đơn vị có nhiệm vụ bám sát còn e dè, nhưng dần dần việc theo đuổi trở nên công khai. Bộ đội bên này kênh thấy rõ bộ đội ở bên kia bờ kênh. Lúc này thì thuyền tam bản liên lạc của Văn phòng Trung tướng Nguyễn Bình và Văn phòng Xứ ủy phóng như bay đuổi theo Chi đội 5 và Chi đội 15. Đồng chí Lê Duẩn ra lệnh rút quân, không truy kích Bảy Viễn. Lệnh của Trung tướng Nguyễn Bình nhấn mạnh phải truy kích tận ổ. Tình hình căng thẳng đó kéo dài cho tới lúc bộ đội Bảy Viễn tới tổng hành dinh Chi đội 4 của Mười Trí. Sau khi nghe Bảy Viễn cho biết tình hình, Mười Trí nói với chỉ huy Chi đội 15 : Mười Trí đảm trách dùng tình cảm kéo Bảy Viễn trở lại và chịu trách nhiệm trước Trung tướng Nguyễn Bình và Ủy ban nhân dân Nam Bộ.

        Lời cam kết của Mười Trí làm tình hình bớt căng và Chi đội 15, Chi đội 5 được lệnh của Nguyên Bình rút về vị trí cũ.

        Đêm ấy Bảy Viễn tâm tình cùng Mười Trí. Nghỉ ngơi một ngày, Bảy Viễn lại tiếp tục lên đường. Mười Trí cũng nai nịt đi theo :

        - Để tao tiễn mày một khúc đường.

        Bảy Viễn áy náy :

        - Mày tiễn tao hay là mày bám sát tao theo chỉ thị của Nguyễn Bình.

        Mười Trí trợn mắt :

        - Dẹp Nguyễn Bình qua một bên ! Tao làm theo ý tao, không phải làm theo chỉ thị hay mệnh lệnh nào. Đây là tình đồng sinh đồng tử giữa tao với mày. Mày còn nhớ chuyện uống nước đái giữa biển Đông thề nguyền sống chết có nhau ?...

        Bảy Viễn hỏi lại Mười Trí :

        - Mày bị Cộng sản nhuộm rồi phải không?

        - Mười Trí mà dễ gì nhuộm mày. Buồn cười quá! Nói thật tình tao có cảm tình với Cộng sản. Tại sao hả? Nếu không có mấy cha Cộng sản làm Cách mạng tháng Tám, cướp chính quyền thì tới giờ này tụi mình cũng chỉ là lục lâm thảo khấu. Cách mạng dã nâng chúng ta lên thành con người có lý tưởng, có đủ nhân cách, nhân phẩm. Tao mến Cộng sản ở chỗ đó.

        Bảy Viễn không nói gì, im lặng, thở dài.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #41 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2017, 08:57:48 am »


        Đêm ấy đóng quân giữa đồng trống, gần cầu Bà Lát, giữa cầu Xáng và Bà Hom, Mười Trí và Bảy Viễn lại thức thâu đêm nữa để tâm tình. Nửa đêm Mười Trí hỏi :

        - Người xưa có nói : "Dù theo nhau trăm dặm cũng đến lúc phải chia tay". Tao đưa mày tới đây cũng đã khá xa rồi. Ta đang ở sát quốc lộ 4 và đứng ở ngưỡng cửa Sài Gòn. Tao hỏi : Mày nhất định đầu Tây ?

        Bảy Viễn thở ra :

        - Mọi việc đã lỡ rồi. Năm Tài đã về Thành trước chuẩn bị mọi thứ. Giờ này có lẽ tụi nó đang chờ đón rước tao...

        Mười Trí cùng tiểu đội hộ tống đi rồi. Bảy Viễn vẫn còn bùi ngùi. Trong giới giang hồ, Bảy Viễn mến và phục Mười Trí hơn cả. Mười Trí được cái thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, không rào đón, không vẽ vời. Và khi cần thì hành động chứ không chỉ nói suông.

        Bảy Viễn đang còn đắm hồn trong hồi tưởng thì Bảy Cao tới :

        - Tư Sang ra lịnh cho tôi đi thám báo vùng này mà giao cho có một tiểu đội thì làm sao đủ ?

        Bảy Viễn nhìn đăm đăm Tham mưu trưởng Chi đội 25 :

        - Anh muốn bao nhiêu?

        - Ít nhất cũng phải hai tiểu...

        Bảy Viễn khoát tay :

        - Thì hai tiểu. Nói với Tư Sang là có sự đồng ý của tôi. Chuyện không đáng gì mà cứ làm rộn mãi !...

        Bảy Cao đòi cho được hai tiểu đội cứng vì vùng này là vùng ngoại vi thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Bảy Cao dẫn hai tiểu đội tiến về cầu Bà Lát, cách nơi Tư Sang đóng quân vài trăm thước. Anh ra hiệu cho anh em ngồi xuống thành hình vòng tròn :

        - Mấy ngày nay chắc anh em biết những biến động dữ dội trong bộ đội Bình Xuyên chúng ta. Ngay trong hai đại đội hộ tống này cũng đi hết một đại đội đêm trước. Nguyên nhân nào mà sẻ đàn tan nghé ? Chuyện rõ như ban ngày : Bảy Viễn quyết định đầu Tây. Mấy ngày trước đây, Năm Tài đã bí mật về Thành liên lạc với Pháp chuẩn bị đón rước Bảy Viễn...

        Hai tiểu đội xì xào sôi nổi. Bảy Cao nói tiếp :

        - Kháng chiến hay đầu Tây là quyền cá nhân của Bảy Viễn. Đó cũng là quyền cá nhân của từng anh em chúng ta. Không ai có quyền nhân danh bất cứ cái gì để bán rẻ xương máu và danh dự của chúng ta. Ai muốn đầu Tây thì theo Bảy Viễn, còn ai muốn tiếp tục kháng chiến giành độc lập thì đứng qua một bên.

        Tất cả đều đứng qua một bên. Bảy Cao nói :

        - Hoan hô tinh thần sáng suốt của anh em. Bây giờ trước khi quay trở lại Đồng Tháp Mười, chúng ta hãy nổ một loạt súng gọi là "đưa linh" những chiến sĩ lầm đường lạc lối... Hai tiểu đội nổ một loạt súng giòn giã rồi biến mất trong đêm.

        Tư Sang vốn đã nghi ngờ Bảy Cao, nghe tiếng súng nổ giòn, vội cho trinh sát ra dò tình hình. Một lúc sau tin Bảy Cao dẫn hai tiểu đội trở về Đồng Tháp thấu tai Bảy Viễn.

        Như võ sĩ đã thấm đòn bị một cú dấm trúng quai hàm vào hiệp chót, Bảy Viễn xiểng liểng đứng ngồi không yên.

        - Trời ơi! Với thằng Bảy Cao mà cũng bỏ tao nữa thì tao còn biết tin ai ? Chỉ còn một đại đội mà nó cướp mất hai tiểu đội thì còn đánh gì mà ra mắt Tây tà. Nhục ơi là nhục !

        Bảy Cao đưa hai tiểu đội đi ròng rã một đêm một ngày mới về đến Nhơn Hòa Lập. Việc trở về đột ngột của hai tiểu đội Bảy Cao giữa lúc Quân khu được điện của Mười Trí báo tin Bảy Viễn đã chạy vào Thành làm mọi người bất ngờ nhưng thích thú.

        Tám Nghệ thấy Bảy Cao đằng xa đã reo lên :

        - Bảy Cao, mình tưởng...

        Bảy Cao bắt tay Tám Nghệ hăm hở đề nghị :

        - Anh Tám cho tôi gặp ngay Trung tướng, có được không?

        - Sao lại không ? Theo mình ! - Tám Nghệ giới thiệu với Nguyễn Bình :

        - Anh Bảy Cao, Tham mưu trưởng Chi đội 25 của Tư Tỵ...

        Nguyễn Bình bắt tay :

        - Câu chuyện trở về Thành của Bảy Viễn như thế nào, anh hãy kể cho chúng tôi nghe. Anh là người am hiểu tường tận nội bộ Bình Xuyên vào những ngày này...

        Bảy Cao nói một hơi : Kể từ lúc Bảy Viễn tính toán đi hay không đi xuống Đồng Tháp Mười nhận chức Khu trưởng khi tổ chức lực lượng hộ tống đi ba ngày ròng theo lộ trình sông Soài Rạp, Cần Giuộc, Phú Lâm, Hộ 17, Cây Da xà, ấp 4 Bình Hòa. Ghé lại Chi đội 4 thăm anh Mười Trí một ngày rồi thẳng tới Nhơn Hòa Lập. Những ngày họp ở đây thì Trung tướng biết rồi. Ba ngày sau có liên lạc đặc biệt từ Rừng Sác báo tin hỏa tốc tổng hành dinh Chi đội 9 bị thanh trừng. Bảy Viễn hoang mang chửi cách mạng không ghe tàu nào chở hết. Dù được Trung tướng và đồng chí Lê Duẩn hứa, Bảy Viễn vẫn không tin. Ngay đêm đó Bảy Viễn quyết định quay về Rừng Sác nhưng bị Tư Sang lôi kéo, Bảy Viễn đã phái Năm Tài bí mật về Thành trước để liên hệ với Tây. Vì Rừng Sác đã bị tảo thanh thì Bảy Viễn không còn đất dung thân ngoài vùng Chánh Hưng mà Năm Tài vận động Pháp cho Bảy Viễn mượn. Chín giờ đêm, Tư Sang quyết định kéo quân đi. Tôi tranh thủ bảo Bảy Viễn : "Vùng này Tư Sang không rành bằng tôi. Phải để tôi đi trước dò đường, cho tôi một trung đội". Bảy Viễn đồng ý nhưng Tư Sang chỉ giao có hai tiểu đội. Tôi đưa anh em đi vài trăm thước, giải thích cặn kẽ cho anh em chọn đường, và tất cả anh em đã theo tôi trở về đây.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #42 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2017, 08:44:49 pm »


        Nghe xong, Nguyễn Bình vỗ vai Bảy Cao :

        - Trước đây không biết, nay thì anh Bảy cứ an tâm ở lại đây. Tôi rất tin anh.

        Hôm ấy, Nguyễn Bình làm tiệc đãi Bảy Cao. Cùng dự tiệc có Tám Nghệ, Huỳnh Văn Một và Truyện - Chính ủy Trung đoàn 308.

        Trong tiệc, Bảy Cao đề nghị :

        - Trung tướng cho tôi bồi một cú nữa là Bảy Viễn xụm luôn. Tôi đi rồi nhưng còn "cài" lại một thằng bạn chí thân, nó là Cử - đại đội trưởng. Tôi hú một tiếng là nó hưởng ứng ngay.

        Nguyễn Bình cười :

        - Thôi, bao nhiêu đó đủ rồi. Kéo quân đi đầu Tây là cuộc đời giang hồ của Bảy Viễn đã chấm dứt rồi. Đối với những người kháng chiến thì hắn đã lộ nguyên hình "cốt khỉ hoàn cốt khỉ". Mình đánh bồi thêm sẽ mang tiếng là tiểu nhân...

        Từ bỏ kháng chiến về Sài Gòn, Bảy Viễn được Pháp mua chuộc, phong hàm Thiếu tướng. Nhưng Bảy Viễn không cầm quân nữa mà mở công trường khai thác gỗ (sơn tràng) cho đến năm 1955.

        Có lần, một đàn em hỏi Bảy Viễn : Ông Bảy được người Pháp trao cho lon tướng, sao không xung trận tung hoành để còn lên lon tới cho đàn em được nhờ. Hay ông Bảy sợ gì mà lại đi làm ông quản một nghề thổ mộc vậy". Bảy Viễn cười, nói : "Bảy Viễn giang hồ tướng cướp còn biết sợ cái gì trên đời này. Tao có nể thì nể tướng Nguyễn Bình và tao phục thì chỉ kính phục Cụ Hồ. Tao đã được Cụ Hồ điện thoại hỏi thăm, tuyên dương công trạng. Vậy mà... tao lại lỡ bước; lỡ bước lần này là phụ tình với Cụ Hồ thì Bảy Viễn chỉ có im lặng".

        Năm 1956, Bảy Viễn cầm đầu một phái chống Ngô Đình Diệm và Diệm quyết diệt Bảy Viễn bằng được. Vì ở thế yếu nên Bảy Viễn buộc phải trốn sang Pháp.

*

*      *

        Nguyễn Bình đã thành công trong việc tranh thủ và sử dụng lực lượng Bình Xuyên - một vấn đề mấu chốt, quan trọng nhất để giải quyết tình trạng "Thập nhị sứ quân" ở Nam Bộ. Trong chiến đấu, kẻ nào không đủ sức chịu đựng thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, kẻ đó sẽ bị đào thải, đó là lẽ đương nhiên. Trừ những phần tử thoái hóa, biến chất, các lực lượng còn lại của bộ đội Bình Xuyên đều trưởng thành nhanh chóng, hòa nhập vào lực lượng quân đội quốc gia Việt Nam, góp phần tích cực vào sự nghiệp kháng chiến.

        Theo tư liệu của Nguyên Hùng, tháng 10 năm 1948, một phái đoàn quân - dân - chính Nam Bộ ra Trung ương báo cáo tình hình với Bác Hồ, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh. Trưởng đoàn là Khu trưởng Khu 8 - Trần Văn Trà; thành viên có các ông Trần Bửu Kiếm - Tổng thư ký Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, Nguyễn Đức Thuận, linh mục Nguyễn Bá Kích, Phạm Văn Khung, Trần Văn Nguyên, Kiều Công Quế Lâm và thư ký riêng của Trung tướng Nguyễn Bình là Lương Văn Trọng (Hai Trọng - đại diện Bình Xuyên tại hội nghị An Phú Xã).

        Riêng nhiệm vụ của Hai Trọng trong chuyến đi này là báo cáo công việc thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam Bộ. Do Nguyễn Bình gợi ý trước, nên Hai Trọng đã có thời gian thu thập tài liệu để làm báo cáo và cũng đã được Nguyễn Bình duyệt. Bởi vậy, ông rất yên tâm khi lên đường ra Bắc.

        Sau mấy tháng leo đèo lội suối, băng rừng, phái đoàn cán bộ Nam Bộ đã ra tới Việt Bắc. Hai Trọng may mắn được sống bên Bác Hồ ba ngày. Các thành viên trong đoàn lần lượt báo cáo tình hình các mặt ở Nam Bộ cho Bác Hồ và các đồng chí Trung ương nghe. Riêng về tình hình quân sự ở Quân khu 7, nhất là về lực lượng Bình Xuyên, báo cáo của Hai Trọng thay mặt Trung tướng Nguyễn Bình được đặc biệt chú ý.

        Trong lúc đoàn đại biểu quân - dân - chính Nam Bộ ở Việt Bắc thì ở Nam Bộ đang chiến đấu ác liệt đánh trả quân Pháp tấn công càn quét khu căn cứ Tân Uyên. Chúng huy động thủy - lục - không quân tấn công với quy mô lớn hòng triệt phá cơ quan chỉ huy đầu não của Quân khu 7.

        Bằng đường lối chiến tranh nhân dân, quân Pháp đi đến đâu cũng bị quân và dân ta đánh trả quyết liệt. Bằng nghệ thuật chỉ huy chiến tranh du kích điêu luyện, Nguyễn Bình đã chỉ huy các đơn vị vừa đánh địch vừa tăng cường bổ sung thêm lực lượng và di chuyển khu căn cứ về Lạc An, một địa điểm nằm trên sông Đồng Nai cách Tân Uyên chưa đầy 10 kilômét. Mặt khác, Nguyễn Bình chỉ huy các Ban công tác Thành đánh mạnh trong nội thành và tấn công thẳng vào Tổng hành dinh cao ủy Pháp (Phòng thương mại cũ ở Quai de Belgique, nay là bến Chương Dương). Đồng thời tấn công bất ngờ vào trại lính Pháp ở đường Frédéric Drouhet (nay là đường Hùng Vương) phóng lửa đốt trại lính, giặc chết hàng trăm, số bị thương nằm chật nhiều bệnh viện ở Sài Gòn. ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ đã ra thông báo ghi nhận trận đánh này là trận đánh lớn nhất chưa từng xảy ra ở Nam Bộ làm thất bại hoàn toàn kế hoạch của địch hòng triệt phá cơ quan chỉ huy đầu não của ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #43 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2017, 08:47:28 pm »

           
        Ngay sau khi vào tới Nam Bộ, Nguyễn Bình đã có ý định vào Sài Gòn để tìm hiểu địch tình. Cũng theo Nguyên Hùng, vào cuối tháng 11 năm 1945, luật gia Lê Đình Chi (một trí thức yêu nước) đưa Nguyễn Bình từ Chiến khu An Phú Đông về Thị Nghè, nhờ luật sư Nguyễn Thành Vĩnh giúp đỡ. Qua sự hướng dẫn nhiệt tình và cặn kẽ của luật sư Vĩnh, Nguyễn Bình đã đột nhập an toàn vào giữa Sài Gòn, ăn ở tại biệt thự cũ của luật sư Vĩnh ở 35 đường Pièrre (nay là đường Phạm Đăng Hưng) khu Đa Kao, có xe ô tô và tài xế của luật sư Vĩnh đưa đi những nơi mà Nguyễn Bình yêu cầu. Có lần ông đi ngang qua bót Catina, xuôi đường Catina (nay là Đồng Khởi) ra bờ sông để tìm hiểu về hoạt động của cơ quan đầu não kẻ thù và suy nghĩ cách đánh thẳng vào những mục tiêu này. Cùng đi có Nguyễn Đình Chính là liên lạc nội thành dẫn đường.

        Chuyến đi này kéo dài ba ngày và trong ba ngày ấy, luật sư Vĩnh lo lắng, hồi hộp. Nếu Nguyễn Bình có bề gì thì ông lãnh đủ. Cho tới khi ông khách quý đã về An Phú Đông an toàn, lúc đó ông mới thở phào nhẹ nhõm. Nghe người lái xe kể chuyện anh Ba vô hiệu cắt tóc trên đường Catina, ông kêu trời. Chưa thấy ai gan lì như vậy. Ngồi cắt tóc trên đường Catina, chỉ cách bót thằng Bazin có mấy trăm thước. Đó là ấn tượng nổi bật nhất mà Nguyễn Bình để lại cho ông hồi ấy"1.

        Sau nhiều lần khảo sát nội thành, một bài toán đặt ra làm Nguyên Bình suy nghĩ là : Làm sao đối đầu với một đạo quân xâm lược có lực lượng hùng mạnh hơn ta nhiều lần về vũ khí và kỹ thuật hiện đại. Đánh du kích ở vùng đồi núi, vùng đồng bằng thì có thể từ một căn cứ ở chiến khu, tiến công bất ngờ rồi rút lui theo kế hoạch đã định. Còn ở vùng bị chiếm đóng, ngay giữa sào huyệt địch, với một mạng lưới mật thám dày đặc, cùng các cuộc tuần tra, canh gác ngày đêm... làm sao đánh rồi rút, đánh như thế nào? làm sao chắc thắng? Rồi rút đi đâu để bảo toàn lực lượng?

        Kết quả của các cuộc khảo sát ấy khiến Nguyễn Bình nảy ra ý định táo bạo là có thể đưa chiến tranh du kích vào nội thành, không thể chỉ bao vây, càng không thể chỉ có đấu tranh chính trị.

        Trở về chiến khu, Nguyễn Bình bàn ngay với Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Xuân Diệu và Phan Định Công :

        - Tôi thấy địch ở trong đó là ở nơi hiểm yếu, song lại là nơi có nhiều sơ hở. Hoàn toàn có thể đưa chiến tranh du kích vào nội thành. Như vậy, với đồng bào trong đó, ta luôn luôn đem lại cho bà con cô bác niềm tự hào về những chiến sĩ giải phóng quân, con em bất khuất của mình. Còn đối với kẻ thù, ta gieo sự khủng khiếp xuống đầu chúng, không cho nó được ăn ngon, ngủ yên. Trước mắt, cần chấn chỉnh các tổ chức hoạt động trong nội thành, và thống nhất chỉ huy vào một đầu mối.

        Đầu năm 1946, Nguyễn Bình giao cho Nguyễn Xuân Diệu có trách nhiệm đào tạo đưa thêm một số cán bộ và chiến sĩ có chọn lọc, theo dòng người hồi cư quay ngược trở lại Sài Gòn để tăng cường cho các đơn vị nội thành.

        Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Nguyễn Bình triệu tập tất cả các Chi đội trưởng và chỉ huy các phân đội vũ trang tự lập như : Ban trinh sát Hùng Vương, Ban trừ gian, Ban ám sát, Ban trinh sát quân chính, Ban vô hình, Đội dao găm, Đội cảm tử Nguyễn Bình,... họp tại ấp 4 xã Vĩnh Lộc, huyện Hóc Môn (Chợ Lớn) để bàn về việc thống nhất chỉ huy và lấy một tên chung là BAN CÔNG TÁC THÀNH. Tại Hội nghị này, Nguyễn Bình có một kết luận quan trọng mang tính chất quyết định : "Có thể đánh du kích ngay giữa lòng địch, xuất phát từ căn cứ nằm giữa lòng dân". Khi ra về, ông còn căn dặn các đại biểu với lời động viên thấm thía : "Các đồng chí vô Thành, rừng người bảo vệ các đồng chí còn tốt hơn rừng cây". Và ngay trong ngày 6 tháng 1 năm 1946, Ban công tác Thành số 1 được chính thức công nhận do anh Nguyễn Ngọc Sớm chỉ huy2. Tháng 4 năm 1946, anh Sớm bị giặc bắt, anh Nguyễn Đình Chính được chỉ định thay thế. Thành phần của Ban công tác Thành số 1 gồm Ban trinh sát quân chính, các nhóm Hùng Vương, Ban vô hình, Đội cảm tử Nguyễn Bình. Thành viên chủ yếu đều xuất thân từ học sinh, sinh viên, thợ thủ công và tiểu thương; hoạt động trong nội thành Sài Gòn, tập trung ở địa bàn quận 1, chợ Bến Thành, Tân Định, khu vực Đa Kao, Phú Nhuận.

-------------------------
        1. Nguyên Hùng : Nguyễn Bình - huyền thoại và sự thật. tr. 187.

        2. Nguyễn Ngọc Sớm sau này là Giám đốc đầu tiên của liên doanh dầu khí Việt - Xô.


Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #44 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2017, 08:52:54 pm »


        - Ban Công tác Thành số 2 thành lập vào cuối tháng 3 năm 1946 do anh Nguyễn Văn Tôn chỉ huy. Thành phần chủ yếu là thanh niên khu vực Chợ Thiếc, nhóm "Dao găm" cùng một số thanh niên ở ngoại ô Sài Gòn. Địa bàn hoạt động của Ban là ven vùng Chợ Thiếc, Phú Thọ, Cầu Tre, xã Bình Trị Đông.

        - Ban Công tác Thành số 3 thành lập vào cuối tháng 4 năm 1946 do Nguyễn Văn Hâm (Sáu Hâm) chỉ huy, Nguyễn Văn Hiến làm chính trị viên. Thành phần chủ yết là du kích hai xã Tân Sơn Nhì, Bà Quẹo, hoạt động trên phạm vi hai xã, sau phát triển ra Tân Sơn Nhất, Phú Nhuận, Tân Bình.

        - Ban Công tác Thành số 4 thành lập tháng 5 năm 1946 do Triệu Cải chỉ huy. Đa số đội viên xuất thân từ Liên hiệp Công đoàn thành, giữ mặt trận tiền tuyến phía bắc Sài Gòn (gồm Gò Vấp, An Phú Đông). Thành phần chủ yếu là công nhân các nghiệp đoàn, thợ thủ công, lao động tự do; hoạt động ở khu vực Gò Vấp, Bà Chiểu, phú Nhuận, Phú Thọ, Chợ Thiếc, với quân số khoảng 700 người, kể cả chính thức và dự bị.

        - Ban Công tác Thành số 5 thành lập tháng 6 năm 1946 do Nguyễn Văn Phân chỉ huy. Tiền thân của Ban công tác số 5 là Ban trinh sát của Chi đội 4 do Mười Trí (tức sư thúc Hòa Hảo sau này) chỉ huy, tách khỏi Chi đội 4 nhập vào một bộ phận của Quốc gia tự vệ (một nhóm Bình Xuyên). Thành phần chủ yếu là thanh niên nông dân vùng Hóc Môn, Bà Điểm và một số công nhân các nhà máy xay lúa ở Quai des fonques (nay là bến Hàm Tử và Lê Quang Liêm - Chợ Lớn) và một số anh em lao động tự do ở Hộ 17 và Hộ 18.

        - Ban Công tác Thành số 6 thành lập khoảng cuối tháng 6 năm 1946 do anh Nguyễn Văn Nam (Bảy Nam) chỉ huy. Sau Nam bị giặc bắt thì Võ Tâm Thành thay thế. Tiền thân của Ban công tác này là một bộ phận của Ban 2 và Ban 5 tách ra khỏi ban cũ. Lực lượng của Ban 6 đóng rải rác hoạt động ở các vùng Trường đua Phú thọ, Bình Thời, đường Frédéric Drouhet (Hùng Vương), đường Bd de la Ceinture giáp ranh giữa hai quận 10 và quận 11 (nay là đường 3-2), cầu ông Lãnh, Vĩnh Hội...

        Ban Công tác Thành số 6 gồm khoảng 500 người, có tờ báo riêng tên gọi "Chính nghĩa", có trạm xá cho các chiến sĩ, cán bộ bị thương và đau ốm.

        Dưới Ban Công tác Thành có các liên tổ, là những đơn vị trực tiếp chiến đấu ngăn cách với nhau. Mỗi tổ gồm nhiều tổ nhỏ. Quân số của một liên tổ khoảng từ 20 đến 30 người. Nhưng cũng có liên tổ có quân số lên tới 40 hoặc 50 người. Mỗi Ban công tác thường có 4 hoặc 5 liên tổ. Riêng Ban 6 có tới 13 liên tổ.

        Ngoài các liên tổ chiến đấu nội thành, các Ban công tác còn có một bộ phận vũ trang du kích ở ngoại thành phối hợp tác chiến lấy tên là LIÊN TÁC CHIẾN ĐẤU QUÂN. Liên tác chiến đấu quân được trang bị các loại Vũ khí : Trung liên FM, MAS..., tiểu liên Sten, Carbine, Thompson; súng trường đủ loại Pháp, Mỹ, Nhật cùng lựu đạn và vũ khí trắng (arme blanche) như dao găm, kiếm...

        Các loại vũ khí trang bị cho ban liên tác chiến đấu quân hầu hết đều đo các Ban công tác đoạt được của giặc cung cấp. Ban chỉ huy Liên tác chiến đấu quân do hội nghị liên tịch bầu ra đề nghị lên Bộ Tư lệnh Khu xét chuẩn y.

        Liên tác chiến đấu quân có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh khu vực đóng quân ngoại thành của các Ban công tác, chống các cuộc càn quét khủng bố của địch, yểm trợ những vụ phá hoại lớn của các liên tổ, có khi đánh đồn diệt bốt ở vùng "meo" (nơi giáp ranh giữa vùng du kích và vùng tạm chiếm).

        Thành phần Liên tác chiến đấu quân gồm số cán bộ và chiến sĩ của các Ban công tác bị lộ mặt không có điều kiện về hoạt động nội thành và số thanh niên địa phương nơi Liên tác chiến đấu quân đóng đại bản doanh.

        Lúc này, cùng với lực lượng Liên tác chiến đấu quân, còn có hai trung đội tự vệ tập trung do đồng chí Trần Bá Hào chỉ huy, thường xuyên phối hợp với lực lượng nội thành đánh địch.

        Song song với việc củng cố, chấn chỉnh các Ban công tác Thành (một tổ chức chiến đấu đặc thù của Việt Nam). Nguyễn Bình đã tổ chức lực lượng tự vệ. Khác với 6 Ban Công tác Thành được tổ chức và hoạt động theo kiểu vũ trang cơ động, đánh đặc công. Tự vệ thành được tổ chức theo địa bàn dân cư, lấy 18 Hộ làm đơn vị phân chia địa bàn hoạt động (Hộ tương đương đơn vị quận ngày nay). Lực lượng nòng cốt của tự vệ thành là một số cán bộ và học sinh Trường Quân chính Khu 7 - khóa Hồ Chí Minh cuối 1945 và khóa Võ Nguyên Giáp cuối tháng 3 năm 1946, cùng học viên các khóa tiếp theo được điều về Sài Gòn xây dựng cơ sở vũ trang. Đối tượng phần đông là thanh niên, học sinh, tiểu thương, dân nghèo thành thị và công nhân lao động.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #45 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2017, 11:45:40 am »


        Theo quyết định của Nguyễn Bình, Tự vệ thành được thành lập đầu tháng 3 năm 1946 và được tổ chức thành 15 khu và đội tự vệ. Mỗi khu phụ trách một vùng nhất định. Còn đội thì có thể phụ trách một số vùng quan trọng, trong đó có các xí nghiệp lớn.

        Địa bàn hoạt động của các khu hay đội, chủ yếu ở những nơi có quần chúng đông đảo như :

        - Đội Bắc Sơn hoạt động nhiều ở vùng cầu Kho, cầu ông Lãnh, do đồng chí Huỳnh Văn Khai là tự vệ trưởng.

        - Đội Bạch Đằng : Vùng chợ Phú Nhuận, do Đặng Đức Hào là tự vệ trưởng.

        - Đội Ký Con : Hoạt động có nhiều kết quả tại nhiều nơi trong thành phố, do Đào Văn Thục là tự vệ trưởng.

        - Đội Tô Hiệu : Chuyên hoạt động ở những khu vực như cầu Chữ Y, khu Nhà đèn Chợ Quán, Khánh Hội, Vĩnh Hội, cầu Tân Thuận..., do Nguyễn Văn Nam (tức Nguyễn Danh Khôi) là tự vệ trưởng.

        - Đội Quang Trung: do anh Chín Đố, Như Thơ (tức Ba Thêu) và Lý Kỳ Nam phụ trách.

        - Khu Tây Hồ hoạt động vùng Chợ Cũ.

        - Đội Phạm Ngũ Lão : hoạt động vùng Đa Kao, Sở Thú, do Ba Đen là tự vệ trưởng (Ba Đen sau này là người chỉ huy trận đánh vào tòa Đại sứ Mỹ Tết Mậu thân 1968).

        - Đội Trần Quốc Tuấn do Đoàn Cát là tự vệ trưởng.

        Ngoài ra còn có một số khu và đội tự vệ khác...

        Về quân số của một khu hay đội tự vệ tương đương với một trung đội bán vũ trang ở vùng tranh chấp lúc bấy giờ. Mỗi khu hay đội đều chia ra các "phân đội" có 9 đội viên. Nhiều "phân đội" họp thành "liên đội".

        Ban chỉ huy Tự vệ thành có tên gọi Thành bộ Tự vệ. Ban Chỉ huy được Nguyễn Bình chỉ định gồm : Nguyễn Xuân Diệu (tức Nguyễn Thanh Chương - Giám đốc Trường Quân chính Quân khu 7) làm Chỉ huy trưởng. Thời gian này Nguyễn Xuân Diệu còn được Nguyễn Bình ủy nhiệm đại diện cho Khu trưởng chỉ huy cả các Ban Công tác Thành. Nguyễn Mạnh Liên (tức Vũ Kiên Trinh, cán bộ Nam tiến, huấn luyện viên quân sự Trường Quân chính Quân khu 7) làm Chỉ huy phó cùng Nguyễn Văn Tư (tức Trịnh Văn Hà hay Tư Hà - kỹ sư canh nông tham gia kháng chiến ngay từ đầu làm công tác vận động trí thức của Mặt trận Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn) làm Chỉ huy phó.

        Đầu tháng 4 năm 1946, hai đồng chí Chỉ huy phó Tự vệ thành là Nguyễn Mạnh Liên và Trịnh Văn Hà bị địch bắt, thì đồng chí Hà Ngọc Tiếu (tên thật là Nguyễn Văn Hoàn) bị địch bắt vừa được trả tự do, được cử thay là Chỉ huy phó.

        Các Ban Công tác Thành và khu - đội tự vệ thành sau khi được củng cố, thống nhất chỉ huy đã đánh địch rất mạnh. Chiến công của các chiến sĩ ở tự vệ thành Sài Gòn bắt đầu vang dội bằng các trận đánh diệt ác, trừ gian táo bạo với trận trừng trị tên Việt gian Hiền Sĩ do Nguyễn Thị Lan (tức Lan Mê Linh) 16 tuổi - chiến sĩ Ban Công tác Thành số 1 - thực hiện ngày 12 tháng 3 năm 1946 ngay đường Bonard, gần nhà thuốc Nguyễn Văn Cao Ở góc đường Vrénot Bonard (Phan Bội Châu - Lê Lợi) ngang hông chợ Bến Thành.

        Tiếp theo, các chiến sĩ Ban Công tác Thành số 1 đã trừng trị tên hội đồng tư vấn bác sĩ Trần Tấn Phát ngay trên xe hơi ở trước nhà riêng của hắn số 114 đường Duranton (nay là Bùi Thị Xuân). Hạ sát tên Hội đồng tư vấn Nguyễn Văn Trạch. Phá nổ kho bom đạn ở đường Docteur Angier trên tả ngạn kênh Avalanche (Thị Nghè) làm bom đạn trong kho nổ cả ngày trời, làm sụp đổ nhiều nhà cửa, biệt thự...

        Tháng 6 năm 1946, để cảnh cáo những tên Việt gian tham gia nội các Nam Kỳ tự trị do Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng. Trưởng ban Công tác Thành số 1 Nguyễn Đình Chính trực tiếp thi hành bản án xử tử hình tên phản bội họa sĩ Hiền ngay tại nhà y ở 218 đường Lagrandière (nay là Lý Tự Trọng).

        Hàng chục, hàng trăm trận đánh với nhiều cách đánh khác nhau đã làm bọn giặc và bè lũ tay sai hoảng sợ. Nguyễn Bình đã khắc họa đậm nét bức tranh toàn dân đánh giặc; lớn bé, già trẻ, gái trai... đều đánh giặc. Không chỉ đấu tranh quân sự, mà nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn còn hăng hái xuống đường biểu tình phản dối cái gọi là "nước Nam Kỳ tự trị" làm cho nội các Nguyễn Văn Thinh mới thành lập ngày 7 tháng 5 năm 1946, chưa làm được trò trống gì thì thủ tướng Nguyên Văn Thinh đã treo cổ tự sát.

        Trong số các chiến sĩ nội thành, Khu trưởng Nguyễn Bình "cưng" nhất Ban Công tác Thành số 1, vì không những là đơn vị được thành lập đầu tiên mà còn vì người chỉ huy của đơn vị rất anh hùng, dũng cảm. Nguyễn Đình Chính, trưởng ban Công tác Thành số 1, quê ở làng Nguyên Xá - Tiên Hưng - Thái Bình, đã chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận xuất sắc, đánh sâu, đánh hiểm. Anh đã bị giặc bắt, hai lần bị địch kết án tử hình với hơn 50 tội ghi trong cáo trạng, trong đó có tội đưa Khu trưởng Nguyễn Bình thâm nhập nội thành.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #46 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2017, 11:49:05 am »


        Trong phiên tòa cuối cùng, anh không cần trạng sư biện hộ, Nguyễn Đình Chính tự đọc bản điều trần bằng tiếng Pháp vạch rõ tội ác của thực dân Pháp và chỉ rõ đó là nguyên nhân khiến anh phải làm cách mạng. Cuối bản điều trần được kết thúc bằng hai khẩu hiệu, anh hô lớn : Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm ! Hồ Chí Minh muôn năm!

        Những người biết tiếng Pháp dự phiên tòa theo dõi bị cuốn hút vào bản tự bào chữa của anh mà không sao hiểu nổi một chiến sĩ mới 24 tuổi đời đã lãnh án tử hình hai lần lại có thể đọc trước tòa một bản điều trần đầy sức thuyết phục đến thế.

        Trong khi bị giam ở khám tử tù, Nguyễn Đình Chính (Chính Heo) nảy ra một ý định táo bạo là chụp ảnh tại khám tử tù để gửi lên Bác Hồ. Anh đã nhờ người y tá của trại là "thầy Chín Minh" kiếm máy ảnh giao cho Thuận (một y tá - tù nhân) lấy cớ vào khám bệnh "Chính Heo" và anh Thuận đã bấm máy chụp được vài kiểu ảnh. Anh Lê Quang Trọng - con trai má nuôi của "Chính Heo" tráng phim rồi chọn tấm ảnh đẹp rõ nhất gửi vào khám để "Chính Heo" nắn nót viết những dòng chữ sau tấm ảnh :

        Kính tặng Hồ Chủ tịch.
        Thưa Cha,

        Đây là một cảnh âm cung trên dương thế con chụp được gởi kính tặng Cha công bố cho thế giới thấy bằng cớ xâm lăng của nước Pháp mới.

        Lần thứ nhất chúng kết án tử hình con vào ngày 10-10-1947. Con sống trong cảnh này đến 19-5-1948, chúng đưa con ra trước công lý xâm lăng lần thứ hai, tặng thêm cho một án tử hình nữa. Con vẫn cười đọc bản điều trần "Mémoire de défense", giải rõ ý niệm tranh thủ độc lập của Việt Nam và đưa cái công lý xâm lăng của chúng ra ánh sáng. Kết luận con tuyên bố trước mặt chúng : Tôi rất sung sướng và lấy làm vinh dự được chết cho nước tôi. Chúng tôi tin tới lúc chết, nước Việt Nam sẽ độc lập.

        Việt Nam độc lập và thông nhất muôn năm!

Một đứa con yêu của Cha                 
Nguyễn Đình Chính, tự Chính Heo         
Hầm tử hình 18a-khám lớn Sài Gòn.       

*

*      *

        Sau Hiệp định ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hội nghị trù bị Việt - Pháp ở Đà Lạt từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5 không có kết quả gì, vì hai bên có quan điểm bất đồng về tất cả các vấn đề: chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế và ngoại giao.

        Với thời gian, và với thực tiễn chiến đấu của các đơn vị vũ trang nội thành, được phong trào đô thị Sài Gòn tiếp sức, những ý kiến khác biệt nhau dần dần quy tụ về một mục đích chung là lòng yêu nước : "Cứu nước lúc này là nhiệm vụ cao cả trên hết".

        Tại chiến trường Nam Bộ, để trả lời đích đáng điều kiện về ngừng bắn do Đácgiăngliơ đưa ra là "Quân kháng chiến phải hạ vũ khí", Khu trưởng Nguyễn Bình đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên khắp các vùng.

        Trong nội thành, ngày 14 tháng 7 năm 1946, chiến sĩ thành Sài Gòn treo cờ đỏ sao vàng và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở phủ Toàn quyền. Nhiều khẩu hiệu và truyền đơn chống Pháp xuất hiện khắp nơi, khiến Pháp phải ra lệnh giới nghiêm.

        Nhiều nơi, đồng bào Sài Gòn bãi chợ, bãi công để phản đối Cao ủy Pháp Đácgiăngliơ triệu tập hội nghị Liên bang Đông Dương tại Đà Lạt, tháng 7 năm 1946. Khẩu hiệu "Thống nhất Tổ quốc", "Phản đối chính phủ tự trị" xuất hiện công khai trên nhiều tờ báo ở Sài Gòn.

        Rạng sáng 19 tháng 8 năm 1946, nhân kỷ niệm một năm ngày Tổng khởi nghĩa, theo chủ trương của thành bộ Việt Minh, công nhân Sài Gòn đình công để tỏ thái độ kiên quyết không hợp tác với giặc Pháp; các đoàn thể khác như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc... cũng có nhiều hình thức hưởng ứng. Các chiến sĩ tự vệ Sài Gòn tiến công nhiều điểm của quân Pháp, hỗ trợ cho cuộc đình công của công nhân. Trên đường từ Chợ Lớn đến cầu ông Lãnh, đồng bào các giới chen chúc nghe các chiến sĩ xung phong của Ban Công tác Thành và Tự vệ thành diễn thuyết dưới cờ đỏ sao vàng. Khí thế sôi sục áp đảo của đồng bào Sài Gòn khiến giặc Pháp lúng túng.

        Trong khi ấy, Hội nghị giữa hai phái đoàn Pháp và Việt Nam dân chủ cộng hòa không diễn ra tại Paris như dự kiến, mà ở lâu đài Phôngtennơblô, cách Paris 50 kilômét. Quan hệ giữa hai nước Việt - Pháp ngày càng xấu đi, thậm chí có thể dẫn đến đôi bên cắt đứt mọi quan hệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tạm ước với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Manus Moutet ngày 14-9-1946.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #47 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2017, 11:54:14 am »


        Để biểu thị thái độ nghiêm chỉnh chấp hành mọi chỉ thị của Trung ương và chủ trương đường lối của Chính phủ Trung ương, Nguyễn Bình ra mệnh lệnh công khai bằng văn bản "Thông sức". Toàn văn như sau :

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

        Để tỏ rõ sự thống nhất chỉ huy và tinh thần trọng kỷ luật của Quân đội Việt Nam.

        Để tỏ rõ lúc nào chúng ta cũng mến chuộng hòa bình.

        Để tỏ rằng quân đội ta lúc nào cũng tôn trọng những hiệp ước của Chính phủ Việt Nam đã ký với chính phủ Pháp.
       

THÔNG SỨC

        Cho tất cả Vệ quốc quân Việt Nam ở Nam Bộ.

        Cho các Chi đội, các bộ đội lưu động, các đội du kích, các tổ chức Tự vệ chiến đấu, các tổ chức dân quân.

        Phải tuyệt đối thi hành đúng bản thỏa hiệp án ngày 14 tháng 9 năm 1946 về những khoản có liên can đến vấn đề quân sự.

        Phải ngừng sự bắn phá trước hồi 24 giờ ngày 24 tháng 10 năm 1946.

        Phải tránh hết sức mọi sự khiêu khích với quân đội Pháp.

        Phải giữ vững và củng cố vị trí đóng quân của ta; nhưng cũng phải, khi bị đặt vào tình thế tự vệ, nghĩa là khi quân đội Pháp vô cớ tấn công, chống trả lại để giữ vững căn cứ đóng quân cũng như để bảo toàn thực lực quân mình.

        Thông sức này, Vệ quốc quân cũng như bộ đội khác phải triệt để thi hành.

        Tổng hành dinh, ngày 10 tháng 10 năm 1946

NGUYỄN BÌNH             
Ủy viên quân sự Nam Bộ1       

        Mặc dầu hai nước Việt - pháp đã ký Tạm ước Phôngtennơblô nhưng thực dân phản động Pháp ở Đông Dương vẫn ngoan cố mưu toan mở rộng chiến tranh thôn tính Việt Nam bằng vũ lực.

        Sau khi đã ký với Trung Hoa Hiệp ước thân thiện, quân Pháp sẽ thay thế quân Tưởng Giới Thạch để giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra. Pháp sẽ trả lại Trung Hoa các tô giới, bán rẻ đường xe lửa Lào Cai - Vân Nam, miễn thuế quan cho hàng Trung Quốc chuyển khẩu, dành mọi sự dễ dàng cho Hoa kiều ở Đông Dương,... Pháp đã đưa quân đội viễn chinh ra Bắc, đổ bộ lên thành phố Hải Phòng, rồi đưa quân vào thủ đô Hà Nội. Chúng ra sức khiêu khích, quấy phá và gây hấn ở giữa lòng Thủ đô; máu của đồng bào và chiến sĩ ta đã đổ trên đường phố...

        20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, quân dân thủ đô Hà Nội đồng loạt nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc.

        Trước tình hình này, ở Nam Bộ, Khu trưởng Nguyễn Bình chủ trương chấn chỉnh lần nữa lực lượng vũ trang nội thành và phân chia lại địa bàn hoạt động cho các đơn vị. Đồng thời triển khai chỉ thị của Trung ương, tổ chức cho các địa phương xây dựng ba thứ quân: Bộ đội chủ lực toàn miền đổi tên GIẢI PHÓNG QUÂN thành VỆ QUỐC QUÂN.

        Đầu năm 1947, Ủy ban Kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn quyết định thành lập một trung đoàn chủ lực đầu tiên mang tên Trung đoàn Phạm Hồng Thái, gồm ba tiểu đoàn :

        1. Tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ do Trần Bá Hào làm Tiểu đoàn trưởng, Lê Lăng (tức Châu Văn Hô) Tiểu đoàn phó, Phạm Thái Chu - Chính trị viên.

        Tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ gồm một phần của Tự vệ thành, tiểu đoàn Ngô Gia Tự của Liên hiệp Nghiệp đoàn Sài Gòn và tiểu đoàn Ký Con của các Ban Công tác Thành.

        2. Tiểu đoàn Ngô Gia Tự do Nguyễn Minh Đức làm tiểu đoàn trưởng, Phùng Minh Ký (Bảy Rể) làm tiểu đoàn phó, Lê Tấn Ích làm chính trị viên.

        Tiểu đoàn Ngô Gia Tự gồm lực lượng vũ trang của Liên hiệp Nghiệp đoàn thành phố với hai cánh quân : một của anh Triệu Cải ở Gò Vấp và một của anh Nguyễn Văn Quờn (Tám Quờn) ở Chợ Thiếc, kết hợp với lực lượng vũ trang của Ban Công tác số 4.

        3. Tiểu đoàn Ký Con do Nguyễn Văn Thuận làm tiểu đoàn trưởng, Hoàng Giai Nhi làm Tiểu đoàn phó và Khưu Tấn Lợi làm Chính trị viên.

        Tiểu đoàn Ký Con gồm lực lượng của bơn Ban Công tác số 1, 2, 3, 5 và một đơn vị tiếp phòng quân từ Quảng Ngãi vào gồm ba trung đội được trang bị đầy đủ.

        Ngoài việc thành lập Trung đoàn chủ lực Phạm Hồng Thái, Ủy ban Kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn quyết định đổi tên các Ban Công tác Thành và sắp xếp lại lực lượng thành các đại đội du kích trực thuộc Thành đội bộ dân quân; mang phiên hiệu từ Đại đội 1 đến Đại đội 7. Lực lượng Tự vệ Thành còn lại tập trung thành ba đại đội du kích quân mang phiên hiệu 8 - 9 - 10. Ngoài các Ban Công tác Thành và Tự vệ thành còn có Ban công tác Đặc biệt và Ban công tác 145.

        Để đáp ứng yêu cầu xây dựng và tổ chức lực lượng vũ trang Khu 7, Khu trưởng Nguyễn Bình quyết định đưa Nguyễn Xuân Diệu trở về đảm nhiệm Giám đốc Trường Quân chính Khu 7 và chỉ định đồng chí Hà Ngọc Tiếu làm Chỉ huy trưởng Tự vệ thành.

---------------------
        1. Văn bản này đăng trong Việt bút tân văn, số ra ngày 27-10-1946 do Đại tá Nguyễn Xuân Diệu sưu tầm.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #48 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2017, 12:14:03 pm »


        Sau khi các tổ chức lực lượng vũ trang được củng cố chỉnh đốn lại, được sự chỉ huy thống nhất và trực tiếp của Khu trưởng Nguyễn Bình, chiến sĩ của Ban Công tác Thành, Tự vệ thành, Công an xung phong, của Trung đội nữ biệt động Minh Khai, của đội quân Thiếu niên "Tiểu quỷ"... đã phối hợp chặt chẽ, chiến đấu qua hàng nghìn trận đánh đau, đánh hiểm; phá các đồn bốt, trụ sở, kho tàng, kho bom đạn, xăng dầu, sân bay, bến cảng... Diệt trừ những tên Việt gian phản động như Hiền Sĩ, Trần Tấn Phát, Nguyên Văn Sâm...; trừng trị những tên thực dân dầu sỏ như Bazin, Boncivim, De Lachevrotière, Hans Imflet...

        Nhân dịp thực dân Pháp cử Emile Bolaert sang thay đô đốc Đácgiăngliơ, đồng chí Hà Ngọc Tiếu đã chỉ huy Tự vệ thành dùng chất nổ đánh phá sòng bạc Grand Monde (Đại thế giới) và phá Kermesse (Hội chợ triển lãm) ở vườn hoa Ông Thượng (nay là Công viên Tao Đàn) đốt cháy 20 gian hàng mỹ phẩm và một sòng Tài Xíu.

        Có điều các chiến sĩ nội thành luôn ghi nhớ lời căn dặn của Nguyễn Bình : "Đánh giặc để bảo vệ dân không được để dân phải hy sinh vô ích". Vì vậy, mỗi trận đánh, các chiến sĩ đều phải chọn loại vũ khí thích hợp để tránh cho dân khỏi bị thương vong. Đồng chí Hà Ngọc Tiếu giao các loại vũ khí này cho đốc công Quý, Minh Chánh và kỹ sư Lê Tâm chế tạo.

        Bằng cách đánh muôn màu, muôn vẻ, "xuất quỷ nhập thần", các chiến sĩ ta đã làm thất bại âm mưu "dùng người Việt, đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của Pháp.

        Có một điều thú vị là chiến tranh du kích không chỉ đưa vào Sài Gòn - Chợ Lớn để đánh địch, mà nó còn vươn tới tận Paris trong trường hợp Công an xung phong quyết định trừng trị một tên Việt gian đã trốn sang Pháp nhưng vẫn tiếp tục làm nghề thầu quân nhu để cung cấp cho quân đội Pháp. Đồng chí Võ Gia Phục Quốc đã tình nguyện sang Pháp tìm đến tận giường ngủ của hắn ở đường Đờ Gôn, vùng ngoại ô Paris, đọc bản án rồi mới hạ sát. Tiếng súng diệt ác, trừ gian của chiến sĩ ta ở Paris đã góp phần đánh thức lương tri người Pháp đòi Chính phủ của họ phải chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược nhơ bẩn ở Việt Nam.

        Với những cống hiến xuất sắc của mình, Nguyễn Bình đã được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương phê chuẩn kết nạp ông vào Đảng và chỉ định ông tham gia Xứ ủy, đồng thời là Xứ quân ủy và Ủy viên quân sự trong Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ. Giờ đây tình thế cách mạng đã thay đổi. Vận mạng của dân tộc đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc; đòi hỏi những người cách mạng không thể có thái độ lừng chừng mà phải đứng hẳn vào vị trí mũi nhọn của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Bởi vậy, Trung ương quyết định kết nạp Nguyễn Bình vào Đảng và đã đặt ông vào đúng chỗ. Đồng chí Nguyễn Xuân Diệu kể lại ngày Nguyễn Bình được kết nạp vào Đảng : "Trước khi Nguyễn Bình vào Đảng, có lần anh Tô Ký hỏi anh Ba Duẩn : "Sao hồi ở Côn Đảo không kết nạp anh Bình vào Đảng?". Anh Duẩn trả lời : "Tuy Nguyễn Phương Thảo đã được "xích hóa", đã thực sự đứng hẳn về lập trường vô sản và đã có những hành động tích cực đấu tranh với phái bảo thủ của Quốc dân đảng. Nhưng cỡ Nguyễn Phương Thảo, Đảng bộ Côn Đảo không đủ thẩm quyền kết nạp, mà phải do Trung ương".

        Ngày anh Bình vào Đảng, có một sự việc làm tôi nhớ mãi : Hôm đó tôi có việc đi qua Tân Mỹ ghé vào Văn phòng Bộ Tư lệnh rồi về Vĩnh Lộc. Gặp anh Bình ở Tân Mỹ, anh bảo tôi ở lại để cùng anh đi về Trung Chánh (Hóc Môn). Đoàn đi chỉ có ba người : Anh Bình, anh Tô Ký và tôi, không có liên lạc cận vệ. Anh Tô Ký thuộc đường nên trực tiếp dẫn đường. Đường đi qua nhiều ruộng nước còn lấp xấp vì đang mùa mưa. Đến Trung Chánh ở nhà anh Râu Giò - Trưởng Công an Hóc Môn, anh Râu Giò bố trí tôi và anh Bình cùng nghỉ một nhà. Sáng hôm sau, anh sang nhà bên họp. Cuộc họp có mặt các anh Hà Huy Giáp, Nguyễn Đức Thuận, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Minh Định, Phạm Thiều. Tôi không dự họp nhưng lúc ăn cơm tôi gặp các anh trên. Sau cuộc họp, anh Bình cho tôi biết : Hôm nay các anh tổ chức lễ kết nạp anh Bình và anh Phạm Thiều vào Đảng. Sau đó Công an báo có tin địch vào ruồng. Anh Râu Giò dắt anh Bình và tôi xuống một căn hầm bí mật giữa vườn cao su Bà Đầm và giao cho chúng tôi một khẩu tiểu liên để đề phòng khi có bất trắc. Đang ở trong hầm thì nghe tiếng rắc rắc ở nắp hầm. Chúng tôi phán đoán có địch trên nắp hầm, nắp hầm không chịu được nguy cơ bị sập. Anh Bình lấy tiểu liên kê ở miệng hầm, còn tôi thì còng lưng đỡ nắp hầm. Anh Bình bảo tôi : Nếu địch tìm thấy hầm thì anh sẽ bắn và cùng thoát lên mặt đất tháo thân. Chờ mãi không thấy động tĩnh gì. Lúc địch rút, anh Râu Giò đến báo hiệu rồi mở nắp cho chúng tôi lên. Thì ra các cành cao su làm nắp hầm lâu ngày bị mục, gặp mưa nên nắp hầm không chịu được nên mới sập. Tối hôm đó anh Tô Ký lại dẫn chúng tôi đi Vĩnh Lộc".

        Qua tìm hiểu của anh Nguyên Xuân Diệu, lý lịch của đồng chí Phạm Thiều có ghi anh vào Đảng tháng 6 năm 1946, như vậy Nguyễn Bình cũng vào Đảng tháng 6 năm 1946.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #49 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2017, 12:15:16 pm »

         
*

*      *
    
        Chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 làm thất bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của quân đội viễn chinh Pháp, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Trung ương nhận định giai đoạn phòng ngự đã qua và đưa cuộc kháng chiến sang giai đoạn cầm cự. Giai đoạn này đòi hỏi cả nước phải nỗ lực xây dựng ba thứ quân và chính quy hóa lực lượng quân sự.

        Ngày 12 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 115/SL quyết định phong hàm cấp tướng đầu tiên cho Quân đội quốc gia Việt Nam, gồm :

        1 Đại tướng : Võ Nguyên Giáp.

        1 Trung tướng : Nguyễn Bình.

        9 Thiếu tướng : Hoàng Văn Thái, Nguyễn Sơn, Văn Tiến Dũng, Trần Tử Bình, Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Trần Đại Nghĩa và Lê Hiến Mai (tức Dương Quốc Chính).

        Nhận được Sắc lệnh này, nhân dân Nam Bộ vui mừng coi đây là một phần thưởng không chỉ dành riêng cho Nguyễn Bình mà là sự ghi nhận thành tích chiến đấu của phong trào kháng chiến Nam Bộ. Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ đã tổ chức trọng thể lễ tấn phong quân hàm Trung tướng cho Khu trưởng Nguyễn Bình.

        Lúc này Quân khu 7 và thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn do chưa chuyển biến kịp về tổ chức, tư tưởng, quan hệ lãnh đạo và chỉ huy, hình thức đấu tranh chưa thật thích hợp... nên hoạt động của các đại đội du kích và Tự vệ thành có phần lúng túng bị động. Một hiện tượng tâm lý nảy sinh phổ biến ở khắp các đơn vị, là đơn vị nào cũng muốn được sự chỉ huy trực tiếp của Trung tướng Nguyễn Bình.

        Nhằm giải quyết tình trạng này, tháng 3 năm 1948, Trung tướng Nguyễn Bình triệu tập tất cả cán bộ chỉ huy các đơn vị về họp ở ấp B, kinh Tây thuộc quận Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn. Tại Hội nghị này, Trung tướng Nguyễn Bình quyết định chuyển các đại đội về trực thuộc Khu 7 và đổi tên gọi các đại đội du kích trở lại tên gọi cũ là các BAN CÔNG TÁC THÀNH lấy phiên hiệu từ số 1 đến số 10. Và thành lập Ban TV200CT gồm các đồng chí Nguyễn Tứ Phương - Tổng thư ký, Phạm Ngọc Thảo và Phạm Tuân - ủy viên, làm đầu mối quản lý các Ban công tác, chuyển thể Ban chỉ huy liên đội 8, 9, 10 thành cơ quan giúp việc1.

        Ba tháng sau đó, tháng 6 năm 1948, Trung tướng Nguyễn Bình lại triệu tập một hội nghị cũng tại địa điểm trên gồm cán bộ chỉ huy các Ban Công tác Thành và đồng chí Nguyễn Tứ Phương. Hội nghị quyết định giải thể Ban TV200CT vì Phòng Mật vụ của đồng chí Phạm Ngọc Thảo phải dời về thượng nguồn Vàm Cỏ Tây, nên không còn điều kiện cùng bám chỉ đạo Ban TV200CT nữa. Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đã chỉ định đồng chí Hà Ngọc Tiếu làm Trưởng khoa Mật vụ Quân khu 7 sau đổi thành Khoa Quân báo Quân khu 7. Hội nghị thành lập Ban chỉ huy các Ban Công tác Thành (gồm 10 Ban Công tác Thành và Ban công tác 145) thay mặt Bộ lư lệnh Khu 7 gồm : Nguyễn Văn Công - Trung đoàn trưởng Liên quân 306 - 312, kiêm nhiệm vụ chỉ huy trưởng các Ban Công tác Thành và Nguyễn Tứ Phương làm Chính trị viên.

        Ngoài ra, Trung tướng Nguyễn Bình còn chỉ đạo 10 Ban Công tác Thành kết nghĩa với 10 trung đoàn Vệ quốc đoàn nhằm tăng cường mối quan hệ phối hợp chiến đấu khi cần thiết, hỗ trợ nhau về vật chất và tinh thần. Chiến công của trung đoàn “đỡ đầu” Ban công tác nào được xem là thành tích của Ban công tác ấy, và ngược lại. Số người nào trong Ban Công tác Thành bị lộ, không thể tiếp tục hoạt động ở nội thành được nữa, thì bổ sung cho trung đoàn “đỡ đầu”.

        Trong suốt thời gian này, Nguyễn Bình vẫn gan góc ra vào Sài Gòn như con thoi; không chỉ vào để chỉ đạo công tác quân sự mà còn để giải quyết nhiều công tác khác như gặp gỡ các nhà trí thức có tên tuổi hoặc các nhân sĩ yêu nước, để vận động họ đi theo kháng chiến và phục vụ kháng chiến. Theo ông thì nếu chỉ ngồi ở chiến khu mời họ ra sẽ ít hiệu quả, biện pháp tốt nhất là nên trực tiếp gặp họ ở Sài Gòn thì việc vận động sẽ có hiệu quả nhiều hơn. Chính vì vậy, Nguyễn Bình đã quy tụ được nhiều trí thức có uy tín lớn như : đốc công (kỹ sư) Lanh, đốc công Quý, đốc công Hợi (thân phụ bà Nguyễn Thị Bình), đốc công Kỳ, bác sĩ Hồ Văn Huê, bác sĩ Võ Cương, bác sĩ Trần Nam Hưng (lúc này đang làm sĩ quan trong quân đội Pháp), giáo sư Phạm Thiều, luật sư Lê Đình Chi, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, nhà bác học Lưu Văn Lang... Đặc biệt, khi biết kỹ sư Lê Tâm (tên thật là Nguyễn Hy Hiên) vừa tốt nghiệp ở Pháp về, Nguyễn Bình cử người ra tận tàu biển đón và đưa về Tổng hành dinh. Nguyễn Bình đã thuyết phục ông tình nguyện theo kháng chiến và giao cho ông tổ chức binh công xưởng chế tạo vũ khí.

-----------------------
        1. Tên gọi BAN CÔNG TÁC THÀNH là do Nguyễn Bình đặt. Trong Từ điển Bách khoa Quân sự không có cụm từ này, mà chỉ có tên gọi các đơn vị Tiểu đội, trung đội, đại đội... Đại tá Nguyễn Xuân Diệu sưu tầm.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2017, 12:22:10 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM