Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:20:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41173 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:10:08 pm »


        TẬP KÍCH HỎA LỰC PHÁO BINH XUÂN MẬU THÂN 1968. hoạt động tác chiến của lực lượng pháo binh QGPMN VN tiến công các vị trí của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên chiến trường miền Nam nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, phối hợp chiến đấu với các LLVT và nhân dân miền Nam trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Lực lượng gồm: 56 tiểu đoàn chủ lực (30 tiểu đoàn pháo phản lực ĐKB, 20 tiểu đoàn pháo 85-130mm, 3 tiểu đoàn cối 120mm, 3 tiểu đoàn pháo phản lực A-12, H-12 và BM-14), hàng trăm trung đội súng cối và ĐKZ của bộ đội địa phương. Diễn ra hai đợt. Đợt 1 (30.1-31.3), pháo kích đồng loạt vào 42 sân bay, 65 SCH, 24 căn cứ và nhiều mục tiêu quan trọng khác, chi viện cho các LLVT và nhân dân tiến công địch ở 4 thành phố và nhiều thị xã, thị trấn, trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Những trận điển hình: tập kích sân bay Biên Hòa (31.1), Tân Sơn Nhất (18.2) của lực lượng pháo binh miền Đông Nam Bộ; các trận tập kích sân bay Phú Bài, Đắc Tô, Aria, Hòa Bình (31.1) của lực lượng pháo binh Tây Nguyên; tập kích các SCH Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3 Mĩ, Sư đoàn bộ binh 1 QĐ Sài Gòn, các căn cứ La Vang, Ái Tử (1-2.2) của lực lượng pháo binh Trị - Thiên - Huế. Đợt 2 (4.5-17.Cool, pháo kích vào các cơ quan đầu não (Đại sứ quân Mĩ, dinh tổng thống và BTTM QĐ Sài Gòn), các sân bay Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Nước Mặn, Chu Lai, Xuân Thiều, Vũng Tàu... Kết quả đánh 2.030 trận (1.614 trận độc lập), loại khỏi chiến đấu hàng nghìn địch, phá hủy 385 pháo, 2.149 máy bay, 2.049 xe QS, 508 kho, bắn chìm, bắn cháy 47 tàu chiến..., góp phần vào thắng lợi chung trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đầu Xuân 1968.

        TẬP KÍCH HÓA HỌC, tập kích bằng vũ khí hóa học nhằm tiêu diệt sinh lực, làm mất sức chiến đấu, gây trở ngại đến hành động chiến đấu của đối phương. Gồm: TKHH gây mất sức chiến đấu tạm thời. TKHH gây rối, TKHH gây sát thương, TKHH gây trở ngại. TKHH gây mất sức chiến đấu nhằm làm giảm khả năng tác chiến của đối phương trong thời gian ngắn: thường tiến hành bằng nhóm chất độc tâm thần hoặc kích thích trong trận chiến đấu trực tiếp giữa hai bên. TKHH gây rối nhằm làm cho địch hoang mang tinh thần, làm rối loạn các hoạt động của chúng trong một khu vực nhất định; thường bằng đạn, lựu đạn, thùng, hộp,... chứa chất độc kích thích, tâm thần. Đặc điểm: phạm vi hẹp, thời gian ngắn, quy mô nhỏ, chuẩn bị chu đáo, chỉ đạo, tổ chức chặt chẽ và chọn thời cơ có lợi. Vụ tập kích chất độc trong nhà ga đường xe điện ngầm ở Tôkiô (Nhật Bản) của giáo phái Aum (20.3.1995) là TKHH gây rối. TKHH gây sát thương bằng các loại chất độc có độc tính cao, nhằm tiêu diệt hoặc sát thương sinh lực của đối phương. Đặc điểm: chuẩn bị chu đáo, chọn thời cơ thích hợp và hiệp đồng chặt chẽ. TKHH gây sát thương thường sử dụng chất độc lâu tan hoặc kết hợp chất độc lâu tan với mau tan. Trong CTTG-I, ngày 12.7.1917 quân Đức tập kích chất độc ypêrit ở gần tp Iprexơ (Bỉ). TKHH gây trở ngại bằng các loại chất độc có tính chất lâu tan nhằm gây cản trở và hạn chế các hoạt động tác chiến và sát thương sinh lực của đối phương. Mục tiêu thường là các trọng điểm giao thông, bến vượt, trước tiền duyên phòng ngự, bên sườn đội hình hành quân và các khu vực địa hình có giá trị chiến thuật, chiến dịch. Trong chiến đấu, TKHH thường kết hợp sử dụng vũ khí thông thường để tăng hiệu quả sát thương. Để TKHH phải chuẩn bị chu đáo, chọn điều kiện và thời cơ thích hợp, sử dụng tập trung, bất ngờ, hiệp đồng chặt chẽ. Cuộc TKHH lần đầu tiên trên thế giới do quân Đức tiến hành ở gần tp Iprexơ của Bỉ (22.4.1915). Trong những năm Mĩ tiến hành chiến tranh xâm lược ở Nam VN, quân Mĩ đã nhiều lần thực hiện TKHH.

        TẬP KÍCH KỂT HỢP NỘI ỨNG, tập kích bằng cách dùng người đã cài cắm vào hàng ngũ địch hoặc sĩ quan, binh lính địch được giác ngộ làm lực lượng bên trong kết hợp với lực lượng ở bên ngoài bất ngờ tập kích tiêu diệt mục tiêu. TKKHNƯ là cách đánh độc đáo, rất có hiệu quả nhằm tiêu diệt ác ôn, phá tháp canh, đồn bốt hoặc bộ máy kìm kẹp của địch, được dân quân du kích sử dụng rộng rãi trong KCCP và KCCM.

        TẬP KÍCH PHÁO BINH, phương pháp tác chiến độc lập pháo binh, bí mật bất ngờ tập kích hỏa lực vào các mục tiêu quan trọng có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược (căn cứ hành quân, sân bay, bên cảng, kho tàng, khu tập trung lực lượng địch) nhằm sát thương sinh lực, phá hủy các phương tiện KTQS. Đặc điểm của TKPB là: lợi dụng điều kiện địa hình và sơ hở của địch bí mật luồn sâu, tiếp cận mục tiêu hay bí mật triển khai đội hình chiến đấu trên hướng địch không ngờ tới, thực hành hỏa lực nhanh, mãnh liệt và nhanh chóng cơ động trận địa. Trong KCCM, lực lượng pháo binh ba thứ quân đã tiến hành nhiều trận TKPB với các quy mô từ khẩu đội đến trung đoàn đạt hiệu suất chiến đấu cao. Vd: đêm 30.10.1964 Đoàn U80 (pháo binh Biên Hoà) với 7 khẩu cối 81mm. 2 khẩu ĐKZ 75mm, 2 khẩu pháo 70mm và 176 viên đạn các loại, tập kích sân bay Biên Hòa phá hủy 59 máy bay, nhiều kho đạn và diệt hơn 200 địch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2019, 09:11:43 pm »


        TẬP KÍCH QUA BIÊN GIỚI, tập kích của lực lượng thù địch, thổ phỉ, biệt kích, thám báo vũ trang từ bên ngoài biên giới bí mật bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh nhằm đánh vào các đồn. trạm biên phòng, các làng bản, các mục tiêu an ninh - quốc phòng ở khu vực biên giới trong thời bình. Có hình thức tập kích chiến lược, tập kích chiến thuật bằng quy mô lực lượng khác nhau.

        TẬP KÍCH SINH HỌC, tập kích bàng vũ khí sinh học vào các mục tiêu chọn lựa nhằm gây bệnh hàng loạt cho người, động vật, thực vật và ô nhiễm môi trường sinh thái, gây tổn thất lớn về kinh tế và nhân dân, cản trở hoạt động tác chiến của đối phương. TKSH có thể sử dụng ở quy mô chiến lược hoặc chiến dịch.

        TẬP KÍCH TRÊN BIỂN, bí mật, bất ngờ tiến công tàu thuyền và mục tiêu khác trên biển, trung tâm kinh tế, văn hóa. chính trị QS ven biển của đối phương. Tuỳ theo nhiệm vụ và thời gian, TKTB được tiến hành bằng đơn tàu (máy bay), nhóm tàu (máy bay), phân đội đặc công, hải quân đánh bộ hoặc bằng lực lượng hỗn hợp nhiều binh chủng khác nhau.

        TẬP KÍCH VŨ KHÍ HỦY DIỆT LỚN, gọi chung tập kích hạt nhân, tập kích hóa học và tập kích bằng vũ khí sinh học vào các mục tiêu quan trọng (QS, chính trị, kinh tế, giao thông vận tải...) nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện vật chất, kĩ thuật, công trình quốc phòng, kinh tế; gây ô nhiễm môi trường, làm rối loạn sinh hoạt ở hậu phương đối phương. Nguyên tắc TKVKHDL: bất ngờ, tập trung hàng loạt, thống nhất chỉ huy, kết hợp vũ khí hạt nhân, hóa học. sinh học với nhau và với các loại vũ khí khác.

        TẬP PHÂN ĐOẠN, hình thức luyện tập của phân đội (binh đội) về từng vấn đề (từng động tác, thao tác) của một đề mục (khoa mục) huấn luyện, nhằm rèn luyện kĩ năng cần thiết của từng người, từng phần đội (binh đội) chuẩn bị cho bước tập tổng hợp của đề mục (khoa mục) đó. TPĐ phải tập từ dễ đến khó, từ giản đơn đến phức tạp.

        TẬP TỔNG HỢP. hình thức luyện tập của phân đội (binh đội), trong đó các vấn đề (các động tác thao tác) của một đề mục (khoa mục) huấn luyện được luyện tập liên kết với nhau, nhằm nâng cao kĩ năng thực hành của từng người và khả năng hiệp đồng trong phân đội (binh đội), giữa các phân đội (binh đội) trong đội hình của cấp trên; bước tiếp sau của tập phân đoạn và bước chuẩn bị hợp luyện chiến đấu với quy mô lớn hơn và nội dung phức tạp hơn.

        TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG, sử dụng, triển khai, bổ trí phần lớn lực lượng tham chiến trên hướng (khu vực), mục tiêu chủ yếu, vào thời cơ quyết định để thực hiện mục đích tác chiến; một nguyên tắc của nghệ thuật QS. TTLL được vận dụng trong tiến công để hình thành tập đoàn lực lượng, tạo ưu thế quyết định so với địch, trong phòng ngự để hình thành tập đoàn lực lượng trên hướng phòng ngự chủ yếu, giữ vững khu vực then chốt. TTLL còn được thực hiện nhằm tăng cường sức mạnh cho các tập đoàn lực lượng chủ yếu trong quá trình tác chiến. Hiện tượng TTLL ra đời trong các cuộc chiến tranh vào thời cổ đại và phát triển cùng với sự phát triển của phương tiện đấu tranh vũ trang và phương thức tiến hành chiến tranh qua các thời đại. Trong CTTG-II. TTLL để tiến còng thường tạo được ưu thế hơn đối phương 3-5 lần trở lên. Trong thời đại sử dụng vũ khí hủy diệt lớn, TTLL vẫn còn nguyên giá trị, nhưng nội dung và phương pháp thực hiện có thay đổi. Theo quan điểm của các cường quốc hạt nhân. TTLLchủ yếu là tập trung sức mạnh của vũ khí hạt nhân, hỏa lực và đòn đột kích.

        TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG PHÒNG KHỔNG, sử dụng, triển khai, bố trí phần lớn lực lượng phòng không ở hướng (khu vực) chủ yếu, đánh trả đối phương, bảo vệ mục tiêu chủ yếu vào thời cơ quyết định để diệt địch và thực hiện mục đích tác chiến phòng không; một nguyên tấc tác chiến phòng không. Muốn TTLLPK có hiệu quả phải điều chỉnh lực lượng linh hoạt, cơ động nhanh chóng, bí mật, sử dụng hợp lí lực lượng dự bị.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 08:36:46 am »

     
        TÂY BAN NHA (Vương quốc Tây Ban Nha; Reíno de Espaiìa. A. Kingdom of Spain), quốc gia ở tây nam châu Âu, chiếm phần lớn bán đảo Pirênê, một số đảo ở Địa Trung Hải và Đại Tây Dương. Dt 505.992km2; ds 40,217 triệu người (2003); 75% người Tây Ban Nha, còn lại người Catali. Galixi, Baxcơ. Có gần 3 triệu người TBN sống ở nước ngoài. Ngôn ngữ chính thức: tiếng TBN. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Mađrit. Chính thể quân chủ đại nghị, đứng đầu nhà nước là quốc vương, tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên và núi. ở giữa là cao nguyên Mêxêta cao 600-1.000m. Ở phía bắc và đông bắc là các dãy núi Pirênè, Catabrian, lbêri. Phía nam là dãy Anđaluxia có đỉnh Mulaxen cao 3.478m (cao nhất TBN) và dãy Xiêra Môrêna. Các sông chính: Tagu 1.007km, Êbrô 910km, Đuêrô, Goadiana, Goađankivi. Nước công - nông nghiệp phát triển trung bình. Các ngành công nghiệp phát triển nhất: khai thác mỏ, chế tạo máy (đặc biệt là ô tô và đóng tàu), gia công kim loại, hóa chất, thực phẩm, hóa dầu, dệt may mặc, da giày. Công nghiệp QS sản xuất các loại trang bị cơ bản, tàu vận tải và tàu QS, đạn dược. Trữ lượng lớn than đá, quặng sắt, pherit, uran, chỉ, vàng, bạc. Tổng sản lượng công nghiệp đứng thứ 5 châu Âu. thứ 8 thế giới. Tư bản nước ngoài (Mĩ, Anh, Đức, Thụy Sĩ) nắm trên 50% các xí nghiệp chế tạo máy, luyện kim. 10% lực lượng lao động làm nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chính: lúa mì, lúa mạch, củ cải đường, cây ăn quả. Trồng nho làm rượu vang là nghề truyền thống. Chăn nuôi phát triển. Du lịch hàng năm có gần 50 triệu khách. GDP 581,82 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 14.150 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 23.5.1977. LLVT: lực lượng thường trực 177.950 người (lục quân 118.800, hải quân 26.950, không quân 22.750), lực lượng dự bị 328.500. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 682 xe tăng, 68 xe chiến đấu bộ binh, 317 xe thiết giáp trinh sát. 2.023 xe thiết giáp chở quân, 1.036 pháo mặt đất, 1.728 súng cối, 670 tên lửa chống tăng, 460 pháo phòng không, 380 tên lửa phòng không, 8 tàu ngầm, 1 tàu sân bay, 15 tàu frigat, 37 tàu tuần tiễu, 11 tàu quét mìn, 4 tàu đổ bộ, 27 tàu hộ tống và tàu phục vụ, 17 máy bay chiến đấu hải quân, 37 máy bay trực thăng hải quân, 198 máy bay chiến đấu không quân, tên lửa không đối đất, đất đối không, không đối không. Căn cứ QS: Côrunha, Xan Phecnanđô, Rôta, Catagêna, Panma để Maloocca. Ngân sách quốc phòng 7,1 tỉ USD (2002).



        TÂY KẾT, làng bên Sông Hổng, nay thuộc xã Tân Châu. h. Khoái Châu, t. Hưng Yên. Tháng 5 và 6.1285. trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II, quân và dân nhà Trần hai lần chặn đánh quân Nguyên - Mông tại đây (x. trận Táy Kết, 6.1285).

        TÂY NGUYÊN, cao nguyên miền tây Nam Trung Bộ. nằm ở ngã ba biên giới VN, Lào, Campuchia, gồm bốn tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Dt 55.568,9km2; ds 2.596.700; nhiều dân tộc: Kinh (60%), Giarai, Êđê, Bana, Xơđăng, Cơ Ho, Ra Giai, Mơ Nông, Mạ, Giẻ Triêng, Chu Ru, Bráu, Rơmăm. Bru, Chàm, Xtiêng, Hoa, Tày, Thái... Địa hình rừng núi và cao nguyên, gồm những miền núi cao, cao nguyên và thung lũng, rừng chiếm 80% diện tích tự nhiên (bằng 17% diện tích rừng và 42% sản lượng gồ cả nước). Nơi bắt nguồn của 28 sông thuộc ba hệ thống sông: sông Đồng Nai, sông Mê Công và Sông Ba. Có nhiều thác là những nguồn thủy điện lớn: Đa Nhim. Trị An, Yali, Liên Khương. Đrayanna. Nhiều hồ lớn: Hồ Lắc, Biển Hồ, Mê Linh... Có nhiều trục đường nối liền với các tỉnh duyên hải miền Trung với các thành phố Đà Nẵng, Nha Trang, tp Hồ Chí Minh. TN có tiềm năng kinh tế lớn, có vị trí chiến lược quan trọng. Trong lịch sử là căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa. Trong KCCP và KCCM là nơi diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), trận Buôn Ma Thuật (3.1975) mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam VN.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Tám, 2019, 08:43:36 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 10:26:35 am »


        TÂY NINH, tỉnh ở Đông Nam Bộ; bắc, tây và tây nam giáp Campuchia (đường biên giới 240km, cửa khẩu quốc tế: Mộc Bài. Xa Mát), đông giáp Bình Phước, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, nam giáp Long An. Dt 4.028,12km2; ds 1,01 triệu người (2003); 98.5% người Kinh, còn lại là người Chăm, Khơme... Nguyên là ti hành chính TN. 6.1872 đổi thành tỉnh. Tổ chức hành chính: 8 huyện, 1 thị xã; tinh lị: tx Tây Ninh. TN có vị trí kinh tế, QS quan trọng, cửa ngõ tây bắc của tp Hồ Chí Minh. Rừng tập trung ở phía bắc (chiếm 37% diện tích), núi Bà Đen 986m: phía nam bằng phẳng, có hai sông lớn chảy qua: Vàm cỏ Đông, sông Sài Gòn. Hồ lớn: Dầu Tiếng (dt 27.000 ha). Khí hậu nhiệt đới; nhiệt độ trung bình trong năm 28°C, lượng mưa 1.500-1.800mm/năm. Tỉnh nông nghiệp, có thế mạnh trổng các loại cây công nhiệp: cao su, điều, mía. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 605,3 nghìn tấn (lúa 576,4 nghìn tấn). Công nghiệp: chế biến cao su, sản xuất đường, vật liệu xây dựng. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.354 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 22A, 22B và các tình lộ; đường thủy: sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông. Trong KCCP và KCCM, có các căn cứ kháng chiến: Hảo Đước, Suối Đá, Bời Lời, Suối Mây, Đồng Rùm, Dương Minh Châu (căn cứ của Trung ương cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền)... Các cuộc khởi nghĩa Huỳnh Công Giảng, Khâm Tấn Tướng, Đặng Văn Tòng, Trương Quyền; các chiến thắng: Tua Hai (1960) mở đầu đồng khởi ỞTN và miền Đông Nam Bộ. 6.11.1978, LLVTND Tây Ninh được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.



        TÂY SƠN (Tây Sơn Nhất), ấp thuộc h. Phù Li, phủ Quy Nhơn, xứ Đàng Trong; căn cứ đầu tiên của khởi nghĩa Tây Sơn do anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo. Nay thuộc khu vực thị trấn An Khê và các xã Phú An, Song An, Cửu An. h. An Khê, t. Gia Lai. Hiện nay tên TS được đặt cho một huyện của t. Bình Định, nơi có ấp Kiên Thành (nay là làng Kiên Mĩ, xã Bình Thành), quê hương anh em họ Nguyễn (Tây Sơn), trung tâm căn cứ của cuộc khởi nghĩa khi phát triển xuống đồng bằng cuối 1771 đầu 1772.

        TÂY SƠN ĐÁNH CHIẾM GIA ĐỊNH (1776-83), các cuộc tiến công của nghĩa quân Tây Sơn nhằm đánh đổ tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh ở Gia Định (nay thuộc tp Hồ Chí Minh), trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Tận dụng thời cơ tạm hòa hoãn với quân Trịnh ở phía Bắc, nhân đà thắng lợi trận Phú Yên (8.1775), bộ chỉ huy quân Tây Sơn quyết định đánh Gia Định, nơi tập đoàn phong kiến Nguyễn đang tổ chức lực lượng chuẩn bị phản công. Diễn ra năm lần trong đó lần 3 (1778) Nguyễn Nhạc đánh không thành công, còn lại bốn lần tiến công (1776, 1777, 1782 và 1783), quân Tây Sơn đều nhanh chóng giành thắng lợi, chiếm thành Gia Định. Đặc biệt lần đánh thứ 2 (1777), Nguyễn Huệ giết được Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương cùng đại bộ phận quân Nguyễn (riêng Nguyễn Ánh trốn thoát). Sau mỗi lần tiến công thắng lợi, đại quân Tây Sơn lại rút về Quy Nhơn, chỉ để một bộ phận giữ Gia Định; trong khi đó, họ Nguyễn dựa vào quân Đông Sơn, được các thế lực phong kiến địa phương và giáo sĩ phương Tây giúp sức đã mau chóng phục hồi, chiếm lại. Vì vậy lần đánh thứ 5 (1783), sau khi tiêu diệt quân Nguyễn, Nguyền Huệ đã chú ý phòng giữ Gia Định, buộc Nguyễn Ánh cùng vài trăm tàn quân, phải đi cầu cứu quân Xiêm, nhưng đã bị quân Tây Sơn đánh bại trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19.1.1785).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 10:32:23 am »


        TÂY TIẾN, hoạt động chiến đấu của các đơn vị vũ trang chi viện cho quân và dân miền Tây thuộc Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (VN) và Thượng Lào, nhằm ngăn chặn âm mưu chiếm đóng trở lại của quân Pháp và các thế lực phản động trong thời kì đầu KCCP. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), tàn quân Pháp ở Bấc Bộ chạy sang Vân Nam (TQ), 11.1945 được các thế lực quân phiệt TQ giúp đỡ quay trở lại VN, chiếm một phần tỉnh Lai Châu, cùng với lực lượng ở Bắc Lào khống chế một vùng rộng lớn ở khu vực rừng núi giữa biên giới VN-Lào, nơi chính quyền và cơ sở CM của ta còn non yếu. Thực hiện quyết định của BCHTƯ ĐCS Đỏng Dương về thành lập Mặt trận Tây Bắc, cuối 1945 đầu 1946 nhiều đại đội Vệ quốc đoàn được điều lên Sơn La, kịp thời ngăn chặn địch ở Tuần Giáo, phối hợp với lực lượng CM Lào đánh địch ở Sầm Nưa,... tham gia vận động nhân dân, xây dựng và củng cố chính quyền CM. Đầu 1947 Pháp tăng thêm lực lượng, âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng ở Tây Bắc. Bộ tổng chỉ huy quyết định điểu động 6 tiểu đoàn của Hà Nội và các khu 2, 3, 4 lên miền Tây, triển khai hoạt động tác chiến ở Hòa Bình, Sơn La, tây Thanh Hóa, Thượng Lào... Hơn 1 năm chiến đấu, các đơn vị TT cùng LLVT và nhân dân địa phương từng bước ngăn chặn, đánh bại các cuộc tiến công của quân Pháp, tiêu diệt nhiều địch, góp phần giữ vững địa bàn, củng cố chính quyền và phát triển lực lượng CM (trên cơ sở các đơn vị TT, đã thành lập các trung đoàn bộ đội chủ lực 148 và 52), tạo điều kiện đẩy mạnh KCCP (xt Bộ đội Tây tiến).

        TÂY TRANG, cửa khẩu trên biên giới Việt - Lào. Thuộc địa phận xã Na Ư, h. Điện Biên, t. Điện Biên; tây nam Điện Biên Phủ 36km theo QL 279, qua đèo Tây Trang dài 19km (từ km 604 đến km 623), độ dốc trung bình 10%, quanh co, taluy cao, vực sâu, dễ bị sụt lở.

        TÂY XAHARA (Sahara al-Gharbiyah, A. Western Sahara) X. XARAUY

        TẨY UẾ CHIẾN TRƯỜNG, làm sạch và an toàn môi trường (chủ yếu là thu gom, chôn cất xác chết của người và động vật) trong khu vực sau chiến đấu nhằm không cho bệnh dịch phát sinh. TUCT được thực hiện theo lệnh của chỉ huy đơn vị, do lực lượng của các đơn vị cùng lực lượng quân y và dân y tiến hành.

        TẨY XẠ, loại bỏ các chất phóng xạ bám dính trên địa hình, vũ khí, trang bị kĩ thuật, lương thực, thực phẩm, nước và các đối tượng bị nhiễm khác để ngăn chặn tác hại đối với người; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn. Có TX sơ bộ và TX toàn bộ. TX sơ bộ được tiến hành trong hoặc ngoài khu nhiễm bằng lực lượng của đơn vị bị nhiễm, không để ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến đấu. TX toàn bộ được tiến hành khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc khi tạm dừng chiến đấu, bằng lực lượng chuyên môn của bộ đội hóa học và lực lượng của đơn vị bị nhiễm, tại đơn vị hoặc tại trạm tiêu tẩy.

        TBILIXI, tàu sân bay của LX (trước tên là Brêgiơnhep, từ 1990 mang tên Atmiran Cudơnhetxôp), hạ thủy 5.12.1985, đưa vào trang bị 21.1.1991. Lượng choán nước tiêu chuẩn 55.000t (chở đầy 67.500t). Kích thước lớn nhất: 304,5x70xl0,5m (đường băng 304,5x70m). Thiết bị động lực: 8 nồi hơi, 4 tuabin tổng công suất 147MW (200.000cv), 4 chân vịt, tốc độ 30 hải lí/h (56km/h). Quân số 1.700 (200 sĩ quan). Trang vị vũ khí: 12 máy bay SU-27B2; 12 máy bay MiG-29 (hoặc Su-25, hoặc Iak-38, -41); 15 máy bay trực thăng Ka-27, 3 Ka-29; 12 tên lửa hải đối hải SS-N-19 (tầm phóng 20-450km, tốc độ M 1,6, đầu đạn thường 750kg hoặc hạt nhân 500kt); 4 bệ X 6 rãnh phóng với 192 tên lửa phòng không SA-N-9 (tầm phóng 12km, tốc độ với M2, đầu đạn 15kg); 8 tổ hợp pháo -  tên lửa phòng không (gồm 1 pháo 2 nòng 30mm kết hợp 8 tên lửa phòng không SA-N-11 dẫn bằng lade, tầm phóng 8 km); 6 pháo X 6 nòng 30mm (tầm bắn 2km, tốc độ bắn 3.000 phát/phút); 2 giàn phóng bom chìm phản lực RBU-12.000 (tầm phóng 12.000m). T hiện thuộc hải quân Nga.

        TERCOM (vt từ A. Terrain Contour Matching - đối chiếu với biên dạng địa hình), hệ thống dẫn đường bay của tên lửa có cánh, dựa trên nguyên tắc so sánh, đối chiếu địa hình phía dưới tên lửa khi bay với bản đồ chuẩn đã ghi trong bộ nhớ của tên lửa. Bản đồ chuẩn được thành lập trên cơ sở số liệu trinh sát, chụp ảnh từ trên không (vệ tinh, máy bay...); địa hình phía dưới đường bay và khu vực mục tiêu được chia ô (gọi là ma trận), đặc điểm của các ma trận được số hóa và ghi vào bộ nhớ. Trước khi phóng, tên lửa được đặt chương trình để lần lượt bay qua các ma trận địa hình nhất định cho tới mục tiêu. Khi bay, các thiết bị đo của tên lửa xác định độ cao bay và đặc điểm đìa hình phía dưới và so sánh với thông tin chứa trong bộ nhớ để hiệu chỉnh đường bay. T thường dùng để dẫn tên lửa có cánh khi bay trong vùng hỏa lực phòng không của dối phương (thường độ cao bay 15-100m) và cho phép tránh sự phát hiện của rađa đối phương, giữ bí mật mục tiêu đánh phá và tăng độ chính xác trúng mục tiêu. T đã được úng dụng trong các tên lửa có cánh Tômahôc, AGM-86A, B...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 10:34:12 am »


        TÊLÊTĂNG (xe tăng điều khiển từ xa, xe tâng mini), xe chiến đấu chạy xích, cỡ nhỏ (khối lượng chiến đấu từ vài trăm kilôgam đến vài tấn), bọc giáp toàn bộ hoặc từng phần, điều khiển từ xa (đến 200-300m) bằng vô tuyến điện. Loại lớn khi hành quân thường do người trực tiếp điểu khiển, loại nhỏ được chuyên chở đến vị trí triển khai bằng các phương tiện vận tải. Chủ yếu dùng trong việc bố trí các bãi mìn nổ chậm hoặc đưa lượng nổ lớn đến phá hủy các công trình QS của đối phương. Được QĐ Nhật và Đức sử dụng trong CTTG-II, nhưng hiệu quả không lớn vì rất dễ bị các phương tiện hỏa lực đối phương tiêu diệt và không thực hiện được triệt để nhiệm vụ đặt ra.



        TÊN, phương tiện sát thương bắn từ cung, nỏ, cần phóng tên. Thông thường gồm ba phần: mũi T là bộ phận sát thương, thân (cán) và đuôi có tác dụng ổn định đường bay, tăng khả năng bắn trúng mục tiêu. Mũi T được làm từ những vật liệu cứng, bền chắc như đá, xương, kim loại...; thân và đuôi T thường làm bằng tre, gỗ. Những mũi T sớm nhất ở VN được phát hiện trong các di tích văn hóa thuộc giai đoạn dầu thời kì Hùng Vương, chủ yếu làm bằng đá. Mũi T đá được chế tác đơn chiếc, khá đa dạng về kích thước, dài từ 2,3cm đến 5,6cm, cá biệt đến 7cm, rộng l-3cm, dày 0,2-0,3cm. Đa số mũi T có dạng hình lá thon dài, dọc thân có đường sống nổi nhẹ ở một hoặc cả hai mặt, mặt cắt ngang thân có hình thoi dẹt, hình tam giác hay gần hình bầu dục dẹt. Đầu mũi T được mài nhọn, rìa cạnh hai bên thân T được mài sắc, có thêm đoạn chuôi ngắn để nối vào thân T. Giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, mũi T được làm chủ yếu bằng đổng thau, một số ít bằng xương. Mũi T đồng được chế tạo hàng loạt bằng công nghệ đúc, thường có ngạnh sắc để tăng hiệu quả sát thương. Nhiều mũi T đồng được phát hiện tại các di chỉ khảo cổ như Đổng Đậu, Gò Mun, Cổ Loa...



        TÊN LỬA, khi cụ bay không có người điều khiển (thường chỉ sử dụng một lần), chuyển động nhờ động cơ phàn lực (chủ yếu là loại động cơ tên lửa). Các bộ phận chính: thân, động cơ và chất đốt, hệ thống điều khiển, tải trọng có ích (đầu đạn, thiết bị nghiên cứu khoa học...). Thân của nhiều loại TL có gắn các mặt khí động để tạo lực nâng, lái và ổn định TL. Hệ thống điều khiển bảo đảm ổn định TL trên đường bay và dẫn TL tới đích. Quá trình điều khiển TL diễn ra trên toàn bộ (hoặc một phần) quỹ dạo bay nhờ hệ điều khiển cánh lái, luồng phụt hay kết hợp cả hai loại. Khối lượng phóng của TL từ vài kilôgam tới vài nghìn tấn. Theo công dụng, có: TL chiến đấu, TL huấn luyện, TL nghiên cứu khoa học, tên lửa vũ trụ: theo số tầng, có: TL một tầng, TL nhiều tầng (có động cơ sau khi hoạt động được tách bỏ khỏi TL); theo tính chất và hệ thống điểu khiển, có: TL không điều khiển, TL có điều khiển (từ xa, theo chương trình, tự dẫn. kết hợp); theo quy mô nhiệm vụ, có: tên lửa chiến lược, tên lửa chiến dịch - chiến thuật, tên lửa chiến thuật: theo loại đầu đạn, có: TL mang đầu đạn hạt nhân, TL mang đầu đạn thông thường...; theo tầm hoạt động, có: TL tầm gần, TL tầm trung, TL tầm xa, tên lửa vượt đại châu: theo đối tượng tác chiến, có: tên lửa phòng không, tên lửa chống tăng, tên lửa chống rađa, tên lửa chống tên lửa, TL chống ngầm (tên lửa - ngư lôi)...; theo đặc tính đường bay và đặc điểm cấu tạo, có: tên lửa đường đạn, tên lửa có cánh: theo nơi phóng và vị trí mục tiêu, có: TL đất đối đất. TL đất đối khống, tên lửa hàng không (tên lửa không đối đất, tên lửa không đối không. TL không đối hải), TL đất đối hải, TL hái đối không, TL hải đối hải... TL đơn giản xuất hiện đầu tiên ở TQ và Ấn Độ (tk 10-12), châu Âu (tk 13), Nga (tk 17), VN (tk 15, X. hỏa tiễn). TL hiện đại được nghiên cứu chế tạo từ những năm 20 của tk 20 ở LX. Đức, Mĩ... Trong CTTG-II đã xuất hiện TL có điều khiển (x. bom bay), sau đó TL được phát triển mạnh mẽ, trở thành loại vũ khí chủ yếu của nhiều nước (x. vũ khí tên lửa). Trong KCCM. VN đã sử dụng hiệu quả nhiều loại TL phòng không (SAM-2, A-72), hàng không (K-13...), chống tăng (B72) diệt nhiều máy bay, xe tăng, xe thiết giáp của đối phương.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 10:35:38 am »


        TÊN LỬA CHIẾN DỊCH - CHIÊN THUẬT, tên lửa có điều khiển mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân, dùng diệt mục tiêu của đối phương ở cự li từ vài chục kilômét tới 1.000krn để thực hiện nhiệm vụ chiến dịch. TLCD-CT thường là loại điều khiển tự lập theo quân tính hoặc tự dẫn, có thể phóng từ mặt đất (thường là loại tự hành), từ biển hay trên không. Khái niệm TLCD-CT chỉ dùng trong QĐ các nước thành viên hiệp ước Vacsava, còn trong QĐ các nước khác, TLCD-CT thuộc loại tên lửa chiến thuật.

        TÊN LỬA CHIẾN LƯỢC, tên lửa có điều khiển có tầm hoạt động trên 1.000krn mang đầu đạn hạt nhân công suất lớn (đơn hoặc nhiều khối) để thực hiện nhiệm vụ chiến lược. Theo tầm hoạt động, có: TLCL tầm trung (từ 1.000- 5.500km), TLCL vượt đại châu hay xuyên lục địa (trên 5.500km); theo đặc điểm khí động, có: TLCL đường đạn. TLCL có cánh: theo nơi phóng, có: TLCL phóng từ mặt đất (bệ phóng cố định hoặc cơ động), TLCL phóng từ tàu chiến (tàu ngầm hạt nhân, tàu mặt nước lớn), TLCL phóng từ trên không (máy bay chiến lược). TLCL có uy lực lớn, tầm hoạt động xa. độ tin cậy và độ chính xác trúng đích cao, tốc độ bay nhanh (10.000km trong 30-35 phút), khó bị tiêu diệt trên đường bay, có thể diệt các mục tiêu chiến lược quan trọng như trung tâm QS. công nghiệp, chính trị, hành chính nằm sâu trong hậu phương của đối phương hoặc bất kì nơi nào trên Trái Đất. TLCL có trong trang bị của QĐ Mĩ, Anh, Pháp, TQ và một số nước trong SNG.

        TÊN LỬA CHIẾN THUẬT, tên lửa dùng diệt mục tiêu của đối phương ở cự li gần để thực hiện nhiệm vụ chiến thuật. TLCT có tầm bắn đến vài chục kilômét, có thể phóng từ máy bay, máy bay trực thăng, tàu ngầm, tàu mặt nước hoặc thiết bị phóng cơ động trên mặt đất. TLCT có thể dùng để chế áp vô tuyến điện tử và rải mìn từ xa. TLCT có thể là không điều khiển hoặc có điều khiển (thường là loại tự dẫn), mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân không tách ra trong khi bay

        TÊN LỬA CHỐNG NGẦM nh TÊN LỬA - NGƯ LÔI

        TÊN LỬA CHỐNG RAĐA, tên lửa được dẫn tới nguồn bức xạ của đài rađa để diệt các đài này; một trong những phương tiện mạnh để thực hành tác chiến điện tử. Được phóng từ khí cụ bay hàng không, xe chiến đấu hoặc tàu chiến. TLCR được dẫn tới mục tiêu nhờ đầu tự dẫn rađa thụ động trên toàn bộ hoặc đoạn cuối của quỹ đạo (đoạn đầu và đoạn giữa dẫn bàng hộ thống quán tính). Các TLCR hiện đại như: Sơrai, Standơ, SRAM. HARM. Brađo (Mĩ), Macten (Pháp). Coocmôran (Đức), Sikilơ (Italia), ALARM (Anh), có các tính năng: khối lượng chung 168-1.000kg, khối lượng đầu đạn 60-200kg. động cơ nhiên liệu rắn, tốc độ bay 300- 5.000km/h, tầm phóng 10-300km. trang bị các đầu tự dẫn rađa thụ động hoặc kết hợp. TLCR Sơrai đã được Mĩ dùng rộng rãi trong chiến tranh xâm lược VN. TLCR cao tốc HARM AGM- 88A (trang bị 1983, nặng 360kg, tốc độ bay gấp bốn lần tốc độ âm thanh, đầu tự dẫn hai chế độ, có bộ nhớ toạ độ của đài rađa để dẫn tiếp khi rađa tắt máy) được Mĩ dùng lần đầu trong cuộc tập kích đường không vào Libi (1986) và dùng phổ biến trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991).



        TÊN LỬA CHỐNG TĂNG, tên lửa có điều khiển chuyên dùng để diệt xe tăng và mục tiêu bọc giáp khác. Gồm phần đầu đạn kiểu đạn lõm, động cơ phản lực nhiên liệu rắn, thiết bị điều khiển và ổn định đường bay... TLCT được phân loại: theo tính cơ động (mang vác, đặt trên xe kéo, tự hành, máy bay trực thẳng...); theo mức độ điều khiển (bằng tay, bán tự động, tự động); theo tốc độ bay (dưới âm. vượt âm); theo nguyên tắc điều khiển có: điều khiển bằng dãy (cáp điện, cáp quang), tự dẫn (vô tuyến, hồng ngoại, lade bán chủ động, ảnh hồng ngoại hoặc kết hợp hồng ngoại và vô tuyến điện). TLCT hiện đại như: TAO, Đragơn. Henphaiơ (Mĩ), Hot, Milan (Pháp và Đức) có tính năng: khỏi lượng 6,3-48kg, tốc độ bay 110-280m/s, tầm phóng 25- 7.000m, khả năng xuyên giáp 430-1.300mm (một số loại đã được dùng trong chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN và chiến tranh Vùng Vịnh). TLCT được chế tạo và đưa vào trang bị QĐ Mĩ và NATO từ cuối những năm 60 đầu những năm 70 của tk 20. TLCT B72 của LX đã được QĐND VN sử dụng có hiệu quả cao trong KCCM (Ah LLVTND Lục Vĩnh Tưởng trong chiến dịch Quảng Trị 1972 đã bắn 11 quả B72 diệt 11 xe tăng đối phương). Cg hỏa tiễn chống tăng hay đạn phản lực chống tăng có điều khiển.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 10:37:11 am »


        TÊN LỬA CHỐNG TÊN LỬA, tên lửa phòng không để chặn diệt các loại tên lửa (chiến lược, chiến dịch - chiến thuật, chiến thuật) và đầu đạn của chúng ngay trên đường bay. TLCTL có tốc độ bay rất nhanh (M10), có thể lắp đầu đạn kiểu mảnh - phá hoặc hạt nhân và được trang bị cho những tổ hợp hỏa lực phòng thủ chống tên lừa hoặc tổ hợp tên lửa phòng không đa năng (chống cả máy bay và tên lửa); gồm: tên lửa. thiết bị phóng, rađa phát hiện, chỉ thị, bám mục tiêu, thiết bị điều khiển, dẫn tên lửa... TLCTL hiện đại của Mĩ Xpactan và xprintơ có tính năng tương ứng là: khối lượng xuất phát 15.2t và 3,4t, tầm phóng nghiêng lớn nhất 640km và 40km, độ cao500km và 40km. TLCTL điển hình được Mĩ sử dụng rộng rãi trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991) là Patriot.

        TÊN LỬA CÓ CÁNH. tên lửa có điều khiển, có các bề mặt (cánh) tạo lực nâng khí động khi bay trong khí quyển. Những bộ phận chính: vỏ lượn (gồm thân, cánh, đuôi), động cơ xuất phát (thường dùng động cơ tên lửa) và động cơ hành trình (thường là động cơ phản lực - không khí), hệ thống điều khiển (từ xa, tự lập. tự dẫn, TERCOM và kết hợp), phần chiến đấu (đầu đạn thường hoặc hạt nhân, thiết bị trinh sát. gây nhiễu...). TLCC có thể là tên lửa phong không, chống tăng, chống tàu... TLCC có thể phóng từ mặt đất, tàu mặt nước, tàu ngầm, máy bay. TLCC chiến lược có khối lượng xuất phát trên một tấn, tầm hoạt động 1.000- 3.000km, tốc độ bay 800-900km/h. mang đầu đạn hạt nhân công suất dưới 200kt. TLCC chiến thuật có tầm hoạt động dưới l.000km. mang đầu đạn thường (dưới 500kg). TLCC có độ chính xác cao, kích thước nhỏ, bể mặt phản xạ hiệu dụng bé. có thể bay lượn theo địa hình ở độ cao rất thấp (dưới 30m), khó phát hiện và chống trả. TLCC đầu tiên trên thế giới là V1 của Đức xuất hiện 1944. Từ cuối những năm 70 tk 20 tới nay xuất hiện nhiều TLCC hiện đại như Tômahôc BGM- 109, AGM-86B,... và nhiều loại đã được dùng trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991), Nam Tư (1999), Apganixtan (2001), Irăc (2003).

        TÊN LỬA CÓ ĐIỂU KHIỂN, tên lửa được trang bị hệ thống điều khiển (gồm bộ cảm biến, thiết bị tính toán, cơ cấu chấp hành) để thay đổi tham số chuyển động trên toàn bộ hoặc từng phần quỹ đạo nhằm ổn định và dẫn tên lửa tới mục tiêu. TLCĐK có độ chính xác và hiệu quả chiến đấu cao. Theo hệ thống điều khiển, có: điều khiển theo chương trình hay tự lập (dẫn đường quán tính), dẫn đường thiên văn, dẫn đường theo từ trường Trái Đất...), điều khiển từ xa (bằng dây dẫn, cánh sóng hẹp. lệnh vô tuyến hoặc tia), tự dẫn (chủ động, bán chủ động, thụ động bằng rađa, vô tuyến truyền hình, hồng ngoại, lade...), kết hợp (đoạn đầu và giữa quỹ đạo điều khiển theo chương trình hoặc từ xa, đoạn cuối tự dẫn); TLCĐK đầu tiên là V-1 do Đức chế tạo và sử dụng cuối CTTG-II. Hiện nay phần lớn các loại tên lửa đều là TLCĐK.

        TÊN LỬA CRƯIDƠ X. TÊN LỬA CÓ CÁNH

        TÊN LỬA ĐẠN ĐẠO nh TÊN LỬA ĐƯỜNG ĐẠN

        TÊN LỬA ĐẤT ĐỐI ĐẤT, tên lửa mà toàn bộ hệ thống và trang thiết bị được đặt trên mặt đất, dùng để đánh phá các mục tiêu mặt đất của đối phương. TLĐĐĐ có thể bố trí cố định hoặc trên các phương tiện cơ động, mang đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường. Khả năng chiến đấu của TLĐĐĐ được xác định bằng tầm bay của tên lửa, độ chính xác, công suất đầu đạn, thời gian chuẩn bị phóng, khả năng cơ động và độ tin cậy tiêu diệt mục tiêu (xt tên lửa chiến lược và tên lửa đường đạn).

        TÊN LỬA ĐẨY, tên lửa đường đạn nhiều tầng có điều khiển để đưa các khí cụ bay vũ trụ (vệ tinh nhân tạo Trái Đất, tàu vũ trụ, trạm quỹ dạo...) vào khoảng không vũ trụ. TLĐ tạo cho các khí cụ bay tốc độ lớn hơn hoặc bằng tốc độ vũ trụ cấp 1 hoặc 2. TLĐ hiện đại có khối lượng phóng tới 3.000t (90% là nhiên liệu), thường có 2-4 tầng, các tầng được thiết kế nối tiếp hoặc song song (kiểu bó). Khối lượng khí cụ bay được TLĐ đưa lên quỹ đạo quanh Trái Đất lên tới 140t. Ngày 4.10.1957, TLĐ 2 tầng “Sputnic” của LX lần đầu tiên trong lịch sử đã đưa 1 vệ tinh nhân tạo Trái Đất vào vũ trụ, mở ra kỉ nguyên loài người chinh phục vũ trụ. Các loại TLĐ: Vôxtôc, Prôton, Soiuz (LX). Ađgiena, Atlat, Đenta, Satơn (Mĩ), Trường Chinh (TQ), Arian (các nước châu Âu)...

        TÊN LỬA ĐỐI HẢI. tên lửa dùng để tiêu diệt mục tiêu trên biển, được phóng từ tàu ngầm, tàu nổi, máy bay và bờ biên (đất liền). Hệ thống điều khiển đặt trên hạm tàu. khí cụ bay hoặc trên đất liền, bảo đảm điều khiển đoạn bay đầu và đoạn bay hành trình. Đầu tự dẫn sẽ tự điều khiển ở giai đoạn cuối cho tới mục tiêu. TLĐH có thể mang đầu đạn hạt nhân, tầm phóng tới 450km. Được phát triển mạnh sau CTTG-II và sử dụng rộng rãi trong các cuộc xung đột vũ trang. Một số TLĐH điển hình: Êdôxét (Pháp), Hacpun và BGM-109B (Mĩ), Styx (LX), Gabvrien (Ixraen)...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 10:38:38 am »


        TÊN LỬA ĐƯỜNG ĐẠN, tên lửa có đường bay gồm đoạn tích cực (không lớn lắm) và đoạn thụ động theo dạng quỹ đạo của vật thể bay theo quân tính. TLĐĐ không có cánh để tạo lực nâng khí động học nên thường phóng thẳng đứng lên cao (hàng chục hoặc hàng trăm kilômét) nhờ lực đẩy của động cơ, sau đó tạo góc nghiêng và bay theo quân tính đến mục tiêu như một đầu đạn thông thường. TLĐĐ có thể gồm một tầng hoặc nhiều tầng, có hoặc không điểu khiển. TLĐĐ được phân loại theo công dụng (chiến đấu, khí Tượng, nghiên cứu vũ trụ...); theo quy mô sử dụng (chiến lược, chiến dịch - chiến thuật, chiến thuật); theo nơi phóng (hầm hoặc giếng phóng, bệ phóng cơ động, tàu mặt nước, tàu ngầm); theo loại đầu đạn (thông thường, hóa học, hạt nhân đơn khối hoặc nhiều khối...); theo tầm phóng (gần - dưới l.000km, trung - 1.000-5.500km, xuyên lục địa - trên 5.500km). Tầm phóng của các TLĐĐ xuyên lục địa của Mĩ Traiđơn-1, MX, Minitmen-3 là 7.400. 11.000 và 13.000km. TLĐĐ đầu tiên là V-2 do Đức chế tạo và sử dụng cuối CTTG-II. Trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991) Irắc đã dùng TLĐĐ Scut phóng sang Ixraen và Arập Xêut. Cg tên lửa đạn đạo.

        TÊN LỬA HÀNG KHÔNG, tên lửa được phóng từ khí cụ bay để diệt mục tiêu trên không và trên mặt đất (mặt nước). Theo phương pháp điều khiển, có: TLHK không điểu khiển (thường dùng diệt mục tiêu mặt đất, mặt nước), TLHK có điều khiển (theo phương pháp tự dẫn, tự lập, từ xa, kết hợp); theo vị trí mục tiêu, có: TLHK không đối không, TLHK không đối đất (mặt nước); theo quy mô, có: chiến lược, chiến dịch - chiến thuật, chiến thuật. TLHK chiến lược được dùng trên máy bay ném bom chiến lược tầm xa hoặc máy bay mang tên lửa để diệt mục tiêu trong hậu phương của đối phương. Khối lượng từ một đến vài tấn, mang đầu đạn hạt nhân, tầm phóng từ 1.000km trở lên, có hệ thống điều khiển tự lập hoặc kết hợp (tự dẫn với tự lập). Điển hình là TLHK AGM-86B của Mĩ (khối lượng 1.360kg, mang đầu đạn hạt nhân 150-200kt, tầm phóng 2.600km). TLHK chiến dịch -  chiến thuật được dùng trên máy bay ném bom chiến lược, máy bay ném bom chiến thuật và máy bay mang tên lửa để diệt mục tiêu trong chiều sâu chiến dịch (khi cần cũng dùng diệt mục tiêu quan trọng trong phạm vi chiến thuật). Khối lượng từ vài trăm kilôgam tới vài tấn. có thể mang đầu đạn hạt nhân, tầm phóng 100-1.000km. Điển hình là TLHK SRAM AGM-69A của Mĩ (khối lượng 1.000kg, mang đầu đạn hạt nhân 3-200kt. hệ dẫn tự lập quân tính, tầm phóng 300km). TLHK chiến thuật được dùng trên máy bay cường kích, tiêm kích - bom, máy bay trực thăng, máy bay ném bom chiến thuật đẽ diệt mục tiêu trong chiểu sâu chiến thuật. Khối lượng từ vài chục tới vài trâm kilôgam, mang đầu đạn thông thường, tầm phóng dưới 100km. Vd: TLHK Mayerich AGM-65 (khối lượng 210kg, mang đầu đạn lõm 60kg, tự dẫn bằng vô tuyến truyền hình, lade bán chủ động hoặc hồng ngoại, tầm phóng 30km). TLHK đối không dùng diệt mục tiêu trên không. Khối lượng từ vài chục tới vài trăm kilôgam, thường là loại tự dẫn (rađa, hồng ngoại, lade...), cự li phóng từ vài trăm mét đến vài trăm kilômét. Điển hình là TLHK Xaiuynđơ AIM-9, Xperâu-3 AIM-7. Phinnich AIM-54A (Mĩ), Xiupơ Macta R.530, Magich-2 (Pháp)... Trong KCCM, không quân VN đã sử dụng các TLHK: K-13, K 5, C 24...



        TÊN LỬA HÀNH TRÌNH X. TÊN LỬA CÓ CÁNH

        TÊN LỬA KHÔNG ĐỐl ĐẤT X. TÊN LỬA HÀNG KHÔNG

        TÊN LỬA KHÔNG ĐỐi KHÔNG X. TÊN LỬA HÀNG KHÔNG

        TÊN LỬA KHÔNG QUÂN nh TÊN LỬA HÀNG KHÔNG
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2019, 10:40:09 am »


        TÊN LỬA MỐI BẪY, tên lửa dùng làm mục tiêu giả, sử dụng động cơ tuabin phản lực, mang các máy phát nhiễu, được điều khiển bằng vô tuyến hoặc bay theo chương trình đặt trước. TLMB tạo ra tín hiệu cường độ lớn hoặc dải nhiễu rộng trên màn hiện sóng rađa đối phương. Khi tác chiến, máy bay mang sẽ phóng TLMB bay lên trước với các tham số (tốc độ, độ cao...) như mục tiêu thật để tạo giả tín hiệu của máy bay tán công và gây nhiễu làm rối loạn hệ thống phòng không, tiêu hao đạn của đối phương và tạo điều kiện cho tên lửa chống rađa hoạt động. TLMB thường được trang bị cho các loại máy bay ném bom và cường kích. Vd: ADM-20 Quail (trang bị cho B-52), ADM-141 TALD (cho không quân chiến thuật)... Trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991 không quân Mĩ đã sử dụng TLMB loại ADM-141 với số lượng lớn. gây khó khăn cho lực lượng phòng không Irắc.

        TÊN LỬA-NGƯ LÔI, vũ khí chống ngầm gồm tên lửa một tầng, nhiên liệu rắn, để đưa phần chiến đấu là một ngư lôi tụ dẫn hoặc bom chìm hạt nhân tới khu vực mục tiêu. Khi bay trong không khí TL-NL chuyển động theo quỹ đạo đường đạn hoặc được hệ thống dẫn điều khiển. Ở điểm đã tính toán, ngư lôi được tách khỏi tên lửa và hạ xuống bằng dù hãm. Sau khi tách dù ở thời điểm tiếp nước và chìm xuống đến độ sâu nhất định, ngư lôi tiến hành cơ động tìm kiếm mục tiêu theo chương trình định trước. Khi phát hiện được mục tiêu, ngư lôi tự dẫn tới để diệt. TL-NL được phóng từ thiết bị phóng của tàu mật nước hoặc tàu ngầm.

        TÊN LỬA PHÁ RÀO, chuỗi lượng nổ dài liên kết bằng dây mềm, được động cơ tên lửa kéo vắt qua bãi vật cản (hàng rào, bãi mìn) của đối phương để mở cửa qua vật cản. Các TLPR của VN đã sử dụng trong KCCM: FR-A (dùng động cơ ĐKB. mở được cửa mở rộng 4-5m, sâu l00m qua hàng rào thép gai); FR-B (dùng động cơ K-13, mờ cửa rộng 4-6m, sâu 100m qua hàng rào thép gai, hoặc rộng 2-3m qua bãi mìn chống xe cơ giới). QĐ TQ có TLPR qua hàng rào thép gai kiểu 73 hoặc 74 (mở cửa rộng 3-6m, sâu 90-105m) và TLPR cỡ nhỏ kiểu balô (mở cửa rộng 2-3m, sâu 30-40m). Cg bộ phá rào.

        TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, tên lửa có điều khiển để diệt mục tiêu trên không; bộ phận của tổ hợp tên lửa phòng không. TLPK được phân loại: theo cự li tà, có: xa (trên 200km), trung (50-200km), gần (10-50km), rất gần (dưới 10km); theo phương pháp điều khiển, có: từ xa, tự dẫn, hỗn hợp...; theo độ cao diệt mục tiêu, có: rất thấp, thấp, trung, cao, rất cao; theo vị trí dặt, có: đất đối không, hải đối không; theo mức độ cơ động, có: cố định, tự hành, xe kéo, mang vác (x. tên lửa phòng không vác vai) và theo các dấu hiệu khác. TLPK hiện đại có khả năng diệt mục tiêu ờ cự li tà 0,5-700km, độ cao 15- 40.000m. có khối lượng phóng 8-15.200kg, tốc độ bay 270- 1.700m/s. TLPK xuất hiện cuối CTTG-II, từ 1950 có trong trang bị của QĐ LX, Mĩ... Trong chiến tranh VN, Mĩ đã đưa TLPK Hôc vào miền Nam VN. LLVT VN đã dùng các TLPK SAM-2,A-72 bắn rơi nhiều máy bay Mĩ.



        TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG VÁC VAI. tên lửa phòng không loại nhỏ do một (hoặc hai) người mang vác, dùng diệt mục tiêu trên không bay ở độ cao thấp và rất thấp. TLPKVV  thường là tên lửa tự dẫn hồng ngoại thụ động, động cơ nhiên liệu rắn một (hoặc hai) tầng, dài 1,2-1,8m, đường kính thân 70- 100mm. nặng 9-17kg, diệt mục tiêu ở cự li tà 0,5-6km, độ cao 0,03-3,5km, đầu đạn kiểu nổ mảnh, khối lượng 0,37-3kg. TLPKVV được đặt trong ống (vừa là hộp đựng để bảo quản, chuyên chở vừa làm ống phóng), có lắp kính ngắm quang học, nguồn điện, thiết bị phụ khác tạo thành tổ hợp TLPKVV. Các TLPKVV điển hình: Ret-ai, Xtingơ(Mĩ), Maưa Mistran (Pháp), A-72 tức SA-7 (LX), HN-, 5A (TQ)...



        TÊN LỬA TẨM GẨN, tên lứa có tầm phóng dưới 1.000km. Được trang bị cho các đơn vị lục quân, không quân và hải quân. Đầu đạn chứa lượng nổ thông thường hoặc hạt nhân không tách rời trong khi bay, dùng để tiêu diệt các mục tiêu trong chiều sâu chiến thuật đối phương, TLTG được phóng từ các bệ phóng cố định trên mặt đất, máy bay, tàu ngầm hoặc tàu nổi (xt tên lửa chiến thuật).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM