Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:16:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khoảng trời Ban-Tích  (Đọc 36357 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2018, 08:52:08 am »


*

*      *

        Lương thực bắt đầu khan hiếm vào tháng chín. Tháng mười, người ta chỉ còn phiếu bánh mì, và cũng được phát rất ít đến nỗi Sla-va chỉ ngốn một loáng là hết lương thực hai ngày của cả nhà.

        Thoạt đầu Sô-ni-a chưa hiểu. Còn mê mải với cái mái nhà và cái hầm trú ẩn, em cho đó là một sự việc tạm bợ. Ở nhà, cũng còn ít bột dự trữ từ thời còn mẹ. Ông quản lý những món đó. Ông vẫn làm cơm thường ngày, bây giờ thường là chỉ một món không biết là món gì, cái gì nó trung dung giữa súp lòng, súp sệt và món nấu đồng, với một khuynh hướng mỗi ngày một ngả về súp lỏng.

        - Ông ơi, ăn nữa! - Sla-va nói sau khi làm một húp cạn đĩa.

        Cụ I-li-a lại cho thêm. Sô-ni-a hỏi:

        - Sao ông không ăn?

        - Ông ăn trong bếp khi nấu rồi.

        Sô-ni-a tin lời ông.

        Ông phát khẩu phần bánh - một miếng con buổi sáng, một miếng con buổi trưa, và một miếng con buổi chiều. Sô- ni-a và Sla-va nuốt trong chớp mát, uống nước trà nóng không đường rồi chuồn đi với khối lớn công việc của chúng.

        Cuối tháng mười, người ta sẽ làm Sô-ni-a rất ngạc nhiên nếu hỏi em có đói không. Thật thì em rất thèm ăn và luôn luôn cảm thấy bụng dạ trống rỗng nhớ cái gì. Nhưng em quen quá đến nỗi không nghĩ đến nữa. Hình như từ trước vẫn cứ thế này!

        Dự trữ đến lúc hết. Ông chi làm súp những hôm các kho phân phối cái gì - như rau khô hay lá cải. Còn những hôm khác, ông nói:

        - Uống chè vậy!

        Cụ I-li-a trở thành ít nói. Cụ có một cái vẻ rất lạ khi cụ quan sát mặt Sô-ni-a và Sla-va: cái nhìn của cụ rất khổ não. Một hôm cụ bảo chúng:

        - Các cháu nên bớt cử động mà nên ngổi nhiều.

        - Sao thê ông?

        - Đế dành sức.

        Cũng như chị, Sla-va không đi học nữa và cũng chẳng lấy thế làm buồn tí nào. Tất cả tháng chín nó ở trên mái nhà hay trong sân để theo dõi các cuộc không chiến; từ xa nó đã nhận ra được các loại máy bay Xô Viết hay Đức. Nó chỉ về nhà để ăn và ngủ. Tháng mười, nóc nhà và sân không đủ thích nữa: nó mở những cuộc thám hiểm trong thành phố ngày một xa rồi về kể chuyện cho Sô-ni-a và ông nghe.

        Bữa ăn nay chỉ còn là một cốc nước chè, nên cu cậu về dự ăn rất thất thường.

        Một buổi sáng, nó đi từ sớm và suốt ngày không thấy nó. Trời lạnh, sương mù và tuyết ướt, gió thổi căm căm; sông Neva dâng cao và nước sông sủi bọt. Ông hỏi luôn miệng:

        - Sla-va đâu?

        - Nó sắp về. - Sô-ni-a trả lời.

        Em cũng lo. Vắt cái khăn vuông len lên vai, em đi kiểm tra những sân bên bốn lần. Tôi đến, em sắp đi lần thứ năm thì Sla-va về.

        Người nó đầy đất ẩm, dính cả trên khuôn mặt tái đi vì lạnh nhưng dáng đắc ý, và dưới đôi lông mày ướt, đôi mắt ánh ra tia chiến thắng.

        - Đây này! - Nó vừa nói vừa để xuống bàn sáu củ khoai tây lớn bẩn rút trong túi ra.

        Ông hỏi:

        - Ở đâu ra thế?

        - Ở đằng kia...

        Sô-ni-a gắt:

        - Mày nói ngay ở đâu!

        Em sợ nó ăn cắp.

        - Ẹm đi đào.

        - Đào? Ở đâu?

        - Đằng kia. Trong một cánh đồng. Có bẩy củ, nhưng em đã ăn một.

        - Ăn sông à?

        - Tất nhiên! Bây giò em biết chỗ rồi. Lần sau, em đi xa hơn.

        Ông tiếp:

        - Lần sau, không đi đâu cả.

        Thay cho câu trả lời, Sla-va huýt sáo mồm. Ông đi nấu khoai trong bếp. Sô-ni-a muốn mỗi người đúng hai củ, nhưng ông thái vụn li ti không ai còn kiểm tra khẩu phần được nữa. Cụ khám phá được ở đáy cái ống thủy tinh một thìa đầy dầu cá thu. Cái món khoai tây rán mà lại có mùi cá thật là say sưa. Sô-ni-a và Sla-va liên hoan ở buồng ăn. Ông thì quả quyết là đã ăn phần ông trong bếp rồi.

        Sau bữa tiệc thần tiên ấy, Sô-ni-a mối thấy thật sự đói, đói đến nỗi đêm ấy em thức giấc mấy lần. Đến sáng, cái cảm giác trống rỗng đáng sợ trờ thành không thể chịu được nữa. Sla-va nuốt mẩu bánh tẩm nưóc chè nóng rồi lại di ngay lập tức. Sô-ni-a hiểu là nó lại đi kiếm khoai, nhưng không nhận xét gì cả. Em đợi nó suốt ngày. Băng đóng lần đầu tiên. Những vũng nay đầy nước đá, và những bông tuyết khô êm nhẹ rơi. Chiều rồi Sla-va mới về chẳng có gì: đất đóng băng, không đào được.

        Ngày hôm sau, ở cầu thang Sô-ni-a gặp bà láng giềng số nhà 27. Bà chú ý cái nhìn của em. Bà hỏi:

        - Tôi gầy đi phải không?

        Thực ra bà có hơi gầy đi. Nhưng bé đi thì đúng hơn, mặt sạm đi. Bà nói rất khẽ:

        - Tôi gầy đi. Váy mặc không chặt nữa. Chúng ta sẽ ra sao, Sô-ni-a? Chúng ta sẽ chết hết.

        Hai môi bà run lên. Mặt Sô-ni-a sầm lại:

        - Chúng ta sẽ không chết, chính chúng nó sẽ chết.

        - Ai?

        - Bọn Đức!

        Bà láng giềng nhìn em, nghi ngờ:

        - Em tin à? Tại sao?

        Sô-ni-a chẳng hiểu tại sao cả. Em nói theo linh tính. Không cắt nghĩa được, em nói thêm, với một giọng trịnh trọng nhất mà em có thể có:

        - Rồi bà xem.

        Và em đi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2018, 11:42:27 am »


III

        Cuộc tấn công của bọn Đức đả bị chặn lại. Những cuộc oanh tạc thành phố và Hạm đội chỉ còn lẻ tẻ. Nhưng cái yên lặng ấy rất đáng ngờ vực. Mỗi ngày, từ sáng đến tối, những khu trục của Rát-sô-khin tuần tiễu trên bờ biển và trên biển, không để chúng núp trong sương mò luôn luôn bao trùm mặt đất và mặt nước.

        Mùa thu ấy, băng có sớm, và đất lầy lội vì những trận mưa liên miên, nay cứng lại dưới một lớp tuyết mỏng. Trên sân bay, đường vòng và những rãnh bánh xe, những ổ gà trở nên cứng như gang Khi cất cánh, hạ cánh, máy bay nhẩy chồm chồm; và mỗi lần như thế thì tướng như lần sau đến vỡ máy. Biển lạnh dần dần, và hơi nước dầy đặc đêm ngày bốc lên từ mặt nước còn ấm. Không gió nào thổi tan được nó khi mà vịnh chưa đóng băng.

        Các máy bay đầy sương giá nặng nề, dính xuống sóng và xuống ngọn cây. Trên không phải để phòng đứt liên lạc, và phải bay bàng địa bàn. Những việc ấy làm cho tinh thần căng thẳng đến nỗi chiều tối, Lu-nin không còn đủ sức nói nổi một câu chuyện.

        Anh có cảm giác đến phi đội đã từ lâu và đời anh chia ra hai nửa - nửa trước, xa xôi, gần như huyền ảo; và nửa sau thì tính từ khi anh đến trường bay. Sê-rốp, Rát-sô- khin, Ka-ban-kốp và Sê-pon-kin những người mà anh không rời lúc nào, dù ở trên không, ở đường vòng, ở nhà ăn, hay trong giấc ngủ; anh biết họ như biết bản thân anh, và lấy làm lạ sao đã có thời gian anh không biết đến sự có mặt của họ trong cuộc sống.

        Những buổi tối trở nên dài dằng dặc, và họ cùng qua những buổi tối ấy trong nhà ngủ, cạnh lò sưởi đốt rừng rực. Bải hoải vì đã phải mầy mò trong sương mù, trong mưa và tuyết ướt, trên chiếc máy bay trĩu sương gió. Lu-nin  nằm dài, sơ mi trần, tay dưới gáy, mắt nhìn ngọn đèn dầu lửa. Sê-rôp nghỉ ở giường bên, Ka-ban-kốp và Sê-pen- kin không nằm. Trẻ hơn Lu-nin và khoẻ hơn Sê-rốp, họ phớt đều với mệt mỏi.

        Có thể nói rằng anh chàng Ka-ban-kốp bé nhỏ ấy toàn thân là lò so thép, nhậy, và căng hết mực. Sức khoẻ và cái lanh lẹ của anh làm Lu-nin phải lấy làm lạ tuy đã quen với cái sức lực con người phi công. Ka-ban-kốp không bước: anh bật lên như một quả bóng qua giường ghế, không có vẻ phải dùng sức không tiếng dộng, và chỉ cái bờm tóc màu vàng hoe rung rung trong mỗi bước nhẩy. Anh say mê món vũ kiểu Nga. Và cũng từ món ấy mà bắt đầu những cuộc biểu diễn lạ lùng của anh vào buổi tối. Đột nhiên anh bắt đầu nhẩy khe khẽ, rung hai vai, đánh ngón tay và hát nhửng điệu đứt khúc. Dần dần, anh nhẩy cao hơn, ngồi lên gót, đánh hai lòng bàn tay, đập chan chát vào đầu gối, và cứ làm những vòng tròn với đôi chân ngắn, anh lướt êm từ đầu đến cuối buồng. Bộ mặt hồng hào búp bê của Sê-pen-kin đã sung sướng nở ra sẵn. Ka-ban-kốp dồn dịp, quay tít mãi và gần như không đụng tới sàn nữa. Toàn thân anh chỉ là vũ - tay, chân, bụng, vai. Chỉ có cái mặt dương ra thì vẫn im như cái mặt nạ. Anh không hát nữa, từ đôi môi hé chỉ thấy:

        - Ê! ê! ê!„.

        Ngồi trên một gót, tay dang ra trước, anh xoay xung quanh Sê-pen-kin để mời nhẩy. Vụng về và xấu hổ, anh chàng này lùi sát tường. Thế là Ka-ban-kôp không một phút ngừng điệu múa say mê lấy đôi nắm tay nhỏ thụi thẳng vào Sê-pen-kin. Anh chàng tìm cách chống đõ, cười ngượng nghịu và luống cuống khoa hai tay. Bị xua từ góc của mình ra giữa buồng, anh buộc cũng phải nhẩy để tự vệ. Cử chỉ anh chậm chạp nặng nề. Bên cạnh anh chàng Ka-ban-kốp bé nhỏ quay như gió bão xung quanh anh, anh vụng về như một con gấu. Bất đắc dĩ, anh cũng lắc lư trên một chân, ngồi trên gót, và nhẩy choi choi. Dần dần, anh cùng bị lôi cuốn vào cuộc múa. Nhẩy và khuỵu đầu gối đã nhanh nhẹn hơn và bộ mặt to lớn của anh đượm vẻ say sưa.

        Rát-sô-khin đôi khi vào đúng lúc đó. Đứng ở cửa, anh nheo đôi mi một cách dễ dãi và kêu lên:

        - Các cậu lại phá sàn ra phái không?

        - Lại bắt đầu! - Ka-ban-kốp đối lại với cái giọng chua và cái vẻ thách thức, tuy thật ra chỉ có Sê-pen-kin mới thật là "phá" sàn: những cái nhẩy của anh làm rung cả tường, lảo đảo cả ngọn đèn và làm cửa kính như kêu lên, đau đớn.

        Rát-sô-khin ngồi trên cái giường không của Bê-sây-tốp. Gập người làm đôi, hai đầu gối mở rộng, anh nhìn theo các nhà vũ. Và một vẻ mơ màng êm dịu in trên bộ mặt tàn hương thô rắn của anh. Anh gọi:

        - Ka-ban-kốp à, cậu chơi cho tụi mình nghe cái gì thì hơn.

        Sê-pen-kin dừng ngay giữa cuộc múa, lấy tay túm lấy Ka-ban-kốp và nhắc lại, giọng van lơn:

        - I-go, chơi cái gì cho tụi mình nghe đi! Chơi đi!

        Ka-ban-kốp chẳng nhận mà cũng chẳng chối, có lẽ vì không biết có nên nhận lời mời không, cũng có lẽ vì anh chàng còn muốn người ta phải cầu khẩn. Sau một vòng lượn cuối cùng, anh để mình rơi vào trong giường, không lộ một chút mệt, rồi rút từ dưới gối một cái bít tất thủng một sợi chỉ, một cây kim và bất đầu vá bằng những ngón tay bé nhỏ, thoăn thoắt như tay con gái.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2018, 08:03:40 am »


        Sê-rôp lại tiếp viện:

        - Đúng đấy, ông bạn già I-go, chơi cho chúng tớ nghe cái gì chứ?

        - Vất mẹ nó cái bít tất đi! - Rát-sô-khin sốt ruột gắt lên.

        Nhưng Ka-ban-kốp vẫn cứ rề rà. Bỏ cái bít tất, anh làm việc khác: ngồi xổm trước cái bàn ngủ, anh xếp lại chai lọ, thư từ, mấy cái cúc áo màu vàng có mở neo, hộp thuốc đánh răng. Khi mọi người đà đợi chán chê và bắt đầu nói sang chuyện khác thì lúc đó anh mới lôi cái ác-coóc-đê-ông ở gầm giường ra, ngồi bắt chéo chân, để đàn lên đầu gối và mở rộng đàn.

        Chẳng bao giờ anh chơi một điệu nhất định, luôn luôn chạy từ để này sang đề khác, và không bao giờ chơi lại bài gì hai lần: dù có cầu khẩn, anh cũng chịu không chơi lại được. Nhạc của anh là một lớp sóng vô tận, nó như từ ngón tay anh vọt ra một cách dễ dàng. Cái say mê của tiếng đàn anh phần lớn do cái bất ngờ của các điệu trái ngược. Đang vui nhộn như bốc cháy bỗng lướt ém buồn bã làm Sê-pen- kin muốn ứa nước mắt và cả đến trên mặt Rát-sô-khin cũng thoáng buồn; và hình như muốn tự chứng tỏ cho mình cái uy thế hấp dẫn đối với người nghe, Ka-ban-kốp bất thình lình chuyển sang một bản nhạc đắc thắng. Người ta lại thấy trong tiếng nhạc tất cả cái sức mạnh con người, tất cả lòng tin đời, tất cả chí quyết thắng.

        Lu-nin nghe, mắt nhắm lại, và người ta tưởng anh ngủ. Đôi khi anh lơ mơ ngủ thật, nhưng không ngừng mơ mộng chìm đắm trong sóng nhạc. Những bức tranh vô tận diễn trong đầu. Thường thì là lặp lại những cái đã trông thấy trong ngày... Sương mù, vẫn sương mù, và đột nhiên là màu biển xám xịt dưới cánh máy bay. Gần đấy, nhưng chỉ hơi lờ mờ, là những chòi súng của chiếc Sô-kôn là là mặt nước... Bờ biển là một dải băng viển rua, rặng tùng thưa của Pê-tê-rôp chỉ ló ra cái đỉnh khỏi sương mù... Những ánh lửa lập loè nhỏ của luồng đạn chầm chậm bay đến. Một cái giật vào tay lái để lên cao thêm vài trăm thước. Ngoặt sang trái... Bay trên thành phố... vẫn sương mù, chẳng thấy gì, đường phố mơ hồ như những thung lũng thon thon nhẩy múa, và như sa lầy khi máy bay nghiêng cánh rẽ... Thành phố anh dũng! Ở đấy cực khổ lắm, chắc chắn là hết sức cực khổ. Nhưng không phải chỉ ở Lê-nin- grát. Đạp lớp tuyết mỏng, bọn Đức ào về Mát-scơ-va. Từ bắc và từ nam, một gọng kìm khổng lồ há hốc miệng: Ka- li-nin, Bơ-ri-ăng, O-ren, trung tâm đất nước, và O-ka, Đôn-bát., O-đét-sa, Ma-ri-u-pon. Chúng tiến, tiến mãi và ta chỉ có lùi. Những thành phố... những làng mạc... Thật là gay... Li-da ở Lê-nin-grát, phố Mô-khô-vai-a. Nàng sống với mẹ. Lần cuối cùng mà anh gặp bà mẹ, là năm 1930. Bà còn trẻ. Bà không ưa gì Lu-nin, không chịu được Lu-nin là khác. Bà vẫn ở chỗ cũ. Có lẽ hôm nay Lu-nin đã lượn trên dẫy nhà. Chắc bà biết Li-da ở đâu... Nhưng biết để làm gì, vì tất cả đã tan vỡ không còn mong trở lại?...

        Ka-ban-kốp thuộc cái loại nhiều thứ tài mà tài gì cũng khá, đã làm là được. Anh nhẩy, chơi đàn ắc-coóc-đê-ông, vẽ và làm thơ. Từ ngày 22 tháng 6, anh có sáng kiến ra mỗi ngày một tờ "Báo bay". Anh có dưới gầm giường một cuộn giấy lớn cứ mỗi ngày anh rút ra một tờ đế làm báo. Không bao giờ anh quên công việc đó: số báo thứ 100 thì ra ngày thứ 100 của chiến tranh.

        Hàng ngày anh chiến đấu và đóng góp vào những sự việc nhiều như của cả một đời người. Nhưng "Báo bay" không ngừng xuất bản. Đã thành thói quen, bây giờ anh không mất quá 15 phút để làm thành tờ báo. Anh dán nó khi ở nhà ăn, khi ở nhà ngủ, khi ở chỉ huy sở. Phi công và thợ máy đợi chờ nó, tò mò xem trong có cái gì. Ít bài, mà thường là tranh, phần đông là hài hước, vẽ bằng hai màu, bằng bút chì xanh đỏ. Anh biết châm phá một nhân vật đang bay, hoặc thường lấy đề tài trong những việc hàng ngày: như cảnh Hin-đa, khiếp sợ trước một con chuột cống và leo lên bàn, trong khi Sê-pen-kin đến tấn công nó, cái cời lửa trong tay, nhưng cũng khiếp sợ rõ ràng trước con vật; hoặc ở trên là câu chuyện lịch sử: "12 máy bay địch bị hạ” hoặc đồng chí thợ máy Đê-ép cao lớn mặc áo blu thầy thuốc, đứng trước một hàng dài máy bay ốm - cánh gẫy, thán thủng, cánh quạt trẹo, máy mở tung - dầu đề là: "Đồng chí phục sinh cả người chết"; hoặc nữa là Sê-pen-kin lia một băng vào cái cây gỗ bập bềnh trên sóng mà anh tưởng là một chiếc tàu ngầm của thủy quân Đức.

        Rất nhiều bức hoạt hoạ tả cái không may của bọn phi công Đức, chuyện đều có thực, và trong phi đội đều biết một gioong-ke chạy trốn Rát-sô-khin, và thằng lái mới vào nghề ngoặt thế nào đâm tháng vào cây. Năm oanh tạc trông thấy khu trục ta đến. thì dội ngay bom vào đầu lính của chúng để trốn cho dễ. Một Mét-séc-mít lái nhầm, đâm ngay vào chiếc gioong-ke mà nó phải hộ vệ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2018, 11:25:22 am »


        Kèm theo các tranh đó, Ka-ban-kốp thêm cá thơ ứng biến của anh. Đó là nhiều đoạn của một bài thơ dài, nó cùng như âm nhạc của anh, không đầu không cuối. Đề thơ là "Trả thù" mỗi đoạn đều có ghi ở đầu "Tiếp theo" và ở cuối "Còn nữa". Trái với hình vẽ, thơ không có gì hài hước. Ka-ban-kốp thường gợi cái cảnh Nô-gô-rốt thời thơ ấu của anh:

        "Ta thấy mi, Nô-gô-rôt của những ngày thơ ấu
        Mái nhà ta, và sông Von-khốp xanh
        Và nhà thờ với điện Krem-lanh
        Đứng hiên ngang trên mỏm đá.
        Thành xưa ấy, nay quân thù tản phá
        Nhà ta, đã hoá tro tàn
        Nhưng Hít-le trong giấc mơ vô đạo
        Hết hòng thành phố Lê-nin!
        Trước tàn hoang, cướp bóc, giết người,
        Khói lứa và hung bạo
        Trước cái biển tội phạm
        Hỡi quân khôn nạn!
        Ta quyết:
        Trả thù!"


        Một việc đáng kể hàng ngày là hôm sau, có ngay trong đoạn tiếp của bài thơ. Khi Sê-pen-kin, người không ngớt bị diễu bằng hoạt hoạ, bị bốn Mét-séc-mít tấn công, và chỉ nhờ có anh em trong phi đội đến cứu mà sống, thì anh viết:

        “Thần chết cướp sao được bạn!
        Ta bắt nó phải lùi
        Gì bằng nỗi sướng vui
        Khi bay liền cánh, sương mai tỏ mờ?'


        Anh chế giễu cái giác mơ iêng hùng ngu xuẩn của bọn Đức:

        "Chúng ta kiên trì nghe đại bác,
        Để rồi tống cổ chúng bay!
        Như đàn chồn hôi ra khỏi hốc!
        Còn Lê-nin-grát?
        Xin ngài
        Khoan tính nuốt!"


        Kể cả mọi tài của Ka-ban-kốp, thì cái khiếu làm thơ làm cho Lu-nin lạ nhất. Trong khi còn ở ngành dân dụng anh đã gặp nhiều người biết múa, biết chơi ắc-coóc-đê-ông, biết vẽ hoạt hoạ. Nhưng nay là lần đầu mà anh thấy một nhà thơ. Cái mà anh càng lạ nữa, là cùng sống trong một buồng, anh chưa hề bắt gặp Ka-ban-kôp làm thơ. Vậy thì làm ở đâu, và bao giờ? Một hôm ngồi một mình với bạn, anh đặt câu hỏi.

        - Tôi có viết lách gì đâu - Ka-ban-kôp trả lời. - Tôi bịa quấy quá như vậy; khi bay chẳng hạn.

        Lu-nin ngẩn người. Làm thế nào mà có thể nghĩ ra thơ trong lúc mà mọi tâm trí đều mắc vào cái lo giữ được hướng, không mất. hút hạn, không đâm vào cây, lại phải bắt được tín hiện của Rát-sô-khin, nhìn kim luôn động trên mặt bảng bay, và nhất là không để địch thoát?

        Ka-ban-kốp là chính trị viên phi đội. Và cái đó thì không làm cho Lu-nin lạ chút nào, mà anh còn cho là vô lý nếu còn hỏi tại sao Ka-ban-kốp giữ chức vụ đó. Sĩ quan tác chiến, Ka-ban-kốp chưa hề ở ngành chính trị. Về bằng cấp thì chỉ có cái bằng tốt nghiệp không quân. Anh là đảng viên thật, nhưng Sê-rôp thì cũng thế.

        Ka-ban-kốp được chí định là chính trị viên ngay trước hôm Lu-nin đến. Đầu tiên phi đội có một chính trị viên chuyên nghiệp, một người công tác dưới đất. Anh đã bị hy sinh với ba người khác trong vịnh Phần Lan trong lúc rút khỏi Tan-lin. Khi phi đội đến trường bay mới thì không còn chính trị viên nữa. U-va-rôp vừa nhận công tác ở sư đoàn, đến thăm các phi công. Anh ở một tối với họ, nghe Ka-ban-kôp chơi đàn ắc-coóc-đê-ông, liếc qua tò Báo bay và ngay trước khi ra đi, giao cho Ka-ban-kốp nhiệm vụ mới.

        Người ta không hề cho là Ka-ban-kôp có thể làm chính trị viên. Nhưng một khi anh được chỉ định, thì ai cũng lại cho là chẳng có việc chí định nào đúng hơn nữa. Thực ra Ka-ban-kốp đã làm nhiêm vụ ấy sẵn rồi. Người ta yêu anh, trọng anh, nghe anh, và anh cũng chẳng cần đọc diễn văn, hay ra mệnh lệnh. Việc chính của anh là tìm hiểu mọi người để khuyên bảo giúp họ. Nếu không có chức vụ chính thức thì anh cũng vẫn làm như thế, và mọi người đều biết là trong thực tế, anh là người chỉ huy sau Rát-sô-khin.

        Tuy vậy những ngày đầu cũng khó, nếu anh không được đồng chí thợ máy Đê-ép, bí thư chi bộ của phi đội giúp đỡ.

        Mỗi máy bay có một thợ máy riêng, mà người ta gọi là "ông chủ”. Nếu cả năm chiếc 1-16 của phi đội còn bay được dù là đòi hỏi chúng việc gi, và dù là chúng thương tích đầy mình, chính là nhờ các đồng chí thợ máy đó. Trong khi các phi công ngủ, họ suốt đêm soát lại máy, đổi bộ phận, băng bó vết thương. Việc nặng nề, mỏi mệt phải làm đi làm lại, và không được phép sai lầm một sợi tóc. Các đồng chí thợ máy không còn thời gian ăn ngủ; sương giá và gió lạnh làm ngón tay họ nứt ra, sưng lên; nhưng cái lo trách nhiệm còn đè nặng họ hơn là mất ngủ và lao lực. Mỗi lần ra trận, người phi công nhận máy bay từ tay người thợ máy, trở về lại giao trả. Và ai cũng biết là một sai lầm bằng sợi tóc, một cái vô ý không đáng kể nhất cũng có thể đem cái chết đến cho người phi công, đem đến mất máy bay và đem đến cái thất bại trên không. Suốt thời gian phi đội ở trên không và đánh nhau, ở đâu đó đằng kia chân trời, là người thợ máy đứng đợi ở đường bay, im lặng, tái nhợt. Mắt họ không rời nhìn trời. Và khi một chiếc máy bay chuẩn bị hạ cánh ló ra ở ngọn cây tùng thì "ông chủ" đã nhận ngay ra nó và như bị thôi miên bởi mỗi động tác của nó: lắng cái tai mê mải nghe máy, lo lắng đoán xem máy có nguyên vẹn và phi công có vô sự hay không?
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:26:34 am »


        Những giờ hồi hộp hàng ngày ấy đã gây cho người thợ máy lòng âu yếm lo lắng đối với người phi công. Anh dầy công đoán trong con mắt họ, xem họ có ngủ ngon không, xem họ có khát, có lạnh không, xem cái quai mũ có chặt quá không. Tất cả cố gắng của anh nhằm làm cho công việc người phi công được dễ dàng, nhằm giúp họ những việc nhỏ, an ủi họ, tránh cho họ mọi tiêu phí sinh lực vô ích. Ka-ban-kốp nói:

        - Thật là những chị nuôi trẻ! Và mỗi phi công có một người chị.

        Đê-ép là người tận tâm nhất. Rất cao với đôi cánh tay dài và đôi chân cao lêu nghêu, đối với Ka-ban-kôp anh có cái âu yếm của người mẹ. Khi cả hai lăng xăng quanh máy bay, thì đôi lứa trông đến phì cười; đó là một nguồn chuyện đùa vô tận; những nhà hài hước trong phi đội thuật chuyện rằng Đê-ép nhặt Ka-ban-kốp ở đầu cánh tay để đặt vào khoang máy bay, hay là Ka-ban-kổp lên đó bằng cách chui dưới háng anh thợ máy. Chuyện đó có thêm dầu thêm dấm, nhưng nói thực ra thì Ka-ban-kốp cũng có thể không cúi mà đi qua dưới cánh tay dang ra của Đê-ép, và đã nhiều lần sự việc đó được chứng minh.

        Đê-ép đã quá ba mươi và nhìn đời với cái nghiêm nghị bình tĩnh. Chẳng được tin nhà ở vùng tạm chiếm, xứ Smô- len, anh đau đớn âm thầm. Là một trong loại người bình thường lăn lộn với công việc và chịu đựng một cách lầm lỳ anh dũng cái gánh nặng của chiến tranh, ở phi đội, người ta đặc biệt kính nể anh mà anh thì chẳng tỏ ra cái gì là khác người. Anh kế tục làm bí thư, sau đồng chí I-va-sép hy sinh ở Tan-lin. Khi Ka-ban-kôp được chỉ định chính trị viên, Đê-ép giúp đỡ anh trong nhiệm vụ mới với tất cả lòng sốt sắng cũng như đối với công việc chuyên môn của anh trên trường bay.

        Thời kỳ đầu, những buổi nói chuyện chính trị làm Ka- ban-kốp lúng túng. Anh vốn là người biết nói chuyện trước công chúng và am hiểu vấn đề của mình: như sự đau khổ của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi người trước Tổ quốc và nhân loại, sự cần thiết phải gan dạ, nghĩa vụ quân sự, lòng tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng... Nhưng, một khi anh thấy mắt mọi người dán vào anh. thì luồng tư tưởng bay đâu mất, tiếng nói thắt lại, và anh chỉ có thể nói lên những cái chung chung. Lúc đó là lúc Đê-ép đến gỡ bí cho. Đồng chí đặt một câu hỏi cho anh và tự trả lời với cái giọng bình thường, nhưng cốt sao cho mọi người không để sót một lời nói. Lập tức, buổi nói chuyện thực sự bắt đầu. Quên cả cương vị của mình, Ka-ban-kốp lại nói và thường là rất khá. Buổi họp nhộn lên, và nếu người ta có chút rảnh rỗi là buổi họp kéo dài.

        - Tôi không thể rời được đồng chí. - Một hôm Ka-ban- kốp thú thật với người thợ máy của anh. - Đối với tôi đồng chí như một cái lò so, một cái đà nhẩy.

        Đê-ép giải thích:

        - Rồi sẽ quen. Tập nói chuyện không bao giờ khó. Chủ yếu là quan tâm đến con người; chủ yếu là con người.

        Chính Ka-ban-kốp cùng hiểu cái đó.

        Những lúc mệt mỏi và lo buồn, Lu-nin cảm thấy mắt Ka-ban-kôp dán vào mỗi cử chỉ của mình, như để tìm hiểu tư tương mình. Nhưng Lu-nin không muốn giúp Ka-ban- kốp trong việc đó, và Ka-ban-kốp biết vậy. Tuy nhiên, có một lần anh hói Lu-nin một cách lự nhiên:

        - Đồng chí thiếu tá không bao giờ viết thư à?

        - Không bao giờ!

        Câu chuyện không đi xa hơn và Ka-ban-kốp thôi không cố gợi Lu-nin điều mà anh muốn để bụng.

        Nhưng Ka-ban-kốp lại rất tương tận về mối tình của Sê-rốp. Vào giữa tháng mười, Sê-rôp nhận được thư trả lời của Bộ Giáo dục. Trường học đã dọn đến một thị trấn vùng Mô-lô-tôp mà chẳng ai ở phi đội đã hề nghe đến tên. Ka- ban-kôp lập tức ra chỉ huy sở và đắc ý đem về một cái bản đồ trên giường và tất cả các phi công cúi xuống xem. Dưới tên thị trấn đó có gạch một vạch mực to. Ka-ban-kốp cắt nghĩa rằng chỗ ấy nhất định rất tốt: một huyện lỵ, bên bờ môt sông con, ở ngang sát Mô-lô-tốp, khí hậu lành, vá ngoài tầm máy bay Đức. Sê-rôp nghe và đồng ý một cách buồn rầu.

        - Cậu viết thư đến đấy ngay đi. - Ka-ban-kốp khuyên bạn.

        - Được!

        Và Sê-rốp không viết.

        Cái tin mới, không có vẻ làm cho anh vui. Anh xanh và ít nói hơn mọi ngày. Đêm khuya, thức giấc dậy, Lu-nin thấy bạn không ngủ và đăm đăm con mắt như sốt lên trần nhà. ở nhà ăn, sáng hôm sau, Sê-rốp đang đưa cái thìa lên mồm thì bỗng bặt lại. Khi men theo đường vòng ra máy bay, anh bỗng đứng dừng lại, và Lu-nin phải gọi.

        Đến tôi Ka-ban-kốp lại hỏi:

        - Cậu viết xong thư rồi chứ?

        - Chưa...

        - Mau lên. Mình tìm được cơ hội chúa lắm.

        Ngày hôm sau nữa, có một máy bay vận tải của thủy không quân cất cánh từ một trường bay của Lè-nin-grát đến Mô-lô-tốp để lấy những mảnh máy tháo rời về. Người lái là một bạn cũ của Ka-ban-kốp, một tay rất dáng tin cẩn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:19:19 am »


        Hai quân khí viên của phi đội, ngay mai sẽ ra trường bay ấy; họ có thể đem thư đi cho.

        Thật là dịp may duy nhất: từ khi bọn Đức chiếm bờ nam La-đô-ga, thư phải sáu tuần mới đến nơi, và bưu điện không nhận điện tư nữa. Sê-rốp không trả lời và không viết.

        Đến gần sáng, một tiếng thở dài lón đánh thức Lu-nin. Anh chàng Sê-rốp dài và gầy đang ngồi trên giường, chân thõng xuống. Lu-nin hỏi;

        - Đồng chí làm sao thế? Đồng chí không ngủ được à?

        Sê-rôp rõ ràng là đã hết sức chịu dựng.

        - Hôm tôi đến thăm, trường chưa dọn đi. Sáu ngày sau trường mới dọn đi.

        Lu-nin không hiểu. Nhát gừng, thì thào trong tiếng nghẹn, Sê-rốp nói rõ thêm. Quãng giữa tháng tám, anh từ Tan-lin đến Pê-tê-rốp và ở đó người ta cho mấy giờ phép đi Lê-nin-grát. Anh đến thăm cô bạn gái; bà láng giềng bảo là cô ta đã rời thành phố đi với nhà trường. Vậy nhưng trong thư trả lời của Bộ Giáo dục thì lại rõ ràng là sáu hôm sau cái hôm anh đến thăm, trường mới dọn đi.

        - Vậy thì sao? - Lu-nin cố bình tĩnh hỏi. Nhưng anh rất hiểu... Đáng thương cho Sê-rôp.

        - Cô ta không muốn gặp tôi, - Sê-rốp nói dằn từng tiếng. - Cô ta đã nhờ bà hàng xóm nói dối tôi là đi rồi.

        Một tiếng bực tức vọt lên từ giường Ka-ban-kôp:

        - Cậu kể cái gì vô lý vậy? Cậu biết đâu? Chẳng biết cái gì hết?

        Anh tung chăn và chạy lại Sê-rốp. Chân không, anh lại càng như bé hơn nữa. Và cái mặt to bằng hai nắm đấm đỏ lên vì tức giận.

        Sê-pen-kin, thức giấc dậy. cựa quậy trong giường và giương con mắt ngây ngô nhìn Sê-rốp. Sê-rốp thu hình lại, cúi đầu, môi tái đi và sự lo buồn hiện ra trong khoé mắt.

        - Thôi đừng lo vớ lo vẩn nữa! - Ka-ban-kôp gắt, tức điên lên. - Đứng dậy và viết thư đi! Còn một tiếng nữa mới đến giờ dậy. Cậu còn đủ thì giờ.

        Quần đùi, lưng cong, với cái vẻ như con vật bị đánh, Sê- rốp ngoan ngoãn đi ra bàn ngồi viết. Mọi người im lặng. Ka-ban-kôp vẫn giữ cái vẻ bức tức. Sê-rốp viết lâu, rồi gập tờ giấy theo hình ba góc và đề địa chỉ.

        - Cậu đã ghi hộp thư của chúng mình chưa? - Ka-ban- kốp hỏi.

        - Rồi.

        - Bây giờ cậu viết cái thư thứ hai, nghe chưa?

        Anh đọc cho Sê-rốp viết thư cho ông Hiệu trưởng, với đề nghị là cho biết địa chỉ của Ma-sa. Và anh giải thích:

        - Để cho có mọi thuận lợi. Cậu đưa thư tớ!

        Anh cầm cả hai bức thư và đặt dưới gối.

        Thư gửi ngay hôm đó và không ai nói đến chuyện ấy nữa. Một việc mới làm mọi người chú ý: ở nhà ăn, Sê-pen- kin bắt đầu để ý đến cô Hin-đa. Hệt như Bê-sây-tôp.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:44:04 am »


IV

        Hin-đa đã đẹp, độ rầy lại đẹp thêm: mảnh, nhỏ, nước da mầu bát sứ lại hồng thêm vì lửa bếp, và đôi mắt xanh da trời - thật là một búp bê. Sê-pen-kin vốn vẫn ngọt ngào với cô, nhưng không có ý gì khác, mãi cho đến xẩy ra việc con chuột cống mà Ka-ban-kôp đã tạo thành một bức hoạt hoạ cho "Báo bay". Một con chuột cống sụ diễn qua nhà ăn với cái vẻ chậm chạp hỗn hào. Hin-đa có một mình, cô rú lên và leo lên bàn. Nghe tiếng kêu, Sê-pen-kin tình cờ lúc đó ở buồng ngoài, chạy lại, vớ lấy cây còi lửa và chắn lôi xuống bếp của con vật. Con chuột cống - với bộ lông trắng trên sườn - lùi vào một góc nhìn Sê-pen-kin băng đôi mắt đen dữ tợn. Hin-đa đã thôi kêu la, và từ trên bàn, vạch kế hoạch cho Sê-pen-kin. Nhưng anh chàng không có vẻ vững chãi lắm: cu cậu tiến đến con vật với bước chân do dự. Con chuột cống nhẩy bốp về phía anh, Sê-pen-kin đánh bài rút, tay khua lia lịa cây còi lừa, nhưng lại đập xuống sàn. Con chuột chuồn trước mũi anh và thong thả biến sau cửa nhà bếp.

        Hin-đa nhẩy xuống bàn, hết sức công phẫn. Giật lấy cây cời lửa, cô diễn tả cho anh biết là ở địa vị anh, anh phải làm như thế nào. Đến vừa đúng lúc, Ka-ban-kốp và Sê-rốp phải đứng nghe từ đầu đến đuôi câu chuyện; cô vạch cho họ biết rằng Sê-pen-kin cầm que cời lửa đứng ở đâu, và con chuột ở đâu. Sê-pen-kin tự cảm thấy rất ngượng ngùng. Anh tự bào chữa và đổ lỗi cho cái đuôi dài và trụi gớm ghiếc của con chuột. Nhưng Hin-đa nhìn anh bằng con mắt đầy khinh bỉ khiến anh phải im miệng.

        Từ hôm đó, có sự thay đổi trong quan hệ giữa Sê-pen- kin và Hin-đa mà ai cũng thấy ngay, ở bàn ăn, anh im lặng và ngắm cái cửa bếp. Hin-đa vào, thì có hai vết ửng đỏ trên má anh. Suốt thời gian cô đi đi lại lại qua nhà ăn, anh nhìn cô không rời mắt. Cứ mỗi lúc, đôi má anh lại đổi mầu Ai hỏi thì anh mất hồi lâu mới trả lời được, ngẩn ngơ như người đang ngủ vừa bị ai đánh thức. Còn tình ý phía cô Hin-đa thì vẫn không rõ. Nhưng cô đã nhận thấy cái thay đổi thái độ đó và cau đôi mày mỗi khi người ta nhắc lại trước mặt cô chuyện con chuột cống.

        Cũng chính vào thòi kỹ ấy họ biết được chắc chắn điều mà họ vẫn nghe phong phanh từ lâu: vấn đề đói ở Lê-nin-grát.

        Họ bảo vệ Lê-nin-grát và đóng cách thành phố mây cây số. Mỗi ngày, họ bay trên thành phố nhiều lần, nhưng rất cao. Đời họ sống trên không hoặc ở trường bay. Ở đó không có một người nào ngoài bộ đội.

        Rát-sô-khin phải biết rõ hơn cả: người ta từ Trung đoàn hoặc Sư đoàn xuống chỗ anh; và bản thân anh thỉnh thoảng đi ca-mi-ông đến núi Pô-cơ-lon-nai-a. Có thể anh biết, nhưng thấy không cần thiết nói chuyện lại với những sĩ quan của anh.

        Chẳng ai là dân Lê-nin-grát. Rát-sô-khin ở Vô-lô-đa, Ka-ban-kốp ở Nô-gô-rốt, Sê-pen-kin ở Smô-len và Sê-rốp ổ Ka-li-nin. Ngay trước chiến tranh, trung đoàn đã đóng lâu ở quận Kim-gi-sép, nhưng đi xe lửa đến Lê-nin-grát cũng mất bốn giờ tròn, và chỉ Sê-rốp là ngày chủ nhật có đi. Tuy nhiên cũng như tất cả những người quê ở miền Bắc, họ cảm thấy ràng buộc liền với thành phố bằng trăm nghìn sợi dây. Cái huy hoàng của Lê-nin-grát choán cảm giác họ. Mỗi người đều cho những ngày đã sống ở đó là quãng đời đẹp nhất và mơ ước ngày trở lại.

        Vậy mà bây giờ đói ở đó. Kiệt sức vì đói, người ta gục trên phố: những quân khí viên ra thành phố lấy súng đạn đã chính mắt trông thấy. Vả lại, dộ này tiêu chuẩn cấp dưỡng cho các phi công đã không như trước. Trước kia, có lẽ trừ Sê-pen-kin, chẳng ai ăn hết suất. Nay khẩu phần thịt và bánh đã giảm, rau thì biến hẳn. Bánh không còn được mặc sức ăn: 500 grơ-ram một ngày. Đối với Lu-nin thì như thế đã là đủ, tuy anh là tay ăn khoẻ, và dù những giờ bay đằng đẵng mỗi ngày bắt phải tiêu phí nhiều sinh lực. Nhưng đối với bạn trẻ thì hơi ít quá. Tuy vậy chẳng ai phàn nàn. Sê-rốp còn không ăn hết 500 gờ-ram; anh bọc một mẩu bánh vào tờ giấy và bỏ túi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:24:34 pm »


        Vì các đồng chí thợ máy chỉ được hưởng 300 gờ-ram bánh và hai đĩa súp, một vào bữa trưa, một vào bữa chiều. Và các phi công đã mang một cảm giác rất nặng nề khi họ biết rằng những người đã mang bao tâm huyết vào công việc nay phải chịu đói.

        Sê-rốp là người đầu tiên chia khẩu phần bánh với đồng chí thợ máy của anh. Và Lu-nin bất chước. Anh rất ngạc nhiên thấy người thợ máy từ chối. Lu-nin vờ giận nhưng không kết quả. Lúc đó anh phải làm như hạ lệnh. Người thợ máy phải tuân theo, và cầm lấy bánh. Được mấy ngày, thì Rát-sô-khin biết chuyện.

        Một buổi tối, anh vào nhà ngủ, mặt biến dạng đi vì tức giận.

        - Sê-rốp!

        Nghe tiếng - một âm thanh đã được nghiên cứu từ lâu -  biết ngay là người phải gọi lên sắp sửa bị sạt, Sê-rôp tái đi và sửa lại tư thế, Dưới đôi mày hung hung, mắt Rát-sô- khin thật đáng sợ.

        - Thế nào? Đồng chí tưởng là những người quyết định về khẩu phần không rõ nghiệp vụ của họ phải không? -  Đồng chí tưởng là đồng chí khôn hơn họ à? Đồng chí muốn lên lớp cho họ phải không? Đồng chí đưa bánh cho một đồng chí thợ máy trong khi ở Lê-nin-grát thì trẻ con chết đói. Nếu người ta nuôi đồng chí, khi trẻ con phải chết đói là để giữ sức cho đồng chí tống cổ bọn Đức. Hiểu không?

        Anh quay đi và kết luận, chẳng nói hẳn với ai:

        - Không phái là hy sinh miếng bánh, và là phải hy sinh tính mạng mình...

        Im lặng hồi lâu, Sê-rốp vẫn đứng nghiêm. Lu-nin thấy ngượng ở chỗ chỉ thấy riêng Sê-rốp bị sạt: anh cũng làm vậy và Rát-sô-khin không thể không biết. Nhưng Rát-sô- khin chẳng bao giò nhận xét Lu-nin, chắc vì Lu-nin lớn tuổi hơn và vì cấp bậc cao hơn. Nhưng hôm đó, sau một lúc im lặng, anh cũng gắt:

        - Đồng chí thiếu tá, về phần đồng chí nữa, tôi lấy làm lạ...

        Anh quay gót, và đi.

        Nhà ngủ im lặng. Cả Ka-ban-kốp cũng im. và ngồi trên giường, ủ rũ vá bít tất. Lu-nin nằm cả áo và nhắm mắt, làm như ngủ. Nhưng giấc ngủ không tới, và anh biết rằng anh sẽ không ngủ được.

        Sau khi nằm gần một tiếng rưỡi, anh dậy, mặc áo choàng và ra ngoài.

        Tuyết tan từ buổi sáng. Mưa làm tuyết chảy ra, và bên ngoài tôì đen đến nỗi không thấy cả bàn tay mình. Lu-nin đi mò trong bóng đêm, muốn cho mưa quật vào mặt. Bỗng nhiên anh nghe thấy tiếng bước chân, anh không kịp tránh và đụng phải Rát-sô-khin.

        - Đồng chí thiếu tá đấy à? - Rát-sô-khin hỏi. - Đồng chí đi đâu vậy?

        - Chảng đi đâu cả.

        - Tôi cũng vậy.

        Hai người đứng đối diện nhau mà không thấy nhau, và im lặng. Chỉ nghe lách tách tiếng mưa thu.

        Rát-sô-khin nói:

        - Chào đồng chí! - Và anh bước một bước ra xa.

        Rồi anh đứng lại. Và nói:

        - Tôi cũng vậy, bánh tắc trong cổ họng.

        Nói xong anh đi.

        Lu-nin còn ở lại thêm mấy phút, rồi tiếp tục đi dạo, vấp vào dây điện thoại, va phải một cây phong và dựa vào nó... Trẻ con chết đói. Lu-nin không có con và cũng không có nhiều dịp gặp trẻ con. Cho nên chúng cho anh một cảm giác mỏng manh rất đáng thương. Mỗi lần anh gặp một đứa, là anh bàng hoàng: một con người bé như vậy, tay không như vậy trước sự sống, mà cái gì cũng có thể làm bị thương làm tiêu huỷ - một cái xe hơi, một người, một con chó - Mà bây giờ trẻ con đang chết đói!

        À ra vì thế mà bọn Đức im lặng như vậy. Sao anh không sớm nghĩ đến cái đó? Một thành phố với hàng triệu dân không một đường tiếp tế, một thành phố bị phong toả, bị vây. Thế còn dự trữ? Nhưng ai dự trữ nổi cho ba triệu con người, có thể hơn ba triệu nữa? Chắc có dự trữ, và người ta phải dè sẻn. Nhưng trong một tháng, trong hai tháng? Bọn Đức muốn ăn chắc. Chúng đợi, và chúng sẽ tiến vào một thành phố chết... Ôi! Cái kết liễu ghê gớm! Tất cả y nguyên, nhà ở cũng như xưởng máy. Tất cả im lặng, và không còn một người sống... Anh rùng mình.

        Còn chỗ khác của nước Nga? Cái gì xảy ra bên kia đường chiến tuyến kép? Từ hai tháng khi anh đến đây, anh chưa hề trông thấy một người bên kia? Chỉ nhận được những tin ngắn không lành. Ta đã rút O-ren Bơ-ri-ăng, Vi-a-giơ-ma, rồi Ma-ri-u-pôn. Ma-ri-u-pôn ở trên biển A- dốp, không xa cái chỗ có trường của anh, cái nhà con, cái vườn của anh. Người ta lại báo là tình huống nghiêm trọng thêm ở mặt trận tây: quân Đức đã chọc thủng. Mặt trận tây, đúng rồi, nghĩa là Mát-scơ-va. Mười lăm ngày đã qua, hai tuần lễ, ta đã rút O-đét-sa, Ta-gan-rốc, Kác-kốp. Nhưng ở Mát-scơ-va thì sao? Đang đánh nhau ở đó. Không có tin nào khác.

        Ướt đầm và run bắn, Lu-nin trở lại nhà ngủ, ngần ngại. Anh tìm cái bực nhỏ hồi lâu trong bóng tối. Khi vào, mọi người đã ngủ trừ Sê-rốp vẫn nằm mở mắt. Nhưng thấy Lu-nin, anh nhắm ngay mắt lại.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:48:55 pm »


V

        Tuyết tan kéo dài mấy ngày, rồi lại đóng. Mới vào cuối tháng mưòi những đã dầy vẻ mùa đông. Tuyết rơi không ngừng.

        Phi đội thỉnh thoảng mới bay, vì tuyết rơi ít, nhưng thường là vì bọn Lớp-táp nằm im hoàn toàn. Và sự nghỉ ngơi bắt buộc ấy dè trĩu họ. Họ muốn bay, muốn đánh để lương tâm được yên ổn.

        - Có thật là không còn dịp hạ được một cái máy bay Đức nào trước ngày lễ không? - Ka-ban-kốp vừa nói vừa di đi lại lại trong nhà ngủ, bước nhanh chân, đôi nắm tay nhó riết lại.

        Chỉ còn mấy ngày là đến mồng 7 tháng 11 mà năm đó người ta đợi chờ đặc biệt tha thiết: kẻ thù chẳng đang làm nguy ngập tất cả những cái gì mà Cách mạng tháng mười đã tạo ra cái lẽ sống của mỗi người hay sao?

        Sáng mồng sáu mây thưa hơn mọi ngày. Có cả một chút mặt trời. Nhưng một lớp sương mù dầy tám trăm thước vẫn bao phủ mặt biển và bờ biển. Người ta có thể nhìn không chớp mắt cái khuôn lớn tướng và mờ mờ của mặt trời.

        Buổi sáng hôm đó, các trạm quan sát đã phát hiện đó đây một số máy bay Đức - chỉ là bọn máy bay thám thính đi tuần tiễu từng đôi một. bay thấp trong sương mù, và cố đến nhìn trộm thành phố, kiểu như khi người ta liếc vội vào trong xoong xem món ăn đã chín chưa?

        - Chỉ cốt gặp được chúng! - Ka-ban-kôp reo lên trong khi họ chạy ra máy bay, trên tấm thảm tuyết cứng trắng xoá.

        Một phút sau, năm chiếc máy bay của Rát-sô-khin theo hình ba cạnh, bay trong sương lấp lánh ánh cầu vồng vì mặt trời phản chiếu. Phải nắm vững cả khối, vì nếu không giữ vững cự ly. thì máy bay bên cạnh nhìn hoá thành đôi ngay và sẽ biến mất, như bị tẩy xoá nhoà. Họ hướng mũi về Lê-nin-grát và vượt qua cửa sông Ne-va: không thấy một máy bay địch nào. Họ lái sang phải và bay trên Pê-tê- rốp: vẫn chẳng thấy gì. Lại lái sang phải về phía Cơ-rông- stát: vẫn không thấy bọn Đức. Làm thế nào phát hiện được chúng bây giờ? Chỉ nhìn xa được 50 thước. Thế thì trở về suông hay sao? Trên Cơ-rông-stát, Rat-sô-khin lại lái về phía tâv và dẫn phi đội ra khơi.

        Vừa ngay lúc đó, Lu-nin thấy thẳng trước mặt bốn vệt thon mờ mờ: Mét-séc-mít. Chỉ thấy trong khoảnh khắc. Rát-sô-khin ra lệnh ngoặt trái.

        Lẩn trong sương, phi đội dán vào bọn Mét-séc-mít, cao hơn chúng một chút. Một khoảnh khác sau, Sê-pen-kin tách khỏi dội, bay sang phải.

        Đó là một mẹo dử mà họ thường vẫn tranh luận ở nhà ngủ. Nếu bọn Mét-séc-mít thấy phải chọi với năm chiếc 1-16, thì chúng lủi mất. Phái có cái mồi. Hám mồi, chúng sẽ xổ vào Sê-pen-kin và như vậy chúng không thoát được nữa.

        Cả phi đội còn lại, tiếp tục đường cũ một phút, rồi cũng ngoặt sang phải.

        Họ không thấy bọn Mét-séc-mít ngay trong cái đám sương mù đáng ghét ấy. Họ lượn vòng, lên cao, xuống thấp... Thời gian qua. Sê-pen-kin có thể đã bị hạ. Họ bắt đầu lo ngại dữ thì đột nhiên họ bổ trúng ngay vào kẻ thù: bốn cái Mét-séc-mít đang lăn xả vào cái máy bay của Sê- pen-kin.

        Nhưng Sê-pen-kin là tay lão luvện. Trong luồng đạn toé ra, anh bay loằng ngoằng hụp xuống, lên thẳng, bổ nhào chí chết, và ngoặt đến phắt làm cho bọn Mét-séc-mít không đụng đến được.

        Về phía anh, thì anh cho chúng những cú chí tử: chính lúc các bạn trông thấy anh, thì anh vừa cho một tên địch rụng xuống biển.

        Chiến công đó vừa xong, thì lập tức đến chiến thắng thứ hai. Vì ba chiếc Mét-séc-mít đang lái chệnh đi để đương đầu với phi đội bất thình lình hiện ra, Sê-pen-kin đánh ngay vào đuôi chúng và hạ luôn một cái nữa.

        Hai cái còn lại bay lên cao rồi biến mất trong sương. Thất vọng kích thích bởi hai chiến công của bạn, những phi công của Rát-sô-khin lượn hồi lâu trên biển, hy vọng lại tóm được máy bay bọn Lớp-táp. Rốt cuộc, Lu-nin tìm được hai cái Mét-séc-mít lúc nãy. Để tránh giao chiến, chứng ngoặt đi và tản ra. một rẽ sang trái, một rẽ sang phải. Rát-sô-khin, Ka-ban-kốp và Sê-pen-kin lao đuổi theo chiếc bên trái, Lu-nin và Sê-rôp săn chiếc bên phải.

        Lu-nin lao hết ga. Một lúc, anh đã giữ được cái Mét- séc-mít trong tầm mắt. Rồi nó biến, - đột nhiên như biến vào khoảng không. Lu-nin vẫn lao về phía ấy, luôn hy vọng sẽ lại thấy nó. Nhưng chỉ thấy sương óng ánh đủ các mầu: đỏ, da cam, vàng, xanh, xanh lá cây...

        Lu-nin quay đầu lại xem Sê-rốp có đàng sau không. Nhưng Sê-rốp cũng biến. Lu-nin một mình trong đám sương.

        Anh ngoặt một cái, rồi một cái nữa, đi đường khác, lượn vòng, hy vọng tôi thiểu cũng tìm được một người trong tốp bạn. Nhưng bạn và thù đểu biến. Anh lên cao để ra khỏi sương mù. Một khoảng bao la mở ra trước anh. Trong vắt và lạnh buốt, bầu trời vắng tanh tắm một mầu xanh nhợt.

        Xăng cạn dần, sân bay thì xa. Tuy vậy, Lu-nin quyết thử tìm phi đội một lần nữa. Anh lại chui vào sương mù, nhìn ngang thấy mặt sóng biển và thấy hai cái bóng lướt nhanh trên đó. Sát mặt nước, một Mét-séc-mít đuổi một chiếc máy bay đang trốn và vẽ những đường loằng ngoằng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2019, 10:32:19 am »


        Máy bay Sê-rôp, chắc thế? Chiếc Mét-séc-mít ngay dưới Lu-nin. Phải hành động nhanh. Lu-nin bổ nhào thẳng tắp xuống và lia một băng. Để tránh Lu-nin, chiếc Mét-séc- mít làm một cái ngoặt phải bất thình lình, nhưng trong cái ngoặt, nó vướng cánh vào nước, lộn sấp lại và chìm nghỉm.

        Chiếc máy bay bị đuổi đã lợi dụng phút ngừng đó để lẩn vào sương mù. Lu-nin đuổi kịp. Không phải Sê-rốp, mà là Sê-pen-kin.

        Lu-nin nghiêng cánh, bay sát bên và lấy chiều cao, vì anh không còn được mấy tí ét-xăng. Tốt hơn là bay trên sương để không lạc và có một chiều cao khá để đề phòng. Sê-pen-kin bắt chước, những không lên quá được trăm thước. Và Lu-nin nhận thây hình như anh gặp khó khăn với chiếc máy bay - máy bay di rất chậm, từng cái nhảy, như lôì nhảy cừu. Chiếc Mét-séc- mít có lẽ đã bắn trúng máy? Hay Sê-pen-kin bị thương? Anh không trả lời khi Lu-nin ra hiệu tay. Và nếu anh không còn sức về đến trường bay? Phải dìu anh vể Cơ-rông-stát. và đỗ ở đó.

        ... Cơ-rông-stát vẫn chưa thấy. Lu-nin bắt đầu lo: có lẽ quá Cơ-rông-stát rồi chăng? Tuyết trắng xoá, một mũi đất xung quanh là nước đen hiện ra đột nhiên ở đằng trước: cái phần phía tây vắng vẻ của đảo Kốt-lin trên đó là Cơ- rông-stát. Lu-nin nhẹ cả người. Nhưng lạ quá, Sê-pen-kin không chuẩn bị để hạ cánh. Anh cứ tiến chậm chạp về đông, bay trên dái đất thon dài.

        Lúc đầu hoảng hốt, sau Lu-nin lại yên chí ngay: Sê- pen-kin phải biết chắc việc anh làm; chắc anh bị thương, nhưng có thế gắng đến trường bay. Thế tốt hơn.

        Lu-nin thường bay luôn trên Cơ-rông-stát nên anh thuộc lòng thành phố như cái túi của anh tuy không bao giờ ở đó. Dưới thấp, trải ra những đường phố thẳng tắp với những ngôi nhà buồn buồn bằng đá cổ đến hai trăm năm, những vườn, những phố rộng cây trụi lơ thơ. Trồi ra khỏi sương, cái khối lớn của nhà thờ ngày một chạy gần lại; họ bay thấp đến nỗi cái vòm nhà thờ che mắt họ. Quá đằng kia, thấy tường gạch các nhà máy, những ống khỏi đen cao, một con kênh thẳng tắp đã đóng băng màu gio. Trong phố, các thủy thủ nhìn máy bay, và Lu-nin phân biệt rõ mặt họ. Sê-pen-kin lại mất thêm chiểu cao và Lu-nin  nghĩ rằng anh đã quyết định hạ cánh. Hãy còn có thể hạ trong cái bãi trống nào đó ở phía đông đảo. Nhưng đã trông thấy bờ biển trong sương, và Sê-pen-kin tiếp tục bay. Họ bay qua những mái nhà cuối cùng và lại bay trên mặt biển.

        Lu-nin muốn dìu Sô-pen-kin đến mấy cái đảo nhỏ mà ở đó là những pháo .đài của Cơ-rông-stát, nhưng Sê-pen-kin bay thẳng trước mặt, qua vũng Mác-ki, về phía La-ta. Sương mù lại che kín mắt họ. Bây giờ họ lê thê trên mặt nước, Sê-pen-kin bay trước, Lu-nin ở quãng ba mươi thước sau, gần như đụng vào những tảng băng dài nhỏ hình dẹt và ở giửa nước bốc khói.

        Giữa hai tảng băng, máy bay Sê-pen-kin chậm chạp chúi mũi đâm xuống và biến mất.

        Lu-nin kêu lên một tiếng mà tiếng máy nổ át đi không nghe thấy, và lượn vòng tròn trên chỗ Sê-pen-kin, yên chí là anh sắp nhoi lên, vì sự thể không thể xẩy ra như thế được. Rồi Lu-nin hết hy vọng. Thế là hết, chắc chắn là xong hết. Nhưng anh không thế rời khỏi cái chỗ khủng khiếp ấy và cứ lượn, lượn mãi...

        Khi anh hoàn hồn, thì bình ét xăng chỉ còn đủ hai phút. Anh lên thẳng và chĩa thẳng về trường bay. Khi anh về đến đất liền, anh thấy hai cái máy bay: Rát-sô-khin và Ka-ban-kôp đã về. Còn Sê-rôp? Khi sửa soạn để hạ cánh, anh trông thấy máy bay của người bạn đồng đội Sê-rôp đã về trước hai người kia.

        Giữa các đồng chí thợ máy, Rát-sô-khin và Ka-ban-kốp vừa đỗ xong, đang thuật lại cái gì cho Sê-rốp. Khi ở khoang máy bay xuống Lu-nin đến gần họ, Ka-ban-kốp quay lại anh, đôi mắt sáng lên sung sướng. Anh khoe lớn:

        - Đồng chí thiếu tá, lúc trở về, bọn tôi lại cùng với đại uý hạ thêm một cái. Ngày lễ khá đây chứ?

        Anh nhận thấy cái mặt biến sắc của Lu-nin và chợt hiểu.

        - Sê-pen-kin?...

        Lu-nin gật.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM