Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:43:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 19721 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:41:09 pm »

*
*   *

Như vậy là trước khi họp hội nghị Bộ chính trị, đoàn chúng tôi, đại diện cho B2, đã tranh thủ báo cáo thảo luận và được các anh trong Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương chấp thuận kế hoạch mùa khô mà B2 đã vạch ra trên cơ sở nhất trí, đánh giá tình hình thực tế ta địch. Các anh đã cho phép đánh Đồng Xoài, đánh Phước Long. Ngày 22-12 anh Hùng đã gởi về Thường vụ Trung ương cục bức điện trong đó có một số nội dung:

“… 1) Những ý kiến của anh Hai Nhã đưa về lúc chúng tôi ra chưa đến nơi. Nay sau khi làm việc thì kế hoạch năm 1975 như Trung ương cục đã dự kiến và đã chuẩn bị từ sau hội nghị 6 tháng đầu năm 1974 là rất đúng. Các anh cần đôn đốc và theo dõi chỉ đạo thật sát việc thực hiện kế hoạch ấy, nhất là trong đợt mùa khô này. Chúng tôi và các anh ngoài này rất mừng về kết quả bước đầu của đợt 1 mùa khô. Tùy tình hình phát triển mà các anh xem xét ký và có sự điều chỉnh cho hợp lý và kịp thời, nhưng căn bản toàn bộ kế hoạch năm 1975 như ta đã dự định là được. Nếu hoàn thành được kế hoạch năm 1975 và nhất là mùa khô này thì đó là việc rất có ý nghĩa đối với năm bản lề. Trong bước 2 của đợt mùa khô sẽ có sự phối hợp với các chiến trường thì đó là sự thuận lợi tốt nhất cho ta, hoàn thành tốt kế hoạch mùa khô của ta mà thôi, chứ không phải có sự thay đổi gì lớn đâu…”(1).

Và ngày 29-12, anh Hùng và tôi cùng ký một điện gởi cho Quân ủy Miền, đồng điện Thường vụ Trung ương Cục như sau:

…1) Tình hình đầu mùa khô ở chiến trường ta, các địa phương và đơn vị đều có nỗ lực giành thắng lợi, kết quả khá cao tuy còn một số nơi chưa đều. Chúng tôi rất mừng và tin rằng chúng ta còn nhiều triển vọng đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch nếu các cấp nắm chắc tình hình, không chủ quan thảo mãn, sẵn sàng vượt khó khăn để ngày càng giành thắng lợi lớn hơn. Được như vậy thì ta sẽ có cơ sở vững vàng cho những bước sắp tới theo đúng ý định chiến lược. Các anh ngoài này rất mừng và đang ra sức chỉ đạo mọi mặt tiến hành cho tốt…

“…2)…

“… Do quyết tâm giành thắng lợi lớn hơn của năm nay tạo điêu kiện sắp tới nên các anh có điều chỉnh kế hoạch chi viện. Đã đồng ý cho ta năm 1975 đúng như ta xin tức 27.000 tấn chứ không phải 11.000 tấn như đã thông báo trước đây. Chúng tôi đang trao đổi đôn đốc vận tải. Như vậy các anh nên nghiên cứu xử dụng sao cho thật hợp lý và tiết kiệm, chú ý tăng thêm cả cho các khu và hướng dẫn xử dụng cho tốt, đi đôi với hết sức tiết kiệm…”(2)

Trong thời gian trước cuộc họp Bộ chính trị tôi có thì giờ và điều kiện gặp thăm một số anh em cán bộ quen biết công tác ở Bộ quốc phòng và Bộ tổng tham mưu – Tuy do nhiệm vụ, các đồng chí ấy vẫn theo dõi hàng ngày tình hình chiến sự, luôn biết tin tức về tôi, nhưng được gặp nhau hàn huyên là một dịp hiếm có. Chúng tôi kể cho nhau nghe hết chuyện thủ đô lại đến chuyện chiến trường và cố nhiên không thể tách rời công tác. Một ít cán bộ có trách nhiệm cho biết về kế hoạch đánh Đức Lập mở hành lang của Bộ Tổng tham mưu: Bộ sử dụng vào đây 3 sư đoàn quân chủ lực của B3 và của Bộ, được một tiểu đoàn xe tăng và một tiểu đoàn pháo 130 ly chi viện. Chắc chắn hành lang chiến lược sử mở thông, việc chi viện cho chiến trường B2 của anh sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. B3 và đồng chí Vũ Lăng đang đi nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị mọi mặt. Tôi hỏi: Đức Lập chỉ là chi khu cô lập cùng một số điểm nhỏ trên đường 14, thì cần gì đến 3 sư đoàn và từng ấy xe tăng và pháo lớn?

Trả lời: không phải chỉ có tiêu diệt Đức Lập và một ít điểm nhỏ ở đây thôi mà còn kéo địch đến để tiêu diệt chủ lực, có thể là sinh lực lớn đây. Ta chủ động chọn chiến trường kéo địch đến để tiêu diệt lớn, đi đôi mở hành lang.

Tôi đã trao đổi với các đồng chí ấy rằng theo tôi biết thì địa hình ở đây hiểm trở chật hẹp, con đường 14 độc đạo chạy giữa những hàng núi tương đối cao và có cây cối rậm rạp thì địch dại gì mà đến đó để ta tiêu diệt. Có chăng là địch sẽ dùng chủ yếu không quân đánh phá thả bom vào đội hình quân ta thôi. Vả lại trong thời điểm này, địch biết rõ rằng lực lượng của chúng cần cho những mục tiêu quan trọng hơn nhiều so với Đức Lập xa xôi hẻo lánh. Đức Lập tuy cần cho ta về hành lang chiến lược nhưng chưa phải đã đụng chạm nhiều gì đến kế hoạch phòng ngự chiến lược toàn Miền Nam của địch. Nếu ta đã điều động được đến đó lực lượng mạnh như vậy sao không đánh thẳng ngay vào Ban Mê Thuột mà lại đánh Đức Lập làm gì? Đánh giải phóng Ban Mê Thuột là ta chiếm được một mục tiêu có giá trị chiến dịch chiến lược quan trọng, rung động toàn Tây Nguyên và tức khắc hành lang của ta được mở rộng vững chắc. Với lực lượng ấy, ta đủ sức đánh Ban Mệ Thuột vì ở đây địch có nhiều sơ hở, chỉ xem như một hậu cứ của các sư đoàn, trung đoàn. Tuy là tỉnh lớn, nhưng địa hình thuận lợi, phòng thủ yếu, lực lượng ít, và nhất là địch không nghĩ rằng ta lại điều động được lực lượng lớn đến đây và chủ trương đánh Ban Mê Thuột như vậy. Vả lại nó hoàn toàn phù hợp với giai đoạn chiến lược hiện nay của chiến tranh, là ta phải tấn công lớn tiêu diệt địch và giải phóng vùng, tạo thời cơ lớn chơ không phải là thời kỳ mở hành lang nữa.

Các đồng chí cãi lại:

Chuyện ấy thì còn phải bàn, nhưng nếu đến lúc đánh lớn mở chiến dịch Tây Nguyên thì không phải chỉ lực lượng như vậy. Bộ tổng Tham mưu đang dự thảo kế hoạch này. Chúng ta sẽ tập trung lực lượng lớn, ưu thế áp đảo, mở đầu đánh thẳng vào Kontum, tiêu diệt địch và giải phóng tỉnh này. Tiếp đó ta đánh ngay vào chỉ huy sở quân đoàn 2 ngụy ở Pleiku. Ta sẽ diệt cả hai sư đoàn 22 và 23 và các lực lượng ngụy ở dây, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Mở đầu đánh vào Kontum, ta có mọi điều kiện thuận lợi, sát vùng căn cứ giải phóng rộng của ta, hệ thống đường sá, kho tàng của 559 sẵn và đủ sức phục vụ chiến dịch, ta có nhiều điều kiện tập trung lực lượng lớn và triển khai dễ dàng mọi binh khí kỹ thuật.

Tôi không đồng ý. Tôi đã cười và nói vui: Thật các anh là những lính nhà vua. Các anh đã đánh và luôn nghĩ đánh theo kiểu dồi dào lực lượng và súng đạn, khác xa với chúng tôi là những lính nhà nghèo ở chiến trường xa và khó khăn, tính từng viên đạn một, vừa thèm thuồng nhìn các anh. Hèn nào mà anh Lê Ngọc Hiền báo cáo hôm trước ỏ Bộ Tổng Tham mưu rằng năm 1972 toàn Miền Nam tiêu thụ hết 22 vạn viên đạn cơ lớn mà riêng Quảng Trị đã ngốn mất 15 vạn rồi. Theo tôi đánh Kon Tum và Plaiku là đánh vào nơi địch cứng nhất. Lâu này địch luôn phán đoán ta đánh vào Kontum trước nên dồn lực lượng và mọi sự chủ yếu ở đây, tuy ta có điều kiện tập trung lực lượng lớn và chuẩn bị mọi mặt thuận lợi, nhưng địch đã đề phòng, ta không phải dễ dàng trong tấn công. Còn đánh vào Ban Mê Thuột là đánh đòn bất ngờ hoàn toàn đối với địch, đánh vào phía sau không được phòng bị của địch. Chúng sẽ bị tiêu diệt và tan vỡ mau chóng, ta không cần phải xử dụng lực lượng nhiều. Hậu phương bị chiếm thì quân địch phòng thủ phía trước sẽ hoang mang giao động. Ban Mệ Thuột là một vị trí chiến lược quan trọng, và ở đây có sân bay “Hòa bình” lớn, có đường chiến lược số 21 nối với Ninh Hòa Nha Trang dựa lưng với Gia Nghĩa, Đà Lạt, Ban Mê Thuột mất thì toàn bộ quân đoàn 2 Ngụy ở Tây Nguyên chỉ còn dựa được vào đường 19 xuyên qua đèo núi hiểm trở dễ bị cắt đứt và sân bay Pleiku độc nhất còn lại để trông nhờ sự tiếp tế và chi viện. Các đường khác như đường số 5, số 7 đều là đường núi, cầu nhiều và rất yếu, lưu thông không đảm bảo nhất là cơ giới. Còn nếu đối phương phong tỏa nữa, điều này chắc chắn xả ra, thì hàng chục vạn con người và binh khí kỹ thuật bị lâm nguy không phương cứu vãn. Tôi ví đánh chiếm Ban Mê Thuột đối với các tỉnh Tây Nguyên còi lại giống như đố một cây gỗ lớn từ gốc, toàn bộ tán và lá và thân cây phải đổ. Đánh như vậy mới là đòn hiểm về chiến dịch, chiến lược, đảm bảo chắc thắng và thắng to.

Tôi đã đem toàn bộ câu chuyện nào báo cáo lại và trao đổi kỹ với anh Hùng và anh Hai Văn – Tôi cho đây là quyết tâm lớn có tính chất chiến lược trong giai đoạn chiến tranh này không thể không suy nghĩ. Các anh đều nhất trí là nên bỏ Đức Lập mà đánh ngay vào Ban Mê Thuột. Chúng tôi đã đề nghị anh Hùng tìm cách trao đổi với các đồng chí trong Bộ chính trị.


(1) Hồ sơ lưu trữ Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ quốc Phòng.
(2) Hồ sơ lưu trữ Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc QQP.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:42:38 pm »

*
*   *

Ngày 18 tháng 12 năm 1975, cuộc họp liên tịch Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương có đại diện các chiến trường Miền Nam tham gia cuộc họp bắt đầu trong không khí chiến thắng dội lại của chiến trường B2. Đến ngày ấy toàn B2 đã vào đợt 1 mùa khô và đã giành nhiều thắng lợi. Ở đồng bằng sông Cửu Long, kế hoạch bình định của địch đã bị phá bể từng mảng lớn, ta đã giải phóng nhiều xã, ấp mở rộng vùng nông thôn Tiểu cần, Trà Cú, Cần Kè, Duyên Hải, thuộc Trà Vinh và Mỏ cày, Giồng Trôm thuộc Bến tre. Ta đã giải phóng chi khu Hưng Long ở vùng Hậu Giang và Quận lỵ hành chính Tuyên Nhơn ở vùng Tiền Giang. Đây là lần đầu tiên ở đồng bằng, ta tiêu diệt được chi khu quận lỵ và chiếm giữ luôn. Ta đã đánh tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn khác của sư đoàn 21 ngụy đến phản ứng ở Hưng Long. Ta đã làm chủ từng bộ phận sông Ông Đốc, Cái Tàu, Bảy Háp ở Cà Mau, Kinh Xà No, ở Cần Thơ, sông Cổ cò và vùng Huyện Mỹ tú ở Sóc Trăng, tuyến Vàm Cỏ Tây ở Kiến Tường… Ở Miền Đông, ta đã giải phóng đoạn đường 14 bắc Đồn Xoài, diệt cao điểm Lồ ô – núi Giám, giải phóng một số xã bao vây cô lập các huyện lỵ Hoài Đức, Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy, vây hãm điểm núi Bà Đen và diệt một số đồn bót thuộc tỉnh Tây Ninh. Ở vùng ven, lực lượng của Thành đội Sàigòn cùng đặc công đẩy mạnh điệt địch, gỡ đồn, mở lõm ở các vùng Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Bình Chánh, nam Thủ Đức, Long Thành, Nhơn Trạch, và tập kích, khống chế sân bay Biên Hòa. Mới nửa tháng đầu mùa khô ở B2, thành tích diệt địch, giải phóng vùng, nhân dân đứng lên làm chủ, đã đạt kết quả cao, báo hiệu những chiến thắng vang dội của ta sắp tới và sự suy sụp rõ ràng của ngụy. Những thực tế ở chiến trường ấy nói nhiều hơn bất cứ báo cáo và lý luận hay ho nào.

Hội nghị tập trung bàn về kế hoạch chiến lược 2 năm 1975 1976 hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ mà Bộ Chính trị đã đề ra trong mùa mưa. Trung ương Cục và Quân Ủy Miền (Tức B2) chúng tôi cũng đã bàn bạc từ hội nghị thường lệ kiểm điểm tình hình 6 tháng đầu năm 1974. Thật là những dự kiến lớn của lãnh đạo tối cao và suy nghĩ của cấp dưới của chiến trường tiêu biểu là trùng hợp nhau. Lý luận và thực tế đã khớp với nhau. Nhưng quá trình diễn biến cụ thể, các bước đi, các biện pháp thực hiện còn phải thảo luận nhiều mới nhất trí hoàn toàn được. Tất nhiên là như vậy. Vì nếu mọi người đều thống nhất ý kiến một cách dễ dàng hoặc không có ý kiến khác nhau nhiều thì chứng tỏ một sự nghèo nàn đáng thương hại về trí tuệ và suy nghĩ.

Mở đầu hội nghị, đại biểu các chiến trường B2, khu 5 báo cáo tình hình địch, ta, thực tế của chiến trường mình, phương hướng và khả năng hoạt động sắp tới, đề đạt và yêu cầu. Về B2, chúng tôi đã báo cáo gọn tình hình diễn ra từ nghị quyết 21 của Trung ương, trong mùa khô, rồi mùa mưa 1974. Những kết quả cụ thể ở Đồng bằng, ở khu 6, 7 và ngay ở Sàigòn. Tôi đã báo cáo rõ mục đích phá sự củng cố tuyến phòng ngự trước mắt và thế co cụm tương lai của ngụy ở Sàigòn bằng hoạt động ở đường 7 - Bến cát, giải phóng Rạch Bắp. Đã báo cáo việc xây dựng lực lượng chính trị, quân sự, cho tới hôm nay và đặc biệt là việc tổ chức và bố trí thế bao vây chặt thủ đô của Ngụy. Chúng tôi đã báo cáo nhận định và đánh giá tình hình của Trung ương cục vừa qua, những vấn đề mới đã xuất hiện, ta mạnh và đi lên, địch đang yếu và đi xuống. Chúng tôi đã báo cáo phương hướng và kế hoạch của B2 trong năm 1975, nhất là mùa khô 1975, phải đánh mạnh thắng to cả Miền Nam để kết thúc chiến tranh thắng lợi năm 1976. Sau cùng chúng tôi không quên đề nghị được tăng thêm vật chất vũ khí, tăng thêm lực lượng cho B2, như trung ương cục đã nhất trí, trước mắt là một sư đoàn chủ lực ngay vào đầu mùa khô này nhằm kiện toàn quân đoàn 4. Chúng tôi đã đề nghị cần có kế hoạch hoạt động nhịp nhàng toàn chiến trường Miền Nam, và Bộ Tổng Tư lệnh cần có quy định một lực lượng dự bị chiến lược mạnh để kịp thời phát triển thắng lợi quyết định khi thời cơ đến ở chiến trường chủ yếu. Chúng tôi báo cáo rằng vì chiến trường miền Đông Nam Bộ, bao gồm Sài Gòn là chiến trường tiêu diệt sinh lực lớn của địch và kết thúc chiến tranh, cho nên lực lượng dự bị chiến lược chắc sẽ sử dụng ở đây, phải được bố trí ngay từ nay ở Tây Nguyên thì mới hành động kịp khi cần đến. Chúng tôi đã nhấn mạnh là kế hoạch hoạt động năm 1975 là dựa trên cơ sở kết quả đạt được trong năm 1974, dựa trên tình hình đã diễn biến hết sức thuận lợi cho ta mà tinh thần là phải nhanh chóng liên tục phát triển, đẩy mạnh vào thế nguy khốn. Không thể dừng lại, để mất thời cơ.

Sau khi các chiến trường báo cáo, đồng chí Lê Ngọc Hiền thay mặt Bộ Tổng Tham mưu trình bày dự kiến của Bộ về kế hoạch hoạt động của năm 1975. Kế hoạch xây dựng trên cơ sở nhận định, địch đang phải bị động phòng ngự, giữ chỗ nào được thì cố giữ. Chúng đã suy yếu về tổ chức và tinh thần. Ta đang thắng, nhưng cũng có những khuyết, nhược điểm. Kế hoạch đề ra một loạt các chỉ tiêu cho các chiến trường về giải phóng vùng và giành dân, về tiêu diệt và làm tan rã địch, đánh tụt quân số chúng xuống mà không để chúng bổ sung được. Về tiêu diệt dự trữ vật chất kỹ thuật của địch v.v… Kế hoạch dự kiến về xây dựng lực lượng ta trong năm, về mở các hành lang thông suốt, về dự trữ vật chất, hậu cần ở các hướng. Năm 1975 phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị thật tốt để đảm bảo đánh lớn. Tổng công kích Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong năm 1976.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:43:42 pm »

Đồng chí đã báo cáo cụ thể về lực lượng quân sự của ta hiện nay ở các chiến trường và ở Trung ương. Số lượng binh khí kỹ thuật và đạn dược đang có ở các nơi và số dự trữ. Dự kiến phân chia việc sử dụng các loại ở các chiến trường trong hai năm. Riêng về số lượng đạn cỡ lớn, đồng chí báo cáo: Số lượng còn lại phía trước và phía sau tổng cộng là… (100%) sẽ sử dụng… (hơn 10%) trong năm 1975,… (45%) trong năm 1976, còn lại dự trữ… (gần 45%).

Như vậy là bước vào thảo luận, hội nghị đã có đủ tình hình các chiến tường, đã có các dự kiến về hai năm và về kế hoạch cụ thể năm 1975 của Bộ Tổng Tham Mưu và của các chiến trường. Hội nghị đã thảo luận với một không khí hào hứng và phấn khởi. Không biết từng đồng chí đã nghĩ gì, nhưng riêng tôi thật là xúc động khó tả. Hội nghị này đã quyết định kết thúc 30 năm chiến tranh của đất nước. Có dân tộc nào trên con đường đấu tranh gay go dài dằng dặc, bị buộc phải cầm súng và chịu đựng chết chóc và tàn phá ghê gớm suốt 30 năm trời, như dân tộc Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng và thống nhất Tổ quốc này của chúng ta, đã có nhiều trường hợp cả 3 thế hệ ông, cha, cháu, đều xông ra tiên tuyến, có khi cùng chung trong một đơn vị. Đã có nhiều trường hợp, trong một trận càn của giặc, toàn bộ gia đình hay một tập thể các gia đình cùng hy sinh vì bom đạn thù. Và trên đất nước này, cho đến nay, hầu như không có 1 gia đình nào từ Hoàng Liên Sơn Cao Lạng cho đến Mũi Cà Mau, Phú Quốc, Côn đảo, không có mất đi ít nhất 1 người thân yêu. Trăm nghìn hy sinh, vô vàn khổ cực để mong có ngày nay, ngày quyết định một tương lai huy hoàng. Trách nhiệm nặng nề làm sao. Mỗi suy nghĩ, mỗi lời phát biểu trong hội nghị như có mang theo sức nặng của 4000 năm lịch sử, của hàng vạn gánh đau thương, của hàng triệu cặp mắt theo dõi của người dân Việt Nam, của người dân đang bị áp bức trên toàn thế giới, của bạn bè bốn biển Năm Châu. Nhiều đồng chí đã phát biểu sôi nổi, có đồng chí phát biểu nhiều lần.

Tất cả xoay quanh nhận định đánh giá tình hình trong nước, ngoài nước. Ta đánh mạnh, ngụy sẽ ứng phó thế nào? Mỹ sẽ hành động ra sao? Có giám can thiệp trở lại không hay có những âm mưu thủ đoạn nào khác? Phương pháp cách mạng của ta thế nào là đúng nhất. Các bước đi trong hai năm, nên bước thế nào cho kịp và cho vững. Năm 1975 nên thế nào? Và rồi năm 1976? Hai năm trong chiến tranh, ác liệt có phải đâu là ngắn, nhưng hai năm cuối cùng của trên 30 năm khổ cực thì sao thấy nó nhanh quá, sắp đến nơi rồi. Khi kết luận hội nghị, anh Ba đã nói: “Chuẩn bị hai năm tuy ngắn đấy nhưng có khi cũng là dài đấy”. Và khi phát biểu anh Đồng nói: “Lúc nào là thời điểm sụp đổ của Ngụy? Không phải chờ đến năm 1976 đâu. Có thể nhanh, không phải dần dần đâu”. Và anh Giáp cũng như nhiều anh khác nhấn mạnh: “Hạ quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976 là đúng. Nhưng kế hoạch cần đề phòng tình huống sớm hơn, trong năm 75 và cả tình huống kéo dài qua năm 77. Như vậy mới chủ động vững vàng”.

Anh Đồng đi đi lại lại, suy nghĩ rồi dừng lại phát biểu, mặt lúc nào cũng hồng hào, tiếng nói rắn rỏi. Anh nói: “Đánh giá địch, ta cần khẳng định một số vấn đề, đừng nghĩ theo lối cũ lỗi thời. Ta đang ở giai đoạn mới. Mỹ rút quân do qui định của hiệp định Paris, nó cho đây là một thắng lợi sau khi bị nhiều thất bại, không lối thoát. Ngày nay, nó đem quân can thiệp trở lại là một chuyện không thể có. Có chăng là dùng không hải quân chi viện, nhưng việc ấy không quyết định được vấn đề thắng bại”. Rồi anh vừa cười to vừa nói: “Nói chơi cho vui nhưng cũng đúng sự thật là cho kẹo Mỹ cũng không vào”. Mọi người cũng cười vui vẻ. Anh lại tiếp: “Về ta, quan trọng nhất là một cao trào cách mạng Miền Nam xảy ra. Rất mới, cả quân sự và chính trị. Bạo lực quân sự đến mức cao nhất đi đôi bạo lực chính trị. Cả Khu 8, khu 9 báo cáo như vậy rất tốt. Tình hình diễn biến sẽ vượt bực nhanh. Anh Trường chinh đứng lên, mang kính, nhìn vào tập giấy cầm trên tay đã chuẩn bị sẵn, phát biểu một cách trịnh trọng. Anh thường như vậy. Lúc nào cũng cẩn thận chứ không để một sơ hở nhỏ nào. Trong các bài viết chú ý phải mở đầu, phần chính, đủ cả, rồi phần kết thúc. Tôi không làm biên bản mà chỉ ghi ở đây vài ý thôi. Anh nói: “Địch bị ba sức ép tấn công quân sự của ta, đấu tranh chính trị của quần chúng và khó khăn về kinh tế tài chánh. Vì vậy địch bị suy yếu nhanh chóng. Quân địch không gỡ được mâu thuẫn giữa giữ đất giữ dân và cơ động tác chiến. Nhưng nay nó còn đứng được vì chưa bị tiêu diệt nặng, còn lấy được người, Mỹ còn viện trợ lớn về mọi mặt. Ta dành được quyền chủ động trên chiến trường. Năm 1974, ta đã đạt được kế hoạch. Nếu Phước Long ta diệt được nữa thì chúng tỏ hùng hồn là ta mạnh lên nhiều. Địch có xu hướng co cụm phòng ngự. Ta khó ngăn nó co cụm vào các thành phố lớn. Ta khó đánh nổi địch co cụm lớn có công sự kiên cố và đánh vào thành phố rất phức tạp. Mỹ có vào không? Thực sự nó còn hai vạn rưởi cố vấn quân sự đội lốt dân sự. Nếu nó thấy lâm nguy nó sẽ can thiệp. Nhưng can thiệp bằng bộ binh thì khó, mà bằng không, hải quân thì cũng phải cân nhắc và có mức độ. Ta phải tạo điều kiện thực hiện đòn tiêu diệt chiến lược. Cũng không hạn chế chỉ một đòn tiêu diệt chiến lược…”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:44:58 pm »

Lúc này tin chiến thắng của chiến trường B2 ngày nào cũng có. Phấn khởi nhất là tin ở Trà Vinh, một tỉnh đồng bằng và cũng là hướng chủ yếu của đầu mùa khô, ta đã diệt nhiêu địch, gỡ nhiều đồn bót, giải phóng nhiều xã, nhiều dân. Mọi người trong hội nghị, nhất là đại biểu B2, có nhiều, rất đỗi vui mừng. Thực tiễn của chiến trường, đã dẫn chứng cho nhiều lập luận đánh giá tình hình, giống như các chiến sĩ và nhân dân ở chiến trường xa cũng tham gia trực tiếp thảo luận ở hội nghị vậy. Anh Lê Đức Thọ khi phát biểu đã dẫn chứng: “Đồng bằng Cửu long trong tháng 12 đã gỡ trên 500 vị trị, mới một tháng đạt 70% kế hoạch 6 tháng mùa khô… như tôi đã kể ở đoạn trước. Còn ở Miền Đông nam Bộ, phía đông ta đã chếm toàn huyện Tánh Linh… và một số xã Huyện Hoài Đức của tỉnh Bình Tuy. Tại Tây Ninh ta vây ép căn cứ núi Bà đen và diệt gọn một tiểu đoàn của Trung đoàn 49 thuộc sư đoàn 25 ngụy. Tại tỉnh Phước Long, ta đã chiếm sân bay và chi khu Phước Bình, núi Bà rá và đang tấn công vào thị xã. Ai nấy trong hội nghị đều mong chờ kết quả của trận đánh Phước Long. Bỗng một hôm, trong lúc đang họp, một đồng chí trong Cục tác chiến Bộ tổng tham Mưu đưa đến và đọc một bức điện từ chiến trường báo cáo rằng “vì địch đã tăng viện được lữ 81 biệt kích dù vào thị xã; chúng đã cố thủ, nên chúng tôi tạm cho dãn bộ đội ra chấn chỉnh để nghiên cứu đánh lại”. Tôi sửng sốt, không tin. Tôi ngồi, gần như đối diện với anh Ba, khi nghe đọc xong, anh ngó thẳng vào tôi có vẻ hỏi tại sao vậy. Trước đây, khi xin được đánh Phước Long và được sử dụng một ít pháo lớn và xe tăng, tôi đã khẳng định với anh rằng ta đánh chắc thắng và địch không thể tăng viện được. Nay nếu đánh không nổi tỉnh lỵ Phước Long thì mọi việc đánh giá khác của tôi sẽ khó mà tin được là đúng. Trình độ tác chiến của quân chủ lực ta ở chiến trường là thước đo chính xác nhất trình độ khả năng lãnh đạo và chỉ huy của cán bộ, hiệu quả chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nhưng rồi vẫn nghĩ rằng sự việc không phải như vậy, tôi vẫn tin ở khả năng của bộ đội và cán bộ B2, vẫn tin rằng chắc chắn Phước Long sẽ được giải phóng.

Lòng tin của tôi là có căn cứ. Tôi đã sống với các đơn vị chủ lực B2 từ những ngày dầu tiên mới xây dựng từng tiểu đoàn, trung đoàn cách đây hơn chục năm trời. Tôi đã đem hết tâm lực của mình góp một phần nhỏ cùng anh em chăm chút từng cán bộ từng cây súng ngày đêm lo rèn luyện, chiến đấu, từ thời kỳ này dến thời kỳ khác cho đến nay. Tôi đã có mặt với anh em gần như trong tất cả các chiến dịch quan trọng của B2. Tôi hiểu họ như hiểu mình và tin họ như tin mình. Tổi rất tiếc không có mặt minh để chia sẻ gian truân cùng anh em trong trận đánh Phước Long có tầm chiến lược này. Nhưng tôi luôn nghĩ rằng có hay không có tôi, họ đã là họ, những đơn vị chủ lực kiên cường và quyết thắng.

Còn cán bộ chỉ huy? Đơn vị thế nào thì cán bộ thế ấy. Đó là những nơi được rèn luyện và lớn lên qua hàng trăm trận lớn nhỏ và phần lớn đã trải qua hai thờ kỳ kháng chiến. Tôi đã từng giao cho họ những nhiệm vụ rất nặng nề, tôi cho họ những mệnh lệnh hết sức nghiêm ngặt đã cùng họ trải qua những giờ phút gian nan nguy hiểm cũng như những ngày thắng trận vẻ vang. Tôi dựa vào họ mà suy nghĩ và hành động. Mỗi cán bộ cấp dưới của tôi ngã xuống là một phần cơ thể và linh hồn tôi bị tổn thương. Cho đến khi nhắm mắt cuối đời, trong tôi không thể xóa nhòa hình ảnh của đồng chí Trần Đình Xu, người chỉ huy bình tĩnh và vững vàng trong mội tình huống, đã hy sinh anh dũng trong lúc đang là Tư lệnh khu Sài gòn năm 1969. Hay đồng chí Nguyễn Thế Truyện một tư lệnh sư đoàn dũng cảm vô song, đã vào tận thủ đô ngụy trong Tết Mậu thân 1968 và đã hy sinh trên vùng ven ác liệt ngày nào. Đồng chí Nguyễn Văn Nhỏ (Hai Nhỏ) người Tân An, con một lão du kích kiên cường của Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940. Đồng chí coi thường mọi gian khổ hiểm nguy. Năm 1986, đồng chí đã đặt sở chỉ huy của mình ngay trên đường số 1 gần Bà Quẹo, đã chỉ huy cánh quân đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất từ phía tây. Đồng chí đã hy sinh anh dũng năm 1969 khi đang là phó tư lệnh quân khu 8. Và còn biết bao đồng chí như vậy nữa. Còn bây giờ, ngươi chỉ huy trực tiếp trận Phước Long là đồng chí Hoàng Cầm, người tư lệnh sư đoàn đâu tiên của B2 khi mới thành lập là sư đoàn thứ 1, cho đến nay là tư lệnh quân đoàn. Trải qua thời gian dài chiến đấu, đồng chí đã cùng đơn vị của mình hoàn thành mọi nhiệm vụ khó khăn nhất được giao. Còn người thay tôi ở Bộ tư lệnh miền lúc ấy, đồng chí Lê Đức Anh, người mà trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ đã nhiều lần làm Tham mưu trưởng cho tôi. Người, năm 1973 là tư lệnh quân khu 9 đã kiên quyết đánh trả quân địch, giành thắng lợi vẻ vang. Các đồng chí khác đang ở chiến trường cũng đều là những cán bộ kiên cường đã qua nhiều thử thách. Tôi đánh giá được khả năng và nhược điểm của họ để mà gởi gắm lòng tin của mình.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #64 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:46:40 pm »

Tôi biết rằng lần đầu tiên đánh giải phóng hoàn một tỉnh, tấn công vào một tỉnh lị có địa hình phức tạp, có công sự phòng ngự kiên cố, không thể dễ dàng, có những giờ phút gay go, cố giành đi giật lại. Nhưng kết quả cuối cùng anh em sẽ chiến thắng. Nghĩ như vậy, tôi đã bình tĩnh trình bày với các anh ở hội nghị rằng khi ta đã chiếm được Phước Bình và núi Bà Rá rồi thì địch không thể nào cố thủ trong thị xã lâu được và chắc chắn địch không thể đưa quân đông đến đây nổi. Tôi vẫn tin rằng quân ta sẽ diệt Phước Long trong vài ngày nữa thôi. Tôi liền điện về hỏi sự thật diễn biến của trận đánh, báo phải tăng thêm lực lượng dứt điểm cho được thị xã. Hôm sau, chúng tôi nhận được điện của Bộ tư lệnh B2 rằng không có vấn đề giãn bộ đội ra, đó chỉ là báo cáo sai lầm của một cán bộ ở tiền phương. Đang tăng thêm trung đoàn độc lập 16 và trung đoàn 2 của sư đoàn 9 để tiêu diệt quân địch ở thị xã. Tôi yên tâm. Trước ngày kết luận hội nghị của anh Ba, chúng tôi nhận điện báo cáo của B2… “Chiều ngày 6-1-1975 quân ta đã quét sạch các cụm đề kháng mà chúng khôi phục lại trong ngày 5 bằng 250 biệt kích dù mới tăng cường đến… chủ trương của chúng tôi là tiếp tục truy diệt cho sạch tàn quân giữ vững thị xã và toàn bộ tỉnh Phước Long. Nếu địch tiến hành phản kích thì tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch gồm cả bọn đổ bộ đường không và bọn đi đường bộ, tạo điều kiện cho ta thực hành tấn công vào các hướng rất nguy hiểm cho địch, hạn chế đến mức tối đa thương vong của ta, bảo vệ tính mệnh tài sản của nhân dân”. Và điện báo cáo của Bộ tham mưu B2: “… bắt đầu rạng sáng 3-1 mở đợt công kích toàn diện vào tiểu khu, thị xã Phước Long và đến 15 giờ 30 ngày 6-1, ta đã tiêu diệt bắt sốn toàn bộ quân địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long….”(1) Tôi thở phào nhẹ nhõm trút sạch tất cả những lo lắng, nặng nề trong mấy ngày qua.

Tin dứt điểm thị xã Phước Long đến trong lúc đang họp. Mọi người đều vui vẻ, đứng dậy bắt tay nhau mừng chiến thắng. Không phải chỉ bắt tay riêng đại biểu B2. Điều đó nói lên rằng chiến thắng này có ý nghĩa chung, không riêng gì cho chiến trường B2. Nó đánh dấu một cái gì đó về khả năng tác chiến của quân đội ta, về sự suy yếu của quân đội địch, về một trang sách mới vừa mở ra, một giai đoạn mới đã bắt đầu… không ai nói thẳng ý nghĩ của mình ra, nhưng nét mặt và cử chỉ nói nhiều hơn lời và có vẻ như nhất trí cả. Mấy phút trôi qua, rồi ai nấy đều về chỗ của mình. Và anh Ba nói: “Lần dầu tiên ở Miền Nam, một tỉnh hoàn toàn được giải phóng. Tỉnh đó lại ở gần Sàigòn là mở rộng vùng căn cứ quan trọng của ta ở Miền đông. Thực tế này nói rõ hơn hết khả năng của ta, sự phản ứng thế nào của ngụy và nhất là của Mỹ”. Tất cả đều tỏ đồng tình tán thưởng lời nói đó. Tất cả các cán bộ và chiến sĩ tham gia các trận đánh ở Phước Long của sư đoàn 7, sư đoàn 3, sư đoàn 9, bộ đội đặc công, lực lượng địa phương, du kích và nhân dân ở tỉnh Phước Long nhất là các đồng chí đã ngã xuống tại đây có hiểu chăng giá trị của chiến công mình đã lập nên. Các đồng chí có biết rằng chính các đồng chí đã cùng các chiến sĩ và đồng bào đồng bằng sông Cửu Long vào đợt 1 mùa khô, chớ không phải đoàn đại biểu B2 chúng tôi, đã báo cáo cụ thể nhất, rành rẽ nhất, tình hình ta, địch thực tế trên chiến trường ở giai đoạn chiến lược hiện tại của cuộc chiến tranh cho Bộ chính trị Trung ương Đảng ta, cơ quan lãnh đạo cách mạng tối cao và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Tôi có viết điện về hoan nghênh chiến thắng này nhưng không thể nói hết được tình hình trong cuộc họp và sự xúc dộng của riêng tôi.

Còn kể địch của ta thì nhận định thế nào về sự kiến Phước Long. Tài liệu “Sự sụp đổ của Nam Việt Nam” của Mỹ (sách dẫn trên) đã viết: “Cuộc tường thuật sau đây cố gắng vạch ra sự sụp đổ cơ cấu “tuyến phòng thủ cứng rắn” này, bắt đầu bằng sự thất thủ của tỉnh lỵ Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975. Theo quan điểm của nhiêu người trả lời thì sự thất thủ thị trấn đó đánh dấu việc Nam Việt Nam bắt đầu tan rã…”

Bửu Viện xem sự thất thủ của tỉnh lỵ nào có ý nghĩa quan trọng:

“Để thử thách quyết tâm của quân lực Việt Nam cộng hòa và đặc biệt là để thăm dò phản ứng của chính phủ Hoa kỳ, quả thật cộng sản đã chọn một mục tiêu dễ dàng. Sự thật thì Phước Long có một ý nghĩa to lớn. Đây là lần dầu tiên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam cả một tỉnh đã lọt vào tay cộng quân…”.

Còn ngay sau khi Phước Long bị mất, Mỹ, ngụy ở Sàigòn đã nghĩ và làm những gì, tâm trạng tướng tá ngụy ra sao? Dương Hảo, trong sách “một chương bi thảm” do nhà xuất bản quân đội nhân dân ta phát hành năm 1980, đã viết:

“… Sau này, kể lại hậu quả thất bại Phước Long, Phạm Bá Hoa, Đại tá, tham mưu trưởng Tổng cục tiếp vận ngụy nói:

“… Những ngày chiến sự ở Phước Long sôi động là những ngày căng thẳng cho tất cả sĩ quan ở Bộ tổng tham mưu (quân ngụy), nhất là khi Phước Long thất thủ. Có thể nói, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng. Không khí lo ngại bao trùm, ưu tư đè nặng mỗi người. Ưu tư không phải vì chiến sự sôi động ngay cửa ngõ Sàigòn, mà cũng chẳng phải vì mất Phước Long với tổn thất lớn 6000-7000 quân bị tiêu diệt, tan rã.

“Cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của quân lực cộng hòa. Chỉ mới bị đánh một điểm mà không còn lực lượng đối phó, hỏi bị đánh mạnh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Phước Long là sự kiện nói lên khá rõ hiệu quả chiến lược “Việt Nam hóa” đã thực hiện trong 6 năm qua. Trước đây, quân đội cộng hòa qua được nhiều hiểm nghèo là nhờ vào sự cứu viện của Hoa Kỳ, Họ đã cung cấp đủ trang bị bù đắp tổn thất, đã chi viện hỏa lực hùng hậu, mạnh mẽ, thậm chí cả xung lực mới đủ sức chống đỡ. Nay trước thất bại đau đớn, mất cả một tình mà Mỹ vẫn làm ngơ, mặc dầu ông Thiệu đã nhiều lần gặp Martin yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng chính thức đã gởi công hàm, rồi tướng Khuyên đã điện đàm trực tiếp với Xmít (Trưởng cơ quan DAO) – Tất cả đều là con số không.

“Tình hình đó đã dồn ép chúng tôi đến hoang mang, bi quan cực độ, Có thể nói Phước Long là một đòn thử sức đôi bên và kết quả đã quá rõ ràng…”.


(1) Hồ sơ lưu trữ Ban Tổng kết chiến tranh B2 – thuộc Bộ Quốc phòng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #65 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:48:17 pm »

Cuộc họp vẫn tiếp tục. Anh Lê Thanh Nghị vẫn như thói quen của anh, phát biểu nhè nhẹ, chậm rãi, xung quanh ai tỏ thái độ gì cũng mặc, cứ nói ho hết ý mình. Sau khi phân tách tình hình, nói về kế hoạch, nhấn mạnh: Đưa thêm lực lượng vào B2 là đúng và càng sớm càng tốt. Dự bị chiến lược chung và cho từng chiến trường quan trọng là phải có. Nhưng dự bị chung một quân đoàn thì làm sao cơ động được vào chiến trường chủ yếu cho kịp thời nếu để tận ngoài xa. Anh Lê Đức Thọ thì nhấn mạnh: Phải chú ý đầy đủ cả ba quả đấm phối hợp nhau. Phải đánh mạnh, thắng to năm 1975 thì mới có điều kiện hơn cho năm 1976. Anh Văn Tiến Dũng trình bày: Triển khai lực lượng sớm không thể kịp. Phải chuẩn bị nhiều vấn đề : xây dựng bổ sung lực lượng, huấn luyện tác chiến, rồi vật chất hậu cần, đường sá, v.v…. Tăng cường lực lượng cho B2 cũng phải chờ đánh Tây Nguyên xong mới được, không thể lấy sư đoàn nào khác. Phải tháng 5 năm 1975, sư đoàn 316 mới vào tới Miền Đông. Như vậy anh Ba nhìn chúng tôi nói: “ta đánh theo cách của ta là phải chính trị, quân sự, chiến lược tổng hợp ba quả đấm, khác đó là không thắng được. Có khó khăn chung, thôi chậm vài ba tháng, cũng phải như vậy để không phá kế hoạch Tây Nguyên”. Tô im lặng bụng bảo dạ: thôi ta lại đánh theo lối dân gian ta thường nói là “liệu cơm mà gắp mắm” tức là có bao nhiêu lực lượng thì có cách xử dụng bấy nhiêu cho phù hợp nhứt, Nhưng nhất định cũng sẽ phải giành thắng lợi to lớn mới được.

Ngày 8-191975, anh Ba kết luận hội nghị. Tôi chỉ lược ghi ý chính: “hội nghị có Khu 5, Nam bộ dự và rất phấn khởi vì có sự nhất trí rất cao, quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976 mà bộ chính trị đã đề ra, đã suy nghĩ nhiều, bàn bạc nhiều lần, nay càng nhất trí với cả chỉ huy chiến trường.

- Năm 1959-60 thì phong trào quần chúng rất mạnh nhưng lực lượng quân sự ta chưa có gì.

- Khi đánh Mỹ thì quân sự mạnh nhưng quần chúng bị địch dùng mọi biện pháp dã man đè xuống.

- Bây giờ thì cả quân sự, chính trị ta mạnh cùng lên nên mới thành sức mạnh tổng hợp.

“Vì vậy cần nắm vững hơn nữa qui luật của chiến tranh cách mạng và phong trào cách mạng quần chúng. Hai mà một, một mà hai…

“Hiện nay ta đã giữ chủ động trên chiến trường dành dân và dành quyền làm chủ. Ta đã tạo ra 1 thế chiến lược có thể liên hoàn từ Trị Thiên đến Nam bộ, tới đồng bằng sông Cửu Long. Ta đã xây dựng được những quả đấm chủ lực rất mạnh và cơ động. Ta đã tạo được quả đấm ở đồng bằng như khu 9, Khu 8 và đang phát triển. Ta đã tạo được một bàn đạp áp đảo xung quanh Sàigòn, đó là một chiến lược lớn lắm. Đô thị đã bắt đầu có phong trào quần chúng. Những điều đó chứng tỏ chúng ta mạnh. Trên thế mạnh đó, ta chuẩn bị cho quyết tâm hai năm…

“Ngụy đang xuống dốc về mọi mặt, quân sự, chính trị, kinh tế. Do ta tấn công và cả bản thân nó nữa…

“Còn Mỹ thì thế nào? Mỹ đã thất bại nhiều, thất bại cả về chiến lược toàn cầu. Vì vào Việt Nam, Mỹ đã yếu đi, rất nguy hiểm. Nay trở vào nữa thì sẽ rút xuống không còn gì cả, sẽ mất tất cả. Tuy thế, ta vẫn phải đề phòng. Có thể Mỹ sẽ dùng không quân hải quân có mức độ. Nếu ta đánh không mạnh, không nhanh mà kéo dài, thì Mỹ sẽ vào mức độ nào đó để cứu vãn cho Ngụy không thất bại hoàn toàn.

“Nhưng một điều cần khẳng định là dù Mỹ có vào như thế nào đi nữa ta vẫn quyết tâm đánh, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc. Lý do đơn giản là vì ta không muốn bị nô dịch, mất nước. Ta muốn tự do độc lập và thống nhất.

“Phương châm phương pháp cách mạng của ta là:

Tấn công nổi dậy, nổi dậy tấn công, ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, tiêu diệt làm chủ, làm chủ tiêu diệt, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

“Năm 1975 phải thế nào?

- Phải thắng nhanh ở đồng bằng Nam bộ dính liền với chủ lực Miền đông, tạo liên hoàn từ Miền đông đến đồng bằng sông Cửu Long. Giành nông thôn nhiều hơn, giải phóng nhân dân nhiều hơn. Vây ép Sàigòn hơn, diệt chủ lực ngụy bảo vệ Sàigòn để tạo sức ép Sàigòn mạnh hơn. Làm sao cho từng địa phương mạnh hơn, hoàn thành nhiệm vụ và để đủ sức lợi dụng thời cơ. Phải có cú mạnh ở Tây Nguyên, nhưng có khả năng thì đánh Ban Mê Thuột, Khu 5, chú ý vùng Bình định, Đà Nẵng, – Trị Thiên thì vùng Huế.

“Phải diệt chi khu quận lỵ rồi diệt tiểu khu thị xã. Phải diệt từng trung đoàn, sư đoàn chủ lực của Ngụy.

“Năm 1975 làm được như vậy thì mới rõ năm 1976, cho nên năm 1976 là kết quả của 1975.

“Ta còn có khó khăn nhưng khó khăn mấy cũng quyết vượt để đi lên hoàn thành nhiệm vụ. vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình ở Đông nam Á và thế giới chúng ta phải giành toàn thắng. Ta có trách nhiệm với nhân dân ta, ta còn có trách nhiệm với nhân dân cả thế giới”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #66 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:48:51 pm »

Khi kết luận hội nghị, nói về đánh Ban Mê Thuột anh Ba chưa nói tiếng nói cuối cùng, tôi hiểu có lẽ anh dành quyết tâm ấy cho Quân ủy Trung ương. Trước đó tôi đã có dịp trình bày với anh Ba rằng để giải phóng toàn tỉnh Phước Long với địa hình phức tạp và địch đã chú ý phòng ngự, B2 đã dùng tất cả có 2 sư đoàn kết hợp với lực lượng địa phương tại chỗ. Hai sư đoàn đó không đầy đủ, ghép các trung đoàn lẻ lại, không phải là những đơn vị mạnh và có rất ít pháo lớn và xe tăng chi viện, ta lại đánh kéo dài, lần lượt, không còn bất ngờ. Thế thì đánh Ban Mê Thuột, ta có ba sư đoàn và xe tăng, pháo lớn mạnh, nhất định ta chắc thắng. Xong hội nghị tôi hết sức phấn khởi và tin tưởng. Chì còn chờ và mong được biết Quân ủy Trung ương có hạ quyết tâm đánh Ban Mê Thuột hay không để có cơ sở làm kế hoạch đợt hai mùa khô cho B2. Vì đánh hay không đánh Ban Mê Thuột sẽ ảnh hưởng khác nhau đến toàn chiến trường Miền Nam. Tôi tin rằng nếu đánh Ban Mê Thuột thì tốc độ chiến tranh sẽ nhanh lên nhiều. Vì vậy mà kế hoạch của B2 phải rất phù hợp nếu không thì không kịp với thời cơ. Tôi quyết định tìm cách biết rõ vấn đề nay trước khi lên đường về chiến trường.


Ngày 15-1, Đoàn chúng tôi còn gặp anh Ba để anh có chỉ thị cuối cùng. Lần này anh đi vào những vấn đề rất cụ thể, về cách đánh, về diệt đơn vị địch, phá dự trữ của chúng. Về bố trí lực lượng của ta vùng Sàigòn, biệt động, đặc công phải mạnh. Anh vẫn nhấn mạnh lực lượng tổng hợp, chiến lược tổng hợp. Anh nói về quả đấm, củ lực phải thế nào? Quả đấm đồng bằng thế nào, và đặc biệt nói nhiều về đô thị. Anh nói ở đó thì phải hết sức chú trọng phong trào quần chúng, phải thành cao trào. Mũi nhọn là lực lượng công đoàn. Lãnh đạo chỉ đạo chính trị ở Sàigòn phải sắc bén lắm mới được vì chính trị thay đổi rất nhanh, từng ngày, từng giờ, phải kiên quyết và sắc bén như Lênin đã làm.

Giành được chính quyền đã khó! nhưng giữ được chính quyền còn khó gấp trăm, cho nên ngay từ giờ phải suy nghĩ lo tổ chức ngay. Phải quyết tam và tin tưởng thắng lợi to năm 1975.

Ngày 20-1, chúng tôi còn gặp anh Lê Đức Thọ để anh dặn dò thêm một số việc. Anh nói: “Kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo từ trước đến nay vẫn là đánh giá cho hết địch ta. Và anh cho biết đã quyết tâm đánh Ban Mê Thuột rồi. Anh kẻ: “Tôi đã đến cuộc họp thường trực Quân ủy Trung ương; đã truyền đạt quyết tâm của Bộ chính trị là đánh Ban Mê Thuột. Chỉ chấp hành lịnh không thảo luận gì nữa cả”.

Trong quyển “Đại thắng mùa xuân” Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng viết: “Cuộc họp vừa bắt đầu thì đồng chí Lê Đức Thọ bất ngờ mở cửa vào và phối hợp với chúng tôi. Sau chúng tôi hiểu rằng Bộ chính trị chưa thật yên tâm vì thấy ý định đánh Ban Mê Thuột chưa thể hiện rõ ràng trong kế hoạch tác chiến, cho nên đã cử đồng hí Lê Đức Thọ đến tham gia ý kiến với chúng tôi là nhất quyết đánh Ban Mê Thuột. Đồng chí Lê Đức Thọ nói rất sôi nổi: “Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải phóng Ban Mê Thuột. Ta có gần 5 sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được Ban Mê Thuột là thế nào?”.

Chúng tôi rất vui mừng về quyết tâm và từ đó trở đi, lúc nào tôi cũng suy nghĩ hình dung về sự diễn biến có thể của toàn chiến trường Miền Nam và kế hoạch hoạt động của B2. Chắc chắn là phải chạy, không thể thư thả được. Tôi nhớ lại câu nói không thể quên của anh Ba trong thời kỳ khẩn trương của chiến tranh là: “Phải vừa chạy vừa sắp hàng, không phải đợi sắp hàng xong mới chạy”.

Ngày 24-1-1975, Đoàn chúng tôi lên đường về B2 với tâm trạng rộn ràng náo nức. Đầu óc tôi không bao gờ dứt suy nghĩ về các mục tiêu phải đánh, về sử dụng lực lượng thế nào. Nhiệm vụ rất nặng nề đang chờ đợi. Phải đi nhanh, về gấp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #67 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 04:51:16 pm »

*
*   *

Kết quả hoạt động đợt 1 mùa khô 1974-1975 của toàn chiến trường B2 thật là rực rỡ, thắng to, vượt mọi chỉ tiêu đề ra. Sự lo lắng của tôi trước đây rằng trong đợt này chỉ riêng B2 hoạt động có thể sẽ gặp nhiều khó khăn do địch tập trung đối phó, giờ đây không xảy ra vì rõ ràng địch rất lúng túng, bị động, suy yếu nghiêm trọng. Mặc dù địch cũng đã tập trung xử dụng không quân của cả Quân khu 2 và 4 để đối phó ta ở quân khu 3, phi cơ chiến đấu, có lúc xử dụng đến 160 trực thăng, nhưng không giải quyết được gì trên chiến trường. Về bộ binh chúng đã điều Liên đoàn 4 biệt động quân từ Kontum về Long Bình, sau đó thay đổi bằng liên đoàn 8 biệt động quân từ Dực Đức vào, điều lữ đoàn 4 dù rồi lữ đoàn 2 dù từ Đà Nẵng về căn cứ Hoàng Hoa Thám, lữ đoàn 4 thủy quân lục chiến từ Trị thiên về căn cứ Sóng Thần, nhưng không phải để phản công mà là để lo tăng cường phòng ngự hướng Bắc và Đông Bắc Thủ Đô Sàigòn của chúng. Kết quả cụ thể riêng một đợt từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2-1975 đã hơn hẳn bất cứ đợt hoạt động nào từ trước đến nay. Ta giải phóng hoàn toàn 1 tỉnh, 4 huyện, 72 xã, 489 ấp, và giải phóng cơ bản 52 xã khác. Số dân mới giải phóng là 584.800 người. Đã tiêu diệt 1548 đồn bót trong đó có 1 tiểu khu, 8 chi khu, 3 yếu khu, 88 phân chi khu. Đã phá hủy 108 máy bay, 110 tàu, 494 xe các loại và diệt 56.315 tên địch, thu 12.122 súng, 786 máy vô tuyến điện, 118 xe và 2 máy bay.

Mặc dù những con số ấy rất có ý nghĩa, nó vẫn chưa nói được hết giá trị thắng lợi của đợt 1 mùa khô 1974-1975 của chiến trường B2. Thắng lợi ấy không phải chỉ là kết quả của 1 đợt mà nó là sự phát triển hoàn toàn phù hợp từ thắng lợi mùa khô năm 1974 và liên tục cả mùa mưa. Trung ương cục và quân ủy Miền phán đoán trước được thắng lợi này khi đã nhận thức được sự chuyển biến tình hình đã diễn ra trên chiến trường giữa ta và địch khi kết thúc mùa khô 1974, từ đó thúc đẩy tình hình qua hoạt động tiếp tục mùa mưa và đến đầu mùa khô này. Quân và dân B2 đã hiểu được địch, đã biết được mình, để nỗ lực tấn công và nổi dậy không mệt mỏi từ mùa khô năm trước đến mùa khô này, càng đánh càng mạnh, càng mạnh về lực thì càng lên về thế. Trong lúc đó Ngụy đã bắt đầu suy sụp từ mùa khô 1974, bị đánh liên tục từ đấy đến nay, càng bị suy sụp nặng, không còn cách gì gượng lại được. Thực ttế đã chứng minh nhận định đánh giá tình hình của Trung ương cục là chính xác và từ đó có chủ trương chính xác.

Lần đầu tiên trong hàng chục năm chiến tranh một tỉnh (Phước Long) hoàn toàn được giải phóng mà tỉnh đó lại là ải địa đầu của Quân khu 3 địch, là một quân khu mạnh vào bậc nhất nhì, có nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô, trung tâm đầu não chiến tranh của Mỹ ngụy. Sự kiện ấy diễn ra trong lúc ngụy còn trong tay một lực lượng trên một triệu quân về lý thuyết và cũng gần 1 triệu quân về thực tế và được trang bị mạnh bằng vũ khí, phương tiện Mỹ, được Mỹ xây dựng, huấn luyện và chỉ huy để thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Thế mà Mỹ ngụy không hề điều được một đơn vị quân chủ lực nào để phản ứng dối phó bảo vệ cho cửa ngõ vào Sàigòn. Và cả Mỹ nữa, cũng đành đứng mà nhìn Ngụy, đứa con mang nặng đẻ đau cả hàng chục năm trời, bước vào ngưỡng cửa của thời kỳ bại vong nguy hiểm. Phước Long giải phóng khác nào như thanh gươm đang kề sát vào cổ Sàigòn, mà ngụy quyền Sàigòn giống như một tên ngoan cố keo kiệt quá cỡ, thà chết chớ không chịu dể mất một tấc đất nào, có bao nhiêu quân đều rải ra phòng giữ khắp hang cùng ngõ hẻm, rốt cục ở đâu bị đánh thì ở đó chịu chết, còn đâu quân mà cứu viện. Thôi thì đành dở trò cười “Ba-ngày-toàn-quốc-để-tang” cho Phước Long! Đây chính thức là để tang cho cái chế độ buôn dân bán nước của Ngụy Thiệu, cái chế độ đã bắt đầu thời kỳ diệt vong từ Phước Long vậy.

Cũng trong đợt 1 mùa khô này, một sự kiện nổi bật khác nữa làm cho Mỹ ngụy run sợ: Đó là đòn tấn công và nổi dậy của quân dân ta ở đồng bằng sông Cửu Long đã nói lên khả năng xã giải phóng xã, quận giải phóng quận, tỉnh giải phóng tỉnh là thực tế, là một chủ trương đúng đắn. Chỉ trên 2 tháng, ta đã tiêu diệt 15 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 34.400 tên, phá tan 168 đồn bót trong đó có 2 chi khu quận lỵ, 2 yếu khu, 11 căn cứ, 65 phân chi khu. Bằng tấn công của lực lượng vũ trang, ba thứ quân, kết hợp với cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân, ta đã giải phóng hoàn toàn 51 xã, 414 ấp, giải phóng cơ bản 49 xã khác. Số dân giải phóng là 48.900 người. Đặc biệt khu vực dành thắng lợi lớn, phong trào cách mạng lên mạnh là Trà Vinh, Vĩnh Long, trọng điểm số 1 của quân khu 9, vùng ruột quan trọng của đồng bằng Cửu Long. Nếu tướng Mỹ Gavin có theo dõi sát tình hình chiến sự, hắn đã tỉnh ngộ ra rằng cái phương án co cụm chiến lược về đồng bằng sông Cửu Long của y đã bị phá sản từ lúc chưa kịp thực hiện.

Ngay ở Sàigòn và vùng ven là nơi địch hết sức chú trọng củng cố phòng ngự, chống nổi dậy, là nơi mà càng thua, địch càng điều thêm lực lượng về đây để giữ mạng sống cho chúng, phong trào cách mạng cũng sôi nổi trong đợt này và ta cũng giành được thắng lợi đáng kể. Trong thời gian đó ở vùng ven, ta đã giải phóng hoàn toàn 3 xã, 37 ấp, 17.000 dân và giải phóng cơ bản 4 xã nữa. Địch phải co lại trong đồn bót và nhiều nơi ban đêm cũng không dám ngủ trong đồn, không tin được vào công sự và vũ khí của chúng, Kềm kẹp của Ngụy quyền bị lỏng, nhân dân đi lại làm ăn tự do hơn, thậm chí dân trong nội thành đã ra vùng ven để liên hệ với cách mạnh, nhận nhiệm vụ của cách mạng. Đây là một tình hình gần giống như hồi tết Mậu Thân. Hoạt động ở đây không có chủ lực, không có xe tăng, pháo lớn. Ta chỉ có đơn vị đặc công, bộ đội địa phương, du kích nhưng các đơn vị nhỏ tinh nhuệ đó đã phát huy tác dụng vì biết kết hợp chặt chẽ với nhân dân đang khát vọng tự do hòa bình, đứng lên, nổi dậy, làm chủ.

Trong đợt một mùa khô này ta còn giải phóng được vùng Tánh Linh, Hoài Đức, thuộc tỉnh Bình tuy để làm bàn đạp sau này cắt đứt lộ 1 và là nơi xuất phát của mũi tấn công vò Biên hòa và vào Sàigòn từ hướng đông. Cũng như ta đã làm chủ một khu vực tương đối rộng dọc tuyến Vàm cỏ Tây để tạo điều kiện cho lực lượng ta tiến vào cắt đứt đường số 4 khi cần thiết, bao vây cô lập Sàigòn với đồng bằng.

Ta cũng đã bắt đầu khống chế sân bay Biên hòa có kết quả mà kẻ địch, không có cách nào đối phó. Đặc biệt là trên hướng bắc Sàigòn có tầm chiến lược lớn lao, ta đã bịt tai bịt mắt kẻ địch với kết quả chiếm lĩnh 2 trung tâm viễn thám và chuyển tiếp truyền tin quan trọng, đó chính là 2 pháo đài của địch, núi Bà Rá và núi Bà Đen, 2 cao điểm đột xuất.

Thắng lợi đợt một mùa khô năm 1974-1975 đã giúp chúng ta hiểu rõ kẻ địch của ta hơn, sức lực và khả năng hành động của chúng đến đâu, đồng thời cũng giúp chúng ta hiểu rõ được ta, khả năng thực tế, biện pháp cách mạng phải tiến hành và chỗ ta đang đi là chỗ nào trên đoạn chót con đường trường chinh trên một vạn ngày khói lửa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #68 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:46:17 pm »

CHƯƠNG SÁU
NGHÌN NĂM CÓ MỘT
TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN

Một dân tộc đã biết đứng lên cầm vũ khí tiến hành cuộc chiến tranh một mất một còn để tự giải phóng cho mình khỏi ách nô lệ thì dân tộc đó cũng biết phải kết thúc cuộc chiến tranh thế nào cho có lợi nhất. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hy sinh chiên đấu kiên cường và cũng đã ký kết hiệp định Paris, mong chấm dứt chiến tranh trong không khí hòa hợp và hòa giải dân tộc và kết thúc sự can thiệp của Mỹ trong danh dự. Nhưng kẻ thù của chúng ta lại nghĩ khác. Chúng xoay vào một âm mưu thâm độc, nhằm đưa cuộc chiến tranh đi đến “tàn lụi” để chúng nắm phần thắng hoàn toàn. Nhưng ở đời, mưu sâu thì họa càng sâu. Mỹ đã đánh giá được sức chiến đấu và lòng dũng cảm của chúng ta, nhưng Mỹ chưa hiểu hết được sự khôn khéo và trí thông minh của con người Việt Nam; tưởng có thể lừa dối được chúng ta. Nếu pháp lý hiệp định không chấm dứt được chiến tranh thì chỉ còn một phương pháp độc nhất là phải dùng bạo lực cách mạng vậy. Nhân dân ta rất cần hòa bình nhưng là hòa bình thực sự gắn liền với tự do độc lập dân tộc và phù hợp với lương tri loài người. Với tình thần trách nhiệm cao trước nhân dân và nhân dân thế giới, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã ra nghị quyết hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước và đi đến thống nhất nước nhà trong hai năm 1975-1976. Chấp hành nghị quyết ấy Bộ chính trị đã hạ quyết tâm cụ thể: đánh Ban mê thuột giải phóng Tây Nguyên, tạo ra thời cơ thuận lợi cho giai đoạn cuối cùng kết thúc cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài 30 năm.

Đã qua trọn hai năm từ khi có Hiệp định Paris. Thế mà tiếng súng chưa hề dứt bất cứ ở nơi nào khắp các chiến tường. Máu người Việt Nam vẫn tiếp tục đổ chỉ có người Mỹ và chư hầu thì rút về nước một cách an toàn vì chúng ta thi hành hiệp định còn Mỹ vẫn tiếp tục tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” mà không phải “Hòa bình hóa Việt Nam”. Con số “hai năm” là có sự trùng hợp. Hiệp định Genève qui định hai năm tổng tuyển cử thống nhất nước nhà nhưng Mỹ - Diệm đã xé toạc hiệp định khi vừa ký ráo mực: Hai năm qua đi mà trên cả Miền Nam lúc ấy cũng không ngớt tiếng súng của quân đội Diệm bắn giết những người yêu nước trong các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”. Nhưng có điều khác nhau căn bản của hai năm hồi ấy và hai năm ngày nay. Đó là sau hiệp nghị Genève toàn thể quân đội ta đã phải tập kết hết ra Miền Bắc, chỉ còn độc nhất quân đội Diệm ở Miền Nam, tự do nổ súng vào những người tay không. Còn sau hiệp định Paris, quân đội ta vẫn đứng đây, xen kẽ với quân đội Thiệu trên cả các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị. Chúng không thể tự do hành động vi phạm hiệp định mà không bị trừng trị. Mỗi một mưu đồ đen tối của chúng đều không lọt qua được con mắt cảnh giác của nhân dân ta, của lực lượng vũ trang giải phóng của ta. Suốt mùa khô 1974-75, hết sự kiện vi phạm này đến sự kiện vi phạm khác, từ đòn trừng trị này đến đòn trừng trị khác, ngày nay thế và lực đôi bên đã thay đổi: ta mạnh hơn hẳn địch. Tỉnh Phước Long giải phóng như một cái mốc sáng màu da cam nên cả ta và địch đều nhìn quá rõ. Nhưng nhìn rõ rồi thì phải làm gì chứ. Đến lúc đó thật sự còn đủ thì giờ để nghiêm chỉnh thi hành hiệp định chấm dứt chiến tranh – riêng tôi nghĩ như vậy. Cả hai phái đoàn ngoại giao của ta vẫn kiên trì “bám trụ”, một ở Paris lộng lẫy và một ở Tân Sơn Nhất, “một tô giới xã hội chủ nghĩa” giữa thủ đô Sàigòn” như các nhà báo phương tây đã gọi. Nhưng thời gian đã trôi qua, hết ngày này sang ngày khác, tiếng súng ở Phước Long đã dứt từ lâu thì tới các tiếng súng ở Ban-mê-thuột phải nổ. Và thế là hết, xe đã mở hết tốc lực từ trên dốc cao lao xuống rồi thì còn làm sao mà cản lại được.

Tôi hình dung trận đánh Ban-mê-thuột là như vậy: xe đã nổ máy rồi. Về hiệu quả cũng có thể ví nó như một ngòi pháo làm nổ tan xác “quả pháo ngụy quân ngụy quyền” đã suy yếu nghiêm trọng nhưng lại vẫn hết sức chủ quan, ngoan cố một cách lạ lùng.

Từ lúc biết Bộ chính trị đã ra lệnh đánh Ban-mê-thuột, tôi tin tưởng chắc chắn rằng trận đánh này sẽ dành thắng lợi rực rỡ. Vì rằng lực lượng ta dùng vào trận này có ưu thế gấp nhiều lần quân địch tại chỗ cả về số lượng cũng như chất lượng. ta lại đánh một đòn bất ngờ sấm xét vào phía sau không được phòng bị, quân ngụy ở đây phần lớn là quân ở hậu cứ của sư đoàn và trung đoàn. Địch đã trập trung quân lực và sự chú ý mọi mặt ở phía trước, hướng Pleiku và Kontum. Quan điểm bố trí phòng ngự này của địch, xuất phát từ dự đoán hướng tấn công chủ yếu của ta vào Kon-tum – đã có từ trước và vẫn giữ cho đến tận ngày mất Ban-mê-thuột. Và như trên kia tôi đã ví như cây bị đốn từ gốc, Ban-mê-thuột bị mất thì toàn bộ Tây Nguyên không có cách nào giữ được. Thiệu không ra lệnh rút bỏ ngay 2 tỉnh Pleiku và Kontum, mong lấy quân về giữ các tỉnh ven tiển thì không lâu đâu, hai tỉnh ấy cũng sẽ bị mất thôi. Sau này khi thất thủ Tây Nguyên, rồi tan vỡ cả ở ven biển và thất bại hoàn toàn, Mỹ vội vã che dấu nguyên do chính về thất bại đau đớn của cuộc chiến tranh Việt Nam ở Đông Dương đã từng làm suy yếu và rối loạn cả nước Mỹ, bằng cách đổ lỗi cho Thiệu là tự ý rút bỏ Tây Nguyên mà không chờ xin ý kiến Mỹ. Một số nhà báo phương tây phụ họa theo luận điệu tuyên truyền này của Mỹ: thậm chí một số cán bộ của ta cũng tưởng như vậy thật vì không hiểu rõ ý nghĩa chiến dịch và chiến lược của đòn tấn công Ban-mê-thuột. Sự thất bại thảm hại của Mỹ Ngụy nằm ở ngay trong mục đích phi nghĩa phản tiến bộ, chống lại lương tri lài người, của cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và thể hiện bằng đường lối chiến lược bị động, phòng ngự, giữ dân, kèm dân, đóng đồn giữ đất khắp mọi nơi. Khi tỉnh ngộ, muốn co lực lượng về cụm ở vùng chiến lược quan trọng có dồi dào nhân, vật lực, vùng Nam bộ cũ, thì đã quá muộn rồi. Đối phương đã tính trước nước cờ, không để cho Mỹ ngụy tự do co và cụm nữa, bị chia cắt và bị đánh tơi bời, nổi dậy khắp nơi cùng trong một thời gian, làm tan rã toàn bộ một đội quân cả triệu người của ngụy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #69 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2018, 10:46:45 pm »

Đồng chí Lê Duẩn trước đây đã gợi lên câu hỏi về chiến lược mà tôi đã thuật ở đoạn trên: “Đánh tiêu diệt toàn bộ hay tan rã toàn bộ”. Nếu đánh tiêu diệt toàn bộ không có nghĩa là tiêu diệt đến tên lính địch, đến đơn vị địch cuối cùng mà là phải có một hay nhiều đòn liên tiếp tiêu diệt cho được tập đoàn lực lượng chủ yếu của địch thì mới làm cho địch hết khả năng đề kháng và ta thắng lợi hoàn toàn. Nói đánh cho tan rã toàn bộ không có nghĩa là không có đòn thối động nào đó làm cho quân địch suy sụp nhanh không còn ý chí và khả năng chống cự hay phản kích mà đi đến tan rã hoàn toàn, thất bại hoàn toàn – mặc dù còn đông quân và nhiều vũ khí trang bị. Đòn thối động nói đây không nhất thiết là phải tiêu diệt cho được tập đoàn chủ yếu quân địch mà là tiêu diệt một bộ phận địch nào đó, chiếm lĩnh một số địa phương có tầm chiến lược nào đó, tạo ra một tình hình quyết định làm địch mất hết tinh thần và ý chí chiến đấu, hỗn loạn, và khi bị tấn công và nổi dậy liên tiếp sẽ tan rã từng mảng rồi toàn bộ. Tùy theo mỗi cuộc chiến tranh cụ thể, tùy theo giai đoạn chiến lược cụ thể mà chọn chủ trương và phương pháp. Đây có thể nói là một nghệ thuật trong điều khiển chiến tranh. Nghệ thuật ấy biểu hiện cụ thể ngay trong cách tổ chức phân chia chiến trường, tổ chức bố trí và xử dụng lực lượng tổng hợp, cách đánh hợp đồng các loại lực lượng, các địa phương trong từng thời gian nhất định. Đó là nghệ thuật tạo ra và phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả nước cộng với sức mạnh của thời đại. Đó là nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo Tổng tấn công và nổi dậy trong một cuộc chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang mà Đảng ta đã tiến hành. Khi hiểu các bí quyết này thì sẽ thấy rằng sự thất bại của Mỹ và ngụy không phải là ngẫu nhiên hay kỳ lạ gì cả. Số phận của chúng đã được định đoạt do một thế trận chiến lược đã được bố trí vững chắc và từng bước đưa chúng đi vào con đường dẫn tới cái huyệt đã đào sẵn. Hoàn toàn không phải do một quyết định sai lầm nhất thời nào đó của Thiệu trong chiến dịch Tây Nguyên hay trong bất cứ một chiến dịch trước đó hay tiếp theo nào. Cả Mỹ và Thiệu cùng gây ra chiến tranh cùng chủ quan ngoan cố, sai lầm về chính trị và chiến lược và cũng bị vùi dập trong hố thất bại, không thể đổ thừa cho nhau. Còn về phía ta, sự sáng suốt và đúng đắn trong mục tiêu cách mạng, trong đường lối chiến lược, trong phương pháp đấu tranh cách mạng, trong cách kết thúc một cuộc chiến tranh của Đảng ta đã đưa dân tộc lên con đường vinh quang đại thắng.

Khi suy nghĩ về trận đánh Ban-mê-thuột, về chiến dịch Tây Nguyên, về diễn biến của tình hình toàn Miền Nam sau Tây Nguyên, đặc biệt là diễn biến có thể của chiến trường B2, tôi vừa phấn khởi vừa rất sốt ruột. Tôi hiểu rằng tình hình sẽ diễn biến rất nhanh chóng, chiến trường sẽ ảnh hưởng sâu rộng, thời cơ sẽ vô cùng quý giá, đòi hỏi những hành động táo bạo và kịp thời. Thế mà chúng tôi có ít thời gian quá, vỏn vẹn một tháng trời sau khi từ Hà Nội về đến căn cứ, để phổ biến nghị quyết Bộ chính trị và triển khai mọi mặt công tác cho kịp nổ súng vào ngày “N” phối hợp toàn miền, theo lệnh của Bộ Tổng Tư Lệnh.

Về đến nhà ngày 2 thì ngày 3 tháng 2 chúng tôi bàn việc với tham mưu, hậu cần, chính trị Miền, với Quân đoàn 4, nắm tình hình địch và ta ở các quân khu, xem xét lại kế hoạch đợt 2 mùa khô của B2 để chuẩn bị các cuộc họp của Trung ương Cục và của Quân ủy Miền. May thay kế hoạch mùa khô của B2 về cơ bản là đúng hướng. trong cuộc hội nghị của Trung ương Cục từ 13 đến 16 tháng 2, nhiều vấn đề cụ thể đã được thảo luận và đặt ra để giải quyết. trong khi thông qua kế hoạch đợt 2 mùa khô của toàn B2, các đồng chí trong Trung ương Cục đều lo lắng đến mũi vây ép và tấn công phía nam Sàigòn. Các đồng chí nhấn mạnh đến việc sớm đẩy mạnh hoạt động của ta vùng Chợ Gạo, Gò Công và nam Long An vì ở đó phong trào ta chưa mạnh, chưa đảm bảo cho lực lượng vũ trang ta tiến lên áp sát quận 4, 7 và 8 Sàigòn. Một lo lắng nữa là lực lượng vũ trang đặc biệt là chủ lực tại chiến trường, một chiến trường chủ yếu trong giờ phút này còn quá yếu. Việc ta xin Trung ương thêm lực lượng chưa vào kịp thời, dự bị chiến lược còn để quá xa. Ngoài kế hoạch quân sự, hội nghị nhấn mạnh phải làm ngay các kế hoạch nổi dậy của quần chúng, đảm bảo xử dụng được lực lượng tổng hợp của nhân dân cùng lực lượng vũ tang tổ chức việc chỉ huy thống nhất bao gồm cả các đồng chí trong cấp ủy Đảng quân sự, chính quyền, thanh niên, phụ nữ, nông hội và binh vận ở từng xã, từng huyện, từng tỉnh, nhất là ở khu 8 và khu 9 vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây thật sự là kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy, phải đảm bảo xã tự giải phóng xã, huyện tự giải phóng huyện và tỉnh tự giải phóng tỉnh. Hội nghị cũng bàn cụ thể vấn đề tổ chức và làm việc của các ban quân quản khi có thị trấn, thị xã được giải phóng. Rút kinh nghiệm những việc đã xuất hiện mà ta phải giải quyết ở thị xã Phước Long khi mới giải phóng như vấn đề tổ chức bảo đảm an toàn và chăm lo đời sống của nhân dân, đảm bảo sinh hoạt, sản xuất bình thường, trừng trị bọn gián điệp và phá hoại… để chỉ đạo cho các địa phương kịp thời. Cuối cùng là hội nghị bàn biện pháp phổ biến quán triệt nghị quyết Bộ chính trị mà không làm lộ bí mật. Giữ được bí mật quân sự, bí mật quốc gia bất cứ ở giai đoạn nào cũng là đảm bảo cho thành công. Không bàn kỹ biện pháp giữ bí mật, chưa làm đã lộ, mới dự kiến mà ai cũng biết là một trong những lý do của thất bại không thể tha thứ. Đây là vấn đề khó khăn. Các cấp các ngành phải thông suốt nhiệm vụ của mình, được động viên phấn khởi để nỗ lực giành thắng lợi lớn nhất, đi vào thực hiện kế hoạch một cách tốt nhất mà không làm cho địch hiểu biết và sẵn sàng đối phó lại. Anh Bảy Cường đã kết luận một cách dứt khoát: Phải đảm bảo làm thực sự mà không nói hay nói rất ít. Chống lại lối ba hoa một tấc đến trời, chưa làm đã nói tung ra, nói mười làm chỉ một. Phải kiên quyết:

- Không nói gì về hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ.

- Không nói gì về kế hoạch 2 năm 1975-1976.

- Không nói gì về Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa.

- Không nói gì về nghị quyết mới, xem như chỉ có nghị quyết 21, nghị quyết mà địch đã nắm và đến nay chúng chỉ biết tới đó. Chỉ phổ biến công tác từng bước chặt chẽ nhưng kịp thời.

Trên tinh thần và nội dung hội nghị Trung ương Cục này mà chúng tôi tiến hành cuộc hội nghị quân sự Miền vào cuối tháng hai để triển khai toàn bộ công tác quân sự.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM