Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:14:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41161 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 08:52:35 pm »


        TÀU NHIỄU, tàu mặt nước loại nhỏ, mang các máy gây nhiễu hoặc các vật phản xạ góc nhầm đánh lừa các phương tiện quan sát phát hiện và đầu tự dẫn của vũ khí (tên lửa, ngư lôi...) đối phương. TN hiện đại mới xuất hiện những năm gần đây, có thể được điều khiển từ xa. Là một trong những phương tiện quan trọng trong tác chiến điện tử trên biển, được biên chế trong các nhóm tàu tấn công hoặc tổ chức thành nhóm tác chiến điện tử - mục tiêu giả riêng.

        TÀU NỔI nh TÀU MẶT NƯỚC

        TẦU PHÁ MÌN nh TÀU QUÉT MÌN

        TÀU PHÁO, tàu chiến mặt nước, trang bị vũ khí chính là pháo (có nòng, phản lực), dùng diệt mục tiêu trên mặt nước (trên bờ) của đối phương. Số lượng và cỡ pháo (lớn, trung, nhỏ) đặc trưng cho khả năng hỏa lực của tàu. TP xuất hiện sớm nhất trong các loại tàu chiến. Đến giữa tk 20 TP gồm: tàu chủ lực (trọng hạm), tàu thiết giáp, tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu tuần tiễu, pháo thuyền. Hiện nay do tên lửa được trang bị rộng rãi trong hải quân, TP thuần túy còn rất ít. Một số TP được trang bị phương tiện phát hiện, bám mục tiêu và hệ thống tự động điều khiển hỏa lực hiện đại, cho phép thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện khí tượng, thủy văn phức tạp. TP là một trong những loại tàu chiến chủ yếu của hải quân VN. Cg pháo hạm.

        TÀU PHÓNG LÔI, tàu chiến mặt nước hạng nhẹ dùng để diệt tàu đối phương bằng ngư lôi. Có lượng choán nước 80- 240t. tốc độ tới 50 hải lí/h (92,6 km/h), tầm hoạt động tới 1.000 hải lí (trên 1.850km), được trang bị 2-4 ống phóng lôi cỡ 450-533mm, 2-6 pháo 20-30mm, pháo phòng không (37- 57mm), súng máy, bom chìm, thủy lôi. thiết bị thả khói... TPL xuất hiện trong CTTG-I. Hiện nay TPL đệm khí hoặc cánh ngầm với tốc độ tới 70 hải lí/h (130km/h) đang được sử dụng trong QĐ của một số nước.



        TÀU PHRIGAT nh TÀU FRIG AT

        TÀU QUÉT LÔI nh TÀU QUÉT MÌN

        TÀU QUÉT MÌN, tàu mặt nước được trang bị các khí tài chuyên dụng để tìm và phá hủy thủy lôi trên biển (sông, hồ, kênh) và dẫn đường cho tàu thuyền khác (đi sau lưới quét mìn) qua khu vực có thủy lôi (mìn nước). TQM được trang bị: lưới quét mìn, thiết bị gây nổ thủy lôi, khí tài thủy âm, thiết bị vô tuyến truyền hình.... để phát hiện, phân loại và diệt thủy lôi. Tính năng chính: lượng choán nước từ 100 tới 1.300t, tốc độ lớn nhất từ 22 đến 45,4km/h. Vũ khí: súng máy phòng không, pháo phòng không 20-40mm. pháo đa năng 76-100mm... TQM đầu tiên là loại được cải biến từ tàu phục vụ theo sáng kiến của đô đốc X. O. Macarôp (Nga) và dùng trong chiến đấu tại cảng Lữ Thuận (Actua) trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-05). TQM chuyên dụng đầu tiên được đóng 1909 tại Xanh Pêtecbua. Được dùng rộng rãi trong CTTG-I, CTTG-II. Trong thời chiến có thể cải biến tàu dân sự (vd: tàu vận tải, tàu đánh cá) làm TQM. Cg tàu quét lôi hay tàu phá mìn.

        TÀU RẢI MÌN, tàu mặt nước hoặc tàu ngầm có trang bị chuyên dụng để bố trí (rải) thủy lôi nhằm phong tỏa, ngăn trở hoạt động của tàu thuyền đối phương ở những vùng biển nhất định hoặc bảo vệ cửa sông, cảng, vũng, vịnh, nơi neo đậu tàu thuyền khỏi sự thâm nhập, tiến công của đối phương. Có: tàu nổi rải mìn và tàu ngầm rải mìn. Tàu nổi rải mìn được đóng chuyên dụng hoặc cải biến từ tàu vận tải, tàu phục vụ, chứa mìn trong khoang hoặc trên mặt boong. Tàu nổi rải mìn hiện đại có lượng choán nước tới 3.200t, tốc độ 37km/h, mang 4.000 thủy lôi, 4 pháo 76mm (hoặc 6 pháo 40mm). Những tàu nổi rải mìn đầu tiên trên thế giới là Buc và Đunai do đó đốc X. O. Macarôp (Nga) đề xướng và được đóng 1892. TRM nổi được dùng rộng rãi trong CTTG-I, CTTG-II. Tàu ngầm rải mìn chuyên dụng để bí mật bố trí thủy lôi trong vùng nước đối phương. Chiếc đầu tiên trên thế giới là Crap do M. P. Nalôtôp (Nga) thiết kế 1907, đưa vào trang bị 1915, mang được 12-60 thủy lôi. Trong CTTG-II tàu ngầm rải mìn có lượng choán nước 720-2.180t, mang 20-66 thủy lôi. Sau CTTG-II thôi chế tạo tàu ngầm rải mìn chuyên dụng. Hiện nay tất cả các tàu ngầm đểu có thể rải thủy lôi qua ống phóng ngư lôi. Cg tàu thả mìn hay tàu thà thủy lôi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 08:56:11 pm »


        TÀU SĂN NGẦM, tàu chiến mặt nước dùng để tìm và diệt tàu ngầm của đối phương. Có thể hoạt động độc lập hoặc trong đội hình làm nhiệm vụ tuần tiễu, bảo vệ. Có các loại: TSN cỡ lớn (lượng choán nước 108-450t), TSN cỡ nhỏ (lượng hoán nước <100t) và TSN tuần dương (TSN lớn có mang trực thăng săn ngầm). TSN được trang bị sô na. rađa. các thiết bị quan sát và liên lạc vô tuyến, ngư lôi, tên lửa - ngư lôi, bom chìm phản lực. tên lửa. pháo phòng không và thiết bị tạo khói tự vệ.... để phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm đối phương. Hiện nay. QĐ nhiều nước đã có TSN tốc độ cao với kết cấu cánh ngầm hoặc chạy trên đệm khí.

        TÀU SÂN BAY, tàu chiến mặt nước có cấu tạo và trang bị đặc biệt để làm căn cứ và nơi cất hạ cánh cho máy bay, máy bay trực thăng chiến đấu của hải quân. TSB có đài chỉ huy, đường băng cất hạ cánh, khoang chứa máy bay; khoang sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, khoang chứa nhiên liệu, khoang thiết bị động lực, khoang chứa bom, khoang ở và sinh hoạt của thủy thủ... Được trang bị các tổ hợp tên lửa phòng không, pháo và pháo phòng không để tự vệ, thiết bị liên lạc vô tuyến, rađa điều khiển máy bay cất hạ cánh... Theo sức chứa máy bay và lượng choán nước, có: TSB hạng nặng (tới 100 máy bay, lượng choán nước 30.000- l00.000t). TSB hạng nhẹ (khoảng 30 máy bay, lượng choán nước 30.000t). Theo chức năng, có: TSB đột kích. TSB chống ngầm. TSB lên thẳng đổ bộ. TSB đột kích chống ngầm... Theo nguồn động lực, có: TSB thường (dùng động cơ điêden, tuabin khí...) và TSB nguyên tử (dùng thiết bị động lực chạy bằng năng lượng nguyên tử). TSB xuất hiện từ CTTG-I, trong CTTG-II có trong biên chế của hải quân Mĩ. Anh. Nhật. TSB hiện đại có lượng choán nước trên l00.000t, chở 85-90 máy bay với hơn nhân viên phục vụ, được coi là nòng cốt trong nhóm tàu đột kích của hải quân. Tuy nhiên, TSB có các nhược điểm: dễ cháy, nổ vì chứa nhiều nhiên liệu. bom, đạn: kích thước và tài trọng lớn hạn chế tính cơ động, là mục tiêu khó bảo vệ đối với máy bay, tên lửa của đối phương; hoạt động của máy bay phụ thuộc vào thời tiết và sóng gió (sóng trên cấp 6 máy bay không cất hạ cánh được). Trong chiến tranh xâm lược VN. 19 TSB MT đã tham chiến là: America. Conxtelâysân, Taicơnđơrôgơ, Uôctao, Phrancơlin D. Rudơven, ỉntơpraidơ, Bern Hômơ Risat, Coran Xi, Phorextơn, Hencuc, Onit, Intripai. Kitti Hôc, Mituây, ơriscơni, Rangiơ, Saratoga. Sangrai Lơ. Indipenđơn (thường xuyên sử dụng 5 tàu). Cg hàng không mẫu hạm.



        TÀU TÊN LỬA, tàu chiến mặt nước với vũ khí chính là tên lửa để diệt mục tiêu trên đất liền hoặc trên biển. TTL được phân ra: TTL tuần dương, TTL thu trục, TTL cỡ lớn và TTL cỡ nhỏ. TTL tuần dương, TTL khu trục, TTL cỡ lớn được trang bị tên lửa có cánh, tên lửa tàu đối tàu và tên lửa phòng không. TTL cỡ nhỏ có tên lửa tàu đối tàu và tên lửa phòng không. TTL xuất hiện vào những năm 50 (tk 20) và ngày càng được hoàn thiện theo xu hướng trang bị mạnh, cơ động nhanh và tầm hoạt động lớn. Vd: TTL cỡ nhỏ hiện nay có 2-6 hệ thống phóng tên lửa (tầm bắn 40-100km) chạy trên đệm khí với tốc độ 45-50 hải lí/h (75-85km/h), hành trình liên tục từ 600-2.000 hải lí (1.110 3.700km).

        TÀU THẢ MÌN nh TÀU RẢI MÌN

        TÀU THẢ THỦY LỎI nh TÀU RẢI MÌN

        TÀU TRỰC CANH, tàu chiến làm nhiệm vụ tuần tiễu nhằm duy trì chế độ hành trình ra vào, cảnh giới và bảo vệ căn cứ, bến cảng. Trên TTC quy định: ban ngày kéo cờ chữ “G” trên cột đèn hành trình phía trước (tín hiệu quy định của tàu hải quân), ban đêm bật đèn “xanh” (trực canh). Cg tàu tuần tra.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 08:58:06 pm »


        TÀU TUẦN DƯƠNG. tàu chiến mặt nước loại lớn, trang bị vũ khí mạnh, có thể hoạt động dài ngày ở vùng biển xa, dùng để diệt tàu mặt nước, tàu ngầm, căn cứ trên biển của đối phương, bảo đảm đổ bộ. thả thủy lôi và thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu khác. Theo chức năng và trang bị vũ khí, TTD chia ra: TTD tên lửa. lượng choán nước tới 14.200t. có động cơ năng lượng nguyên từ hoặc tuabin khí, tốc độ tới 34 hải lí/h (63km/h), trang bị các loại tên lửa (có cánh có thể mang đầu đạn hạt nhân, phòng không, chống ngầm...), có thể chở 2-3 máy bay trực thăng; TTD chống ngầm trang bị phương tiện tìm kiếm tàu ngầm. 12-30 máy bay trực thăng chống ngầm, các tổ hợp tên lứa phòng không và pháo đa năng, các vũ khí chống ngầm khác; TTD chở máy bay. lượng choán nước tới 40.000t, tốc độ trên 30 hải lí/h (55,5km/h), bán kính hoạt động tới 15.000 hải lí, chở 30 máy bay (tiêm kích, cường kích, trực thăng), các tổ hợp tên lửa (tàu đối bờ, chống ngầm, phòng không) tầm gần và tầm xa. pháo đa năng; TTD hạng nặng, lượng choán nước tới 28.000t, tốc độ tới 33 hải lí/h (61 km/h), trang bị 6-9 pháo 203-305mm, 8-12 pháo đa năng 100-127mm. 12-22 pháo 76 và l00mm. nhiều pháo phòng không 20-40mm. vỏ tàu được bọc thép để chống pháo của TTD đối phương; TTD hạng nhẹ, lượng choán nước 12.000t, tốc độ tới 42 hải lí/h (78km/h), trang bị 6-15 pháo 130-180mm. 8-12 pháo đa năng 75-127mm, 16-20 pháo phòng không 20-40mm, vỏ tàu được bọc thép ở những phần quan trọng. TTD có thể mang tới 170 thủy lôi các loại. Xuất hiện vào những năm 60 của tk 19, được sử dụng rộng rãi trong hải quân nhiều nước. Trước CTTG-II có các loại TTD pháo, TTD chủ lực. TTD phòng không, TTD phục vụ, sau đó bị loại bỏ, thay bàng TTD hiện đại. Cg tuần dương hạm.



        TÀU TUẦN TIỄU, tàu chiến mặt nước dùng để cảnh giới, bảo vệ biên giới quốc gia. căn cứ hải quân, bến cảng, các tàu thuyền khỏi sự thâm nhập, tấn công của tàu ngầm, tàu mặt nước và máy bay đối phương khi hành quân và chiến đấu, khi neo đậu tại nơi trống trải. Cũng được dùng để cảnh giới căn cứ hải quân, cảng và bảo vệ biên giới biển. TTT hiện đại có lượng choán nước 600-4.000t, tốc độ tới 35 hải lí/h (65km/h); trang bị: 1-4 pháo 76-100mm, tới 10 pháo phòng không 20-40mm, bom chìm phản lực, ngư lôi tự dẫn chống ngầm: thiết bị rađa và thủy âm, các phương tiện tác chiến điện tử, thông tin liên lạc; có thể có các tổ hợp tên lửa và máy bay trực thăng chống ngầm. TTT được sử dụng rộng rãi trong hai cuộc chiến tranh thế giới.

        TÀU VŨ TRỤ, khi cụ bay vũ trụ tự động hoặc có người điểu khiển, dùng cho các chuyến bay vũ trụ. TVT có buồng kín trang bị hệ thống bảo đảm hoạt động cho các nhà du hành vũ trụ, các hệ thống cung cấp năng lượng, thiết bị động lực, điều khiển chuyển động và nhiệt độ của tàu, lắp ghép trong vũ trụ, thông tin liên lạc, hãm và hạ cánh, cứu nạn... Được đưa lên quỹ đạo bằng các tên lửa vũ trụ và hạ từ quỹ đạo xuống nhờ thiết bị động lực. Việc tiếp đất (hoặc nước) nhẹ nhàng được thực hiện bằng dù hoặc động cơ hãm. Các TVT sử dụng nhiều lần (tàu con thoi) khi trở về Trái Đất hạ cánh kiểu máy bay. Có các TVT chuyên dụng vận tải không người lái để chờ hàng từ Trái Đất lên các trạm quỹ đạo và ngược lại. Những TVT đã được sử dụng: Phương Đông. Rạng Đông, Liên Hợp, Liên Hợp T, Tiến Bộ (TVT vận tải) của LX; Apôlô, Giêmini, Mecquiri của Mĩ...


Ghép nối tàu Apôlô và Liên Hợp

        TÀU VŨ TRỤ SỬ DỤNG NHIỀU LẦN nh TÀU CON THOI
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 08:59:36 pm »


        TÀU (XUỒNG) ĐỆM KHÍ. tàu (xuồng) có khả năng di chuyển phía trên bề mặt tương đối bằng phẳng (mặt nước, mặt băng, đầm lầy...) vì tựa trên lớp không khí áp suất cao do các thiết bị phụt khí tạo ra ở dưới thân và được duy trì nhờ các vành chắn bao quanh đáy tàu (xuồng). Khi chuyển động, tàu (xuồng) được nâng lên khỏi mặt nước một phần hoặc toàn bộ. Theo dạng vành chắn, có: T(X)ĐK vành chắn mềm (chạy được cả trên bộ), T(X)ĐK vành chắn cứng (chỉ chạy được trên nước). Công suất tiêu thụ để tạo nên đệm không khí thường chiếm 80% công suất của thiết bị động lực; chuyển động tịnh tiến của T(X)ĐK được tạo bởi các cánh quạt không khí, chân vịt quạt nước hoặc động cơ phụt nước. T(X)ĐK có lượng choán nước không quá 500t, tốc độ đạt tới trên 150km/h, thường dùng để tuần tiễu, chở quân đổ bộ, vận tải... Ý tưởng sử dụng đệm khí để di chuyển không cần đường sá và để tăng tốc độ chuyển động của các khí cụ đã có từ hơn 200 năm trước. Ở VN, quân Mĩ đã dùng tàu đệm khí PACV 1-3 (VN gọi là “bo bo”) để tuần tiễu trên sông và tác chiến trong mùa nước ở đồng bằng sông Cửu Long (1966-69), có khối lượng l0t (chở đầy), tốc độ 110km/h, 3 nhân viên, 15-18 binh lính.



        TAYLO (A. Maxwell Dayenport Taylor; 1901- 87), nhà lí luận hàng đầu của Mĩ về chiến lược phản ứng linh hoạt và chiến tranh hạn chế, cố vấn QS cấp cao cho bốn đời tổng thống Mĩ trong chiến tranh xâm lược VN, đại tướng (1944). Năm 1937 tùy viên QS Mĩ tại Nam Kinh (TQ). Tham gia CTTG-II với cương vị sư đoàn trưởng. 1945-49 giám đốc Học viện QS Oet Pointơ. Trong chiến tranh xâm lược Triều Tiên (1953), tư lệnh Tập đoàn quân 8. Năm 1955-59 tổng tư lệnh các lực lượng MT ở Viễn Đông: tham mưu trướng lục quân Mĩ. 1961-62 cố vấn QS của tổng thống Kennơdi, được cử sang miền Nam VN nắm tình hình. 1962-65 chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mĩ; đại sứ Mĩ tại VN cộng hòa; cố vấn đặc biệt của tổng thống Giônxơn. 1968 thành viên của nhóm cố vấn cấp cao nghiên cứu vấn đề VN, đề xuất chiến lược chung trong chiến tranh xâm lược VN gồm 4 phần: xây dựng QĐ VN cộng hòa, tiến công bằng không quân ra miền Bắc VN, ổn định chính phủ và kinh tế - xã hội của VN cộng hòa, tìm một giải pháp cho cuộc chiến tranh ở VN. 1969 chủ tịch Hội đồng cố vấn tình báo nước ngoài. T ủng hộ tích cực can thiệp QS của Mĩ vào miền Nam VN nhưng đến 1973 thừa nhận Mĩ đã mắc nhiều sai lầm, dính líu quá sâu vào VN. Tác giả sách “Tiếng kèn ngập ngừng”.

        TĂNG* nh XE TẢNG

        TĂNG**, quân trang chiến đấu dạng tấm mỏng hình chữ nhật bằng chất liệu bền, không thấm nước (nilon hoặc vinilon), bốn góc có đệm góc (để tăng độ bền) và tai buộc, dùng để căng làm mái che mưa, che nắng khi ngủ, nghỉ ngoài trời. Có hai loại: T đơn và T kép. T đơn thường có kích thước 3m X l,4m, dùng cho cá nhân. T kép (eg T tiểu đội) có thể dùng làm chỗ mắc đồng thời hai võng, hoặc dùng cho các hoạt động sinh hoạt tập thể, ăn uống hoặc che phủ vũ khí lớn.

        TĂNG CƯỜNG, dùng lực lượng tăng sức chiến đấu cho một đơn vị LLVT (tập đoàn lực lượng) bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao. TC thực hiện bằng phối thuộc, chuyển thuộc, chi viện, phối hợp. Lực lượng TC được chỉ định khi hạ mệnh lệnh (giao nhiệm vụ) tác chiến.

        “TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI”, tác phẩm tuyển chọn những bài viết và nói của Nguyễn Chí Thanh trong KCCP và hơn 10 năm KCCM; Nhà xuất bản QĐND xuất bản 4.1997. Với chủ đề về tổ chức xây dựng Đảng và nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ.CTCT trong QĐND VN, tác giả khẳng định: nguyên tắc ĐCS VN lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện QĐND VN là bất di, bất dịch, là nguồn gốc sức mạnh và cơ sở của mọi thắng lợi; công tác chính trị để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng là công tác đảng, công tác vận động quần chúng của Đảng trong QĐ; công tác đó mang tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính quần chúng, theo nguyên tắc đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế và làm tan rã địch, với phương châm lấy giáo dục làm chính và phải đi sâu vào đời sống QĐ nhằm củng cố các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; bài học kinh nghiệm lớn nhất để xây dựng QĐND VN thành QĐ CM hùng mạnh tiến lên chính quy, hiện đại, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình là phải tăng cường và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò của công tác chính trị. Tác phẩm góp phần phát triển lí luận chính trị - QS, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với xây dựng QĐND VN.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:00:33 pm »


        TĂNG GIA SẢN XUẤT, hoạt động sản xuất lương thực thực phẩm (trồng trọt và chăn nuôi) nhằm tạo ra một phần nông sản thực phẩm đáp ứng nhu cầu của bộ đội. Thường được tiến hành ở quy mô nhỏ và tận dụng nhân lực, thời gian, tiền vốn, đất canh tác, cơ sở doanh trại... Trong QĐND VN từ trước đến nay, TGSX là một nội dung của công tác tạo nguồn bảo đảm hậu cần nhằm tăng thêm của cải xã hội, tự túc một phần lương thực, thực phẩm để cải thiện đời sống bộ đội, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân.

        TĂNG HẠN SỬ DỤNG VŨ KHÍ, TRANG BỊ KĨ THUẬT, tổng thể các giải pháp kĩ thuật đặc biệt để tiếp tục sử dụng vũ khí, trang bị kĩ thuật đã hết hạn sử dụng (thời gian, số kilômét sử dụng, số lần sử dụng...) theo quy định của nhà sản xuất; một nội dung của công tác bảo đảm kĩ thuật. Gồm: tăng hạn sử dụng giữa hai lần bảo dưỡng kĩ thuật; tăng hạn sử dụng giữa hai lần sửa chữa; tăng tổng niên hạn sử dụng. Nội dung chủ yếu: kiểm tra, giám định các thông số kĩ thuật; bảo dưỡng; sửa chữa. Việc THSDVK,TBKT phải được tiến hành trước khi vũ khí trang bị kĩ thuật hết hạn sử dụng và trong một khoảng thời gian nhất định. Quy trình công nghệ THSDVK,TBKT đã hết hạn sử dụng do hội đồng kĩ thuật (hội đồng tăng hạn) xây dựng và được người chỉ huy có thẩm quyền quyết định. Kết quả thực hiện phải được ghi chép thành văn bản, báo cáo hội đồng và cấp trên ra quyết định tăng hạn sử dụng.

        TÂM LÍ, gọi chung những hiện tượng tinh thần diễn ra trong đầu óc con người, kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua hoạt động của bộ não, gắn liền với mọi hành vi, hoạt động của con người và điều khiển những hành vi, hoạt động đó; đối tượng của TL học. Gồm các hiện tượng ý thức (được chủ thể nhận biết) và các hiện tượng vô thức (chưa được chủ thể nhận biết). Theo nội dung phản ánh, các hiện tượng TL gồm; động cơ, nhận thức, cảm xúc - tình cảm, ý chí, vận động. Theo hình thức phản ánh, các hiện tượng TL gồm: các quá trình TL (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng...); các trạng thái TL (phấn khởi, buồn chán, tích cực, tiêu cực...); các cấu thành TL (giản đơn, phức tạp...); các thuộc tính TL nhân cách (xu hướng, tính cách, khí chất...). Các hiện tượng TL có vai trò quan trọng đối với đời sống con người và trong quan hệ xã hội.

        TÂM LÍ HỌC HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ, bộ phận của tâm lí học quân sự, nghiên cứu những đặc điểm tâm lí, các quy luật tâm lí diễn ra trong các lĩnh vực hoạt động QS của quân nhân, tập thể quân nhân; những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ huy, giáo dục, huấn luyện bộ đội. Cơ sở lí luận của TLHHĐQS: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, QS của ĐCS VN và các nguyên tắc của lí thuyết tâm lí học hoạt động (lịch sử, phát triển, hệ thống...). Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phân tích tâm lí hoạt động, như: đặc điểm, thành phần, cấu trúc (nhu cầu, động cơ, mục đích, nhiệm vụ, hành động, thao tác, phương tiện và mối liên hệ qua lại giữa chúng); phân tích ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, QS, kĩ thuật... đến chất lượng, hiệu quả hoạt động QS.

        TÂM LÍ HỌC KỈ LUẬT QUÂN SỰ, bộ phận của tâm lí học quản sự nghiên cứu: các cơ chế và quy luật tâm lí của sự hình thành, phát triển tính kỉ luật QS; cấu trúc nội dung các thành phần tâm lí tham gia tạo thành tính ki luật của quân nhân và tập thể quân nhân trong những điều kiện khác nhau của hoạt động QS; những biện pháp tâm lí - xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn luyện tính kỉ luật QS. TLHKLQS trở thành một nội dung giảng dạy trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan ở các học viện, nhà trường của QĐND VN.

        TÂM LÍ HỌC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÍ BỘ ĐỘI, bộ phận của tâm lí học quân sự nghiên cứu quy luật, tính quy luật của các hiện tượng tâm lí nảy sinh trong hoạt động lãnh đạo, quản lí bộ đội. Có nhiệm vụ nghiên cứu: các việc tâm lí của bản thân hoạt động lãnh đạo, quản lí (các đặc trưng tâm lí, các kiểu loại của hoạt động lãnh đạo, quản lí, việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định, các lí thuyết điều khiển trong hoạt động lãnh đạo, quản lí...); các vấn đề tâm lí đối với người thuộc quyền (khách thể) trong lãnh đạo, quản lí (đặc trưng tám lí của các cá thể người và các nhóm người, sự động viên kích thích con người, việc phát hiện bồi dưỡng nhân tài trong lãnh đạo, quản lí...); các vấn dề tâm lí đối với chủ thể lãnh đạo, quản lí (uy tín và việc bồi dưỡng uy tín, nghệ thuật của nhà lãnh đạo, quản lí...); các vấn đề tâm lí trong quan hệ giữa chủ thể và khách thể của hoạt động lãnh đạo, quản lí (quyền uy, xung đột tâm lí và giải quyết xung đột tâm lí trong lãnh đạo, quản lí...). TLHLĐ,QLBĐ góp phần tăng thêm hiệu lực lãnh đạo, quản lí bộ đội trong thực hiện các nhiệm vụ QS.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:01:52 pm »


        TÂM LÍ HOC QUÂN SỰ, chuyên ngành tâm lí học nghiên cứu quy luật hình thành và hoạt động tâm lí của quân nhân và tập thể quân nhân trong điều kiện hoạt động QS, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục, huấn luyện, lãnh đạo, chỉ huy, quản lí bộ đội; môn học cơ sở trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống nhà trường QĐND VN. TLHQS VN hình thành, phát triển trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, khoa học QS và nghệ thuật QS VN, tổng kết thực tiễn hoạt động QS hiện đại của VN và thế giới.

        TÂM LÍ HỌC SƯ PHẠM QUÂN SỰ, chuyên ngành tâm lí học quân sự nghiên cứu các hiện tượng tâm lí cùng những quy luật và tính quy luật tâm lí nảy sinh trong hoạt động sư phạm QS, đặc biệt ở các nhà trường QĐ. Chỉ ra các đặc trưng tâm lí hoạt động dạy (của giáo viên), hoạt động học (của học viên) và những vấn đề có tính quy luật tâm lí nhằm nâng cao hiệu quá hoạt động dạy và học, trong đó có việc rèn luyện nhân cách, năng lực sư phạm của các giáo viên... TLHSPQS có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục, huấn luyện trong QĐ và các LLVTND VN nói chung.

        TÂM LÍ TẬP THỂ QUÂN NHÂN, bộ phận của tâm lí xã hội QS, gồm những hiện tượng tâm lí xã hội trong một tập thể quân nhân, một mặt đời sống tinh thần của tập thể quân nhân. TLTTQN mang bản chất xã hội - lịch sử, phản ánh những điều kiện sống chung về vật chất và tinh thần của xã hội, dân tộc, giai cấp: đồng thời thể hiện đặc trưng hoạt động QS (về mục dích, nhiệm vụ, thành phần quân nhân, trình độ và phong cách quân lí, lãnh đạo...). Cấu trúc TLTTQN gồm hai hiện tượng tâm lí xã hội: kém bền vững (có tính quá trình như: sự ác cảm, đồng cảm, sự lây lan, ám thị, sự đánh giá, sự tranh đua, bắt chước...): tương đối bền vững (có tác động mạnh đến hành vi và nhân cách quân nhân như dư luận tập thể, tâm trạng tập thể, uy tín tập thể, truyền thống tập thể...). Xây dựng TLTTQN lành mạnh, bền vững, mang bản chất giai cấp công nhân là nhiệm vụ thường xuyên của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong QĐND VN.

        TẦM BAY của khí cụ bay, quãng đường bay liên tục xa nhất khí cụ hay có thể đạt được mà không cần tiếp thêm nhiên liệu: một trong những chỉ tiêu quan trọng trong tính năng chiến - kĩ thuật của khí cụ bay. TB phụ thuộc vào đặc điểm của khí cụ bay: cấu tạo, hình dáng và chất lượng khí động, khối lượng, lượng dự trữ và suất tiêu hao nhiên liệu, chế độ bay, điều kiện khí tượng và nhiều yếu tố khác. Hiện nay các máy bay phản lực hiện đại nhất (Concooc, Bôinh. B-52) có TB tới 18.000km, tên lửa vượt đại châu có TB trên 13.000km. Các biện pháp để tăng TB: nâng cao chất lượng khí động, hạ thấp suất tiêu hao nhiên liệu, dùng nhiên liệu mới, dùng thùng nhiên liệu phụ.

        TẨM BẮN, cự li bắn lớn nhất. TB đạt được với các góc bắn (phóng): gần 30° với súng bộ binh, gần 45° với pháo mặt đất... TB là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong tính năng chiến - kĩ thuật của vũ khí (xt tầm bắn thẳng).

        TẨM BẮN HIỆU QUẢ, tấm bắn bảo đảm xác suất trúng mục tiêu cao hoặc khả năng sát thương của đạn tiêu diệt mục tiêu có hiệu quả. Với súng bộ binh TBHQ không vượt quá một phần ba tầm bay giới hạn của đầu đạn (tầm bắn lớn nhất).

        TẨM BẮN THẲNG, cự li bắn thẳng lớn nhất. Phụ thuộc vào chiều cao mục tiêu và sơ tốc đạn. Chiều cao mục tiêu càng lớn, sơ tốc đạn càng lớn thì TBT càng lớn và cự li diệt mục tiêu bằng bắn thẳng càng lớn. TBT là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong tính năng chiến - ki thuật của hỏa khí pháo binh (pháo nòng dài, pháo chống tăng, ĐKZ...). Trong các bảng bắn thường cho trị số TBT ứng với các mục tiêu có chiều cao xác định (vd> 0,5: 2; 2,7; 3m). TBT của các hóa khí pháo binh thường khoảng trên dưới 1.000rn (không quá 2.000m) và cg cự li bắn là.

        TẦM ĐI XA của tàu, quãng đường biển (tính bằng hải lí tàu có thể đi được với vận tốc nhất định cho đến khi tiêu hao hết lượng dự trữ nhiên liệu hoặc cho đến khi hết thời hạn hoại động độc lập của tàu; một trong những chi tiêu quan trọng trong tính năng chiến - kĩ thuật của tàu. TĐX được tính toán khi thiết kế, xác định trong quá trình chạy thử sau khi hạ thủy và được định kì kiểm tra trong quá trình sử dụng. Tầm đi xa lớn nhất của tàu đạt được khi sử dụng vận tốc kinh tế (bảo đảm tiêu hao năng lượng ít nhất). TĐX sử dụng năng lượng hạt nhân được giới hạn bởi khả năng hoạt động liên tục của hệ thống máy chính, máy phụ và các hệ thống khác của tàu, cũng như sức chịu đựng của thành viên trên tàu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:04:04 pm »


        TẤM PHỦ NGỤY TRANG, khí tài ngụy trang dạng tấm mềm làm từ vật liệu thông thường hoặc vật liệu tổng hợp, dùng che phủ trên đối tượng bảo vệ nhằm vô hiệu hóa hoặc làm giảm hiệu quả các loại trinh sát kĩ thuật (rađa, hồng ngoại, quang học...), trinh sát công nghệ cao của đối phương.

        TÂN AN, tỉnh cũ ở Nam Bộ. Thành lập 12.1889, tách từ t. Gia Định. 10.1956 sáp nhập với Chợ Lớn thành t. Long An

        TÂN BINH, chiến sĩ mới nhập ngũ, dược phong quân hàm binh nhì.

        TẢN CẢNG, cảng ở hữu ngạn sông Sài Gòn, đông bắc tp Hồ Chí Minh 20km. TC do Mĩ xây dựng 1960. một trong 10 càng lớn ở Nam VN. Có hai cầu tàu dài 786m, rộng 90m, một bến xà lan dài 260m. Diện tích kho 19.200m2, diện tích bãi 156.600m2, mớn nước tại bến 11m, trên luồng 16-19m:có thể tiếp nhận một lúc 4 tàu l0.000t, khả năng bốc dỡ hàng 821.200t/năm.

        TÂN SỞ (cổ), thành do Tôn Thất Thuyết cho xây dựng vào khoảng 1883 ở xã Cam Chính, h. Cam Lộ, t. Quảng Trị để chuẩn bị cho việc kháng chiến chống Pháp. Thành xây hình chữ nhật dài 500m, rộng 350m, mở 4 cửa giữa 4 mặt tường thành. Trong thành, ngoài những dinh thự cua chánh sứ, phó sứ, bang tá, lãnh binh, còn có trại lính, kho đạn, hầm súng, trại tù và tàu voi. Đây là một trong những công trình phòng thủ  cuối cùng của dòng kiến trúc cũ được xây dựng thời Nguyễn. Sau vụ đánh úp quân Pháp ở Mang Cá và Toà khâm sứ trong cuộc nổi dậy ở Huế, 5.7.1885 không thành, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra TS lập căn cứ chống Pháp. Di tích thành TS ngày nay còn lại chỉ là những gò đất, gạch vỡ.

        TÂN SƠN NHẤT, cảng hàng không quốc tế ở tây trung tâm tp Hồ Chí Minh 6km. Hai đường băng bê tông 3.050m x45m. Các loại máy bay hiện đại có thể cất hạ cánh. Do Pháp xây dựng, 1965 Mĩ sửa chữa nâng cấp thành một trong ba căn cứ QS liên hợp lớn nhất của Mĩ ở Nam VN. Trong KCCM, QGPMN VN đã nhiều lần đánh phá TSN, phá hủy nhiều máy bay và phương tiện chiến tranh, đặc biệt chiều 28.4.1975 không quân nhân dân VN dùng máy bay chiến lợi phẩm A-37 đánh sân bay (xt trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, 28.4.1975), phá hủy 24 máy bay. Sau KCCM nhiều lần được cải tạo và nâng cấp. Lượng vận chuyển 3 triệu khách/năm (2000).

        TÂN TRÀO, xã thuộc h. Sơn Dương, nay là thôn Tân Lập. xã Tân Trào. h. Sơn Dương, t. Tuyên Quang. Nguyên là xã Kim Lung (Kim Long) thuộc tổng Tú Trạc, châu Sơn Dương; khi thành lập khu giải phóng đổi thành xã TT, châu Tự Do. Sau CM tháng Tám đổi thành xã Tân Lập. 1948 sáp nhập với xã Hồng Thái (tên cũ: Kim Trận) thành xã TT mới. 5.1945, TT được xây dựng thành thủ phủ Khu giải phóng và trung tâm lãnh đạo CM. 16.8.1945 tại đình Tân Trào, Quốc dân đại hội họp, đề ra chủ trương, thông qua và ban bố lệnh tổng khởi nghĩa, 10 chính sách lớn của Việt Minh, quy định quốc kì, quốc ca, cử ra ủy ban dân tộc giải phóng (tức Chính phủ lâm thời) đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong KCCP. TT tiếp tục dược chọn là nơi ở và làm việc của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ. Hiện nay TT (bao gồm cả xã Hồng Thái cũ) được xây dựng thành khu di tích lịch sử CM.

        TÂN TỨ QUÂN X. HỔNG QUÂN CÔNG NÔNG TRUNG QUỐC

        TẨN THỦY HOÀNG (Qin Shihuang, Doanh Chính; 259- 210tcn). hoàng đế đầu tiên của nhà Tần (TQ), lập nên một quốc gia phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử TQ. kết thúc thời Chiến Quốc. Lên ngôi vua năm 13 tuổi; 230-221 tcn, lần lượt chinh phục các nước Hàn, Triệu. Ngụy, Sở, Yên, Tề, chấm dứt 550 năm cát cứ. Chia TQ thành 36 quận, dưới là huyện, cử quan lại của triều đình xuống cai trị. Hoàng đế quyết định mọi việc quan trọng của quốc gia. phong và tước mọi chức quan trọng yếu từ trung ương đến địa phương. Thực hiện thống nhất pháp luật, tiền tệ, chế độ đo lường, phá hủy các công trình và thành luỹ trước đây phân chia giữa các nước. Sai đại tướng Mông Điềm đem 30 vạn quân lên phía bắc đánh đuổi người Hồ; bình định các dân tộc Bách Việt, lập ra Mân Trung. Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận ở phía nam. Bắt dân lao dịch nặng nể để xây dụng nhiều công trình đổ sộ như Vạn Lí Trường Thành, lăng Li Sơn. cung A Phòng ở kinh đô Hàm Dương. Cho húy các đồ binh khí dân gian, đốt sách sử của các nước, sách kinh điển nho gia, chôn sống khoảng 460 phương sĩ và nho sinh. Thực hiện chế độ chuyên chế, sưu thuế, lao dịch nặng nề, chiến tranh liên miên gây oán giận trong nhân dân. Sau khi TTH chết, khắp nơi trong nước nổi lên khởi nghĩa lật đổ nhà Tần.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:05:59 pm »


        TẬP BÀI. hình thức huấn luyện chỉ huy tham mưu. được tiến hành để huấn luyện người chỉ huy, cơ quan và học viên đào tạo ở học viện, nhà trường QĐ. TB có thể tiến hành ở thực địa, trong nhà (phòng học, SCH) với các dạng: TB khung, TB nhóm. TB làm ngay. TB khung được tổ chức thành khung tập (với các cương vị chính như: người chỉ huy, tham mưu trường, chủ nhiệm các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn...) và luyện theo chức trách được phân công; hình thức huấn luyện tập thể về chiến dịch, chiến thuật nhằm nâng cao năng lực chuẩn bị và thực hành chiến dịch, trận chiến đấu, thực hiện các mặt bảo đảm, rèn luyện bản lĩnh, tác phong chỉ huy và hiệp đồng. Thường vận dụng trong huấn luyện chỉ huy và cơ quan, học viên là sĩ quan. TB nhóm được tổ chức thành  tổ, nhóm và cùng thực hiện một nội dung (công việc) của một chức vụ nhất định nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng, củng cố lí luận chiến dịch, chiến thuật. Thường vận dụng trong huấn luyện người chỉ huy và học viên. TB làm ngay được tiến hành để kiểm tra kiến thức cơ bản và năng lực thực hành của người chỉ huy và cơ quan về một nội dung nhất định, nhằm cùng cố và nâng cao năng lực hành động độc lập. bản lĩnh chỉ huy và khả năng phân tích đánh giá tình hình. Thường tiến hành trước các cuộc diễn tập, do người chỉ huy cấp trên trực tiếp chuẩn bị và chỉ dạo.

        TẬP ĐOÀN nh TẬP ĐOÀN LỰC LƯỢNG

        TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM. hệ thống các cứ điểm, cụm cứ điểm hoặc các khu vực phòng ngự được xây dựng liên kết chặt chẽ với nhau theo một ý định và kế hoạch tác chiến thống nhất của QĐ Pháp trong chiến tranh xâm lược VN (1945-54). Tùy thuộc vào vai trò, vị trí, tính chất nhiệm vụ, TĐCĐ có quy mô lực lượng từ binh đội, binh đoàn đến liên binh đoàn. Trong cuộc chiến tranh xâm lược VN (1945-54), QĐ Pháp đã xây dựng các TĐCĐ lớn như Nà Sản (t. Sơn La 1952), Điện Biên Phú (t. Lai Châu 1953-54)... TĐCĐ có tác dụng chủ yếu: phòng thủ một khu vực quan trọng; thực hiện chia cắt chiến lược, ngăn chặn hoặc hạn chế cơ động lực lượng cấp chiến dịch, chiến lược của LLVTND VN giữa các chiến trường tác chiến; làm bàn đạp để mở các cuộc hành quân tiến công với quy mô chiến dịch, chiến lược đánh ra vùng do LLVTND VN kiểm soát.

        TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM ĐIỆN BIÊN PHỦ, tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của QĐ Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương, hình thành cuối 1953 trên cánh đồng Mường Thanh và các điểm cao xung quanh thuộc châu Điện Biên t. Lai Châu (nay thuộc tp Điện Biên Phú. t. Điện Biên), do Đờ Catxtơri chỉ huy. 20-22.11.1953 tướng Nava cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ nhằm che chở cho Lai Châu và Thượng Lào khói bị uy hiếp. 3.12.1953 sau khi được tin nhiều đại đoàn bộ đội chủ lực VN tiến lên Tây Bắc, Nava quyết định gấp rút tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh với ý đồ thu hút và tiêu diệt đại bộ phận lực lượng chủ lực đối phương. Lực lượng quân Pháp phòng ngự ở Điện Biên Phủ gồm 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh (sau được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội dù), 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh. 1 đại đội xe tăng (10 chiếc), 1 phi đội không quân (14 máy bay), 1 đại đội vận tải (khoảng 200 xe). TĐCĐĐBP tổ chức thành ba phân khu (bắc, nam và trung tâm) gồm 8 trung tâm đề kháng với 49 cứ điểm, có khả năng phòng ngự độc lập và chi viện lẫn nhau, có hệ thống công sự vững chắc và hỏa lực mạnh (súng cối, súng phun lửa và súng bắn thẳng các loại). Trong mỗi cứ điểm và cụm cứ điểm đều có hào giao thông, bên ngoài có bãi mìn và hàng rào thép gai nhiều tầng, nhiều kiểu dày 50-100m. Có hai căn cứ hỏa lực (phân khu trung tâm và phân khu nam); hai sân bay (Mường Thanh và Hồng Cúm) nối với Hà Nội, Hải Phòng bằng cầu hàng không trực tiếp; khi cần Bộ tổng chỉ huy QĐ Pháp có thể huy động tối đa lực lượng không quân chi viện cho Điện Biên Phủ. TĐCĐĐBP được các tướng lĩnh Pháp. Mĩ đánh giá là “pháo đài bất khả xâm phạm”, đã bị quân và dân VN tiêu diệt hoàn toàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954).

        TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM NÀ SẢN. tập đoàn cứ điểm phòng ngự do Pháp lập ra tại khu vực Nà Sản (t. Sơn La) nhằm ngăn chặn hoạt động tiến công của bộ đội chủ lực VN trên Mặt trận Tây Bắc. Hình thành cuối 10.1952, lực lượng gồm 8 tiểu đoàn bộ binh và dù (2.12.1952 được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn dù), 1 tiểu đoàn pháo. 8 đại đội độc lập và 1 đại đội công binh; bố trí thành 24 cứ điểm cấp đại đội và 4 cứ điểm cấp trung đội trên các điểm cao xung quanh có thể yểm trợ cho nhau, ở giữa là sân bay, trận địa pháo, SCH; cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản, bảo đảm chi viện kịp thời. Là tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp lúc đó ở Tây Bắc nhưng trước sức ép, bao vây, tiến công của quân và dân ta (x. chiến dịch Tây Bắc, 14.10-10.12.1952 và chiến cục Đông Xuân 1953-54), TĐCĐNS bị vô hiệu hóa và bị cô lập, 12.1953 Pháp buộc phải rút bỏ Nà Sán.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:07:28 pm »


        TẬP ĐOÀN KHÔNG QUÂN 7. liên binh đoàn không quân chiến dịch - chiến thuật của QĐ Mĩ. Thành lập 1.4.1966 trong chiến tranh xâm lược VN, thay Sư đoàn không quân 2 trước đó chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của không quân Mĩ ở miền Nam VN. Gồm các không đoàn tiêm kích và tiêm kích - bom 3 (Biên Hoà), 12 (Cam Ranh), 35 (Phan Rang), 366 (Đà Nẵng), 31 (Tuy Hoà), 37 (Phù Cát); Sư đoàn không quân 834 vận tải chiến thuật, 1 không đoàn trinh sát, 2 không đoàn tác chiến đặc biệt và một số đơn vị yểm trợ, SCH ở Tân Sơn Nhất (Sài Gòn). Do MACV chỉ huy tác chiến (tư lệnh TĐKQ7 đồng thời là phó tư lệnh MACV về không quân), BTL Thái Bình Dương điều hành và phối hợp với Tập đoàn không quân 13 - SCH ở Clac. Philippin (tư lệnh TĐKQ7 và tư lệnh Tập đoàn không quân 13 thay nhau làm phó tư lệnh BTL Thái Bình Dương, và trên cương vị đó được quyền chỉ huy 3 không đoàn chiến thuật của Tập đoàn không quân 13 đóng ở Thái Lan hoạt động đánh phá miền Bắc VN và Lào). 1966-73 TĐKQ7 đã thực hiện chi viện hỏa lực không quân cho quân Mĩ và QĐ Sài Gòn mở các cuộc hành quân ở miền Nam VN. chịu nhiều tổn thất và đã 7 lần thay đổi tư lệnh. Sau chiến tranh VN thay đổi tổ chức (tới 2001 có 2 không đoàn chiến đấu, 1 phi đoàn tác chiến đặc biệt trang bị 96 máy bay các loại); SCH ở Ôsan (Hàn Quốc).

        TẬP ĐOÀN LỰC LƯƠNG, tập hợp lực lượng gồm các liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội. phân đội thuộc quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn. được triển khai thành thế trận trên một hướng (khu vực), để cùng thực hiện những nhiệm vụ tác chiến nhất định. Số lượng và chủng loại các đơn vị của TĐLL được xác định tuỳ thuộc vào tính chất và yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến. Theo quy mô, có: TĐLL chiến lược. TĐLL chiến dịch, TĐLL chiến thuật: theo vai trò, vị trí, có: TĐLL chủ yếu, TĐLL thứ yếu...: theo quân chủng, có: TĐLL lục quân. TĐLL không quân, TĐLL hải quân. TĐLL phòng không... TĐLL thường được gọi tắt là tập đoàn, vd: tập đoàn chiến lược, tập đoàn chiến dịch...

        TẬP ĐOÀN QUÂN, liên binh đoàn chiến dịch trong QĐ một số nước (Mĩ. Nga. TQ...). Thường gồm một số binh đoàn, binh đội thuộc các quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn. Tổ chức biên chế của TĐQ thường không ổn định và phụ thuộc vào nhiệm vụ. đặc điểm chiến trường và các điều kiện khác. Tùy theo quận chung mà TĐQ trực thuộc, thành phần chiến đấu và nhiệm vụ, có: TĐQ binh chủng hợp thành. TĐQ không quân. TĐQ phòng không... TĐQ có từ đầu tk 19, là đơn vị tổ chức phổ biến trong QĐ của các nước tham gia CTTG-I, CTTG-II.

        TẬP ĐOÀN QUÂN KHÔNG QUÂN, liên binh đoàn chiến dịch của không quân trong QĐ một số nước; thuộc lực lượng không quân tầm xa. Gồm: liên đội, trung đoàn, sư đoàn không quân và các đơn vị phục vụ, bảo đảm. Nhiệm vụ: phối hợp tác chiến với liên binh đoàn của các quân chủng: thực hiện các nhiệm vụ chiến dịch, chiến lược như phá hủy các mục tiêu quan trọng trong khu vực mặt trận và chiều sâu bố trí chiến lược của đối phương.

        TẬP ĐOÀN QUÂN SỰ, liên minh (liên kết) các tổ chức hay thế lực QS của một hoặc nhiều nước có chung những quyền lợi kinh tế - xã hội hoặc xu hướng chính trị, thành một tổ chức lũng đoạn nhà nước (khu vực, quốc tế) nhằm phối hợp hành động vì mục đích chính trị; đặc trưng của xu thế quân phiệt hóa nền chính trị một nước, khu vực hoặc thế giới. TĐQS có thể hình thành dưới hình thức một tổ chức QS hoàn chinh (như NATO...), hoặc liên minh thông qua hội đồng tướng lĩnh, hội đồng QS trực tiếp nắm quyền lực nhà nước... (nhu chính quyền Pinôchê ở Chile sau 1973, chính quyền Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam VN trước 4.1975...).

        TẬP HỢP ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU của không quân hành động chiếm lĩnh vị trí nhất định ở trên không của máy bay, tốp máy bay sau khi cất cánh để tạo thành đội hình chiến đấu. Để THĐHCĐ nhanh và an toàn, phải quy định thứ tự cát cánh cho từng máy bay, có phương pháp tập hợp đội hình và quan sát tốt. Giảm thời gian cất cánh, tập hợp đội hình là biện pháp để tăng sức chiến đấu và khả năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của không quân. Phương pháp THĐHCĐ: tập hợp đuổi, tập hợp lượn vòng 180°.

        TẬP HUẤN, hình thức huấn luyện cán bộ và nhân viên chuyên môn. kĩ thuật, nhằm bồi dưỡng về lí luận, nâng cao kĩ năng thực hành và phương pháp huấn luyện. Nội dung TH: các vấn đề mới về chiến dịch, chiến thuật, công tác tham mưu chỉ huy, phương pháp huấn luyện và các nội dung chuyên đề, chuyên ngành... Đối tượng, thời gian và hình thức TH dược xác định trong kế hoạch huấn luyện hàng năm.

        TẬP KẾT BỘ ĐỘI, tập trung lực lượng ở khu vực quy định để chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ. TKBĐ phải đúng thời gian, gọn, bí mật, an toàn. Khu vực TKBĐ phải được chọn ở địa điểm thích hợp; bố trí lực lượng phải phù hợp với phương án tác chiến, chú trọng các mặt bảo đảm tác chiến (trinh sát, cảnh giới, ngụy trang, công sự...). TKBĐ có các quy mô: chiến lược, chiến dịch, chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:09:21 pm »


        TẬP KÍCH, lợi dụng sơ hở của đối phương và các điểu kiện có lợi khác, bất ngờ tiến công tiêu diệt (sát thương đối phương ); một hình thức chiến thuật. Có: TK chiến lược, TK chiến dịch và TK chiến thuật. TK trên bộ, TK đường không và TK đường thủy; TK xung lực và TK hỏa lực. TK xung lực có: kì tập, cường tập, bôn tập. Kì tập được tiến hành rất bí mật, bất ngờ, với lực lượng ít nhưng đạt hiệu suất chiến đấu cao. Cường tập là vận dụng kết hợp kì tập với sử dụng sức mạnh để tiêu diệt, phá hủy mục tiêu. Bôn tập là nhanh chóng cơ động lực lượng từ xa đến, bất ngờ tiến công tiêu diệt, phá hủy mục tiêu rồi rút ngay làm cho địch không kịp đối phó.

        TẬP KÍCH BAN ĐÊM. hình thức chiến đấu ban đêm; lợi dụng đêm tối đánh địch bất ngờ. Để TKBĐ có hiệu quả cần: giữ bí mật tuyệt đối ý định tác chiến, lực lượng, thời gian tiến hành: phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường; bí mật cơ động lực lượng áp sát mục tiêu, thực hành công kích mãnh liệt, kiên quyết và liên tục; phát huy uy lực của hỏa lực đánh gần. sử dụng thành thạo khí tài nhìn đêm và chiếu sáng; chỉ huy tập trung thống nhất, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, thành thục phương án chiến đấu ban đêm.

        TẬP KÍCH BẰNG CÁC TỐP NHỎ LẺ, hình thức chiến thuật của không quân tiêm kích dùng lực lượng nhỏ (tốp nhỏ) cơ động nhanh, bí mật, bất ngờ tiếp cận mục tiêu ở thế có lợi, công kích nhanh và kiên quyết, làm cho địch không kịp phát hiện và đối phó. Đặc điểm TKBCTNL: cơ động đến vị trí, không vực mục tiêu (địch đã trinh sát, tuần tiễu, tìm cứu...) có thể khống chế, bất ngờ tiến công khi địch còn đang chủ quan, sơ hở tiêu diệt một chiếc hay cả tốp máy bay địch.

        TẬP KÍCH BẰNG VŨ KHÍ TỰ TẠO, hình thức chiến thuật của lực lượng vũ trang nhân dân địa phương, dựa vào thế trận làng, xã được chuẩn bị trước, bí mật đưa lực lượng và vũ khí tự tạo (bom, mìn, đạn lép chế tạo thành giàn phóng nổ, giàn thun phóng lựu đạn hàng loạt...) luồn sâu, lót sẵn, áp sát dồn bốt, trận địa pháo, kho tàng, sân bay, bến cảng, nơi trú quân của địch,... bất ngờ, đồng loạt tiến công nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch; một cách đánh truyền thống, đơn giản nhưng đạt hiệu quà chiến đấu cao, được vận dụng rộng rãi trong KCCM.

        TẬP KÍCH BÍ MẬT, bí mật tiềm nhập, luồn sâu lót sát mục tiêu, bất ngờ tiến công đồng loạt trong thời gian ngắn rồi rời khỏi chiến đấu hoặc chuyển sang tiến hành nhiệm vụ khác; phương pháp tác chiến cơ bản của đặc công. TKBM thường được tiến hành với quy mô từ tổ đến trung đoàn ở các địa hình trên bộ và dưới nước.

        TẬP KÍCH CHIẾN LƯỢC, tập kích do lực lượng chiến lược tiến hành nhằm tiêu diệt lực lượng chủ yếu, làm suy yếu tiềm lực chính trị, QS. kinh tế và tinh thần, làm rối loạn việc điều hành đất nước và hoạt động ở hậu phương của đối phương. Mục tiêu của TKCL là các trung tâm kinh tế, chính trị, tập đoàn (cụm) LLVT chiến lược và chiến dịch, căn cứ QS quan trọng, đầu mối giao thông, SCH chiến lược và chiến dịch, kho tàng... TKCL có thể được tiến hành trong thời kì đầu và cả trong quá trình chiến tranh bàng hỏa lực hoặc bằng các đòn tập kích tên lửa hạt nhân. Ở VN, TKCL được tiến hành bằng cách kết hợp hỏa lực và hành động tiến công của bộ đội, đặc biệt là bộ đội tinh nhuệ, LLVT tại chỗ...

        TẬP KÍCH ĐƯỜNG KHÔNG, phương pháp tác chiến khóng quân dùng các phương tiện hỏa lực (bom, đạn phản lực. tên lửa...) từ trên không bí mật bất ngờ phá hủy, tiêu diệt mục tiêu mặt đất, mặt nước của đối phương. Mục đích là làm mất sức chiến đấu, làm suy yếu sức mạnh quân sự và tiềm lực quân sự của đối phương để chi viện cho tác chiến trên chiến trường, hoặc tạo điều kiện thuận lợi để nhanh chóng giành thắng lợi trong chiến tranh. Có: TKĐK chiến thuật, TKĐK chiến dịch và TKĐK chiến lược. Lực lượng tiến hành TKĐK có thể từ từng chiếc, từng tốp, nhiều tốp máy bay đến từng binh đoàn, nhiều binh đoàn thuộc những binh chủng khác nhau của không quân. Trong TKĐK có thể tiến hành nhiều đòn đột kích không quản.

        TẬP KÍCH HẠT NHÂN, tập kích bằng vũ khí hạt nhân đánh vào các mục tiêu chọn lựa nhằm tiêu diệt sinh lực, hủy diệt những công trình, làm suy yếu lực lượng đối phương; một hình thức tác chiến trong chiến tranh hạt nhân. TKHN chia thành các loại: một quả, nhiều quả hoặc hàng loạt. Tập kích một quả là dùng một quà bom (đạn) hạt nhân đánh vào một mục tiêu hoặc một nhóm mục tiêu của đối phương. Tập kích nhiều quả là dùng một số quả bom (đạn) hạt nhân đánh vào một mục tiêu lớn hoặc một số mục tiêu của đối phương. Tập kích hàng loạt là cùng lúc đồng loạt hoặc trong một thời gian ngắn dùng số lượng lớn bom (đạn) hạt nhân, do một hoặc nhiều phương tiện tiến hành vào một mục tiêu lớn hoặc một số mục tiêu quan trọng của đối phương. Mĩ đã tiến hành TKHN vào hai thành phố Hirôsima (6.8.1945) và Nagaxaki (9.8.1945), phá hoại nặng hai thành phố trên của Nhật Bản và hậu quả còn lưu lại đến ngày nay.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM