Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:47:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 19707 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:14:30 am »

Rõ ràng qua mỗi giai đoạn của cách mạng, của chiến tranh cách mạng, việc đánh giá đúng đắn sức mạnh của ta và địch, thấy rõ cái yếu của địch và cả cái yếu của ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên là điều kiện cơ bản nhất cho những chủ trương đúng tiếp theo, đưa cuộc cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến toàn thắng cũng xuất phát từ sự đánh giá tương quan giữa cách mạng và phản cách mạng, không những trong nước mà cả trên thế giới, nói chung là chính xác, mặc dầu có lúc có nơi, có cái cụ thể, đã phạm sai lầm, nhưng cái đúng là bao trùm nên nó quyết định thắng lợi. Có cái gì trên thực tế là hoàn toàn đúng hết đâu. Đứng sợ khi nói đến cái sai, chỉ sợ có sai mà không thấy và không sửa. Nhưng mỗi lần đánh giá sai tương quan lực lượng ta địch thì thế nào cũng đi tới hữu khuynh sợ địch hoặc tả khuynh chủ quan, vấp váp trong chủ trương và hành động. Chính vì vậy mà việc đánh giá tình hình đánh giá tương quan lực lượng, xuất phát điểm của chủ trương đường lối, phải là tập trung trí tuệ tập thể, căn cứ vào thực tế diễn biến mà suy luận và đánh giá.

Hiệp định Paris được ký kết là thể hiện rõ nhất tương quan lực lượng trên chiến trường lúc ấy, Mỹ ngụy cũng đánh giá kỹ tương quan lực lượng đôi bên, sau khi đã cố gắng giằng co ở Miền Nam, không để mất thêm đất, và đã dở tới thủ đoạn dã man độc ác nhất là dùng B52 oanh tạc tập trung vào Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa Miền Bắc. Chúng đã đánh giá khả năng ý chí của chúng cũng như nắn nót khả năng ý chí của đối phương rồi mới chịu cầm bút ký vào hiệp định, chịu một số điều kiện không có lợi cho nó. Ta cũng đã cân nhắc kỹ sức mạnh của địch đến đâu, mưu đồ của nó là gì và sức lực có thể của ta để ký vào một hiệp định có nhiều điểm lợi cho ta. Như vậy là hiệp định Paris được ký kết trên cơ sở cả ta và địch đều cân nhắc mạnh yếu của nhau và cân nhắc cả tương quan lực lượng trên thế giới nữa. Ký kết hiệp định Paris là Mỹ đã chịu thua một bước nhưng chỉ chịu thua tới đó thôi, ta đã dành thắng lợi nhưng thắng lợi đến đó thôi. Nhưng bước thua đó của Mỹ và mức thắng ấy của ta đã chứng tỏ rằng cách mạng mạnh hơn phản cách mạng rồi. Sao lại cho là ta yếu địch mạnh?

Điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc chiến tranh mà hiệp định đạt được là quân Mỹ và chư hầu phải rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam và Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc nước ta. Cái hay là chỗ điều kiện này giống như phù hợp với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, phù hợp với chủ thuyết Nixon “Liên minh khu vực, tự phòng thủ” mà không phải là thua phải bỏ chạy. Cái hay ở chỗ là giúp cho Mỹ rút quân đội về nước, thỏa mãn yêu cầu của nhân dân Mỹ, gỡ thế bí là không thể tiếp tục duy trì một đội quân Mỹ ở hải ngoại như vậy lâu hơn nữa mà càng ngày càng bị thua thiệt dẫn đến nguy cơ bị thua hoàn toàn. Việc rút khỏi Miền Nam Việt Nam ấy theo sự quy định của hiệp định tức có sự thỏa thuận đôi bên làm cho Mỹ đỡ mất mặt một phần. Còn về ta thì điều kiện ấy vô cùng quan trọng cho sự tiến triển của cách mạng của ta và của cả Đông Dương. Trước hiệp định ta phải đánh cả quân ngụy và hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, với sự yểm trợ mạnh mẽ của hải quân và không quân Mỹ bao gồm cả máy bay chiến lược B52. Khi hiệp định đã có hiệu lực, quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi chiến trường. quân Ngụy không còn chỗ dựa là quân Mỹ, không còn được sự yểm trợ mạnh mẽ như trước của không quân, hải quân Mỹ. Hỏa lực của Ngụy kém sút hơn Mỹ nhiều. Mặc dù quân Ngụy có tăng thêm lực lượng, được chủ Mỹ cho thêm phương tiện, vũ khí có cả vũ khí hiện đại hơn trước, nhưng muốn phát huy được hiệu lực của các binh chủng mới, của lực lượng mới, phải qua một thời gian hoàn thiện và rèn luyện trên thực tế. Đã vậy việc đảm bảo kỹ thuật cho từng ấy quân ngụy, hiện đại hóa, không phải là chuyện dễ dàng và càng không thể khắc phục trong một vài năm. Đó là chưa nói đến trạng thái tinh thần của quân ngụy đã bị hoang mang do sự tác động của quần chúng nhân dân sau khi hiệp định Paris được ký kết. Thực tế trên chiến trường qua báo cáo của tất cả các đơn vị, địa phương thì sau hiệp định, hỏa lực pháo và không quân của ngụy trong tác chiến đã giảm sút đáng kể và càng ngày càng có chiều hướng giảm sút. Sự chi viện của pháo và không quân ngụy cho bộ binh rất tồi vì bắn không chí xác và số đạn hạn chế. Quân ngụy trước nay quen dựa vào quân Mỹ, nay phải đơn độc tác chiến, thiếu sự chi viện và yểm trợ có hiệu lực của Mỹ, nên tinh thần sa sút rất rõ. Như vậy sau hiệp định, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi một cách rất quan trọng, có lợi cho ta sức chiến đấu của quân ngụy tụt xuống rõ ràng, thế và lực ta phát huy mạnh mẽ. thế mà lại cho rằng Mỹ rút mà ngụy mạnh lên, mạnh hơn ta thì thật là một sự suy luận không có căn cứ, không khác nào tưởng tượng ra ma để tự nhát mình.

Hiệp định đã quy định chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước việt Nam dân chủ cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới… Như vậy Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ có điều kiện rất tốt, phá huy hiệu quả to lớn của căn cứ địa của cả nước, có điều kiện làm tròn tốt nhất hậu phương lớn của cách mạng Miền Nam. Thế và lực của Miền Nam ta mạnh, của cả nước ta mạnh thì sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang là điều chắc chắn, tuy còn phải trải qua nhiều khó khăn. Song ta cũng phải thấy hết cái yếu còn tồn tại của ta để không chủ quan, để nỗ lực khắc phục. lực lượng vũ trang của ta đã xốc xếch, cần phải gấp rút bổ sung, củng cố. lực lượng quân địa phương và du kích còn quá ít, công tác dân vận ta còn nhiều kém cỏi… Nhưng ta khắc phục những cái yếu và khó khăn ấy trong thế thắng, thế mạnh với một tinh thần phấn khởi tự tin.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:16:42 am »

Rõ ràng qua mỗi giai đoạn của cách mạng, của chiến tranh cách mạng, việc đánh giá đúng đắn sức mạnh của ta và địch, thấy rõ cái yếu của địch và cả cái yếu của ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên là điều kiện cơ bản nhất cho những chủ trương đúng tiếp theo, đưa cuộc cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến toàn thắng cũng xuất phát từ sự đánh giá tương quan giữa cách mạng và phản cách mạng, không những trong nước mà cả trên thế giới, nói chung là chính xác, mặc dầu có lúc có nơi, có cái cụ thể, đã phạm sai lầm, nhưng cái đúng là bao trùm nên nó quyết định thắng lợi. Có cái gì trên thực tế là hoàn toàn đúng hết đâu. Đứng sợ khi nói đến cái sai, chỉ sợ có sai mà không thấy và không sửa. Nhưng mỗi lần đánh giá sai tương quan lực lượng ta địch thì thế nào cũng đi tới hữu khuynh sợ địch hoặc tả khuynh chủ quan, vấp váp trong chủ trương và hành động. Chính vì vậy mà việc đánh giá tình hình đánh giá tương quan lực lượng, xuất phát điểm của chủ trương đường lối, phải là tập trung trí tuệ tập thể, căn cứ vào thực tế diễn biến mà suy luận và đánh giá.

Hiệp định Paris được ký kết là thể hiện rõ nhất tương quan lực lượng trên chiến trường lúc ấy, Mỹ ngụy cũng đánh giá kỹ tương quan lực lượng đôi bên, sau khi đã cố gắng giằng co ở Miền Nam, không để mất thêm đất, và đã dở tới thủ đoạn dã man độc ác nhất là dùng B52 oanh tạc tập trung vào Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa Miền Bắc. Chúng đã đánh giá khả năng ý chí của chúng cũng như nắn nót khả năng ý chí của đối phương rồi mới chịu cầm bút ký vào hiệp định, chịu một số điều kiện không có lợi cho nó. Ta cũng đã cân nhắc kỹ sức mạnh của địch đến đâu, mưu đồ của nó là gì và sức lực có thể của ta để ký vào một hiệp định có nhiều điểm lợi cho ta. Như vậy là hiệp định Paris được ký kết trên cơ sở cả ta và địch đều cân nhắc mạnh yếu của nhau và cân nhắc cả tương quan lực lượng trên thế giới nữa. Ký kết hiệp định Paris là Mỹ đã chịu thua một bước nhưng chỉ chịu thua tới đó thôi, ta đã dành thắng lợi nhưng thắng lợi đến đó thôi. Nhưng bước thua đó của Mỹ và mức thắng ấy của ta đã chứng tỏ rằng cách mạng mạnh hơn phản cách mạng rồi. Sao lại cho là ta yếu địch mạnh?

Điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc chiến tranh mà hiệp định đạt được là quân Mỹ và chư hầu phải rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam và Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc nước ta. Cái hay là chỗ điều kiện này giống như phù hợp với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, phù hợp với chủ thuyết Nixon “Liên minh khu vực, tự phòng thủ” mà không phải là thua phải bỏ chạy. Cái hay ở chỗ là giúp cho Mỹ rút quân đội về nước, thỏa mãn yêu cầu của nhân dân Mỹ, gỡ thế bí là không thể tiếp tục duy trì một đội quân Mỹ ở hải ngoại như vậy lâu hơn nữa mà càng ngày càng bị thua thiệt dẫn đến nguy cơ bị thua hoàn toàn. Việc rút khỏi Miền Nam Việt Nam ấy theo sự quy định của hiệp định tức có sự thỏa thuận đôi bên làm cho Mỹ đỡ mất mặt một phần. Còn về ta thì điều kiện ấy vô cùng quan trọng cho sự tiến triển của cách mạng của ta và của cả Đông Dương. Trước hiệp định ta phải đánh cả quân ngụy và hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, với sự yểm trợ mạnh mẽ của hải quân và không quân Mỹ bao gồm cả máy bay chiến lược B52. Khi hiệp định đã có hiệu lực, quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi chiến trường. quân Ngụy không còn chỗ dựa là quân Mỹ, không còn được sự yểm trợ mạnh mẽ như trước của không quân, hải quân Mỹ. Hỏa lực của Ngụy kém sút hơn Mỹ nhiều. Mặc dù quân Ngụy có tăng thêm lực lượng, được chủ Mỹ cho thêm phương tiện, vũ khí có cả vũ khí hiện đại hơn trước, nhưng muốn phát huy được hiệu lực của các binh chủng mới, của lực lượng mới, phải qua một thời gian hoàn thiện và rèn luyện trên thực tế. Đã vậy việc đảm bảo kỹ thuật cho từng ấy quân ngụy, hiện đại hóa, không phải là chuyện dễ dàng và càng không thể khắc phục trong một vài năm. Đó là chưa nói đến trạng thái tinh thần của quân ngụy đã bị hoang mang do sự tác động của quần chúng nhân dân sau khi hiệp định Paris được ký kết. Thực tế trên chiến trường qua báo cáo của tất cả các đơn vị, địa phương thì sau hiệp định, hỏa lực pháo và không quân của ngụy trong tác chiến đã giảm sút đáng kể và càng ngày càng có chiều hướng giảm sút. Sự chi viện của pháo và không quân ngụy cho bộ binh rất tồi vì bắn không chí xác và số đạn hạn chế. Quân ngụy trước nay quen dựa vào quân Mỹ, nay phải đơn độc tác chiến, thiếu sự chi viện và yểm trợ có hiệu lực của Mỹ, nên tinh thần sa sút rất rõ. Như vậy sau hiệp định, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi một cách rất quan trọng, có lợi cho ta sức chiến đấu của quân ngụy tụt xuống rõ ràng, thế và lực ta phát huy mạnh mẽ. thế mà lại cho rằng Mỹ rút mà ngụy mạnh lên, mạnh hơn ta thì thật là một sự suy luận không có căn cứ, không khác nào tưởng tượng ra ma để tự nhát mình.

Hiệp định đã quy định chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước việt Nam dân chủ cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới… Như vậy Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ có điều kiện rất tốt, phá huy hiệu quả to lớn của căn cứ địa của cả nước, có điều kiện làm tròn tốt nhất hậu phương lớn của cách mạng Miền Nam. Thế và lực của Miền Nam ta mạnh, của cả nước ta mạnh thì sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang là điều chắc chắn, tuy còn phải trải qua nhiều khó khăn. Song ta cũng phải thấy hết cái yếu còn tồn tại của ta để không chủ quan, để nỗ lực khắc phục. lực lượng vũ trang của ta đã xốc xếch, cần phải gấp rút bổ sung, củng cố. lực lượng quân địa phương và du kích còn quá ít, công tác dân vận ta còn nhiều kém cỏi… Nhưng ta khắc phục những cái yếu và khó khăn ấy trong thế thắng, thế mạnh với một tinh thần phấn khởi tự tin.



Trên đường đi Trung đoàn 320
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:18:25 am »

Trước một bản đồ Miền Đông Nam Bộ bao gồm cả tỉnh Long An, Gò Công, một phần Đồng Tháp Mười, treo trên thân cây, với que trúc vừa chặt ở bụi bên cạnh, tôi nghiêm trang truyền đạt mệnh lệnh trực tiếp cho trung đoàn. Tiếp theo đó tôi giải thích rõ về địa hình, về tình hình ta và địch ở các nơi mà đơn vị sẽ hoạt động. Cán bộ của trung đoàn chưa ai hiểu biết về vùng này. Riêng tôi nhờ hoạt động từ hồi kháng chiến chống Pháp tới nay, tôi đã từng lội bộ khắp nơi này nên biết rõ về con người và địa vật để truyền đạt cặn kẽ bước đầu cho anh em. Tôi đã chỉ thị cụ thể về nhiệm vụ, về phương châm, phương thức tác chiến, về những hình thức chiến thuật địch đã và sẽ dừng ở nơi nào trong tỉnh, về chiến thuật và kỹ thuật mà ta cần áp dụng để đánh thắng. Tôi đã nói về phương pháp vận động quần chúng, về công tác tổ chức du kích và giúp đỡ bộ đội địa phương, về việc kết hợp giữa các đơn vị của trung đoàn với xã và huyện sở tại, giữa trung đoàn và tỉnh đội. Cuối cùng tôi đã chỉ thị về công tác Đảng và công tác chính trị, về sinh hoạt tinh thần và vật chất của cán bộ và chiến sĩ trong mỗi trường hợp hoạt động từng đơn vị lớn, nhỏ, từng tổ lẻ rải rác.

Sau đó, anh em có hai ngày thảo luận về mọi mặt và nêu những gì còn thắc mắc chưa rõ để tôi giải đáp cuối cùng.

Những ngày làm việc khẩn trương và nghiêm túc, những tình cảm thân thiết chan hòa ở trung đoàn 320 không thể nào quên. Anh em từ cán bộ đến chiến sĩ đều phấn khởi được nhậ nhiệm vụ, vui vẻ bàn bạc và cố hình dung những trận chiến đấu sắp tới, những gì gian khổ đang chờ đợi.

Nói sao hết những tháng ngày vô cùng khó khăn mà cán bộ và chiến sĩ của toàn trung đoàn đã đồng cam cộng khổ với cán bộ địa phương, với du kích và nhân dân, một bước không đi, một ly không rời, mặc bom đạn tập trung ác liệt mà anh em chỉ có những gốc dừa nước mỏng manh làm công sự. Có ai ghi lại những sinh hoạt kỳ lạ của anh em, ngày ngày đầm mình dưới bùn lầy nước đọng của bãi lá, bắn trực thăng, phi cơ, đánh càn quét, “nhảy dò”(1) của Lữ 3 sư đoàn 9 Mỹ, đêm đêm lại cùng nhân dân bàn mưu tính kế đánh địch, mua tải lương thực đạn dược trong các ấp chiến lược. Làm sao quên được những đêm hành quân sông Vàm Cỏ, căng thẳng, lo âu. Một đại đội từ huyện này qua huyện bên cạnh phải mất 5, 7 đêm liền, rồi lại qua đường số 4 của địch căng dày đồn bốt, dây thép gai, bãi mìn… Thế mà từ tháng này qua tháng nọ phải cõng thương binh về phía sau, đưa vũ khí đạn dược và tân binh lên bổ sung tại chỗ trên đoạn đường dài của vùng xen kẽ gần 100 cây số với khẩu hiệu “kiên trì, bám trụ, chủ động tấn công”, “sống chiến đấu ở đây mà chết cũng ở đây, vì thành công của cách mạng” (Ngày nay nhân dân vùng Cần Đức, Tân Trụ, Đức Huệ, Châu Thành… hàng năm vào những ngày quét mộ sắp tết, các má, các bà con đã đắp lên nấm mộ vô danh của chiến sĩ trung đoàn 320 những nắm đất tưởng lệ nhớ thương nghĩa tình!). Chính vì vậy mà trung đoàn đã cùng địa phương giữ vững được cơ sở cách mạng, các căn cứ của huyện, xã, các lõm du kích qua nổi thời kỳ khó khăn nhất. Mùa xuân 1975, trung đoàn nằm trong đội hình của sư đoàn 8 thuộc quân khu 8 cùng các lực lượng khác tham gia tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn 7 ngụy và kết hợp với nổi dậy của nhân dân, giải phóng vùng Tiền Giang. Với gương chiến đấu oanh liệt của mình, trung đoàn cũng như các đơn vị và địa phương khắp các chiến trường, đã góp cho B2 những kinh nghiệm quý báu.. Qua những sự việc điển hình ở chiến trường như vậy mà các đồng chí trong Trung Ương Cục Miền Nam và quân Ủy Miền đã không đồng ý rút lực lượng phía trước về phía sau mà lịnh phải củng cố chấn chỉnh tại chỗ, giữ vững thế xen kẽ ba vùng và đã tích cực báo cáo ý kiến này với Trung Ương.

Lại còn vấn đề hai vùng hay ba vùng. Trong suốt cuộc chiến tranh một mất một còn giữa ta và địch, sự đấu tranh ác liệt căng thẳng đã diễn ra, trên toàn chiến trường và từ đó đã hình thành ba vùng: - Vùng ta mạnh, lực lượng vũ trang lớn của ta đứng chân, nhân dân ở đây tham gia mọi hoạt động trong các tổ chức quần chúng, tham gia đánh địch, bằng mọi cách chính trị, binh vận và quân sự. Vùng địch mạnh, chúng kiểm soát bằng quân sự và cảnh sát, đàn áp bóc lột nặng nề. Ở đó, ta tổ chức quần chúng bí mật, có du kích, bộ đội biệt động và đặc công. Ta có những lõm chính trị mà nhân dân bí mật cất dấu cán bộ và giúp cách mạng bằng nhiều biện pháp che mắt địch, lồng trong công khai hợp pháp. Những lõm căn cứ du kích, cất dấu vũ khi lương thực, có du kích, có khi có bộ đội địa phương và đơn vị mũi nhọn của chủ lực đứng chân hoạt động. Tất nhiên có các chi bộ Đảng lãnh đạo tại chỗ - nhân tố trung tâm của phong trào. Giữa hai vùng ta và vùng địch ấy có một vùng ta gọi là vùng tranh chấp, rộng hẹp tùy nơi. Đây là một vùng mà sức mạnh đôi bên tương xứng, đang tranh giành nhau quyết liệt, luôn luôn xáo động, biến chuyển có khi từng ngày, từng giờ. Ở đây quần chúng nhân dân phần lớn là đi với cách mạng, các loại lực lượng và tổ chức cách mạng nếu có. Bộ đội địa phương huyện, tỉnh thường hoạt động ở đây, đôi khi có đơn vị chủ lực của khu hay của trên thọc về đây đánh địch và hỗ trợ cho địa phương. Địch thường hành quân đánh phá, càn quét, dùng phi pháo oanh tạc, gom dân về vùng chúng. Có thể nói cuộc đấu tranh ở đây bằng mọi hình thức của cả đôi bên diễn ra hàng giờ, cả ngày và đêm. Có nơi ban ngày do địch ban đêm do ta kiểm soát. Bên này cố đẩy lùi bên kia, để biến dần thành vùng mình kiểm soát. Do vậy vùng tranh chấp thường thay đổi liên tục giống như một vùng đất đai toàn cát, nằm giữa hai chiều gió. Nếu gió từ bên này thổi mạnh hơn thì cát đổ xô về phía kia, lấn vào phía kia, hoặc ngược lại. Khi nào còn hai phía, cách mạng và phản cách mạng và hai phía ấy còn đấu tranh chống nhau cố giành đất, giành dân về mình thì còn có vùng tranh chấp. Nó chỉ sẽ mất đi khi không còn đấu tranh nữa giã hai bên, nghĩa là một bên chịu khuất phục và bên kia toàn thắng. Hiệp định Paris không phải chấm dứt đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng và cũng không chấm dứt được ngay cả đấu tranh vũ trang mà nó qui định. Vì địch vi phạm lấn chiếm như nói trên kia với ý đồ là chỉ còn một chính quyền ngụy, một quân đội ngụy. Thế mà chủ trương tự ta nên phân định dứt khoát thành hai vùng thôi, vùng địch và vùng ta, để có phương châm đấu tranh thích hợp cho mỗi vùng để ổn định ngay tình hình, để ta có thể củng cố xây dựng lại lực lượng vũ trang của ta đã yếu rồi, xây dựng vùng kinh tế của ta, xây dựng chính quyền của ta, thì thật là không phù hợp chút nào. Tôi còn nhớ trong cuộc họp các đồng chí trong Trung ương Cục chuẩn bị tham gia hội nghị Bộ chính trị, các đồng chí đều khẳng định là căn cứ vào thực tế chiến trường B2 thì bất cứ tình hình nào, thời kỳ nào, cũng phải giữ đấu tranh ở cả ba vùng. Trừ phi ta thủ tiêu đấu tranh thì mới mất đi vùng tranh chấp. Thực tế không phải mất đi mà vùng ta lần lượt biến thành vùng tranh chấp, vùng tranh chấp sẽ biến thành vùng địch, cho tới khi không còn cả vùng ta lẫn vùng tranh chấp mà chỉ còn độc nhất vùng địch kiểm soát. Các đồng chí còn phân tích rằng thực tế không bao giờ có tình hình ổn định trên chiến trường vì cả ta và địch không bên nào thủ tiêu đấu tranh cả, cho dù không còn chiến đấu vũ trang thì vẫn còn đấu tranh chính trị, kinh tế


(1) “Nhảy dò” là danh từ địa phương đặt cho một loại chiến thuật phổ biến của quân Mỹ ở Long An lúc ấy. Đó là dùng từng toán quân nhỏ đổ bộ đột kích từ vài chiếc trực thăng đang bay thấp và chậm, bất ngờ bắn phá bừa bãi và dữ dội một vài điểm nghi có quân ta, có căn cứ của cán bộ địa phương, nơi tập trung của nhân dân để làm công tác cho cách mạng. Sau đó lập tức nhảy lên trực thăng nhanh chóng trốn thoát.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:20:06 am »

Trong lúc đang họp Bộ chính trị mở rộng thì đồng chí Trần Hữu Dực được trung ương phái vào chiến trường Trị Thiên nghiên cứu tình hình thực tế đã về và báo cáo tại hội nghị rằng,Trị Thiên đã phân vùng xong, từ đường xe lửa trở về biển là vùng địch, từ đường xe lửa lên biên giới với Lào là vùng ta. Đã rút bộ đội về vùng ta củng cố. tình hình hiện nay đã ổn định, anh em đều phấn khởi…

Chúng tôi trình bày quan điểm của mình cho rằng làm như vậy là nguy hiểm. Sự ổn định chẳng qua là tạm thời. Khi địch có được một bước chấn chỉnh sẽ đánh lấn lên tây đường xe lửa và nếu chúng ta chống lại thì sẽ xuất hiện ra vùng tranh chấp trở lại. Nhưng lần này, vùng tranh chấp sẽ nằm ở tây đường xe lửa thôi. Vô hình trung ta đã tự nguyện đưa thêm đất thêm dân cho địch và giúp chúng phá được thế xen kẽ, xóa được trạng thái da beo, hoàn chỉnh vùng của chúng – một vùng gồm đất đai phì nhiêu, đường sá thuận lơi, nhân dân đông đúc, bao gồm hầu hết các thị trấn, thị xã, đô thị - và triển vọng tình hình sắp tới thế nào hẳn ai cũng đoán được… Phân vùng theo cách như vậy đối với địch là lý tưởng. Ngụy quyền Thiệu, cũng như các hãng nghiên cứu chiến lược Mỹ đã từng nghiên cứu ba phương án phân vùng để làm cơ sở dấu tranh ở bàn hội nghị Paris:

1. Phân vùng theo cách cắt ngang Miền Nam Việt Nam theo vĩ tuyến, phía Bắc vĩ tuyến ấy là vùng Việt cộng (Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam), phía Nam là vùng ngụy quyền Thiện.

2. Chia dọc theo chiều dài Miền Nam Việt Nam, vùng trên núi dọc theo bien giới với Lào, Kampuchia, ít dân, nghèo về kinh tế, đường sá giao thông không thuận tiện là vùng “Việt cộng”, vùng dọc theo biển, giàu có đông dân, thuận lợi mọi mặt là vùng ngụy quyền Thiệu.

3. Ngừng bắn tại chỗ, ai ở đâu đứng đó và thành vùng kiểm soát xen kẽ lẫn nhau.

Trong ba phương án ấy Ngụy sợ nhất là phương án 3, vùng xen kẽ da beo, vì chúng cho rằng như vậy sẽ không thể ngừng bắn, nguy hiểm cho chúng, vì rất nhiều khả năng nhân dân sẽ nổi dậy chống và tiêu diệt chúng. Vùng chúng không hoàn chỉnh sẽ khó xây dựng kinh tế, khó cai trị hữu hiệu vân vân… Chúng thích nhất là chia dọc theo phương án 2. Vì chia như vậy hoàn toàn có lợi cho chúng. Chúng nghĩ không bao lâu với sự giúp đỡ và viện trợ của Mỹ, chúng sẽ giàu mạnh, nắm nhiều dân và sẽ đi đến tiêu diệt chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam và độc chiếm Miền Nam Việt Nam.

Ta đấu tranh trên bàn hội nghị, nhưng chí là đổ máu nhiều ở chiến trường mới buộc địch phải bất đắc dĩ nhận ngừng bắn tại chỗ. Bây giờ ta lại tự dưng chia theo dọc ư?

Nghị quyết 21 đã xác định rõ: “Thế và lực của cách mạng Miền Nam hiện nay mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ 1954 đến nay” và “thắng lợi của nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Kampuchia đã dẫn đến sự thay đổi trong so sánh lực lượng trên bán đảo Đông Dương có lợi hơn bao giờ hết cho cách mạng Miền Nam”.

Thực tế tình hình diễn biến trên chiến trường càng ngày càng rõ sự xác định này rất chính xác, lực lượng cách mạng đã mạnh hơn hẳn lực lượng phản cách mạng ở Miền Nam Việt Nam.

Sau này, trong Hội nghị Bộ chính trị trung ương Đảng mở rộng vào tháng 12-1974 để bàn kế hoạch chiến lược 1975-1976 nghĩa là gần hai năm sau khi thực tế đã có, anh Lê Đức Thọ đã phát biểu đại ý: Từ hiệp định tới nay nói chung là ta đánh giá địch cao, ta thấp. Thực tế trên chiến trường chỉ rõ: Khu 5 khi đánh thì sợ địch đánh phía sau, khi trên ra lịnh kiên quyết đánh thì đánh thắng lợi. Trị Thiên cũng ngại địch. Đồng bằng sông Cửu Long, một tháng 12 thôi ta gỡ trên 500 đồn bót địch đóng trái phép. Mới một tháng mà đạt chỉ tiêu 70% sáu tháng mùa khô. Bây giờ qua thực tiễn rõ ràng ta mạnh hơn địch. Thế mà trước đây khi bàn để ra Nghị quyết 21, vẫn cãi nhau ta mạnh hay địch mạnh.

Nghị quyết 21 còn xác định: “Con đường của cách mạng Miền nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất cứ tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tấn công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng Miền Nam tiến lên. Nghị quyết đã đề ra phương châm phương thức đấu tranh cho từng vùng: “Vùng giải phóng… phải xây dựng và củng cố”; “vùng tranh chấp…, phải giữ giữ vững thế và lực của ra và từng bước chuyển lên…” và “vùng địch kiểm soát,… cần lãnh đạo quần chúng đấu tranh”…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:20:34 am »

Sự xác định chiến lược và đề ra nhiệm như thế và đã dẹp đi những tư tưởng (nhưng chưa hẳn đã đập tan) còn tìm nơi nơi Mỹ ngụy có thể thi hành hiệp định, tưởng có thể có hòa bình, có ổn định. Nó cũng làm bớt đi tư tưởng sợ địch mạnh. cũng trong cuộc họp Bộ chính trị này đã xác định ta phải đánh trả một cách kiên quyết kẻ địch vi phạm hiệp định. Nghị quyết 21 đã nêu: “Hiện nay phương hướng chủ động, tích cực có lợi nhất cho sự nghiệp cách mạng của cả nước là luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình và chính nghĩa, đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao và buộc địch phải thi hành hiệp định Paris để thắng địch”. Rõ ràng Đảng ta đã nhận định nhất quán từ đầu, hiệp định Paris là một thắng lợi của ta, ta phải đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh, ta có chính quyền ta nhất định thắng. Ta đã ký và ta tôn trọng chữ ký của ta. Ta cũng bắt chúng phải tôn trọng chữ ký của chúng. Không cho phép Mỹ Ngụy trắng trợn phá hoại hiệp định. Để giữ thành quả của cách mạng ta phải trừng trị kẻ địch vi phạm hiệp định tiến hành lấn chiếm và bình định. Không phải ta bị động đánh trả nơi nào địch thấy có lợi cho chúng để vi phạm tấn công ta. Ta phải chủ động đánh trả chúng thật đau, đánh ngay vào cả những nơi xuất phát tấn công của chúng; vào nơi bất lợi cho chúng. Trên tinh thần đó vào tháng 9 năm 1973 chúng ta tuyên bố công khai trên đài truyền thanh của ta để cảnh cáo trước kẻ địch và để thế giới hiểu rõ hành động chính đáng của ta.

Chúng ta mong rằng với sự cảnh cáo này, Mỹ ngụy sẽ tỉnh ngộ lại để tránh cho ta buộc lòng phải hành động nổ súng thật. Những điều kiện để đi vào thi hành hiệp định vẫn còn đó, cánh cửa vẫn còn mở cả ở Paris cả ở Tân Sơn Nhất. Nhưng Thiệu có lẽ tưởng chừng nó mạnh thật, tưởng quân thầy Mỹ của chúng vẫn là chỗ dựa vững vàng. Vì thế Thiệu càng đẩy mạnh chiến tranh, bất chấp Hiệp định, bất chấp những lời cảnh cáo, mong ngự trị mãi mãi Miền Nam Việt Nam. Và Mỹ cũng tưởng rằng Mỹ rút quân, nhưng bằng chiến lược Việt Nam hóa, Mỹ sẽ vĩnh viễn ở lại Miền Nam Việt Nam.

Hãy nghe một người Mỹ, Weldon A. Brown kể trong quyển sách: “Chiếc trực thăng cuối cùng” của ông ta:

“… Thiệu vẫn nghĩ là được Mỹ viện trợ và với những lời cam kết bí mật của Nixon, ông ta chẳng có gì phải lo ngại cả. Lời cam kết vẫn còn giá trị và đã được tăng cường qua việc Mỹ đã cung cấp thêm cho ông ta các máy bay phản lực chiến đấu và các vũ khí rất hiện đại, thậm chí năm 1975 khi quốc hội Mỹ cấm không được tiếp tục giúp đỡ về mặt chiến đấu, Thiện vẫn cảm thấy ung dung vị đã có lời cam kết của Nixon. Chương trình viện trợ, và những lời hứa của chúng ta đã làm cho Thiệu cảm thấy an toàn một cách giả tạo và do đó dẫn tới kết quả là Thiệu đã từ chối mọi nỗ lực hòa giải hoặc thương lượng với đối phương và đã làm cho Thiệu coi thường hiệp định Paris. Trong năm đầu sau khi hý Hiệp định, Thiện đã tiến hành các cuộc tấn công nhỏ, đẩy quân cộng sản ra khỏi một số khu vực thuộc Châu Thổ sông Cử Long và dọc theo bờ biển thiết lập các tiền đồn ở đó, và tái định cư những người tị nạn vào các khu vực mới chiếm lại được và thậm chí còn cho quân đột kích vào cả Kampuchia nữa.

“Thiện không muốn cho quá trình chính trị thành công để làm suy yếu chính quyền của ta, dù bất cứ dưới hình thức nào – Anthony Lewis đã viết như sau:

“Thiệu cấm mọi người không được đi từ vùng này sang vùng khác, biến những người tù chính trị thành các tù thường phạm để tiếp tục giam giữ họ và cấm hoàn toàn các Đảng phái không được hoạt động trừ Đảng của ông ta. Thiệu không chỉ từ chối không thực hiện các điều khoản của Hiệp định Paris mà thôi, mà Thiệu còn coi việc tuyên truyền cho hiệp định ở Nam Việt Nam là một tội lỗi, và vào lúc cuộc ngừng bắn sắp được thực hiện thì Thiệu đã phát động các cuộc hành quân gây hấn. Thiệu cần chúng ta ngấm ngầm ủng hộ các hoạt động vi phạm hiệp định ấy của ông ta và hình như Thiệu đã được chúng ta ủng hộ như vậy. Ngay trước khi có cuộc hưu chiến Oa-sinh-tơn đã nhanh chóng chuyên chở cho Thiệu một đợt vũ khí mới trị giá một tỷ đô la. Có tin là đầu tháng 2-1975 Thiệu đã nói với một nhà báo Mỹ rằng kể từ khi ký hiệp định Paris, Hoa Kỳ chưa bao giờ gây sức ép buộc ông ta phải có những nhượng bộ chính trị với phái cộng sản cả, tức là thực hiện các điều khoản gìn giữ hòa bình.

“Shipler đã viết đại sứ Martin và Mỹ đã chẳng làm gì để can ngăn những hành động liều lính này và chẳng làm gì để thuyết phục Thiệu thực hiện hiệp định Paris”.

Như vậy là đã rõ, kẻ đã vi phạm hiệp định, cố tình đẩy mạnh chiến tranh là ai. Và nhất thiết kẻ vi phạm ấy phải bị trừng trị.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:15:07 pm »

CHƯƠNG BA
TRỪNG TRỊ KẺ VI PHẠM HIỆP ĐỊNH

Sau cuộc họp Bộ chính trị, chúng tôi hợp với Quân ủy Trung ương để bàn cụ thể chấp hành Nghị quyết Bộ chính trị. Ngày 1-6-73 Đoàn B2 đã họp bàn nội dung điện chỉ đạo trước về chiến trường theo tinh thần hội nghị và sắp xếp việc đi về. Tôi còn phải làm việc cụ thể một loạt với Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục chính trị, Tổng cục Hậu cần, các Bộ Tư Lệnh binh chủng để các đồng chí hiểu rõ thực tế của chiến trường, nghe ý kiến đóng góp chỉ đạo về chuyên môn của các đồng chí, nhận những sự chi viện có giá trị của các đồng chí về kế hoạch, về vật chất kỹ thuật. Và tôi hối hả chuẩn bị lên đường.

Được trở lại với rừng xanh, với chiến trường khói lửa, với cá đơn vị chiến đấu của mình sau một thời gian xa cách, lòng tôi nôn nao vui sướng. Cái vui sướng hồn nhiên này đã làm tôi phát hiện một cảm giác đã có trong tôi từ bao giờ: tôi đã xem căn cứ là nhà, chiến trường là quê hương, cán bộ và chiến sĩ trong cơ quan và đơn vị chiến đấu là thân thuộc. Khi nhận nhiệm vụ rời khỏi chiến trường ra Sài Gòn trong ban hiên hợp quân sự 4 bên, tưởng như không còn trở lại, lòng tôi bồi hồi luyến tiếc như bùi ngùi từ biệt quê hương. Giờ đây sáp trở lại căn cứ và chiến trường, tôi khấp khởi mừng vui khác nào như sắp trở về làng cũ, thân thương. Có phải chăng hàng chục năm quen sống ở chiến trường, trời rộng đất dài, cảnh vật thay đổi, chim rừng cá nước, đã làm cho tâm hồn tôi chỉ rung động với rừng xanh. Hay tôi đã tâm niệm suốt đời mình vì độc lập tự do nên nguyện cầm súng chiến đấu cho đến ngày đạt mục đích mà cuộc đời đã gắn bó với chiến trường. Không hoàn toàn là như vậy. Mãi cho đến ngày cầm bút viết những dòng này tôi càng thấy rõ thêm lý do luyến tiếc cuộc đời và xã hội chiến sĩ trong bao năm trường khói lửa. Đẹp làm sao, cao quý làm sao, tình bạn chiến đấu thiêng liêng vì mục đích chung giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Trong những ngày gian khổ thiếu ăn thiếu uống, ta đã chia nhau từng khúc củ mài, củ chụp, từng lá bép, trái gùi, và sớt cho nhau từng ngụm nước suối lấy từ bên kia dốc núi. Trên đường Trường Sơn năm nào, sau hàng tháng trời mang nặng, trèo đèo vượt suối đến kiệt sức và nhường nhau từng muỗng đường, tí muối hay biếu nhau viên ký ninh cuối cùng để cố dìu nhau về tới đích. Mỗi một mạng sống quý giá biết ngần nào, tổ quốc đang cần từng tay súng. Nhưng ta cũng coi mạng sống nhẹ như lông hồng. Anh sẵn sàng hy sinh, lao vào quân địch, không chút đắn đo để cứu sống đồng chí mình. Tôi vui cái vui của anh, anh buồn cái buồn của tôi. Nghe tin anh thắng trận, làm tốt hơn tôi, tôi phấn khởi cố học hỏi noi theo. Nghe tin tôi bại trận, anh lo nghĩ tìm phương giúp đỡ. Tất cả vì sự nghiệp chung. Tất cả đều vì cách mạng. Mình vì mọi người, mọi người vì mình. Cuộc sống ở “Rừng xanh”, là như thế đó. Cuộc giữa những người bạn chiến đấu trong cả hai cuộc chiến tranh, trong các căn cứ Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, Rừng U Minh là như thế đó. Tình thương đồng chí, đồng đội, khu rừng, giòng suối, mênh mông không bờ bến. Đó là tình thương học được của Bác, tình thương mênh mông của Bác đối với đất nước ta và con người lao động chiến đấu. Tình thương đó vượt cả không gian, vượt cả thời gian, ở đây, ở kia, trước sau như một.

Ai đã từng sống những đoạn đời như vậy mà lại không nâng niu luyến tiếc. Đúng rồi, không phải chiến trường hay rừng xanh quyến rũ tôi mà là lòng người, đạo đời làm tôi quyến luyến.

Suốt dọc đường Trường Sơn, lần này bom đạn địch giảm hơn trước nhiều. Mọi hoạt động tươi vui hẳn lên, phấn chấn hẳn lên. Hết binh trạm này đến binh trạm nọ, từ Đoàn này đến Đoàn khác, mỗi người một việc, năng suất cao hơn trước gấp bội. Anh em vui mừng khi gặp Đoàn từ Hà Nội vào Nam, mọi người đều muốn biết có gì mới về chủ trương đường lối? Bộ chính trị đã có nghị quyết về tình hình nhiệm vụ mới chưa? Cán bộ phụ trách các đoạn, các trạm rỉ tai tôi hỏi: B2 định làm ăn thế nào? Triển vọng ra sao? và hứa sẽ làm hết sức mình để chi viện cho chiến trường. tôi rất cảm động. Các đồng chí đã tận lực chi viện, đảm bảo cho các chiến trường nhưng chính đây cũng là chiến trường, các đồng chí không những chỉ viện cho tiền tuyến mà còn chiến đấu anh dũng trong bom đạn ác liệt có thua gì ở tiền tuyến. thật là một tinh thần cao cả chỉ nghĩ cho các đồng chí mình, vì các đồng chí mình, vì toàn thắng của cách mạng. Khắp nơi trên đất nước này trong chiến tranh đều như vậy đó. Triệu người như một, nghe và tin theo Đảng đã sống, công tác, chiến đấu, hy sinh tất cả vì chiến thắng, vì thành công của cách mạng Miền Nam, vì thống nhất Tổ quốc.

Tất nhiên, không tránh khỏi một bộ phận nào đó lạc hậu “tụt tạt”(1) phạm kỷ luật, cơ số nào đó sợ chết, nên tránh không dám vào chiến trường, nhưng đó là một tỷ lệ quá nhỏ hầu như không đáng kể.


(1) Có nghĩa là sợ chết tụt lại phía sau hay tạt qua đơn vị khác ít nguy hiểm hơn.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:27:17 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:16:35 pm »

Trên đường đi vất vả và hiểm nghèo tôi đã mơ về chiến thắng. Chiến thắng rồi ta sẽ có một dải non sông từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, từ biên giới đến hải đảo, bầu trời bao la, biển rộng bao la. (Ta sẽ có 40, 50 triệu con người Việt Nam sống theo kiểu mới. Ta sẽ xây dựng một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa hệt như xã hội và con người mà lòng người, đạo trời đã quyến luyến tôi. Phải quét sạch những thói hư tật xấu của con người mà lối sống đua chen vì cá nhân ích kỷ trong xã hội phồn vinh giả tạo, xã hội hưởng thụ của thực dân kiểu mới Mỹ để lại. Phải không còn những thói đen bạc, chạy theo ham muốn cá nhân thấp hèn, đi đến chồng phụ vợ, con bỏ cha, bạn bè thay đổi tùy sự cần thiết nhất thời cho mình. Xã hội mới phải là một xã hội không còn bóc lột, không còn áp bức, bất công, mọi người đều có điều kiện phát huy tài năng của mình tham gia xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho tất cả mọi người. Con người mới phải là con người gương mẫu có đức độ, có tài năng.

Đức, biểu hiện ở đạo xử thế giữa người và người,giữa chung và riêng, trong gia đình, ngoài xã hội. Mọi người thương yêu kính phục lẫn nhau, trung thực, chân thành, thủy chung. Không có gì giống với kiểu người trước mặt tươi cười vồn vã, sau lưng tìm cách đầm nhau, “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”. Phải là đạo đức Việt Nam, đạo đức Cộng sản, cả hai kết lại thành đạo đức Hồ Chí Minh.

Tài, biểu hiện ở kết quả cụ thể của công việc, của nhiệm vụ hoàn thành, không phải qua lời nói ba hoa, phô trương, bề ngoài. Nói không đi đôi với làm thì nói không có giá trị gì, lý luận không chứng minh bằng thực tế thì chỉ là lý luận suông. Mỗi cá nhân phải là tấm gương trong học tập, công tác, chiến đấu, sản xuất, cách sống, sống trong một gia đình gương mẫu, hòa thuận, trong một xã hội trật tự nhịp nhàng. Mình không gương mẫu nói không ai nghe, gia đình không hòa hợp gương mẫu thì nói gì xây dựng xã hội trật tự, công minh. Tôi nghĩ xã hội của ta sau này nhất định phải là một xã hội trong sáng bao gồm những con người trong sáng. Khác xa với xã hội của Mao mà đồng chí P.P Vladimirop đã viết xong “Nhật ký Diên An”:

“… Tính Nguyên tắc của Đảng được thay thế bởi óc tiến thân, thói xu nịnh công khai và tự hạ thấp mình xuống. Tự hạ thấp mình nói chung đang trở thành một đặc trưng của đời sống Diên An. Trong khi cố tiến thân bằng bất cứ giá nào, giữ lấy chức vụ của mình, hơn nữa cố leo cao hơn, người ta càng như đã phát điên lên. Danh dự, phẩm giá, tình bạn… đều bị quên lãng…”.

Dứt khoát đó không phải là con người cộng sản. Đó không phải là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Tôi còn mơ về một con đường. Tôi đã trao đổi hào hứng với các đồng chí trong Bộ Tư Lệnh đoàn 559 ngay ở Sở chỉ huy Đoàn lúc ấy. Chúng tôi bàn: Cách mạng thành công rồi, nước nhà thống nhất rồi, ta đã xây dựng đường 559 này, con đường Trường Sơn Đông, con “đường mòn Hồ Chí Minh” nổi tiếng thành một đường Hồ Chí Minh hiện đại thực sự. Đó là một xa lộ chạy dài Nam Bắc dọc giải Trường Sơn dựa vào nền cũ của đường 559 cải tiến lại, rộng thênh thang, đúng tiêu chuẩn. Từng chặng, xây lên những tượng đài kỷ niệm ghi thành tích chiến công của một đoạn đường, của những anh hùng liệt sĩ, để con cháu ta mãi mãi về sau biết rõ về con đường xương sống của Tổ quốc xuyên suốt đất nước, con đường thống nhất ngay từ dạo ấy. Trong xương sống ấy đã chảy đi giòng tủy sống từ hà Nội thủ đô, từ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cho Miền Nam sống còn chiến thắng. Và sau này nếu có khả năng nữa ta lại xây một đường xe lửa song song. Đường xa lộ Hồ Chí Minh, đường xe lửa Hồ Chí Minh, thực sự sẽ là những con đường xương sống điều hòa cho cả một đất nước đang phát triển mạnh. Mọi ước mơ sẽ trở thành sự thật, ngày nay ta xả thân chiến đấu cho thành công, con cháu ta sẽ tiếp tục xây dựng cho nước nhà giàu mạnh cho đời sống văn minh, hạnh phúc của nhân dân.

Vào cuối tháng 6, giòng sông Sékong nước đã nhiều và chảy mạnh. Hai chiếc thuyền máy vững chắc của đoàn 471 (thuộc Bộ Tư Lệnh 559) đã đưa chúng tôi xuôi về Nam, vượt bao thác ghềnh hiểm trở. Mỗi lần qua thác ngồi trên thuyền nghe rợn cả người. Một chiến sĩ ngồi cầm vững cần lái phía sau, mắt đăm đăm nhìn về nước. Một người khác đứng oai phong đằng mũi hai tay cầm một sào dài, sẵn sàng chống lách con thuyền tránh các tảng đá nguy hiểm nhô lên giữa dòng hay ngầm dưới mặt nước. Trong khi đó con thuyền cứ lao nhanh theo giòng sông chảy xiết nhiều lúc tưởng sắp va đập vào đá tan tành. Bỏ xe xuống thuyền rồi lại rời thuyền lên bộ những cuộc đón đưa thân mật tận tình, những buổi giã từ quyến luyến. Làm sao nhớ hết được những con người dọc mọi nẻo đường chinh chiến. Họ là cán bộ hay chiến sĩ, là gái hay là trai, hầu như ai cũng giống như ai: một vẻ mặt bình tĩnh trước mọi gian nguy, một nụ cười rạng rỡ nặng tình ruột thịt, mới tấm lòng thương nước, một ý chí sắt son. Gặp là thân ngay, đi là nhớ tiếc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:18:29 pm »

Vừa lên bờ tôi gặp ngay đồng chí Cửu(1), Phó phòng Bảo vệ Miền cùng một số anh em đưa mấy xe con “Com-măng-ca” đón chúng tôi về căn cứ. Cửu là cán bộ chuyên tổ chức những chuyến đi công tác, đi chiến dịch cho chúng tôi, rất có nhiều kinh nghiệm đảm bảo an toàn và nhanh chóng. Tôi ôm chầm đồng chí và lần lượt bắt tay mọi người thật chắc. Đồng chí nhìn ngắm tôi một hồi rồi nói:

- Trông anh hơi gầy đi nhưng vẫn chắc chắn. Nghe tin anh trở về, ai nấy đều mừng. Tôi tưởng không còn có dịp tổ chức cho anh đi công tác và chiến đấu nữa chứ!

- Bộ anh tưởng tôi ở luôn trong Sài Gòn sao? Thực tình thì tôi cũng muốn như vậy, ở trong Ban liên hợp quân sự 4 bên, rồi 2 bên và có thể cả trong Hội đồng hòa hợp và hòa giải dân tộc, nếu được. Nhưng địch không muốn thế. Chúng không muốn hòa bình, chỉ muốn chiến tranh, nên tôi lại phải trở về với rừng xanh, với các anh thôi.

Đoàn xe chúng tôi về đến nhà vào xế chiều. Nửa năm trời bao nhiêu sự việc đã diễn qua, thế mà cảnh vật đất trời ở đây hầu như chưa có gì thay đổi lắm.

Đồng chí Tám Hòa tức Nguyễn Xuân Ôn chánh văn phòng Bộ tư lệnh Miền cùng các đồng chí Lê Văn Xúp, cán bộ bảo vệ, giúp việc tôi từ những ngày mới trở về nam, các cô Xuân, Thục, Hương ở tổ quân y, Liên, Tâm, tổ cấp dưỡng đều chạy ùa ra tận cổng đón chào rối rít.

Vào sân nhà tôi đưa mắt nhì khắp lượt. Vườn xanh mượt nào rau tươi, cây ăn trái, chuối, bưởi, màu hồng đào sum xuê. Đồng chí Chín Dũng già, người chiến sĩ Tiểu đoàn 309 cũ hồi kháng chiến chống Pháp, nay chăm chỉ làm vườn vui vẻ khoe với tôi thành tích và nhật xét:

- Lâu này địch có bớt thả bom bắn phá chỗ này nên cây cối mới nảy chồi tươi tốt. Ước gì hòa bình được thực hiện thì khắp khu rừng bị phá trụi này sẽ thành những vườn cây ăn trái những líp rau cải xanh um. Tôi sẽ có dịp về Mỹ Tho – Cẩm Sơn quê tôi an dưỡng tuổi già. – Chín Dũng quay qua giới thiệu tiếp: - Đây là cậu Tài, cô Thảo, Tổ văn thư cũng sư chuẩn bị cho hai người làm lễ cưới để anh em uống cốc rượu mừng.

Trong lúc Thảo và Tài bèn lên cố giấu cái mỉm cười sung sướng thì Kiên Chiến, phó văn phòng, cùng các thanh niên Điệp, Cách, Lưu, tổ công vụ cười to tán thưởng. Mỗi người một câu tíu tít hỏi thăm tôi đủ chuyện. Tôi không kịp trở lời cho một ai đầy đủ. Thật là cảm động, y như trong một gia đình. Tôi vội vàng nhờ đồng chí “Năm thuốc độc” (tức Nguyễn Văn Hoành, thơ ký của tôi, lấy quà Hà Nội từ trên xe, phân phát cho từng người. Anh em gọi đồng chí như vậy vì đồng chí tên Năm, là cán bộ binh chủng hóa học, để phân biệt với đồng chí “Năm thuốc đỏ” bác sĩ quân y cùng cơ quan – Quà không có gì quí giá, thuốc lá “Thủ đô” cho nam và kim, chỉ, kẹp tóc cho nữ, chỉ quí là ở tấm lòng.

Như sực nhớ ra một điều thú vị, anh Tám Hòa kéo tay rồi hỏi:

- À, anh có biết rằng ngụy ra kiến nghị công khai đòi anh trở lại Sài Gòn không? Nực cười quá, chúng nói Hà Nội đã “quản thúc” anh, Hà Nội phải trả anh về cho chúng (!)

- Chẳng qua là trò tâm lý chiến.

- Anh Hai Khiết(2) trong Ban liên hợp quân sự điện báo cáo rằng khi anh đã đi Hà Nội rồi và lúc biết chắc anh đi luôn, chúng lồng lộn lên. Chúng uy hiếp Phái đoàn ta. Chúng hăm: nếu trung tướng Trần Văn Trà không trở lại, chúng sẽ cho xe xúc cả Phái đoàn. Biết đâu chúng không làm thật, vì bọn ngụy trước nay có từ một hành vi thấp hèn nào. Vì vậy anh em ta trong đó cũng phải có phương án sẵn sàng chiến đấu tự bảo vệ đấy. Tình hình căng thẳng kéo dài hàng tháng. Thương anh em quá anh ạ.

- Chúng ta sẽ đấu tranh buộc chúng phải thi hành đúng Hiệp định Paris thôi. Chúng không dám làm gì anh em ta đâu. Vì chúng ta mạnh cả về pháp lý, cả về chính trị, quân sự.

Nghỉ ngơi được vài hôm thì Trung ương Cục họp bàn ngay việc phổ biến Nghị quyết 21 và tổ chức thực hiện. Nhằm mục đích đó, cuộc hội nghị cán bộ quân chính toàn Miền (B2) mở ra vào tháng 9-73 dưới một rừng le đẹp mắt của khu căn cứ, tập hợp rộng rãi cán bộ lãnh đạo các cấp, các khu, các đoàn thể và các trung đoàn, sư đoàn lực lượng vũ trang. Cuộc thảo luận rất sôi nổi hào hứng. Các đồng chí đã đem về đây những thực tế ở các địa phương, Các đơn vị, những cái hay và cả những cái dở của ta vừa qua, soi rọi với lý luận, với nghị quyết, phê phán cái đúng, cái sai. Những vấn đề thời sự tập trung của tình hình, không tránh được lôi ra phân tích, vẫn là vấn đề địch mạnh hay ta mạnh, hai vùng hay ba vùng, củng cố tại chỗ hay rút về sau, đánh trả thế nào… Có khác chăng là ở đây cuộc thảo luận đã đi vào rất cụ thể, đi vào từng chi tiết, khía cạnh để về thực hiện đúng, tránh lệch lạc tả hữu khuynh. Đặc biệt các đồng chí đã kháo với nhau nhiêu về chủ trương binh vận ngay sau khi có hiệp định: Nào là hiện nay phải lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, binh vận là chiến lược. Phải dùng nhiều thủ đoạn binh vận của quần chúng làm tê liệt các cuộc hành quân của địch, vô hiệu hóa dồn bót chúng, đó là tấn công rồi. Ta có lực lượng quân sự mạnh nhưng tránh dùng, vì dùng quân sự rắc rối lắm, mất tin nhau, găng nhau. Ta phải dám làm việc hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù. Từ những quan điểm phiến diện này chỉ căn cứ vào suy nghĩ và mong muốn chủ quan của ta mà không đếm xỉa đến thực tế âm mưu và hành động của địch, làm cho bên dưới cũng đề ra tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, hữu khuynh, thủ tiêu chiến đấu. Có cán bộ còn phê phán cấp dưới: “Các anh đánh nhau hàng chục năm rồi chưa đủ sao, nay còn muốn đánh nữa”. Bây giờ phải “xanh vỏ đỏ lòng” đẩy mạnh binh vận, biến người của địch thành người của ta “… Ta vẫn có quân, có súng đạn, Mỹ Thiệu tổ chức Mỹ Thiệu nuôi, có đủ lực lượng mà khỏi phải lo về hậu càn rắc rối; lôi thôi và vân vân”… Cấp dưới không dám trả lời nhưng trong thâm tâm anh em muốn hỏi lại: “thưa đồng chí, chúng tôi có muốn đánh nữa cho thỏa chí cả nhân dân, chúng tôi muốn đất nước hòa bình, nhân dân hết chết chóc. Nhưng địch hành quân càn quét lấn chiếm, chĩa súng bắn chúng tôi, âm mưu xóa sạch thành tựu cách mạng vừa qua thì chúng tôi phải làm gì. Có phải chúng tôi đứng thẳng người, dơ nắm tay lên trời hô khẩu hiệu ;”Hòa bình muôn năm”? Không! Thật tình chúng tôi không muốn cái trò ngây thơ đau xót hồi những năm 1954-1959 diễn lại. Trong tìm mình còn nhức nhối, cái tang của không ít đồng chí đa ngã xuống lúc ấy trong tay còn cầm súng mà không dám bắn, cái tang của nhiều phong trào địa phương bị dìm trong máu”. Vì sợ bị phê bình là làm sai chủ trương (binh vận) ở Mỹ Tho du kích phải tổ chức đánh lén (lén đối với cấp trên) đồn bót địch đóng trái phép vào căn cứ mình. Ở Mỏ Cày, Bến Tre, trước tình hình địch lấn chiếm mà lực lượng vũ trang không được đánh trả phải lui mãi, anh em than thở: “Chỉ còn nước chui xuống sàn mà ở” Cuối cùng phải tự động đánh trả mới khôi phục lại được vùng căn cứ của huyện.


(1) Thượng tá Huỳnh Văn Cửu.
(2) Tức Bùi Thanh Khiết, Đại tá Phó trưởng phái đoàn quân sự của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong ban liên hợp quân sự 2 bên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:19:33 pm »

Sau hội nghị cán bộ quân chính, chúng tôi họp với các đồn chí quân sự bàn cụ thể kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974, mùa khô đầu tiên thực sự sau hiệp định. Nội dung kế hoạch là xác định lại thái độ rõ ràng của ta tôn trọng Hiệp định, bảo vệ Hiệp định và vì vậy phải trừng trị kẻ vi phạm. Ta cố làm đúng như đã tuyên bố, kiên quyết và chủ động trừng trị, trừng trị ngay từ nơi xuất phát tấn công vi phạm của địch. Muốn như vậy ta phải mạnh, mạnh về chính trị, pháp lý, mạnh cả về quân sự, không phải chỉ mạnh về lực lượng mà còn mạnh về cách bố trí các loại lực lượng ở cả các vùng theo một thế chiến lược vững vàng sẵn sàng cho mọi tình huống. Phải củng cố chấn chỉnh các lực lượng vũ trang, củng cố tại chỗ, phải phát triển thế và lực của cách mạng ở cả ba vùng, vùng ta, vùng địch, vùng tranh chấp. Tất cả các địa phương phải dùng mọi hình thức chính trị thuyết phục, binh vận, ép rút, tiêu diệt tất cả các đồn bót vị trí đóng trái phép, bất cứ ở vùng nào sau ngày 28-1-73. Phải bảo đảm cho nhân dân các quyền tự do dân chủ, tự do đi lại làm ăn, tự do phá bỏ ấp chiến lược, trở về làng cũ nếu họ không muốn. Phải tiêu diệt lực lượng nào đi hành quân đánh phá, càn quét, cướp bóc nhân dân, cản trở công việc làm ăn sinh sống của nhân dân. Tất cả hành động này là hợp pháp, ta đã báo cho đoàn ta trong Ban liên hợp quân sự 2 bên biết để các đồng chí phối hợp đấu tranh ở bàn hội nghị.

Kiểm điểm lại tình hình từ khi có hiệp định cho đến bây giờ, chiến trường B2 đã có nhiều thay đổi: Từ tháng 1 đến tháng 4-7 trên tất cả các quân khu, các tỉnh, địch dùng các thứ quân đánh phá lấn chiếm các vùng của ta, ra sức bình định, gom dân, bắt lính, phía địa hình, đặc biệt quanh Sài Gòn dùng xe ủi đất san bằng nhà cửa vườn tược nhân dân, dùng quân lính, tội phạm chặt phá cây cối, đốn sạch dừa nước, đóng thêm dồn bót, tung gián điệp “Phượng hoàng” phát hiện, bắt, giết những người yêu nước mà chúng gọi là hạ tầng cơ sở Việt cộng. Từ tháng 5-73 trở đi, do sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương cục và Bộ chỉ huy Miền, các cấp lãnh đạo địa phương, ta đánh trả lại quyết liệt nên địch chựng lại rồi bị đẩy lùi từng bước. Đồn bót đóng trái phép bị diệt, đầu hàng, rút chạy, lính địch rã và đào ngũ mỗi ngày một nhiều, các đơn vị chủ lực, bảo an địch bị đòn đau đã bộc lộ các điểm suy yếu và ngày càng bị thua thiệt trên tất cả các vùng.

Tình hình diễn biến về phía ta và địch theo 2 chiều ngược nhau ngày càng rõ. Về ta, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân thấy Mỹ thua, ngụy suy yếu, ta thắng lợi, thế ta lên, tinh thần phấn khởi tin tưởng và tích cực tham gia mọi công tác chống địch. Về địch sĩ quan và binh lính các loại lực lượng đều nhận thấy sự thật là Mỹ đã thất bại, đã tỏ ra ngán chiến tranh, sợ chiến tranh tiếp tục, mong muốn hòa bình. Trên đôn đốc hành quân thì làm lấy lệ, có khi không làm nhưng báo cáo láo (xảy ra từ cấp chiến đoàn và cấp tiểu đoàn). Có binh lính đã chống lịnh, đào rã ngũ ngày càng nhiều. Các lực lượng kềm kẹp dân cũng tiêu cực, nới lòng kềm. Nhờ đó nhân dân đấu tranh bung ra làm ăn gày càng xa nơi ở, lần lượt trở về làng cũ, về vùng giải phóng của ta. Trong lúc đó bọn Mỹ, ngụy bên trên vẫn rất ngoan cố, và chủ quan, đặt hết kế hoạch này đến kế hoạch nọ và ra lệnh cho dưới thi hành. Thiệu đã chỉ thị cho đến cấp tiểu khu (tỉnh):

1) Lấn đất giành dân giữ vững vùng đã kiểm soát, giữ vững an ninh, không được để mất một xã, ấp nào. (Chỉ tiêu chung là kiểm soát cho được 11.000 trong tổng số 13.000 ấp trong toàn Miền Nam và đến tháng 2-74 phải đạt 65% số ấp loại A tức loại kềm chặt).

2) Chiếm giữ và bảo vệ tất cả các trục giao thông chiến lược.

3). Tiêu diệt lực lượng vũ trang và lực lượng tiếp vận đối phương ở tất cả các vùng nhất là từ biên giới vào.

4 Cô lập bao vây kinh tế, phá hoại, làm mất ổn định vùng căn cứ, vùng giải phóng của đối phương.

5) Tăng cường do thám, gián điệp, biệt kích trinh sát đường không để nắm tình hình, điều tra mục tiêu, chuẩn bị sẵn kế hoạch chờ thời cơ chiếm lại các vùng như trước ngày 29-3-1972.”

Chúng cũng chỉ thị cụ thể cho từng vùng:

“1) Vùng kiểm soát, các đô thị, diệt mầm mống, ngăn ngừa nổi dậy bằng tuần tiễu, phục kích, hành quân, cảnh sát, diệt cơ sở Việt cộng, kềm chặt dân, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, tổ chức dân chúng, củng cố chính quyền, bình thường hóa đời sống dân, tạo điều kiện phục hồi phát triển kinh tế.

2) Vùng củng cố (tức vùng tranh chấp), gồm các ấp lại C, D. Đẩy lùi, ngăn chặn, diệt lực lượng chính trị quân sự Việt cộng. Lập lại và củng cố chính quyền, nâng cao mức độ an ninh, nới rộng vùng kiểm soát, mở rộng vùng an toàn, dùng chính trị, kinh tế mua chuộc dân, nhưng biện pháp quân sự là chủ yếu. Các lực lượng quân sự lãnh thổ sẽ dần dần tập trung đánh phá vào vùng này.

3) Vùng tảo thanh Việt cộng (tức vùng giải phóng và căn cứ của ta). Tập trung đánh phá hành lang vận chuyển bao vây kinh tế, trinh sát, tình báo, tùy tình hình dùng không quân và pháo đánh phá kho tàng và vận chuyển, lôi kéo dân, duy trì chính quyền lưu vong, gây bất ổn định. Duy trì hoạt động quân sự và sẵn sàng kế hoạch chiếm lại”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:21:37 pm »

Về kế hoạch bình định, chúng nêu: cần mở nhiều chiến dịch bình định trong từng tiểu khu, quân khu và toàn quốc, nâng mật độ hành quân đơn vị nhỏ - Đóng thêm nhiều đồn bót. Ủi phá địa hình vùng tranh chấp và giải phóng của ta. Chi tiêu năm 1973 của chúng là phá 12.000 ha. Vùng nào kiểm soát được thì di dân, lập áp khẩn hoang lấn vào vùng giải phóng của ta. Kế hoạch 1973 của chúng là di dân 10 vạn, lập 20 ấp ở các tỉnh Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy, Lâm Đồng, Kiến Phong, Ninh Thuận, Đắc Lắc. Kinh phí dùng là 50 tỷ tiền ngụy Miền Nam.

Địch đã nêu thành mục tiêu quốc gia: Chiếm và bảo vệ tối đa lãnh thổ. Tranh thủ nắm dân đặc biệt là nông dân. Củng cố thực lực quân sự, chính trị. Trọng tâm của địch là vùng 3 và vùng 4 chiến thuật. Ngỳ 6-3-1973, Thiệu họp với các tư lịnh quân khu và các tỉnh trưởng đã nói: “Tôi đặt sự đấu tranh mất còn của Miền Nam vào các vị chỉ huy cao cấp ở 2 vùng này” (Vùng 3 và vùng 4 chiến thuật).

Như vậy là ngụy quyền Thiệu không những không đếm xỉa gì đến hiệp định Paris mà còn lợi dụng Hiệp định, lợi dụng lòng ngay thật của đối phương tin ở hòa bình, ổn định, hòa hợp dân tộc, tranh thủ củng cố và phát riển lực lượng của chúng tăng cường đánh phá lấn chiếm, đi đến thủ tiêu hoàn toàn quân giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Nếu như ta mất cảnh giác, hữu khuynh lùi bước, thì lực lượng ngụy ngày càng mạnh, thế chúng càng lên và chưa biết tình hình sẽ đi đến đâu. Rõ ràng từ cuối tháng tư trở đi khi ta phản ứng lại, đánh trả lại thì địch đã bộc lộ chỗ yếu kém của chúng, bị chặn và tháo lùi lại. Từ khi có hội nghị Bộ chính trị, theo tinh thần thảo luận, Trung ương Cục đã chỉ đạo đối phó, kiên quyết hơn, thì tình hình trên chiến trường diễn biến ngày càng thuận lợi cho ta.

Ngay trong thời kỳ từ tháng 1 đến tháng 4 ở các chiến trường khác ta bị lấn mất đất, mất dân nhiều nhưng riêng ở Quân khu 9 (Miền Tây Nam bộ) là nơi địch tập trung quân đông nhất lúc ấy, xem đấy là trọng tâm đánh phá lấn chiếm, đặc biệt là vùng Chương Thiện, khu vực giữa bốn tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá, ta vẫn giữ vững các vùng của ta. Sở dĩ được như vậy, vì Khu ủy Khu 9 lúc ấy do đồng chí Sáu Dân(1) làm Bí thư đã thống nhất với Bộ Tư lệnh quân khu do đồng chí Lê Đức Anh làm tư lệnh, nhận định rằng kẻ địch không bao giờ chịu thi hành Hiệp định đâu, chiến tranh vẫn là chiến tranh, mọi mặt hoạt động vẫn như cũ không có gì thay đổi cả. Do đó, các trung đoàn chủ lực của Quân khu vẫn ở nguyên tại chỗ, cùng với lực lượng địa phương và du kích hoạt động như bình thường, kiên quyết tấn công, đánh trả quyết liệt, tiêu diệt hàng tiểu đoàn địch (tiểu đoàn 3 trung đoàn 16 sư đoàn 9 ngụy và tiểu đoàn 86 biệt động quân). Điều này rõ ràng không chứng tỏ là lực lượng ta yếu đi và lực lượng địch mạnh lên sau khi có hiệp định như một số đồng chí đã tưởng tượng.

Qua hoạt động đó, quân khu 9 đã giải phóng một vùng dài 20 cây số dọc kinh Nước Đục, phía Nam Chương Thiện, và một số vùng khác nữa. Số dân mới giải phóng lúc ấy lên đến 60 vạn, trong 11 xã, 152 ấp – Không kể số dân vùng tranh chấp trở về vùng ta sản xuất. Cùng lúc ấy, Khu 9 đã diệt tất cả các đồn bót lấn chiếm trái phép của địch, và rồi một số đồn bốt khác của địch, đã có từ trước cũng hoảng hốt tháo chạy. Hành động dũng cảm và kết quả cụ thể rực rỡ của quân dân khu 9 lúc ấy nổi bật, độc đáo, so với tất cả các quân khu khác, đã được bộ chính trị biểu dương và nêu gương cho các chiến trường khác. Nhưng éo le thay, hành động cụ thể ấy lại ngược hẳn với một loạt chủ trương lúc ấy, khi mới có hiệp định, là gấp rút ổn định tình hình, phân thành hai vùng ta, địch ngay, rút lực lượng vũ trang về phía sau để củng cố, không dùng quân sự rắc rối mà đấu tranh chính trị, binh vận là chính. Dùng binh vận dùng quần chúng làm tê liệt cá cuộc hành quân địch, làm vô hiệu hóa đồn bót địch, đó là tấn công rồi – như đã nói ở đoạn trên. Đặc biệt hành động của các lực lượng vũ trang quân khu 9 xuất phát từ chỗ xem như không có hiệp định, không có gì mới, cứ đánh như cũ. Đó là một nhận thức không đúng về hiệp định Paris, về giai đoạn chiến lược mới. Nhưng nó lại đúng ở chỗ đánh giá sự ngoan cố lật lọng của địch, giống như hồi hiệp định Genève, kiên quyết giữ những thành quả cách mạng đã giành được; đúng với thực tế tình hình mà không có ảo tưởng viển vông “May” mà đây là một chiến trường xa, phổ biến chủ trương của tiền phương rất chậm và uốn nắn sai lầm cũng thường không kịp thời. Ở đây nổi lên một điểm: thực tế là vô cùng quý báu, dù thực tế của sai lầm hay đúng đắn, nó là cơ sở cho lý luận, cho chủ trương đường lối. Mọi lý luận, mọi chủ trương đường lối không dựa trên thực tế sẽ sai lầm.


(1) Tức đồng chí Võ Văn Kiệt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM