Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:43:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41102 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #90 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:42:40 pm »


        TIẾN CÔNG TRONG HÀNH TIẾN, phương pháp chuyển vào tiến công từ vị trí cách xa quân địch phòng ngự, bộ đội vận dộng từ phía sau lên, lần lượt triển khai thành đội hình trước chiến đấu và đội hình chiến đấu, không dừng lại trước tiền duyên phòng ngự địch để làm công tác chuẩn bị, thực hành công kích ngay. Được vận dụng khi phòng ngự của quân địch bị phá hoại và chế áp nặng bằng hỏa lực hoặc bằng vũ khí hạt nhân; khi đưa thê đội 2 (đội dự bị) vào tác chiến; khi đột phá các tuyến (trận địa) trung gian của quân địch; khi tiến công quân địch mới chuyển vào phòng ngự, trong điều kiện địa hình và mạng đường sá cho phép cơ động bộ đội được thuận lợi. Để tiến hành TCTHT, cần xác định các tuyến: điều chỉnh, triển khai, tuyến chuyển sang công kích... Khu vực xuất phát tiến công được chọn tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, nhưng thường ở ngoài tầm hỏa lực pháo binh của đối phương.

        TIẾN CÔNG TỪ VỊ TRÍ TRỰC TIẾP TIẾP XÚC, phương pháp chuyên vào tiến công từ vị trí phòng ngự trực tiếp với quân địch sau khi đã bố trí lại đội hình chiến đấu, hoặc bộ đội từ phía sau lên thay phiên và chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công trực tiếp với trận địa phòng ngự của địch.

        TIẾN CÔNG VÀO KHU VỰC ĐỊCH PHÒNG NGỰ, tiến công nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch trong và ngoài công sự (lấy diệt địch ngoài công sự là phổ biến); chiếm giữ khu vực mục tiêu khi cần thiết; tạo thế, thời cơ cho các hoạt động tiếp theo của cấp trên và địa phương. Đặc điểm phòng ngự của địch: lấy hành động phòng ngự, giữ vững địa hình có giá trị làm cơ sở, kết hợp với các hoạt động tiến công; phần lớn lực lượng triển khai giữ trận địa, một phần bố trí ở phía sau làm nhiệm vụ cơ động; trận địa vật cản xây dựng vững chắc; phòng ngự có chính diện, chiều sâu. Phương pháp TCVKVĐPN dựa vào thế trận của khu vực phòng thủ địa phương, bí mật cơ động, triển khai lực lượng hình thành thế trận trước khi tiến công; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu, tạo sức ép mạnh, buộc địch tăng viện, phản kích để tiêu diệt địch ngoài công sự ở khu vực đã dự kiến và chuẩn bị; tích cực chủ động tạo và nắm thời cơ, tập trung lực lượng tạo sức mạnh ưu thế, vận dụng cách đánh linh hóạt, tiến công kiên quyết, tiêu diệt từng bộ phận địch bằng một số trận liên kết chặt chẽ và kết hợp với đánh rộng khắp của LLVT địa phương; tích cực phòng chống vũ khí công nghệ cao và tác chiến điện tử của địch.

        “TIẾN QUÂN CA”, quốc ca của nước VN DCCH (nay là CHXHCN VN), do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác 1944. Đầu tiên được sử dụng làm bài ca chính thức của Trường quân chính kháng Nhật. 16.8.1945 theo đề nghị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào đã chọn “TQC” làm quốc ca. 9.11.1946 được Quốc hội khóa I nước VN DCCH chính thức phê chuẩn. Được ghi vào Hiến pháp nước VN DCCH 1946 và Hiến pháp nước CHXHCN VN 1992.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #91 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:44:40 pm »


        TIẾN VÀO CHIẾN ĐẤU, hoạt động tác chiến của lực lượng đánh địch ngoài công sự, lực lượng cơ động tiến công hoặc lực lượng dự bị vận động tiến lên, triển khai và tác chiến. Trong tiến công nhằm tăng cường cho lực lượng đột kích phát huy kết quả chiến đấu; thay thế lực lượng tiến công đã bị tổn thất hoặc đánh địch phản kích, ứng cứu, giải tỏa, đổ bộ đường không, tiêu diệt lực lượng địch bị bao vây. Trong phòng ngự nhằm tăng cường cho lực lượng phòng ngự đã bị tổn thất hoặc thay thế phòng ngự; phản kích; đánh địch đổ bộ đường không, vu hồi hoặc phòng ngự trong chiều sâu khi địch đã đột phá được phòng ngự. Cg bước vào chiến đấu.

        TIẾN VÀO CỬA ĐỘT PHÁ, hoạt động tác chiến tiến công của bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng, lợi dụng kết quả hỏa lực chuẩn bị, vượt qua tuyến xuất phát xung phong, vận động với tốc độ cao, kết hợp phát huy tối đa sức mạnh hỏa lực của các loại vũ khí nhanh chóng TVCĐP, thực hành công kích mãnh liệt, tiến công liên tục. Trong'quá trình vận động phải tổ chức hỏa lực tiêu diệt, chế áp các hỏa điểm, phương tiện chống tăng, xe tăng, xe bọc thép địch; lợi dụng địa hình cơ động hỏa khí (cối, ĐKZ, súng máy phòng không) bám sát bộ binh, xe tăng, chi viện liên tục và kịp thời.

        TIẾP DẨU TRÊN KHÔNG, tiếp thêm nhiên liệu cho máy bay ở trên không từ một máy bay khác bàng thiết bị chuyên dùng. TDTK làm tăng thời gian, tầm hoạt động, tăng đáng kể tài trọng chiến đấu và giảm đáng kể số lần xuất kích.

        TIẾP NHẬN XĂNG DẦU, hoạt động thu nhận xăng dầu từ các phương tiện vận chuyển và các thiết bị chuyên dùng vào kho chứa theo các hợp đồng mua bán, giao nhận, vận chuyển và các phiếu, lệnh xuất, nhập của cấp có thẩm quyền. Khi TNXD phải đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, xác định rõ tỉ lệ hao hụt và đảm bảo an toàn bằng các phương pháp, biện pháp, quy định và các phương tiện, thiết bị chuyên dùng. Việc TNXD có thể thực hiện tại các kho xăng dấu cố định và kho xăng dầu dã chiến.

        TIẾP QUẢN, thu nhận và quản lí lãnh thổ và dân cư, cơ sở vật chất kĩ thuật và phương tiện KTQS, cơ sở kinh tế và văn hóa - xã hội khi đối phương rút chạy, đầu hàng hoặc giao lại trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên khi kết thúc chiến tranh. TQ được tiến hành chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn; các trung tàm QS. kinh tế, văn hóa... Phía TQ thường phải giải quyết nhiều vấn đề như: công bố chính sách TQ; thiết lập trật tự mới; trấn áp sự phản kháng của các lực lượng đối lập; xây dựng chính quyền địa phương (lúc đầu thường thực hiện chế độ quân quân); ban bố luật pháp và các quy định bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội (lúc đầu thường thực hiện lệnh giới nghiêm), duy trì các hoạt động về kinh tế, văn hóa phù hợp với chính sách TQ. Ở VN từ 7.1954, theo hiệp định đình chỉ chiến sự ở Đông Dương, Quân đội nhân dân Việt Nam đã TQ những vùng do quân Pháp chiếm đóng từ bắc vĩ tuyến 17; từ 30.4.1975 Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã TQ tp Sài Gòn - Gia Định và các địa phương ở miền Nam VN sau khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng không điều kiện.

        TIẾP TẾ QUÂN Y, mặt công tác nghiệp vụ của ngành quân y có nhiệm vụ tạo nguồn cung cấp và quản lí mọi vật tư quân y nhằm đảm bảo vật chất cho ngành quân y phục vụ QĐ. Nội dung TTQY gồm: tạo nguồn, tiếp nhận, tổ chức tiếp tế, kho, bào chế thuốc, đảm bảo kĩ thuật trang bị và kiểm soát, kiểm nghiệm thuốc.

        TIẾP TẾ TRÊN BIỂN, bổ sung các phương tiện vật chất cho tàu thuyền đang ở trên biển, được thực hiện tại các khu vực đã xác định. Có thể tiến hành khi đang hành trình, thả trôi hoặc neo đậu. Trong trường hợp khẩn cấp, TTTB có thể thực hiện bằng máy bay hoặc máy bay trực thăng, bằng cách thả hàng xuống biển để vớt lên hoặc chuyển hàng trực tiếp xuống boong tàu.

        TIỂT CHẾ (cổ), chức danh tổng chỉ huy QĐ hoặc chỉ huy một lực lượng QĐ trong chiến tranh dưới một số triều đại phong kiến VN. Được đặt ra dưới triều vua Trần Nhân Tông (1279-93) và phong cho Trần Quốc Tuấn khi ông thống lĩnh quân vương hầu và quân triều đình chống quân Nguyên -  Mông xâm lược. TC tiêu biểu cho quyền lực, không phải là chức vụ chính thức. Thời Hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông, những năm dưới niên hiệu Hồng Đức (1470-97), TC được phong cho tướng chỉ huy một đạo quân hoặc một lực lượng tham chiến. Vd: trong cuộc hành binh 1479, Sùng quận công Lê Thọ Vực được phong TC các doanh du kích, Trấn lỗ tướng quân Lê Đình Ngạn được phong TC các doanh hoành dã. Từ đời vua Lê Chiêu Tông (1516-22) về sau, TC dùng để phong cho người chỉ huy các doanh thủy bộ hoặc các dạo (lộ). Từ 1788 (năm cuối thời Hậu Lê) không còn chức danh này.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #92 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:46:12 pm »


        TIẾT ĐỘ SỨ (cổ), chức quan đặt ra từ triều Đường đến triều Nguyên (TQ). Thời kì năm 710-711 bắt đầu có tên gọi TĐS. Đầu đời Huyền Tông Thiên Bảo, có 9 TĐS dọc biên giới. Sau vụ loạn An - Sử ở nội địa nhiều nơi cũng đặt TĐS. Đến đầu Bắc Tông chính quyền trung ương thu hồi binh quyền, TĐS chỉ là hàm danh dự trao cho những người có công trong tôn thất, hoặc bổ nhiệm nhưng không có thực quyền. Đến thời Nguyên bãi bỏ. Nửa cuối tk 9 triều Đường đặt chức TĐS ở VN, đầu tiên là Chu Toàn Dục.

        TIÊU CHỈ ĐƯỜNG HÀNH QUÂN, dấu hiệu đặt trên đường hành quân ở nơi dễ thấy để thông báo về hướng, đường hành quân hoặc đặc điểm của đường hành quân. Theo cách chế tác, có TCĐHQ: chế sẵn, ứng dụng. Theo phương tiện giao thông, có TCĐHQ: đường bộ, đường sắt. đường thủy... Do người chỉ huy quy định thống nhất trong đơn vị và thường do bộ phận tiền trạm đặt. Cg lộ tiêu hành quân.

        TIÊU CHUẨN ĐỊNH LƯỢNG ĂN, định lượng lương thực, thực phẩm, chất đốt do Nhà nước và BQP quy định bảo đảm cho một quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng trong 1 ngày. Quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc các đối tượng khác nhau (quân chủng, binh chủng, ngành nghề chuyên mòn, điều kiện công tác...) có TCĐLĂ khác nhau, được xác định trên cơ sở mức độ tiêu hao năng lượng trong quá trình luyện tập, công tác, chiến đấu, phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế của đất nước và khả năng ngân sách quốc phòng, phong tục tập quân ăn uống và điều kiện địa lí, khí hậu của đất nước. TCĐLĂ dùng làm căn cứ tính toán xây dựng kế hoạch bảo đảm ăn cho bộ đội. Cg khẩu phần ăn.

        TIÊU CHUẨN KĨ THUẬT, tài liệu kĩ thuật dưới dạng văn bản, bảng, biểu bao gồm các dạng tiêu chuẩn, các quy định bắt buộc có liên quan đến thiết kế, chế tạo, sử dụng và sửa chữa sản phẩm KTQS. TCKT xác định các tham số chính, kích thước, tính chất hoặc đặc điểm sử dụng sản phẩm, chỉ số chất lượng, tính đồng bộ sản phẩm... Trong nghiệm thu và cung ứng có chỉ dẫn thứ tự và quy phạm kiểm tra thử nghiệm của nhà máy khi xuất sản phẩm để bàn giao và nghiệm thu sản phẩm của người đặt hàng. Trong kiểm tra (thử nghiệm, phân tích, đo đạc) có các quy định: phương pháp xác định các tham số, tính năng của sản phẩm so với tiêu chuẩn và yêu cầu đặt ra; quy tắc lựa chọn mẫu sản phẩm hoặc mẫu thử, thiết bị, dụng cụ, vật liệu và chất (thuốc) thử; phương pháp chuẩn bị và tiến hành thử nghiệm, phân tích và đo đạc; phương pháp xử lí kết quả. Trong quy tắc sử dụng, vận chuyển và bảo quản có các chỉ dẫn lắp ghép, hiệu chình và sử dụng sản phẩm; các quy định về bao gói và vận chuyển; vị trí, điều kiện và thời hạn bảo quản. Có TCKT cho một loại sản phẩm riêng biệt, cho một nhóm sản phẩm. Ở VN, TCKT được xác lập, phê chuẩn và đăng kí tại Tổng cục tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng nhà nước. TCKT có hiệu lực trong một thời hạn nhất định và được thay đổi khi trình độ sản xuất đạt tới một mức độ nhất định.

        TIÊU CHUẨN QUÂN TRANG, danh mục và số lượng quân trang quy định cụ thể cho quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng được hưởng trong một thời hạn nhất định. Có TCQT riêng cho sĩ quan, binh sĩ, TCQT chuyên dụng cho các đối tượng khác nhau. TCQT được xây dựng trên cơ sở yêu cầu xây dựng và tác chiến của QĐ, phù hợp với điểu kiện phát triển kinh tế của đất nước, khả năng ngân sách quốc phòng và điểu kiện địa lí, khí hậu đất nước. TCQT dùng để làm căn cứ tính toán xây dựng kế hoạch đảm bảo quân trang cho bộ đội.

        TIÊU ĐỘC, phân hủy chất độc thành chất không độc và gạt bỏ chất độc ra khỏi bể mặt các đối tượng và địa hình để ngăn chặn tác hại đối với người; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn. Được tiến hành bằng các khí tài, trang bị kĩ thuật với các chất tiêu độc, các dung môi hữu cơ và nước; bằng các phương pháp hóa học, cơ học, vật lí và hóa lí. Có TĐ sơ bộ và TĐ toàn bộ. TĐ sơ bộ là xử lí những chỗ lộ hở trên da, một phần bề mặt các đối tượng nơi thường phải tiếp xúc (vũ khí, tay cầm, núm vặn, chỗ ngồi...) bằng lực lượng tại chỗ và khí tài TĐ hiện có, không để ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến đấu. TĐ toàn bộ là xử lí tất cả bể mặt đối tượng bị nhiễm và xử lí vệ sinh cho người, được tiến hành ở các trạm tiêu tẩy ngoài khu nhiễm bằng lực lượng phân đội tiêu tẩy và đơn vị bị nhiễm, sau khi đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #93 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:47:14 pm »


        TIÊU HAO PHƯƠNG TIỆN VẬT CHẤT, hao tổn vô hình hoặc hữu hình và các tổn thất, mất mát về tài sản quân đội diễn ra trong quá trình khai thác, sử dụng cả thời bình và thời chiến do sự tác động của mọi nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời bình, THPTVC thể hiện trước hết trong quá trình tiêu dùng thường xuyên, bao gồm tiêu hao cho các hoạt động tác chiến và tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ lưỡng dụng khác trong hoạt động huấn luyện, diễn tập, nuôi quân, xây dựng cơ sở vật chất, bảo quản và khai thác vũ khí, trang bị.... của các LLVT; tiêu hao do tác động của môi trường tự nhiên, sự thất thoát do các nguyên nhân chủ quan, các hình thức khấu hao vô hình khác... THPTVC thời chiến bao gồm những tổn thất trực tiếp và gián tiếp do chiến tranh gây ra trên chiến trường và ở hậu phương. Mức độ tổn thất và THPTVC trong chiến tranh được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật. THPTVC trong chiến tranh là tiêu hao do khai thác, sử dụng vũ khí, đạn dược, trang bị kĩ thuật, các chi phí cho bảo đảm kĩ thuật, bảo đảm hậu cần và các thiệt hại, tổn thất do các hoạt động QS gây ra (những thiệt hại về các công trình, tài sản công cộng, thiệt hại của dân chúng về vật chất, tài sản, cơ sở, nhà cửa, phương tiện vận tải). Phần THPTVC gắn với nguồn ngân sách cấp được gọi là chi phí chiến tranh từ ngân sách. Tiêu hao gián tiếp bao gồm việc thanh toán hưu trí, tổn thất chi cho các gia đình nạn nhân, trả phần trãm (%) lãi suất vay tín dụng để mua hàng QS, chi phí cần thiết để phục hồi tiềm lực vật chất đã bị thất thoát... Dự báo về mức độ THPTVC trong chiến tranh, đặc biệt là trong thời kì đầu chiến tranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc chuẩn bị trong thời bình các đối sách chiến lược và trù tính cơ cấu “dự trữ nóng” và “dự trữ lạnh”.

        TIÊU TẨY chuyên môn, biện pháp khắc phục hậu quả của vũ khí hủy diệt lớn, gồm: tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng cho vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện vận tải, quân trang, quân dụng, khí tài, địa hình và xử lí vệ sinh cho người. TTCM do bộ đội hóa học làm nòng cốt với sự tham gia của các lực lượng khác và phụ thuộc vào loại nhiễm, mức độ nhiễm, các phương tiện tiêu tẩy hiện có và các điểu kiện khác. TTCM có thể tiến hành sơ bộ hay toàn bộ ngay tại đơn vị bị nhiễm hoặc tại trạm tiêu tẩy.

        TIÊU TẨY địa hình, tiêu độc, tẩy xạ và diệt trùng địa hình ở các trận địa (hỏa lực, phòng ngự, xuất phát tiến công...), các SCH, các đoạn đường, bến phà, trạm quân y, kho tàng.... để hạn chế tác hại cho bộ đội; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn, do phân đội tiêu tẩy tiến hành. Tùy theo đặc điểm và quy mỏ khu vực địa hình bị nhiễm, loại và mức độ nhiễm, phạm vi phải tiêu tây, thời gian cho phép và khả năng của phân đội mà chọn phương án tiêu tẩy thích hợp. Có thể tiến hành tiêu tẩy toàn bộ địa hình, hoặc chỉ những khu vực (đoạn) địa hình quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chiến đấu của bộ đội.

        TIÊU TẨY VŨ KHÍ, TRANG BỊ KĨ THUẬT, tiêu độc, tẩy xạ và diệt trùng cho vũ khí, trang bị kĩ thuật để hạn chê tác hại đến người sử dụng; bộ phận của tiêu tẩy chuyên môn. do các phân đội tiêu tẩy tiến hành. Có tiêu tẩy sơ bộ và tiêu tẩy toàn bộ. Tiêu tẩy sơ bộ nhằm xử lí những bộ phận thường phải tiếp xúc: tay cầm, cần gạt, cứa xe, núm vặn...; do lực lượng tại chỗ dùng khí tài tiêu tẩy hiện có tiến hành, không đề ảnh hường đến nhiệm vụ chiến đấu. Tiêu tẩy toàn bộ nhằm xử lí tất cả bể mặt đối tượng bị nhiễm, được tiến hành ở các trạm tiêu tẩy ngoài khu nhiễm bằng lực lượng phân đội tiêu tẩy và đơn vị bị nhiễm, sau khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc khi tạm dừng chiến đấu.

        TIÊU THỔ KHÁNG CHIẾN, hành động của phía kháng chiến tự triệt phá nhà cửa, ruộng vườn, hệ thống giao thông, công trình kiên cố, kho tàng, cơ sở sản xuất không di chuyên được... nhằm ngăn chặn bước tiến của địch, không cho địch lợi dụng khi chiếm đóng. Thường được áp dụng trong thời kì đầu chiến tranh. Ở VN trong những năm đầu KCCP, TTKC được thực hiện trên quy mô cả nước, nhất là ở các thành phô với sự tham gia rộng khắp của quần chúng nhân dân.

        TIÊU VĂN (Xiao Wen; 1890-?), phó tư lệnh quân Quốc dân đảng TQ vào Đông Dương (1945-46), thay mặt Đồng minh nhận sự đầu hàng và giải giáp quân Nhật ở miền Bắc VN và Lào (bắc vĩ tuyến 16). Người Quảng Đông (TQ); trung tướng (1943). Năm 1942 chủ nhiệm chính trị Chiến khu 4 đóng ở Quảng Tây (TQ), phụ trách nhóm tay sai người Việt lưu vong tại TQ. 3.1945 phái các nhóm “Phục quốc” (tổ chức tay sai người Việt do Quốc dân đảng TQ lập ra) về VN hoạt động tình báo và chuẩn bị cơ sở cho quân Tường vào VN. Trong thời gian ở VN, TV đòi cải tổ chính phủ VN DCCH, đòi đưa người của VN Quốc dân đảng giữ các chức thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng, bộ trường ngoại giao; cùng với Lư Hán thực hiện chủ trương “diệt cộng sản, bắt giữ Hồ Chí Minh”, “trước hết tiêu diệt Việt Minh, sau mới giải giáp quân Nhật”; gây các vụ khiêu khích, bắt cóc cán bộ VN, khủng bố, phá rối trật tự an ninh, giúp bọn tay sai người Việt xây dựng LLVT riêng, xuất bản báo chí phản động chống phá CM VN. Ở lại TQ khi quân Tưởng rút ra Đài Loan (1949).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #94 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:48:36 pm »


        TIỂU Á, bán đảo ở Tây Á, lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kì, bao xung quanh là các biển: Địa Trung Hải, Biển Đen, Êgiê, Macmara, ngăn cách với châu Âu bởi các eo biển Bôxpho, Đacđanen. Dt gần 400.000km2. Cao nguyên Tiểu Á chiếm gần hết diện tích. Ven theo bờ biển là các dải đất thấp và hẹp. ở TA có các căn cứ QS của Thổ Nhĩ Kì, Mĩ và các nước thuộc khối NATO.

        TIỂU ĐIỂN (cổ), lễ đăng kí hộ tịch để duyệt dân tuyển quân, tiến hành 3 năm một lần dưới thời Lê Sơ nhà Hậu Lê. Được đặt ra dưới triều vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 1 (1470) (xt đại điển).

        TIỂU ĐOÀN, phân đội chiến thuật lớn nhất, liền trên đại đội. Thường gồm 3-4 đại đội và một số trung đội trực thuộc, nằm trong biên chế trung đoàn, lữ đoàn, huyện đội hoặc được tổ chức độc lập trong các đơn vị từ cấp sư đoàn (và tương đương) trở lên để tác chiến và thực hiện nhiệm vụ khác. Có TĐ chiến đấu (TĐ bộ binh, TĐ pháo binh, TĐ xe tăng, TĐ đặc công, TĐ hải quân đánh bộ...), TĐ bảo đảm hoặc phục vụ (TĐ công binh, TĐ thông tin, TĐ hóa học, TĐ quân y, TĐ vận tải...). Trong QĐND VN, TĐ được quy định tổ chức lần đầu tiên theo sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946, biên chế chi tiết theo sắc lệnh 71-SL ngày 22.5.1946, là thành phần trong trung đoàn từ giữa 1946 (sau khi các chi đội được cải tổ, sáp nhập thành trung đoàn).

        TIỂU ĐOÀN 2, tiểu đoàn pháo binh tầm xa thuộc Đoàn pháo binh 75; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1969 và 1976). Tiền thân là Tiểu đoàn 21, Trung đoàn 204 BTL pháo binh, thành lập 1967, trang bị pháo 130mm. Tham gia chiến đấu bảo vệ vùng biển Quân khu 4 (1967-68), chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, đánh địch ở Dốc Miếu, Quán Ngang, Đông Hà, Cửa Việt (1968-69), tham gia chiến dịch Cánh Đồng Chum (Lào 1971). Năm 1973 hành quân 2.000km vào chiến trường Đông Nam Bộ an toàn. 1974-75 mang phiên hiệu Tiểu đoàn 2, thuộc Đoàn pháo binh 75, tham gia giải phóng tỉnh Phước Long, Lâm Đồng, Bình Long và chiến dịch Hồ Chí Minh (góp phần hạn chế hoạt động của không quân địch, chi viện bộ binh phá vỡ tuyến phòng thủ Xuân Lộc, khống chế làm tê liệt sân bay Biên Hòa, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ). 1967- 75 đã đánh 580 trận, tiêu diệt trên hai nghìn địch, bắn cháy, bắn chìm, làm trọng thương 40 tàu các loại, phá hủy 26 xe QS (có 20 xe tăng), 12 khẩu pháo các loại, 8 máy bay (2 C-130), 8 SCH các cấp, 3 trung tâm thông tin, 1 trận địa pháo, 30 lô cốt, 9 khu nhà, 23 kho xăng dầu. Huân chương: 3 Quân còng, 20 Chiến công, “Đơn vị Thành đồng quyết thắng 1968”.

        TIỂU ĐOÀN 4, tiểu đoàn thông tin vô tuyến điện tiếp sức thuộc Lữ đoàn 614, BTL binh chủng thông tin liên lạc; đơn vị AhLLVTND (9.1975). Thành lập 12.4.1962. Tiền thân là Đại đội vô tuyến điện tiếp sức 22, Trung đoàn thông tin 205, Cục thông tin liên lạc (thành lập 19.8.1959). TĐ4 gồm: 3 đại đội thông tin (12, 13 và 14) cùng bộ phận phục vụ. Trong KCCM, có nhiệm vụ bảo đảm thông tin đường trục vô tuyến điện tiếp sức, từ BQP (BTTM) đến một số đơn vị trên các chiến trường. Tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Tô Minh Nhật, Nguyễn Khước.

        TIỂU ĐOÀN 61, tiểu đoàn hỏa lực tên lửa phòng không tầm trung thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236 Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1967). Thành lập 7.1.1965. Trong KCCM, chiến đấu trên nhiều tỉnh, thành phố ở miền Bắc và t. Quảng Trị. Đánh 162 trận, bắn rơi 42 máy bay (có 3 B-52), gồm 9 kiểu, loại, 16 chiếc rơi tại chỗ. 11.8.1965 tại Xích Thổ (Ninh Bình) ra quân trận đầu bằng 3 quả đạn bắn rơi 3 máy bay (2 F-4, 1 A-4). Ngày 7.3.1966 tại Quỳnh Thắng (Quỳnh Lưu, Nghệ An), bằng 1 quả đạn bắn rơi 2 máy bay trinh sát RF-101. Ngày 4.2 và 30.4.1967 tại Vạn Điểm (Hà Nội) đánh 2 trận, bắn rơi 2 máy bay không người lái trinh sát tầng cao BQM-34. Ngày 27.12.1967 tại Lĩnh Nam bằng 1 quả đạn bắn rơi máy bay không người lái bay thấp 147J. Ngày 13.4.1972 tại Ái Sơn bắn rơi 1 B-52. Một cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (3 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba). Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đầu tiên: Hồ Sĩ Hưu, Vũ Ngọc Thụy.

        TIỂU ĐOÀN 172, tiểu đoàn tên lửa phòng không tầm thấp đầu tiên của Quân chủng phòng không - không quân thuộc Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 1.12.1971, thuộc biên chế: Trung đoàn tên lửa phòng không 237 Quân chủng phòng không - không quân (12.1971-2.1972); Trung đoàn 71, Sư đoàn phòng không 77 miền Đông Nam Bộ (1973- 2.1976); Sư đoàn phòng không 367 (2.1976); Sư đoàn phòng không 361 (từ 4.1990) và dược trang bị tên lửa A89. Trong KCCM, trang bị loại tên lửa A72, chiến đấu ở miền Tây và Đông Nam Bộ, đánh 408 trận, bắn rơi 153 máy bay (phần lớn rơi tại chỗ), gồm 20 kiểu, loại. Có cách đánh mưu trí, sáng tạo, đánh thắng nhiều thủ đoạn kĩ thuật, chiến thuật của máy bay Mĩ và QĐ Sài Gòn, đạt hiệu suất chiến đấu cao, chi viện hiệu quả cho bộ binh đánh địch. 11.5-15.5.1972 bắn rơi 10 máy bay; 9.9.1972 bằng một quả tên lửa A72, bắn rơi 2 máy bay UH-1A. 1973 đánh 68 trận, bắn rơi 24 máy bay. 27.1- 28.2.1974 đánh 24 trận, bắn rơi tại chỗ 18 máy bay. Chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) đánh 85 trận, bắn rơi 34 máy bay. 1 đại đội, 3 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhất. Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đầu tiên: Nguyễn Kiên, Vũ Thọ Nhì.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #95 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:49:50 pm »


        TIỂU ĐOÀN 306. tiểu đoàn bộ binh chủ lực thuộc Trung đoàn 3, Quân khu 9; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1972, 1976 và 1983). Thành lập 6.1961 trực thuộc quân khu, đến 4.1968 thuộc biên chế Trung đoàn 3. Trong KCCM chiến đấu trên địa bàn các tỉnh: Cà Mau, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, lập nhiều chiến công xuất sắc. Nổi bật là trận Vĩnh Hòa Hưng (t. Rạch Giá), trong một ngày diệt 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn. 1967-72 đánh gần 200 trận, diệt và đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn, 17 tiểu đoàn, 49 đại đội, bắn rơi 92 máy bay, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. 1972-75 diệt 5 tiểu đoàn, 28 đại đội. 1977-78 đánh địch ở biên giới Tây Nam. 1979-89 làm nhiệm vụ quốc tế giúp Campuchia, đánh sân bay Pôchentông, thu 33 máy bay. Tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Tư Hiền và Năm Tân.

        TIỂU ĐOÀN 307. tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Khu 8 (gồm các tỉnh nằm hai bên bờ Sông Tiền, Nam Bộ) trong KCCP. Thành lập 5.7.1948 tại vùng giải phóng Giồng Luông (Đại Điền, Thạnh Phú, t. Bến Tre) với tên gọi “Tiểu đoàn liên quân lưu động”, quân số khoảng 1.200 người. Trong năm đầu tiên đánh thắng 2 trận vang dội ở Mộc Hóa (t. Tân An) và La Bang (t. Trà Vinh), mỗi trận diệt 1 tiểu đoàn địch. Đặc biệt là trận diệt tiểu đoàn bộ binh Marốc tại Phong Phú, góp phần quyết định nhất vào thắng lợi của chiến dịch Cầu Kè (t. Vĩnh Long) cuối 1949. Tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Đỗ Huy Rừa, Hồng Long. Huân chương: 2 Quân công hạng ba. Có 1 Ah QĐ (Nguyễn Thành Út). Có ca khúc nổi tiếng “Tiểu đoàn 307”, lời thơ Nguyễn Bính, nhạc Nguyễn Hữu Trí.

        TIỂU ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI, tiểu đoàn chiến đấu được trang bị chủ yếu xe chiến đấu bộ binh (xe thiết giáp) và xe tăng; thường biên chế 3 đại đội bộ binh cơ giới (có khi gồm 2 đại đội bộ binh cơ giới, một đại đội tăng), kíp xe chiến đấu của tiểu đoàn trưởng và các phân đội thông tin, sửa chữa, vận tải, cấp dưỡng... TĐBBCG nằm trong biên chế của trung đoàn (lữ đoàn) bộ binh cơ giới (xe tăng), tỉnh đội (thành đội) hoặc được tổ chức độc lập trong quân khu, quân đoàn và sư đoàn bộ binh (hoặc tương đương). TĐBBCG chiến đấu trong đội hình cấp trên hoặc độc lập.

        TIỂU ĐOÀN CĂN CỨ SÂN BAY, tiểu đoàn thuộc biên chế của trung đoàn không quân, để bảo đảm hậu cần kĩ thuật không quân trong căn cứ và trên toàn mạng sân bay của trung đoàn. TĐCCSB hoạt động với nhiều chức năng khác nhau, được tổ chức thành đại đội: xăng dầu, công binh sân đường, xe máy đặc chủng, bom đạn, dù, cảnh vệ, doanh trại...; các phân đội bảo đảm đời sống. Nhiệm vụ TĐCCSB: bảo đảm chỉ huy, bảo đảm cơ sở vật chất, kĩ thuật cho trung đoàn không quân chiến đấu, huấn luyện và làm các nhiệm vụ khác. Tổ chức bố phòng bảo vệ sân bay, sửa chữa đường băng, kịp thời khắc phục các hậu quả do địch đánh phá, quản lí các loại vật tư kĩ thuật.

        TIỂU ĐOÀN CÔNG BINH, tiểu đoàn thuộc công binh chủ lực trong biên chế của trung đoàn, lữ đoàn công binh hoặc tổ chức độc lập ở binh đoàn binh chủng hợp thành và bộ chỉ huy QS tỉnh; thường gồm 3-4 đại đội và đơn vị trực thuộc. TĐCB thuộc trung đoàn, lữ đoàn công binh được chuyên môn hóa, có trang bị đặc thù để thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm công binh khác nhau. TĐCB độc lập thường tổ chức hỗn hợp gồm các đại đội, trung đội được chuyên môn hóa, có thể giải quyết các nhiệm vụ bảo đảm công binh cấp chiến thuật. Theo chức năng nhiệm vụ, có TĐCB: vượt sông, trận địa - SCH, công trình, cầu đường...

        TIỂU ĐOÀN HỎA LỰC TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, tiểu đoàn thuộc biên chế trung đoàn tên lửa phòng không gồm: đại đội kĩ thuật, đại đội bệ - đạn, trung đội rađa trinh sát - chỉ thị mục tiêu, trung đội thông tin, tiểu đội phục vụ. Được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không (đài điều khiển tên lửa, các thiết bị phóng, đạn tên lửa phòng không có điều khiển, khí tài chỉ huy và thông tin, trạm phát điện, các xe chở - nạp tên lửa , các xe chở và kéo khí tài, đài rađa trinh sát và chỉ thị mục tiêu và các thiết bị bổ trợ khác...). Có nhiệm vụ tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không của địch, bảo vệ các trung tâm chính trị, kinh tế, cụm LLVT và các mục tiêu quan trọng khác của quốc gia (diệt các mục tiêu mặt đất, mặt nước). Thực hiện nhiệm vụ trong đội hình cấp trên hoặc độc lập.

        TIỂU ĐOÀN HÓA HỌC, tiểu đoàn bảo đảm chiến đấu thuộc biên chế của trung đoàn hóa học hoặc được tổ chức độc lập trong quân khu, quân đoàn và Binh chủng hóa học; thường gồm; chỉ huy tiểu đoàn, 2-3 đại đội hóa học và bộ phận phục vụ. TĐHH tổ chức theo từng chuyên ngành: tiểu đoàn trinh sát, tiểu đoàn tiêu tẩy... hoặc TĐHH hỗn hợp gồm: đại đội trinh sát, đại đội tiêu tẩy... Có nhiệm vụ: bảo đảm hóa học trên các hướng tác chiến của Bộ hoặc các chiến dịch của quân khu, quân đoàn; khắc phục sự cố hóa chất độc, phóng xạ và làm nhiệm vụ khác. TĐHH đầu tiên của QĐND VN là TĐHH 6 (đổi tên là TĐHH 901, ngày 30.01.1962), thành lập theo quyết định số 214/BMG ngày 19.04.1958. Đơn vị Ah LLVTND (1985).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #96 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:51:12 pm »


        TIỂU ĐOÀN KĨ THUẬT TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, tiểu đoàn trong biên chế của trung đoàn tên lửa phòng không; thường gồm: chỉ huy, cơ quan tiểu đoàn, đại đội lắp ráp, đại đội kiểm tra, đại đội nạp nhiên liệu, khí nén, trung đội vận chuyển, tiểu đội thông tin, bộ phận hậu cần. Được trang bị khí tài; lắp ráp, kiểm tra kĩ thuật, nạp khí nén và nhiên liệu (loại tên lửa dùng nhiên liệu lỏng), xe chở - nạp, xe vận chuyển tên lửa; dây, xà, cáp, dụng cụ chuyên dụng... Có nhiệm vụ bảo đảm đạn tên lửa chiến đấu cho các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa phòng không.

        TIỂU ĐOÀN NGUYỄN VIẾT XUÂN, tiểu đoàn pháo phòng không thuộc Lữ đoàn pháo phòng không 283, Quân khu 4; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1967 và 1970). Thành lập 1.4.1953, tiền thân là Tiểu đoàn 396, Trung đoàn pháo phòng không 367; Tiểu đoàn pháo phòng không 14, Sự đoàn bộ binh 325 (11.1954-6.1966); trực thuộc Quân khu 4 (6.1966-1.1968 và 7.1969-5.1980); Sư đoàn phòng không 375 (1.1968-7.1969); Lữ đoàn pháo phòng không 283 (từ 5.1980); TĐNVX (1.1967). Trong KCCP, bắn rơi 9 máy bay, (chiến dịch Điện Biên Phủ bắn rơi 8 chiếc). Trong KCCM chiến đấu chủ yếu ở Quân khu 4, bắn rơi 121 máy bay. 18.11.1964 ở Cha Lo, Quảng Bình, đánh trả 3 đợt tiến công của 22 lần chiếc F-100, bắn rơi 3 chiếc; chính trị viên đại đội Nguyễn Viết Xuân bị thương nặng vẫn hô: “nhằm thẳng quân thù mà bắn”. 22.3.1965 tại Đèo Ngang hiệp đồng cùng bộ đội hải quân bắn rơi 3 máy bay. Từ 6-12.1966 ở Kì Anh (Hà Tĩnh) đánh 160 trận bắn rơi 12 máy bay, có 7 chiếc rơi tại chỗ. 23.11.1968 tại Đồi Cháy, nông trường Phú Quý bắn rơi tại chỗ 2 F-105. Lúc 13 giờ 17 phút 23.11.1968 trên đường 15, bắn rơi tại chỗ máy bay trinh sát RF-4C. Ngày 30.12.1972 tại Vinh (Nghệ An) hiệp đồng cùng quân dân địa phương bắn rơi 7 máy bay, có 5 chiếc rơi tại chỗ. 2 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công, Chiến công. Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đầu tiên: Phan Thái, Trịnh Đăng Khuê.

        TIỂU ĐOÀN PHÁO BINH, phân đội chiến thuật lớn nhất của pháo binh gồm 2 đến 4 đại đội pháo, các phân đội chỉ huy và phục vụ. Thuộc trung (lữ) đoàn pháo binh, sư đoàn bộ binh, quân đoàn và tỉnh đội (thành đội). TĐPB được trang bị một hoặc nhiều loại pháo. TĐPB chiến đấu trong đội hình cụm pháo binh hoặc trực thuộc người chỉ huy binh chủng hợp thành hoặc chiến đấu độc lập. TĐPB đầu tiên của QĐND VN là Tiểu đoàn 410 (gồm 5 đại đội pháo), thành lập 1.1.1948.

        TIỂU ĐOÀN PHÁO PHÒNG KHÔNG, tiểu đoàn thuộc biên chế sư đoàn phòng không, lữ đoàn pháo phòng không, vùng hải quân, lữ đoàn hải quân; gồm: chỉ huy, cơ quan tiểu đoàn, 3-4 đại đội pháo phòng không, phân đội bảo đảm và chuyên món. Được trang bị pháo phòng không cùng hoặc khác loại. Có nhiệm vụ: tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không của dịch ở độ cao thấp và trung bình, bảo vệ các mục tiêu kinh tế, chính trị, cụm LLVT... Có khả năng chiến đấu trong đội hình cấp trên hoặc độc lập. TĐPPK đầu tiên của QĐND VN mang tên Tiểu đoàn 387 thuộc Đại đoàn 308, thành lập 6.1951.

        TIỂU ĐOÀN PHỦ THÔNG, Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 308 (nay là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312), đơn vị lập chiến công xuất sắc trong trận tiến công Phú Thông (25.7.1948) mở màn chiến dịch Đường 3 (25.7-12.8.1948). Trong trận này, tiểu đoàn do tiểu đoàn trưởng Vũ Yên chỉ huy dùng lối đánh cường tập, diệt trên 100 quân Pháp, mờ đầu phong trào diệt cứ điểm địch trong QĐND VN, được BCHTƯ ĐCS VN biểu dương.

        TIỂU ĐOÀN QUÂN Y, phân đội chuyên môn quân y, thường tổ chức độc lập trong binh đoàn binh chủng hợp thành, binh đoàn phòng không, không quân hoặc vùng hải quân và một số bộ chỉ huy QS tỉnh. Tổ chức gồm các ban: nội, ngoại, dược, truyền nhiễm, phòng dịch, phân loại, hộ tống, xét nghiệm... Nhiệm vụ: tiến hành điều trị dự phòng, công tác vệ sinh phòng dịch, bồi dưỡng chuyên môn kĩ thuật cho cán bộ, nhân viên quân y; tham gia chỉ đạo kĩ thuật và tăng cường nhân lực, phương tiện cho quân y tuyến trước khi cần thiết; tổ chức cung cấp vật tư quân y và quản lí việc sử dụng , pha chế một số thuốc theo phân cấp; thống kê báo cáo tình hình thương binh, bệnh binh và các mặt hoạt động của tiểu đoàn; thời bình triển khai bệnh xá để điều trị theo chức năng bệnh xá loại 1 trên hệ thống bậc thang điều trị; trong chiến đấu, triển khai trạm quân y để cứu chữa cơ bản cho thương binh, bệnh binh, được quy định trên hệ thống bậc thang điều trị thời chiến. Từ 1955 gọi là TĐQY.

        TIỂU ĐOÀN TĂNG, tiểu đoàn chiến đấu được trang bị chủ yếu xe tăng; phân đội chiến thuật cơ bản của bộ đội tăng thiết giáp, thường biên chế 3 đại đội tăng, kíp xe tăng của tiểu đoàn trường và các phân đội thông tin, sửa chữa, vận tải, cấp dưỡng... TĐT thường nằm trong biên chế của trung đoàn (lữ đoàn) tăng, hoặc được tổ chức độc lập ở các quân khu, quân đoàn và một số tỉnh đội (thành đội). TĐT có thể chiến đấu trong đội hình cấp trên hoặc phối thuộc chiến đấu với các đơn vị bộ binh (bộ binh cơ giới) hoặc chiến đấu độc lập.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #97 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:52:50 pm »


        TIỂU ĐOÀN THÔNG TIN, tiểu đoàn thuộc biên chế trung đoàn thông tin (lữ đoàn thông tin) hoặc độc lập trực thuộc BTL binh chủng thông tin liên lạc, tổng cục, quân đoàn, sư đoàn (vùng hải quân), quân chủng, để bảo đảm liên lạc trong tác chiến và các nhiệm vụ khác. TĐTT gồm 3-4 đại đội thông tin, bộ phận phục vụ. Theo chức năng và nhiệm vụ, có: TĐTT hỗn hợp, TĐTT chuyên ngành vô tuyến điện, hữu tuyến điện, tiếp sức, quân bưu. TĐTT đầu tiên của QĐND VN là TĐTT 303, thành lập 15.2.1951.

        TIỂU ĐOÀN THÔNG TIN - RAĐA, tiểu đoàn thuộc biên chế của trung đoàn không quân; có nhiệm vụ bảo đảm thông tin, rađa cho hoạt động của trung đoàn 24/24 giờ trong ngày trên địa bàn và vùng trời quy định, truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh, tín hiệu, mục tiêu nhanh chóng, kịp thời, chính xác, phục vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện bay. TĐTT-R được tổ chức thành 3 đại đội. Đại đội 1 bảo đảm thông tin SCH và toàn căn cứ, thu tình báo trên các mạng tiêu đồ xa, tiêu đồ gần, trên mạng thông tin và bảo đảm thông tin thông suốt 24/24 giờ trong ngày. Đại đội 2 bảo đảm thông tin trên tuyến cất cánh, hạ cánh, dẫn máy bay cất cánh, hạ cánh, bảo đảm hệ thống đèn cất hạ cánh đêm. Đại đội 3, đại đội rađa, có nhiệm vụ cùng SCH theo dõi, quản lí chặt chẽ các máy bay đang hoạt động bằng các tín hiệu mục tiêu trên tiêu đồ gần, tham gia cảnh giới, dẫn đường cho không quân chiến đấu.

        TIỂU ĐỘI, đơn vị tổ chức nhỏ nhất của LLVT, thường gồm 6-12 người. Ở một số quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn, tương đương TĐ là tổ bay (máy bay...), kíp xe (tăng, thiết giáp...), khẩu đội (pháo, súng cối, súng máy hạng nặng...), TĐ thường nằm ương biên chế trung đội. Tùy thuộc tính chất và khối lượng nhiệm vụ, TĐ hoạt động trong đội hình trung đội hoặc đôc lập. Trong LLVTND VN, TĐ được quy định và hình thành từ 1941 (trong các đội tự vệ).

        TIỂU ĐỘI DU KÍCH HỒNG HÀ. tiểu đội du kích đặc biệt của Liên khu 1 (gồm phần lớn q. Hoàn Kiếm, Hà Nội hiện nay) thành lập 1.1947, gồm 16 người được chọn lọc trong lực lượng tự vệ và du kích khu Phúc Xá (ven Sông Hổng), do Nguyễn Ngọc Nại làm tiểu đội trưởng. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm giao thông liên lạc giữa Liên khu 1 với vùng tự do phía bắc Hà Nội, đưa đón cán bộ Trung ương ĐCS VN an toàn. Chiến công tiêu biểu nhất: bí mật đưa Trung đoàn Thủ Đô vượt Sông Hồng đêm 17 rạng 18.2.1947. Khi đại bộ phận lực lượng đã qua sông, quân Pháp phát hiện, tiến công, tiểu đội đã chiến đấu dũng cảm đến người cuối cùng tại Bãi Giữa, Phúc Xá để bảo vệ trung đoàn vượt sông an toàn.

        TIỂU ĐỘI MƯỜI CÔ GÁI NGÃ BA ĐỒNG LỘC nh TIỂU ĐỘI VÕ THỊ TẦN

        TIỂU ĐỘI VÕ THỊ TẦN, tiểu đội nữ thanh niên xung phong thuộc Đại đội 552, Tổng đội thanh niên xung phong chống Mĩ cứu nước, làm nhiệm vụ san lấp hố bom, sửa đường, bảo đảm thông xe tại Ngã Ba Đồng Lộc - một “trọng điểm lửa” trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở Bắc VN. Gồm 10 nữ thanh niên dưới 22 tuổi: Võ Thị Tần (tiểu đội trưởng), Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ. Hồ Thị Xanh, Trần Thị Rạng, Nguyễn Thị Xuân, Võ Thị Hà, Trần Thị Hường, Võ Thị Hợi, Dương Thị Xuân. Đã bám trụ kiên cường, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt. Sáng 24.7.1968, không quân Mĩ liên tục đánh phá (ném khoảng 600 quả bom xuống khu vực Ngã Ba Đồng Lộc, nhiều quả trúng mặt đường). Sau khi bị vùi trong trận bom thứ 12 của địch, cả tiểu đội vẫn giữ vững quyết tâm tiếp tục thực hiện nhiệm vụ và đã anh dũng hi sinh (cách ngã ba 200m về phía nam). TĐVTT nêu gương sáng về chủ nghĩa Ah CM, tiêu biểu cho ý chí của con người VN trước bom đạn Mĩ. Đơn vị Ah LLVTND (1972). Nghĩa trang 10 liệt sĩ được xây dựng trang nghiêm bên rừng thông dưới chân núi Trọ Voi, và hố bom nơi họ đã hi sinh (sát bên phải đường lên nghĩa trang) được bảo tồn làm di tích tội ác của không quân Mĩ.

        TIỂU HOÀNG NAM X. HOÀNG NAM

        TIỂU HÙNG, chòm sao ở gần cực Bắc của thiên cầu, nhỏ hơn chòm Đại Hùng, gồm 7 ngôi (kí hiệu theo chữ cái Hi Lạp từ anpha đến nuy) xếp thành hình gần giống cái gầu sòng có cán cong. Sao anpha ở đuôi cán nằm gần sát cực Bắc hiện nay của thiên cầu và được gọi là Sao Bắc Cực.

        TIỂU KHU, tổ chức QS địa phương cấp tỉnh của QĐ Sài Gòn, có nhiệm vụ bảo đảm an ninh (soạn thảo và thực hiện kế hoạch an ninh), tổ chức các cuộc hành quân của tỉnh, yểm trợ hoạt động bình định* và những nhiệm vụ khác (hoạt động tình báo; xây dựng lực lượng nhân dân tự vệ; yểm trợ các chi khu, quản lí nguồn động viên...) trên lãnh thổ thuộc quyền. Được tổ chức 1961; trực thuộc khu chiến thuật hoặc biệt khu (1961-7.1970), quân khu (vùng chiến thuật, trước 7.1970); có 44 TK, chia thành: 15 TK loại A (có dưới 5.000 quân), 23 TK loại B (5.000-10.000 quân), 6 TK loại C (trên 10.000 quân). TK thường do tỉnh trưởng (là sĩ quan cao cấp) làm TK trưởng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #98 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:54:12 pm »


        TIỂU KHU BIÊN PHÒNG, cấp trực thuộc chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh, trực tiếp chỉ huy một số đồn biên phòng trong phạm vi huyện, liên huyện. TKBP được tổ chức ở vùng biên giới, các đảo lớn, quần đảo, nơi giao thông liên lạc khó khăn hoặc ở những tỉnh có biên giới, bờ biển quá dài, có nhiều đồn biên phòng trong huyện, liên huyện, với chức năng là cơ quan đốc chiến của bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh. Biên chế, tổ chức do cấp trên quy định phù hợp tình hình vùng biên giới phụ trách. TKBP thường có chỉ huy trưởng, các phó chỉ huy trưởng và các trợ lí: tham mưu, trinh sát, chính trị, hậu cần.

        TIỂU KHU TRƯỞNG, chức vụ chỉ huy tiểu khu trong QĐ Sài Gòn. Thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của tư lệnh quân đoàn, quân khu (vùng chiến thuật, trước 1970). TKT thường do tỉnh trưởng (là sĩ quan cao cấp) kiêm nhiệm.

        TIẾU LIÊN, súng tự động cá nhân loại nhỏ, có thể bắn phát một hoặc liên thanh, dùng để diệt sinh lực ở cự li gần bằng đầu đạn, lưỡi lê và báng súng. Tự động theo nguyên lí trích khí hoặc sử dụng năng lượng lùi của khóa nòng khi nòng cố định. Cỡ nòng 5,45-9,00mm, khối lượng 2,5-4,5kg, tầm bắn (trên thước ngắm) đến 1.000m, tầm bắn hiệu quả đến 400m, hộp đạn chứa đến 30 viên (có loại đến 71 viên, như K-50): tốc độ bắn lí thuyết 600-800 phát/phút, tốc độ bắn chiến đấu 40 phát/phút (khi bắn phát một), 100 phát/phút (khi bắn liên thanh). TL xuất hiện đầu tiên ở Italia (1915). Các mẫu TL phố biến hiện nay là: 7,62mm AK và AKM, 5,45mm AK-74 (LX). 5,56mm AR-15 (Mĩ)...



        TIỂU LIÊN CỰC NHANH nh AR-15

        TIỄU PHỈ. tổng thể các hoạt động tiến công QS. kết hợp đấu tranh chính trị, kinh tế,... của LLVT và nhân dân nhằm buộc phải hàng phục hoặc làm tan rã lực lượng phỉ. Thường tiến hành thành đợt, có thể trên địa bàn rộng và thời gian kéo dài nhiều tháng... Để TP thắng lợi phải chú ý tiêu diệt hoặc bắt bọn đầu sỏ hàng phục, củng cố được chính quyền nhân dân trên địa bàn, tuyên truyền giác ngộ được dân, làm tan rã LLVT của chúng. Diễn ra nhiều ở Bắc VN và Thượng Lào trong thời gian 1950-70.

        TÌM DIỆT VÀ BÌNH ĐỊNH, chiến lược của Mĩ trên chiến trường miền Nam VN mùa khô 1966-67 nhằm tạo bước ngoặt tiến tới giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn. Nội dung: tập trung lực lượng quân Mĩ và QĐ Sài Gòn đánh vào miền Đỏng Nam Bộ để tìm diệt lực lượng chủ lực QGPMN VN và Trung ương cục miền Nam: đẩy mạnh bình định, mờ rộng vành đai an ninh Sài Gòn - Gia Định; kiềm chế các hướng Tây Nguyên, Trị - Thiên. Để thực hiện TDVBĐ. Oetmolen sử dụng 20 sư đoàn, 10 lữ đoàn, trung đoàn (có 7 sư đoàn, 4 lữ đoàn quân Mĩ) và số lượng lớn vũ khí, trang bị KTQS (cả B-52) để mở các cuộc hành quân tìm diệt quy mô lớn, dài ngày (có trận huy động hàng chục nghìn quân: hành quân Attơnborơ (14.9-25. II .1966) với 30.000, hành quân Gianxơn Xiti (22.2-15.4.1967) với 45.000, tiến công vào các căn cứ kháng chiến ở Tây Ninh (Attơnborơ, Gatxđen, Gianxơn Xiti), khu tam giác sắt (hành quân Xida Phôn, 8- 26.1.1967), Plây Girăng - Tây Nguyên (hành quân Pôn Rivơ IV, 23.10-6.12.1966), Bồng Sơn - Quảng Nam (Tayơ 2, Liên Kết 81); đồng thời sử dụng gần 80 tiểu đoàn chủ lực QĐ Sài Gòn, một số đơn vị quân Mĩ, quân chư hầu và hàng nghìn đội “phát triển sản xuất”, “tái thiết nông thôn”... chi hàng tỉ USD vào bình định. Kết quả QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn không thực hiện được mục tiêu tìm diệt, không xoay chuyển được tình thế, chết và bị thương hàng chục nghìn quân, hàng chục tiểu đoàn bị tiêu diệt; kế hoạch bình định bị phá sản; sau mùa khô 1966-67, chỉ còn kiểm soát 5.400/16.293 ấp ở miền Nam (trong khi MTDTGPMN VN giải phóng thêm 390 ấp xã, nâng tổng số lên 700 xã, 6.750 ấp được giải phóng). Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) đã cho thấy sự thất bại hoàn toàn của chiến lược TDVBĐ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #99 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:55:52 pm »


        TÌM TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ, quá trình lựa chọn trong một tập hợp tài liệu (thư viện, kho tin...) hay một mạng tin nào đó để tìm ra những tài liệu, thông tin phù hợp với yêu cầu của người dùng tin trong QĐ; khâu quan trọng trong quá trình hoạt động thông tin khoa học quân sự. TTKHQS gồm các bước: xác đinh yêu cầu tin; thể hiện yêu cầu tin bằng ngôn ngữ tư liệu, vạch ra cách thức tìm, thực hiện tìm, phân tích kết quả tìm. đánh giá tính phù hợp của thông tin, chuyển kết quả tìm cho người dùng. Theo dạng tin được bảo quản, có: tư liệu, dữ kiện; theo công cụ tìm, có: tìm tin trên các bộ phiếu thủ công (phiếu mục lục, phiếu thư mục, phiếu đục lỗ), trên máy tính điện tử; theo tính chất của tài liệu cần tìm, có: tìm tin hồi cố, tìm tin chọn lọc.

        TIMO, đảo lớn nhất của nhóm đảo Tiểu Xôngđơ, thuộc quần đảo Mã Lai. Dt 33.620km2; ds khoảng 1,2 triệu người; chủ yếu là người Malaixia, Papua và người TQ. Địa hình phần lớn là núi. cao tới 2.950m. thường có động đất. Khí hậu cận xích đạo gió mùa. Mùa khô kéo dài (từ tháng 5 đến tháng 11), lượng mưa trung bình 1.500mm/năm. Nhiệt độ trung bình ven biển 25°-27°C. Rừng nhiệt đới. Bị chia cắt thành hai phần: phần tây nam từ tk 18 là thuộc địa của Hà Lan, từ 1945 thuộc Inđônêxia. Phần phía đông là thuộc địa của Bồ Đào Nha từ 1586 đến 6.1974. nay là quốc gia độc lập Đông Timo.

        TIN HỌC, bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc và các tính chất chung của thông tin, các quy luật và phương pháp thu thập, lưu trữ, xử lí hợp lí, truyền và khai thác thông tin trong các lĩnh vực khác nhau. Gồm: phần TH lí thuyết (lí thuyết thuật toán và lập trình, lí thuyết ngôn ngữ, lí thuyết chương trình dịch, công nghệ phần mềm, cơ sở dữ liệu, phân tích dữ liệu, viễn tin, trí tuệ nhân tạo...) và phần TH ứng dụng (thiết kế hệ xử lí, hộ điều hành, hệ tự động hóa thiết kế, phân tích, đánh giá, quản lí...). Công cụ chính của TH ứng dụng là máy tính điện tử. TH ra đời vào đầu thập kỉ 60 của tk 20 nhưng phát triển rất nhanh, đã và đang được áp dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội. Trong QS, TH là cơ sở của hệ thống chỉ huy tự động hóa, được áp dụng vào công tác quản lí lực lượng, công nghệ sản xuất vũ khí mới...

        TIN TÌNH BÁO, tin tức về tình hình của đối phương (các mặt địa lí, QS, chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ...) do các nguồn tình báo và trinh sát thu thập, tổng hợp, phân tích để cung cấp theo yêu cầu của chỉ huy và lãnh đạo các cấp. Để có TTB có thể sử dụng các phương thức và lực lượng chủ yếu: điệp báo chiến lược (điệp báo chiến lược bất hợp pháp và điệp báo chiến lược dưới bình phong công khai); trinh sát vô tuyến điện và kĩ thuật vô tuyến điện; điệp báo và trinh sát của các quân chủng, binh chủng, quân khu, quân đoàn; trinh sát đặc nhiệm; quân báo nhân dân; cơ quan nghiên cứu chiến lược. Các cơ quan quân báo (trinh sát) các cấp phải tổ chức thu thập và nghiên cứu tin tình báo, để xử lí loại bỏ tình báo giả và kiểm tra xác minh TTB nghi ngờ. TTB phải chính xác, kịp thời, bí mật, đúng yêu cầu của chỉ huy và lãnh đạo.

        TIN TRINH SÁT. tin tức về địch, địa hình, thời tiết,... do trinh sát thu thập để cung cấp cho người chỉ huy chuẩn bị hạ quyết tâm tác chiến và để xử trí tình huống trong tác chiến. Có TTS: tin cậy, nghi ngờ, giả. TTS tin cậy là những tin được xấc nhận từ một hoặc nhiều nguồn tin đáng tin cậy, phù hợp với tình huống chiến đấu (các tài liệu, ảnh chụp, bản đồ, sơ đồ thu được khi đánh chiếm cơ quan chỉ huy của địch). TTS nghi ngờ là tin thu được từ một nguồn tin không đáng tin cậy hoặc từ nhiều nguồn tin có mâu thuẫn với nhau cần phải kiểm tra xác minh lại. TTS giả là tin do địch sử dụng để đánh lừa ta. TTS phải chính xác, kịp thời, đúng yêu cầu của người chỉ huy, không có các tin giả và tin nghi ngờ. Cơ quan tham mưu chịu trách nhiệm thu thập và xử lí TTS.

        TÍN HIỆU HÀNG HẢI QUỐC TẾ, tín hiệu để trao đổi thông tin giữa tàu thuyền một nước hoặc giữa các tàu thuyền cũng như trạm tín hiệu trên bờ của các nước. THHHQT được sử dụng khi có vấn đề an toàn hành trình hoặc cần có sự giúp đỡ cứu nạn cho người và phương tiện. THHHQT có thể trao đổi bằng cờ tay, đèn pha, đèn chớp, vô tuyến điện báo, vô tuyến điện thoại... Bảng THHHQT hiện nay được áp dụng từ 1969, gồm gần 2.000 tín hiệu, mỗi tín hiệu đều có ý nghĩa hoàn chỉnh và cụ thể.

        TÍN HIỆU SOS, tín hiệu mooc của ba chữ cái “S” “O” “S” (... _ ...) được quốc tế thừa nhận dùng khi tàu thuyền, máy bay bị tai nạn trên biển yêu cầu cấp cứu. THSOS được thu, phát bằng vô tuyến điện báo ở tần số quy định quốc tế là 500 kHz. Nhiều tàu (máy bay) được trang bị máy thu, phát tự động chuyên dùng cho mục đích này. Luật quốc tế nghiêm cấm dùng tín hiệu này vào mục đích khác.

        TÍN PHONG nh GIÓ MẬU DỊCH
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM