Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:57:18 pm » |
|
TÌNH BÁO, hoạt động điều tra, thu thập nghiên cứu, tổng hợp, xứ lí những tin tức, tư liệu bí mật về QS, chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ... của đối phương. Theo quy mô, có: TB chiến lược, TB chiến dịch, TB chiến thuật. TB kinh tế là một bộ phận của TB chiến lược và TB quốc phòng; TB khoa học- công nghệ là một bộ phận của TB kinh tế.
TÌNH BÁO CHIẾN DỊCH, bộ phận của tình báo quân sự do người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp chiến dịch tổ chức và chỉ đạo nhằm thu thập, nghiên cứu các tin tức và tư liệu về địch, về chiến trường (thực tế hoặc dự kiến) để bảo đảm cho việc chuẩn bị và thực hành chiến dịch. TBCD liên quan chặt chẽ với tình báo chiến lược và tình báo chiến thuật. Phạm vi hoạt động của TBCD phụ thuộc vào tính chất, quy mô nhiệm vụ chiến dịch, tình hình địch. Nhiệm vụ chủ yếu của TBCD: xác định vị trí bố trí và phiên hiệu đơn vị, âm mưu, thủ đoạn tác chiến, số lượng, chất lượng quân số, vũ khí trang bị, đặc điểm và trình độ chỉ huy, khả năng bảo đảm hậu cần, kĩ thuật của đối phương và tình hình địa hình, khí tượng - thủy văn. Để tiến hành TBCD có thể sử dụng phương thức điệp báo chiến dịch và các phương thức hoạt động tình báo QS khác.
TÌNH BÁO CHIẾN LƯỢC, bộ phận của tình báo quân sự, do cơ quan lãnh đạo QS tối cao tổ chức và chỉ đạo nhằm thu thập, khai thác, nghiên cứu tin tức về đối phương và chiến trường phục vụ cho chuẩn bị và tiến hành chiến tranh và tác chiến chiến lược, được thực hiện trong thời bình và thời chiến. Nhiệm vụ chủ yếu của TBCL: xác định thành phần, trạng thái và bố trí LLVT của đối phương trên các chiến trường, tìm hiểu quan điểm tư tưởng QS. phương thức tiến hành chiến tranh, tiềm lực kinh tế - QS, tình trạng và triển vọng phát triển trang bị và KTQS, đặc biệt là vũ khí chiến lược, về những biện pháp trực tiếp chuẩn bị chiến tranh, về thiết bị chiến trường... Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, để phục vụ TBCL, ngoài dùng điệp báo chiến lược và thông qua sưu tầm nghiên cứu tài liệu công khai, một số nước còn dùng trinh sát vũ trụ, trinh sát đường không, trinh sát đường biển, trinh sát điện tử... TBCL ra đời cùng với sự xuất hiện đấu tranh vũ trang. Với sự phát triển của các phương tiện đấu tranh vũ trang và quy mô sử dụng chúng, vai trò của TBCL ngày càng được tăng lên. Ở một số nước, TBCL được tiến hành không chỉ bằng các cơ quan tình báo QS mà còn bằng các cơ quan chuyên môn của chính phủ, như: ở Mĩ có Cục tình báo trung ương Mĩ (CIA), ở CHLB Đức có Cục tình báo liên bang (BND), Cơ quan tình báo Nga (SVR), Tổ chức tình báo Anh (MIS).
TÌNH BÁO CHIẾN THUẬT, bộ phận của tình báo quân sự do người chỉ huy và cơ quan tham mưu các binh đoàn, cơ quan QS địa phương, binh đội, phân đội, chủ nhiệm binh chủng, bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ của tất cả các quân chủng, binh chủng tổ chức và tiến hành nhằm thu thâp, nghiên cứu các tin tức và tư liệu về địch, về chiến trường (thực tế hoặc dự kiến) để bảo đảm cho việc chuẩn bị và thực hành trân chiến đấu. TBCT quan hệ chặt chẽ với tình báo chiến dịch và tình báo chiến lược. Có thể tiến hành liên tục trên bộ, trên biển, trên không, trên vũ trụ. TBCT có thể sử dụng các phương tiện điện tử (rađa, vô tuyến truyền hình, hồng ngoại, lade...). Lực lượng TBCT có thể là các phân đội trinh sát chuyên nghiệp và các phân đội chiến đấu, các cơ sở quân báo nhân dân tại các địa phương. Nhiệm vụ chủ yếu của TBCT: xác định đội hình chiến đấu, phiên hiệu đơn vị, tổ chức trận địa, ý định chiến đấu, hệ thống hỏa lực, cấu trúc công sự, số lượng, chất lượng quân số và vũ khí trang bị, trình độ tổ chức chỉ huy của đối phương và tình hình địa hình, khí tượng - thủy văn.
TÌNH BÁO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, tình báo về tiềm lực khoa học’ khả năng và trình độ công nghệ của đối phương trong các lĩnh vực dân sự và QS; được tiến hành bằng các biện phấp và phương thức: hợp pháp, bất hợp pháp; công khai, bí mật; trực tiếp hoặc gián tiếp.
TÌNH BÁO KINH TẾ, tình báo về chiến lược, âm mưu, kế hoạch kinh tế QS; tiềm nâng kinh tế, cơ sở công nghiệp; khả năng kiểm soát cung ứng, kiểm soát giá cả, phân phối, sản xuất QS và các sản phẩm bị cấm (hạt nhân, hóa học...); khả năng nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm mới của các tổ chức, các nước có liên quan đến lợi ích quốc gia; bộ phận của tình báo quốc phòng. TBKT gồm: tình báo khoa học công nghệ, tình báo công nghiệp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 03:58:53 pm » |
|
TÌNH BÁO QUÂN SỰ, tình báo phục vụ quốc phòng, chuẩn bị tiến hành chiến tranh và hoạt động tác chiến; căn cứ quan trọng để xác định sách lược quốc phòng và chỉ huy tác chiến. Theo quy mô, tác dụng và nhiệm vụ có: tình báo chiến lược, tình báo chiến dịch, tình báo chiến thuật. Nội dung chủ yếu của TBQS gồm: tư tưởng QS, học thuyết QS, phương châm chiến lược, tiềm lực chiến tranh, tình hình chính trị, kinh tế, khoa học - kĩ thuật có liên quan đến hoạt động QS; chuẩn bị chiến trường, ý đồ và mục tiêu tác chiến, tổ chức biên chế, số lượng và chất lượng quân số, vũ khí trang bị, phiên hiệu và bố trí đơn vị QĐ của đối phương; điều kiện địa hình, khí tượng, thủy văn và các tình hình khác liên quan đến hoạt động tác chiến. Yêu cầu cơ bản của TBQS: tích cực, liên tục, bí mật, chính xác, kịp thời, có mục đích. TBQS được tiến hành trong thời bình và thời chiến; trên bộ, trên không, trên vũ trụ và trên biển bằng tất cả các phương thức, thủ đoạn, lực lượng cần thiết. TBQS xuất hiện từ trước công nguyên, ngày càng được sử dụng rộng rãi, có hiệu quả. Ngày nay, trong điều kiện chiến tranh hiện đại, TBQS càng được coi trọng và phát triển manh mẽ. Ở VN sau 1996, TBQS thường gọi là tình báo quốc phòng.
TÌNH BÁO QUỐC PHÒNG X. TÌNH BÁO QUÂN SỰ
TÌNH BÁO RAĐA PHÒNG KHÔNG, tình báo từ mạng trinh sát rađa sắp xếp theo những quy ước. được mã hóa dưới dạng chữ hoặc số truyền trong hệ thống quản lí vùng trời, thông báo, báo động phòng không quốc gia, biểu thị tọa độ tức thời, tính chất (số lượng, kiểu loại, độ cao) và hoạt động (cơ động, lượn vòng, gây nhiễu, đánh phá, hợp tốp, phân tốp...) của mục tiêu trên không tại một thời điểm xác định trong không gian. Có TBRPK: đủ và rút gọn (cg tình báo đủ, tình báo gọn). Tình báo đủ gồm: số tốp, tọa độ, số lượng, kiểu loại, độ cao, tính chất hoạt động, thời gian phát hiện; tình báo gọn gồm: số tốp, tọa độ, thời gian phát hiện. Thường quy định cứ ba tình báo có một tình báo đủ, khi mục tiêu trên không thay đổi độ cao, phân tốp, hợp tốp phải thông báo tình báo đủ.
TÌNH BÁO TRUYỂN TIN, phương thức tình báo vô tuyến điện và kĩ thuật vô tuyến điện, thu thập tin tức bằng cách thu chặn tín hiệu được truyền trên các loại kênh thông tin liên lạc vô tuyến điện và những thông tin về các đặc trưng của tín hiệu thuộc các hệ thống vô tuyến điện.
TÌNH HÌNH ĐỊCH, tình hình các mặt của đối phương cần thiết cho việc lãnh đạo, điều hành của nhà nước, chỉ huy các đơn vị LLVT để có các biện pháp chuẩn bị và đối phó hoặc hạ quyết tâm tác chiến; một tròng những yếu tố quan trọng đầu tiên để đánh giá tình hình, chuẩn bị hạ quyết tâm tác chiến. Nội dung chủ yếu THĐ gồm: tình hình chính trị - xã hội, kinh tế, QS, khoa học kĩ thuật, đường lối, quan điểm, địa hình, khí tượng, thủy văn, bố trí và phiên hiệu đơn vị LLVT, binh khí kĩ thuật, chất lượng QĐ, trình độ và đặc điểm chỉ huy, khả năng tác chiến, bảo đảm hậu cần, kĩ thuật và ý đồ... của địch. Để nắm được THĐ có thể tiến hành công tác: tình báo chiến lược, tình báo chiến dịch, tình báo chiến thuật và trinh sát các cấp, tuỳ theo yêu cầu của cấp chỉ huy, lãnh đạo.
TÌNH HUỐNG HẬU CẦN, diễn biến tình hình công tác hậu cần của đơn vị LLVT trong tác chiến, đòi hỏi phải giải quyết để thực hiện bảo đảm hậu cần được liên tục; bộ phận của tình huống tác chiến. THHC thường gồm: những thay đổi lớn, thay đổi đột xuất về tình hình và khả năng các phương tiện vật chất, vận chuyển, quân y, nguồn tại chỗ,... trình độ khả năng của các đơn vị, cơ quan và cơ sở hậu cần; tác động của đối phương đến các lực lượng và phương tiện hậu cán gây cản trở nghiêm trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của chúng.
TÌNH HUỐNG HÓA HỌC, diễn biến tình hình do hậu quả địch sử dụng vũ khí hóa học hoặc do sự cố hóa chất độc gây nên ở mức độ phải xử lí. THHH được thể hiện ở quy mô, loại chất độc và phương tiện đối phương sử dụng; các mục tiêu bị tập kích hóa học; phạm vi các vùng nhiễm, mức độ nhiễm, độ bền vững và chiều sâu truyền lan của chất độc; thiệt hại về người, phương tiện vật chất... Chủ nhiệm hóa học cùng cơ quan tham mưu thu thập, phân tích, dự toán, tổng hợp, cung cấp tình hình và đề đạt kiến nghị để người chỉ huy có biện pháp xử trí.
TÌNH HUỐNG KĨ THUẬT, tổng hợp các điều kiện và yếu tố (khách quan, chủ quan) để tổ chức và tiến hành hoạt động bảo đảm kĩ thuật. THKT gồm: tình trạng của trang bị KTQS, lực lượng và phương tiện bảo đảm kĩ thuật (kể cả của địa phương, tại chỗ), lượng dự trữ vật tư kĩ thuật cho bào dưỡng và sửa chữa, khả năng cứu kéo, số lượng phương tiện, trang bị hư hỏng và tác động của đối phương đối với hoạt động bảo đảm kĩ thuật trong quá trình tác chiến... THKT thay đổi theo thời gian. Việc dự báo THKT và xử lí hợp lí những biến đổi của nó có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động bảo đảm kĩ thuật.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:00:02 pm » |
|
TÌNH HUỐNG PHÓNG XẠ, diễn biến tình hình về nhiễm xạ do hậu quả địch sử dụng vũ khí hạt nhân hoặc sự cố phóng xạ gây nên ở mức độ phải xử lí. THPX được thể hiện ở phạm vi, mức độ nhiễm xạ địa hình, không khí, nước và các đối tượng khác có ảnh hưởng đến hoạt động và sức chiến đấu của bộ đội, uy hiếp đến sinh hoạt và sinh mạng của nhân dân. Chủ nhiệm hóa học cùng cơ quan tham mưu thu thập, phân tích, dự toán, tổng hợp, cung cấp tình hình và đề đạt, kiến nghị để người chỉ huy có biện pháp xử lí.
TÌNH HUỐNG QUÂN Y, tổng hợp các điều kiện, yếu tố trong dải (khu vực) tác chiến đòi hỏi ngành quân y phải có kế hoạch và biện pháp riêng biệt để bảo đảm việc hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của bộ đội; bộ phận hợp thành của tình huống hậu cần. Bao gồm: tình hình vệ sinh dịch tễ khu vực bố trí đội hình và triển khai các hoạt động tác chiến; tình trạng sức khỏe của bộ đội, số lượng và tình trạng thương binh, bệnh binh; thực trạng và bố trí lực lượng bảo đảm quân y trong tác chiến; khả nàng huy động lực lượng y tế địa phương... Cũng như tình huống chiến đấu, THQY luôn thay đổi theo diễn biến các hoạt động tác chiến. Dự báo và xử lí kịp thời các THQY có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội.
TÌNH HUỐNG TÁC CHIẾN, diễn biến tình hình trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến, đòi hỏi các đơn vị LLVT phải giải quyết để thúc đẩy tiến trình hoạt động tác chiến và hoàn thành nhiệm vụ tác chiến. THTC nảy sinh do hoạt động của hai bên đối địch và do tác động của những yếu tố khác. Có THTC: chiến lược, chiến dịch, chiến đấu. Có THTC chung tác động đến toàn bộ và THTC riêng từng mặt; có THTC trên bộ, trên biển, trên không và liên vũ trụ...
TÌNH HUỐNG TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ, diễn biến tình hình khi tổ chức, bố trí, khai thác sử dụng các hệ thống và các phương tiện điện tử trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến, đòi hỏi phải xử lí; bộ phận của tình huống tác chiến. THTCĐT được đặc trưng bởi: tình hình các phương tiện điện tử; tình hình tổ chức, bố trí và sử dụng các hệ thống điện tử; tình hình đối phương chế áp điện tử và chế áp bằng hỏa lực; tình hình chế áp, bảo vệ, ngụy trang, nghi binh điện tử của ta; ảnh hưởng của khí tượng, địa hình khu vực tác chiến đến sự truyền lan của sóng điện từ và sóng âm...
TÌNH HUỐNG TRÊN KHÔNG, diễn biến tình hình hoạt động của các mục tiêu trên không, cần phải xử lí. THTK có thể là: mục tiêu địch xâm phạm vùng trời, tiến hành tập kích đường không; trinh sát, gây nhiễu; phóng tên lửa tự dẫn chống rađa và đài điều khiển tên lửa; cơ động về tốc độ, độ cao và hướng bay, đặc biệt là bay thấp, tốp nhỏ, chiếc lẻ, bay đêm... THTK thường diễn biến mau lẹ đòi hỏi người chỉ huy bộ đội phòng không phải nhạy bén, nắm vững và xử lí kịp thời.
TÌNH THẾ CÁCH MẠNG, sự chín muồi của toàn bộ những điều kiện khách quan dẫn đến cuộc cách mạng xã hội. TTCM có những dấu hiệu chủ yếu: khùng hoảng vai trò lãnh đạo của giai cấp thống trị; nỗi cùng khổ và quẫn bách của các giai cấp bị áp bức trở nên nặng nề, không thể chịu đựng nổi, đòi hỏi phải có sự thay đổi; ý thức chính trị của các lực lượng CM được nâng cao rõ rệt, sẵn sàng làm CM và hi sinh vì CM. TTCM bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng thời điểm xuất hiện, hình thức và nhíp độ phát triển phụ thuộc vào những quan hệ chính trị - xã hội, so sánh lực lượng giữa giai cấp thống trị và giai cấp CM. Hành động đúng thời cơ khi xuất hiện TTCM có ý nghĩa quyết định thắng lợi của CM.
TÌNH TRẠNG CHIẾN TRANH, trạng thái đặc biệt của xã hội các nước tham chiến kể từ khi các nước đó tuyên chiến với nhau hoặc bắt đầu các hành động chiến tranh cho tới khi chấm dứt các hành động trên bằng một hiệp ước hòa bình, hiệp định đình chiến hoặc sự đầu hàng của một bên. Khi có TTCT, các quan hệ đối nội và đối ngoại của các nước tham chiến có sự đột biến. Về đối nội, thường ban bố tình trạng khẩn cấp, ra sắc lệnh tổng động viên, chuyển mọi hoạt động xã hội sang thời chiến... về đối ngoại, thường: cắt quan hệ ngoại giao, buôn bán, tài chính, hủy bỏ hiệu lực các hiệp ước, hiệp định với nước đối chiến và phong tỏa tài sản, quản thúc kiều dân... của nước đó. Việc tuyên bố TTCT thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước cao nhất do hiến pháp từng nước quy định, ở VN, Hiến pháp nước CHXHCN VN (1992) quy định: Quốc hội quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình, tuyên bố TTCT; chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội công bố quyết định tuyên bố TTCT.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:01:34 pm » |
|
TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP, trạng thái xã hội của cả nước hoặc một khu vực trọng yếu đang bị đe dọa bởi những nguy cơ (tiến công QS, đảo chính, bạo loạn, khủng hoảng chính trị, thiên tai lớn...), đòi hỏi phải áp dụng ngay chế độ luật phấp đặc biệt nhằm ổn định tình hình, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Khi ban bố TTKC thường lập ra các cơ quan có quyền lực đặc biệt và ban hành những đạo luật khẩn cấp (không phải tuân theo thủ tục lập pháp) nhằm tăng cường chức năng trấn áp của chính quyền nhà nước, thực hiện thiết quân luật hoặc lệnh giới nghiêm. Việc ban bố TTKC do hiến pháp quy định. Ở VN, TTKC do Quốc hội quy định, ủy ban thường vụ Quốc hội ban bố và việc giải quyết TTKC được thực hiện theo Pháp lệnh về TTKC.
TỈNH ĐỘI X. BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH (THÀNH)
TỈNH TRƯỚNG, chức vụ đứng đầu cơ quan chính quyền tỉnh dưới chế độ Sài Gòn ở miền Nam VN (1954-75). Chịu trách nhiệm trước tổng thống, thủ tướng về các vấn đề QS, an ninh trật tự, điều hành các cơ quan, công sở và chỉ huy lực lượng (QS và bán QS) thuộc quyền, thực hiện các luật lệ, chính sách quốc gia và kế hoạch, chương trình của chính phủ trên địa bàn tỉnh...; chịu trách nhiệm trước tổng trưởng nội vụ về điều hành chung bộ máy hành chính địa phương trong tinh. Do nhu cầu QS, TT thường là sĩ quan cấp cao thuộc QĐ Sài Gòn và kiêm nhiệm chức vụ tiểu khu trưởng (x. tiểu khu), chịu sự chỉ huy của tư lệnh quân đoàn - quân khu (vùng chiến thuật, trước 1970).
TÍNH CHẤT BẢO VỆ CỦA ĐỊA HÌNH, đặc điểm dáng đất và địa vật có khả năng làm giảm tác động của các loại vũ khí sát thương. Loại địa hình có tính chất bảo vệ tốt nhất là đồi núi bị chia cắt bởi các khe, lũng sâu; có thể giảm tới 2,5 lần áp suất dư của sóng xung kích vụ nổ hạt nhân so với ở nơi bằng phẳng. Sự lồi lõm của địa hình là màn chắn có hiệu quả đối với bức xạ quang và bức xạ xuyên của vụ nổ hạt nhân. Khối cây rừng có thể làm yếu sóng xung kích đến 2 lần, giảm tác hại của bức xạ quang 6-8 lần so với nơi trống trải. Lợi dụng được TCBVCĐH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ sinh lực và phương tiện kĩ thuật. Trong tác chiến, khi nghiên cứu địa hình phải xác định ảnh hưởng của nó đối với hoạt động của bộ đội, xác định nơi ẩn nấp tự nhiên, tính toán khối lượng công trình phải xây dựng để nâng cao tính chất bảo vệ....
TÍNH CHẤT CHIẾN THUẬT CỦA ĐỊA HÌNH, tập hợp các tính chất của địa hình có ảnh hưởng đến các hoạt động tác chiến ở quy mô chiến thuật. Bao gồm: tính chất bảo vệ, khả năng thông qua đối với người và các loại phương tiện, điều kiện ngụy trang, điều kiện quan sát và định hướng, điều kiện phát huy hỏa lực... Khi tiến hành các hoạt động tác chiến chiến thuật phải vận dụng tối ưu TCCTCĐH để có thể cơ động bí mật. triển khai kịp thời, ngụy trang kín đáo, tiến công bất ngờ, phát huy cao nhất hiệu quả vũ khí phương tiện kĩ thuật và hạn chế đến mức thấp nhất tác dụng hỏa lực của đối phương.
TÍNH CHẤT CHIẾN TRANH, tổng hợp những đặc điểm cơ bản của một cuộc chiến tranh cho phép hiểu và phân biệt sự khác nhau giữa các cuộc chiến tranh. Mỗi cuộc chiến tranh đều có tính chất chính trị - xã hội và tính chất kĩ thuật - QS nhất định, trong đó tính chất chính trị - xã hội giữ vai trò chủ yếu. Tính chất chính trị - xã hội chỉ rõ nguyên nhân chiến tranh, mục đích chính trị của các bên tham chiến, sự phù hợp hay không phù hợp của mục đích đó với tiến bộ xã hội, từ đó để phân định chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, tiến bộ hay phản động, CM hay phản CM... về tính chất kĩ thuật - QS: căn cứ vào trình độ vũ khí trang bị được sử dụng mà chia ra chiến tranh thông thường hay chiến tranh hủy diệt; căn cứ vào phương thức tiến hành chiến tranh mà chia ra chiến tranh du kích, chiến tranh chính quy...; căn cứ vào quy mô của chiến tranh mà chia ra chiến tranh cục bộ, khu vực, thế giới; căn cứ vào thành phần tham chiến mà chia ra chiến tranh giữa hai nước hay chiến tranh liên minh; căn cứ vào độ dài thời gian mà chia ra chiến tranh chớp nhoáng, chiến tranh lâu dài... Các nhà lí luận QS tư sản thường hay lảng tránh tính chất chính trị - xã hội và tuyệt đối hóa tính chắt kĩ thuật - QS của chiến tranh nhằm che đậy tính chất phi nghĩa, phản động của các cuộc chiến tranh mà giai cấp tư sản tiến hành.
TÍNH CHẤT NGỤY TRANG CỦA ĐỊA HÌNH, đặc tính của địa hình thể hiện ở khả nâng che giấu hoạt động và mục tiêu QS, tránh địch trinh sát. TCNTCĐH được xác định bởi thảm thực vật tự nhiên, dáng đất và màu sắc các vật thể trên địa hình.
TÍNH ĐỔI TỌA ĐỘ, tính chuyển tọa độ của các điểm từ một hệ tọa độ này sang một hệ tọa độ khác bằng các công thức toán học. Thường gặp TĐTĐ từ hệ tọa độ địa lí sang hệ tọa độ vuông góc, từ hệ Gauss sang hệ UTM, hệ quốc gia sang hệ địa phương... và ngược lại...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:02:52 pm » |
|
TÍNH KIÊN CƯỜNG CỦA PHÒNG NGỰ, biểu hiện quyết tâm của bộ đội phòng ngự, hoàn thành nhiệm vụ được giao; một yêu cầu cơ bản của tác chiến phòng ngự. TKCCPN thể hiện: quán triệt tư tưởng tích cực tiến công, chủ động tìm mọi biện pháp có hiệu quả nhất, gây cho địch nhiều tổn thất, đập tan âm mưu và thủ đoạn tác chiến, đánh bại tiến công của địch, kiên cường giữ vững các khu vực phòng ngự, chưa có lệnh không được rời khỏi trận địa, tạo thế có lợi chuyển sang phản công, tiến công tiêu diệt địch.
TÍNH NĂNG CHIẾN - KĨ THUẬT của trang bị quân sự, tập hợp các đặc tính định lượng của đơn chiếc (tổ hợp) trang bị KTQS, xác định khả năng chiến đấu của trang bị đó. TNC- KT phổ biến của các loại hòa khí, tên lửa, hỏa tiễn (tên lửa không điều khiển), bom, mìn là: cỡ, vận tốc, tầm bắn (phóng), hiệu quả tiêu diệt mục tiêu, tốc độ bắn (phóng), độ chính xác bắn (phóng), độ tin cậy, các đặc tính về kích thước và khối lượng...; dối với tăng thiết giáp là: khối lượng, vỏ giáp, công suất động cơ, tốc độ chuyển động, cơ số đạn, hành trình dự trữ...; đối với máy tính điện tử là: tốc độ tính toán, dung lượng bộ nhớ, loại máy...; đối với rađa là: cự li, độ cao phát hiện và bám sát mục tiêu, khả năng chống nhiễu, sai số phát hiện mục tiêu; đối với máy bay và máy bay trực thăng là: vận tốc, trần bay, tầm hoạt động, thời gian hoạt động, tải chiến đấu, trang bị...; đối với tàu mặt nước và tàu ngầm là: lượng choán nước, tổc độ, tầm hoạt động, khả năng hoạt động độc lập, kiểu thiết bị động lực và trang bị vũ khí... TNC-KT được xác định khi thiết kế chế tạo mỗi loại phương tiện KTQS cụ thể. Cg đặc tính chiến thuật - kĩ thuật hoặc phần tử chiến - kĩ thuật.
TÍNH TÍCH CỰC CỦA PHÒNG NGỰ, biểu hiện sự chủ động của bộ đội phòng ngự liên tục đánh quân địch tiến công; một yêu cầu cơ bản của tác chiến phòng ngự. TTCCPN được thực hiện bằng cách sớm phát hiện ý định tiến công của địch; đánh địch từ xa đến gần; kịp thời và kiên quyết cơ động lực lượng, hỏa lực đánh vào các tập đoàn lực lượng địch uy hiếp phòng ngự hoặc tiến công tiêu diệt các lực lượng địch bộc lộ sơ hở; thực hành phản kích (phản đột kích) tiêu diệt lực lượng địch đã đột nhập phòng ngự ta và khôi phục lại phòng ngự; liên tục chiến đấu tạo thế lợi cho ta và đẩy địch vào thế bất lợi.
TÍNH TOÁN KHẢ NĂNG PHÒNG KHÔNG, dùng phương pháp toán học để giải các phép tính chiến dịch, chiến thuật, cần cho việc tổ chức tác chiến, hạ quyết tâm, làm kế hoạch phòng không, như: dự tính hiệu suất của cụm phòng không; tính tương quan lực lượng trong đánh trả đòn tiến công đường không; dự kiến lực lượng phòng không cần để lập cụm phòng không với hiệu suất cho trước; tính số đạn cần thiết cho chiến dịch (trận đánh)... Có TTKNPK bằng phương pháp giản đơn (áp dụng các định mức trung bình đã có và các công thức, bảng tính, biểu đồ) và bằng phương pháp phức hợp (giải các phép tính dựa vào các tham số tĩnh hoặc cách tính xác suất) để đánh giá bằng số liệu cụ thể khả năng của ta và địch trong các tình huống. Kết quả tính toán giúp phán đoán khá chính xác tương quan lực lượng ta - địch trong chiến dịch (trận đánh) để người chỉ huy hạ quyết tâm, cơ quan làm văn kiện. TTKNPK do cơ quan tham mưu thực hiện.
TÍNH VỮNG CHẮC CỦA PHÒNG NGỰ, khả năng giữ vững khu vực phòng ngự trước những đòn tiến công liên tục, mãnh liệt của lực lượng địch ưu thế; một yêu cầu cơ bản của tác chiến phòng ngự. Để bảo đảm TVCCPN cần phải lập thể trận phòng ngự có lợi, đánh được địch tiến công từ nhiều hướng và xử trí linh hoạt các tình huống; phòng ngự có chiều sâu, xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự hoàn chỉnh, cấu trúc đầy đủ các loại công trình vững chắc, kiên cố, tổ chức ngụy trang, nghi binh khéo léo; tổ chức có hiệu quả việc phòng không, phòng pháo, chống tăng, phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, chống quân địch vu hồi, chống địch đổ bộ đường không, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng; thực hành phản kích, phản đột kích, tiến công địch với quy mô thích hợp, cố thủ giữ vững những địa bàn, mục tiêu trọng yếu; có dự trữ lực lượng, phương tiện vật chất cần thiết bảo đảm cho phòng ngự bền bỉ, lâu dài.
TITÔ (Josip Broz Tito; 1892-1980), người đứng đầu Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư và nhà nước Liên bang Nam Tư (1945-80). Sinh tại Croatia; đv ĐXHDC (1910). Năm 1934 ủy viên Khu đảng bộ Crôatia. 1934-37 ủy viên BCT ĐCS Nam Tư. 1937 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS Nam Tu, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Tư chống ách chiếm đóng của chủ nghĩa phát xít trong CTTG-II. 1945 thủ tướng Chính phủ dân chủ Nam Tư. 1952 tổng bí thư Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư. 1953 tổng thống Liên bang cộng hòa nhân dân Nam Tư. 1971 chủ tịch Đoàn chủ tịch nước CHXHCN Liên bang Nam Tư; một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết (1961).
TIURATAM X. BAICÔNUA
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:03:57 pm » |
|
TNT (trinitrôtôluen), thuốc nổ phá dùng để nhồi vào các loại đạn dược, các lượng nổ,... ở dạng đơn chất hoặc hỗn hợp với các loại thuốc nổ khác. Công thức hóa học C5H2CH3 (N02)3. Tinh thể không màu, theo thời gian ngả màu vàng tươi, vị đắng. Khối lượng riêng l,66g/cm3, nhiệt độ nóng chảy 81°C, nhiệt độ kích nổ 290°C, tốc độ nổ tăng theo mật độ đạt 7.000m/s ở mật độ l,6g/cm3, nhiệt suất nổ 4,19 MJ/kg. Ở ngoài không khí, TNT bùng cháy ở 310°C, lửa màu vàng và rất nhiều khói, không dẫn tới nổ dù cháy với khối lượng lớn (trong buồng kín có thể dẫn tới nổ). TNT không tác dụng với kim loại, không tan trong nước, ít hút ẩm, độ nhạy va đập thấp nên sử dụng an toàn.
TOA ĐÔ (H. Suodu, Sogatu; 7-1285), tướng Mông cổ chỉ huy quân thủy xâm lược Đại Việt (1285). Năm 1282 đem quân thủy từ Quảng Châu (TQ) theo đường biển đi đánh Chiêm Thành. Bị thất bại, phải lui về phía bắc Chiêm Thành, đóng tại vùng Ô Lí, Việt Lí (nay là Quảng Trị. Thừa Thiên). 2.1285 theo lệnh của Thoát Hoan, TĐ đem quân đánh ra phủ Bố Chính (Quảng Trạch, Bố Trạch. Quảng Bình), rồi tiến ra Nghệ An, Thanh Hóa. 21.6.1285 do không biết đại quân của Thoát Hoan bại trận đã rút chạy, TĐ đem quân thủy từ Thanh Hóa ra Thăng Long bằng đường biển vào cửa Sông Hồng ngược lên đến Tây Kết (khúc sông thuộc h. Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay). 24.6.1285 bị quân Đại Việt đánh bại ở bến Tây Kết, TĐ bị giết (x. kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần II, 1285).
TÒA ÁN LA HAY, cơ quan xét xử chính của Liên hợp quốc. Thành lập 11.1945; trụ sở tại La Hay (Hà Lan). Nhiệm vụ: giải quyết tranh chấp pháp lí giữa các quốc gia thành viên LHQ nếu họ thỏa thuận (những nước khác có thể sử dụng TALH nếu chấp thuận cả hoặc từng trường hợp cụ thể những điều kiện đối với nước thành viên LHQ); đưa ra những ý kiến tư vấn về những vấn đề pháp lí cho Đại hội đồng, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn khác được Đại hội đồng ủy quyền. Hoạt động theo điều 94 Hiến chương LHQ. Thành phần của tòa án có 15 thẩm phán, do Hội đồng bảo an và Đại hội đồng LHQ bỏ phiếu lựa chọn một cách độc lập từng người một, nhiệm kì 9 năm và có thể được bầu lại, mỗi quốc gia chỉ có một thẩm phán trong một nhiệm kì. Hội đồng xét xử gồm 9 thẩm phán, các vấn đề được phán quyết bởi đa số thẩm phán có mặt. Ngôn ngữ xét xử bằng tiếng Anh và tiếng Pháp (ngôn ngữ khác do hội đồng xét xử cho phép). Ngày nay, TALH không giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc tế. Cg Toà án quốc tế Liên hợp quốc.
TÒA ÁN QUÂN SỰ QUỐC TẾ, tòa án QS được thành lập theo sự thỏa thuận của LX, Mĩ, Anh và Pháp để xét xử các tội phạm chiến tranh trong CTTG-II. Ngày 8.8.1945 đã tiến hành tổ chức xét xử các tội phạm chiến tranh ở các nước châu Âu (x. Phiên tòa Nurembe, 20.11.1945-1.10.1946) và 3.5.1946 tiến hành xét xử các tội phạm chiến tranh ở Viễn Đông (x. Phiên tòa Tôkiô, 3.5.1946-12.11.1948).
TÒA ÁN QUÂN SỰ TRUNG UƠNG, cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống tòa án quân sự ở Việt Nam được tổ chức trong QĐND VN. Thuộc cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao, có thẩm quyền do pháp lệnh tổ chức tòa án QS quy định. Gồm: chánh án, các phó chánh án, thẩm phán, hội thẩm quân nhân, thư kí tòa án và ủy ban thẩm phán. Thành lập theo sắc lệnh số 45/sL ngày 25.4.1947 của chính phú VN DCCH. Tên gọi: tòa án binh tối cao (1947), TAQSTƯ(1961), Tòa án QS cấp cao (1986), TAQSTƯ (1993). Ngày truyền thống (ngành) 13.9.1945. Chánh án TAQSTƯ(1961): Trần Văn Trà.
TÒA ÁN QUÂN SỰ VIỆT NAM, cơ quan xét xử của nước CHXHCN VN được tổ chức trong QĐND VN để xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là: quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với QĐ; những người được trưng tập làm nhiệm vụ QS do QĐ trực tiếp quản lí; những người không thuộc các đối tượng trên phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho QĐ. Hệ thống TAQS VN gồm: Tòa án quân sự trung ương, tòa án QS quân khu (và tương đương), tòa án QS khu vực. Tòa án QS trung ương thuộc cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân tối cao, gồm: chánh án, các phó chánh án. thẩm phán, hội thẩm quân nhân, thư kí tòa án; Tòa án QS trung ương, tòa án quân khu và tương đương có ủy ban thẩm phán (gồm chánh án, các phó chánh án và một số thẩm phán). Việc quản lí tòa án QS quân khu và tương đương và tòa án QS khu vực do bộ trưởng Bộ tư pháp đảm nhiệm có sự phối hợp với bộ trưởng BQP và chánh án Tòa án nhân dân tối cao. TAQSVN các cấp thực hiện chế độ bổ nhiệm chánh án, phó chánh án, thẩm phán (do chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức) và chế độ cử hội thẩm quân nhân, thực hiện xét xử công khai (trừ trường hợp cần phải giữ bí mật); làm việc tập thể và quyết định theo đa số; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyển bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:05:26 pm » |
|
TÒA ÁN QUỐC TẾ BECTƠRANG RUTXEN, diễn đàn quốc tế mang tên nhà triết học Anh, huân tước Bectơrang Rutxen (người đề xướng và tổ chức) để phán xét tội ác chiến tranh của Mĩ ở VN theo thủ tục, trình tự pháp lí của một tòa án quốc tế. Gồm một số nhà khoa học và hoạt động xã hội có uy tín trên thế giới, do Giăng Pôn Sactrơ làm chủ tịch. Phiên họp đầu tiên 2-10.5.1967 tại Xtôckhôm (Thụy Điển), phiên cuối họp 20.11-1.12.1967 tại Retkenđe (Đan Mạch). Căn cứ luật pháp quốc tế và tập tục chiến tranh, TAQTBR đã phán xét: chính phủ Mĩ phạm tội gây chiến tranh xâm lược, tội chống hòa bình, tội diệt chủng (x. tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, tội chông loài người) theo đúng lời văn và tinh thần phán quyết của Tòa án quản sự quốc tế Nurembe và Tôkiô; hành động ném bom có chủ đích, có hệ thống, trên quy mô lớn vào các mục tiêu dân sự, dùng bom bi, bom napan, bom lân tinh, vũ khí hóa học, ném bom rải thảm,... của QĐ Mĩ ở VN là những hành vi tàn bạo, bị luật pháp quốc tế và tập tục chiến tranh ngăn cấm; chính phủ Mĩ liên tiếp vi phạm chủ quyền, nền trung lập, toàn vẹn lãnh thổ của Lào và Campuchia; các chính phủ Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nam Triều Tiên, Philippin, Thái Lan là những đồng phạm với Mĩ thực hiện tội ác chiến tranh ở VN. TAQTBR đã góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân Mĩ và nhân dân thế giới, thúc đẩy phong trào đấu tranh rộng lớn chống tội ác chiến tranh của Mĩ ở VN.
TOÀ ÁN QUỐC TẾ LIÊN HỢP QUỐC nh TOÀ ÁN LA HAY
TỌA ĐỘ, đại lượng xác định vị trí các điểm trên mặt phẳng, bề mặt, trong không gian. Trong QS thường dùng tọa độ vuông góc, tọa độ địa lí.
TỌA ĐỘ ĐỊA LÍ, tọa độ của một điểm trên bề mặt Trái Đất, xác định bằng cặp giá trị kinh độ và vĩ độ của nó. Kinh độ của một điểm là góc giữa mặt phẳng kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng kinh tuyến gốc (kinh tuyến Grinuych). Kinh độ được tính từ kinh tuyến gốc sang phía đông với giá trị dương (0° đến +180°), cg kinh độ đông. Từ kinh tuyến gốc sang phía tây với giá trị âm (0° đến -180°), cg kinh độ tây. Vĩ độ của một điểm là góc giữa đường thẳng đứng tại điểm đó và mặt phẳng xích đạo. Vĩ độ được tính từ xích đạo đến cực bắc với giá trị dương (0° đến +90°) từ xích đạo đến cực nam với giá trị âm (0° đến -90°); để tránh dấu âm còn được gọi là vĩ độ bắc và vĩ độ nam. Các đường kinh tuyến địa lí và các đường vĩ tuyến địa lí tạo thành lưới TĐĐL.
TỌA ĐỘ MỤC TIÊU, tập hợp các thông số (khoảng cách hoặc góc) xác định vị trí của mục tiêu trên bề mặt (đất, nước) hoặc trong không gian (trong lòng nước) trong một hệ tọa độ nhất định. Với mục tiêu di động TĐMT được xác định ở từng thời điểm một (tọa độ tức thời). Tùy theo yêu cầu, TĐMT được xác định một cách gián đoạn hoặc liên tục nhờ các loại khí tài trinh sát, đo đạc khác nhau.
TỌA ĐỘ THIÊN CẦU, tập hợp các đại lượng xác định vị trí các thiên thể hoặc các điểm đạc trung trên thiên cầu. Theo tính chất hệ quy chiếu, có: hệ TĐTC địa phương và hệ TĐTC tuyệt đối. Các hệ TĐTC địa phương phụ thuộc vị trí quan sát, được dùng rộng rãi trong các ngành thiên văn ứng dụng. Theo yếu tố được chọn làm mốc tọa độ và các đại lượng dùng trong đo đạc, có: hệ tọa độ chân trời, được quy về hai mặt phẳng cơ bản là mặt phẳng ngang và mặt phẳng kinh tuyến qua điểm quan sát, với hai tọa độ góc phương vị và góc cao; hệ tọa độ giờ (cg hệ tọa độ xích đạo thứ hai), gồm góc giờ và độ xích vĩ (góc giữa phương từ điểm quan sát tới thiên thể với mặt phẳng xích đạo thiên cầu là mặt phẳng cơ bản). Các hệ TĐTC tuyệt đối không phụ thuộc vị trí quan sát, chủ yếu dùng trong nghiên cứu vũ trụ, tính toán thiết lập các mục lục hay bản đồ sao; gồm hệ tọa độ xích đạo với hai tọa độ là độ xích kinh (góc giữa vòng giờ của thiên thể và vòng giờ qua điểm Xuân phân, tính về phía đông và biểu thị bằng đơn vị thời gian từ 0 đến 24 giờ) và độ xích vĩ (như trong hệ tọa độ giờ); hệ tọa độ hoàng đạo với hai tọa độ là độ hoàng kinh (kinh độ hoàng đạo) và độ hoàng vĩ (vĩ độ hoàng đạo); cách tính như trong hệ tọa độ xích đạo song lấy mốc chuẩn là mặt phẳng hoàng đạo và hệ tọa độ Thiên Hà với mốc chuẩn là mặt phẳng xích đạo Thiên Hà (nghiêng 62° so với mặt phẳng xích đạo thiên cầu) và hai tọa độ là độ thiên kinh và độ thiên vĩ.
TỌA ĐỘ VUÔNG GÓC, toạ độ xác định bằng khoảng cách từ điểm cần xác định tới hai trục tọa độ vuông góc với nhau trên mặt phẳng (trục tung, trục hoành). Trong bản đồ địa hình thường sử dụng hai hệ TĐVG: Gauss (do phép chiếu hình Gauss) và hệ UTM (do phép chiếu UTM).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:06:52 pm » |
|
TOÁN TRINH SÁT, tổ chức lâm thời do liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội, phân đội hoặc do các đội trinh sát phái ra làm nhiệm vụ trinh sát. Căn cứ vào tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ, có: TTS tuần tiễu, TTS cảnh giới chiến đấu, TTS luồn sâu, TTS đặc nhiệm, TTS địch hậu, TTS sĩ quan, TTS công trình, TTS hóa học... Mỗi toán thường gồm một tiểu đội đến một trung đội. TTS thường được chỉ thị khu vực, mục tiêu trinh sát. TTS thường dùng các phương pháp trinh sát: phục kích, tập kích, bắt tù binh, quan sát, chụp ảnh, quay phim, nghe trộm... TTS được trang bị khí tài trinh sát, thông tin, vũ khí chiến đấu, khi cẩn sẽ được tăng cường lực lượng chiến đấu yểm hộ. TTS có thể tiến hành trinh sát bằng đi bộ, xe cơ giới, máy bay trực thăng và những phương tiện phù hợp khác. TOÁN TRINH SÁT CẢNH GIỚI CHIẾN ĐẤU, toán trinh sát được phái ra từ các tiểu đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới, hải quân đánh bộ, đổ bộ đường không, xe tăng) để thu thập tình hình địch và địa hình ở phía trước và bên sườn đội hình chiến đấu của tiểu đoàn, trong cự li quan sát bằng mắt. TTSCGCĐ được chỉ thị khu vực trinh sát và có khi cả mục tiêu cụ thể. TTSCGCĐ hoạt động trong cự li chi viện hỏa lực của tiểu đoàn và vận dụng các thủ đoạn trinh sát như: quan sát, sục sạo chiến đấu. TOÁN TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM, toán trinh sát do người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp chiến lược hoặc cấp chiến dịch phái ra, được huấn luyện và trang bị đặc biệt để tiến hành trinh sát dặc nhiệm. TTSĐN được tổ chức thành một tiểu đội hoặc một trung đội, trang bị các máy thông tin vô tuyến điện để liên lạc nội bộ và với cơ quan chỉ huy cấp trên. TOÁN TRINH SÁT LUỒN SÂU, toán trinh sát do người chỉ huy và cơ quan tham mưu binh đoàn (liên binh đoàn), binh chủng hợp thành hoặc cơ quan QS địa phương (tỉnh) phái ra nhằm thực hiện một số nhiệm vụ trinh sát mục tiêu quan trọng trong lòng địch. TTSLS thường được chỉ thị khu vực hoạt động, mục tiêu và nhiệm vụ trinh sát cụ thể, được trang bị các phương tiện trinh sát, phương tiện thông tin để thực hiện nhiệm vụ. TTSLS thường vận dụng các thủ đoạn trinh sát như: quan sát, chụp ảnh, nghe trộm, cải trang trinh sát, tiềm nhập và khi cần có thể bắt tù binh, thu tài liệu. TOÁN TRINH SÁT TUẦN TIÊU ĐỘC LẬP, toán trinh sát được phái ra từ các binh đội (binh đoàn) binh chủng hợp thành để thu thập tình hình về địch và địa hình ở phía trước, bên sườn đội hình của binh đoàn hoặc binh đội; không thuộc biên chế của đội trinh sát tuần tiễu của liên binh đoàn. TTSTTĐL thường gồm một tiểu đội đến một trung đội (bộ binh hoặc bộ binh cơ giới) và có thể được tăng cường xe tăng. TTSTTĐL thường vận dụng các thủ đoạn: quan sát, sục sạo, phục kích, tập kích bắt tù binh; trinh sát bằng hành động chiến đấu. trận chiến đấu... TTSTTĐL được chỉ thị khu vực trinh sát hoặc mục tiêu trinh sát. Khoảng cách của TTSTTĐL đến các phân đội phía trước phụ thuộc vào lực lượng và nhiệm vụ được giao, tình hình địch, địa hình và khả năng thông tin liên lạc. TOOCNAĐÔ (A. Tornado), máy bay chiến đấu đa năng (tiêm kích, cường kích, trinh sát) vượt âm, có hình dạng cánh thay đổi (cụp, xoè) do Anh, Tây Đức, Italia hợp tác chế tạo. Mẫu đâu tiên bay thử 8.1974. Đưa vào trang bị 1980. Có các mẫu GR1. GR1 A, IDS, có thể cất hạ cánh trên đường băng ngắn và hoạt động trong điều kiện thời tiết phức tạp, ngày và đêm. Dài 16,72m, cao 5,95m, sải cánh 8,60m (khi cụp), 13,91m (khi xòe). Khối lượng rỗng 14,091t, khối lượng cất cánh tối đa 28t, tốc độ tối đa 2.350km/h, trần bay thực tế 15.000m, 2 người lái, tầm hoạt động 4.265km. Có thể mang: pháo 27mm, các tên lửa Xaiuynđơ, ALARM, Mayerisk AGM-65, bom chùm, bom có điều khiển GBU-15, GBU-123B, với tổng khối lượng vũ khí tối đa 9.070kg. Trang bị điện tử: rada cảnh giới, máy chiếu xạ mục tiêu, máy phát nhiễu rada nhiều chế độ, bộ rải nhiễu thụ động... T hiện có trong trang bị QĐ Anh, Đức, Italia, Arập Xêut, G00cđani, Malaixia... Đã dùng trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:07:42 pm » |
|
TOW (vt từ A. Tube launched. Optically tracked, Wire command - phóng bằng ống, bám quang học, truyền lệnh qua dây dẫn), tổ hợp tên lửa chống tăng có điều khiển do Công ti Hiu Mixai Xixtem (Mĩ) nghiên cứu chế tạo từ 1962, trang bị cho QĐ Mĩ từ 1972. Có thể phóng từ các hệ thống phóng mặt đất (mang vác) M151E2, trên các xe thiết giáp, ô tô và máy bay trực thăng. Tên lửa là loại BGM 71 (A, C, D, E, F) mang đầu đạn lõm chống tăng, động cơ nhiên liệu rắn hai tầng, dài 1.174mm, đường kính 127mm, khối lượng 22,5- 28,lkg, tốc độ bay lớn nhất 200m/s, tầm phóng 3.000- 3.750m, khả năng xuyên giáp 500-600mm. Ống phóng bằng vật liệu phức hợp (compôzit) xốp, nhẹ, đồng thời là ống bảo quản khi cất giữ, vận chuyển. Hệ thống điều khiển bán tự động hoặc tự động với thiết bị bám quang học và hồng ngoại. Khẩu đội 4 người, có thể phóng 3 quả trong 90s. TOW được xuất khẩu và cung cấp cho QĐ gần 40 nước, trong đó có QĐ Sài Gòn trước đây. Các mẫu cải tiến có đường kính đầu đạn lõm tăng lên đến 152mm (TOW-2) để tăng khả năng phá giáp. Kiểu BGM-71F (TOW-2B) là loại cải tiến mới nhất (có đầu đạn kép và xenxơ mục tiêu ở đầu tên lửa) để đánh từ nóc xe xuống. Tên lửa được đặt trước chương trình để bay tới phía trên mục tiêu, xenxơ sẽ kích hoạt cho đầu đạn kép xuyên xuống mục tiêu ở thời điểm thích hợp, khả năng xuyên giáp tới 1.030mm. TÔ HIẾN THÀNH (Phi Diên; 7-1179), nhà chính trị - QS, đại thần thời Lí. Quê làng Hạ Mỗ, h. ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, h. Đan Phượng, t. Hà Tây). Có tài văn võ, được vua Lí Anh Tông trọng dụng làm tướng, lập nhiều công lớn. 1141 cùng tướng Đỗ Anh Vũ dập tắt cuộc nổi dậy của Thân Lợi ở phía bắc. 1159 đánh dẹp tù trưởng Ngưu Hống câu kết với quân Ai Lao quấy phá vùng biên giới phía tây, được phong chức thái úy. 1161 làm đô tướng chỉ huy 2 vạn quân đi tuần, dẹp phán loạn và hải tặc ở biên giới tây nam và vùng ven biển. 1167 chinh phục Chiêm Thành, giữ yên bờ cõi quốc gia. 1175 được giao chức nhập nội kiểm hiệu thái phó, bình chương quân quốc trọng sự, tước Vương, vua Lí Anh Tông mất, nắm quyền nhiếp chính, một lòng tuân thủ di chiếu giúp vua Lí Cao Tông (khi còn nhỏ) điều hành việc triều chính. Tấm gương lớn về lòng trung nghĩa, chính trực, một trong những trụ cột tạo dựng sự ổn định của triều Lí. TÔ KÍ (Năm; S. 1919), chính ủy Quân khu Hữu Ngạn (1967- 74). Quê xã Mĩ Bình, h. Củ Chi, tp Hồ Chí Minh; tham gia CM 1936, nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1961); dv ĐCS VN (1937). Năm 1936-37 tham gia Hội tương tế ái hữu. 1939 huyện ủy viên huyện Hóc Môn; bị địch bắt, kết án 5 năm tù và đày đi biệt xứ. Hai lần vượt ngục (3.1941 và 3.1945). Năm 1945 tỉnh ủy viên tỉnh Gia Định, phụ trách QS và tham gia lãnh đạo khỏi nghĩa ở Gia Định. 1946 chi đội trưởng Chi đội 12 (Khu 7). Năm 1947-50 tư lệnh Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, thường vụ khu ủy, phó tư lệnh Khu 7. Năm 1951-53 tỉnh đội trưởng, bí thư Tỉnh ủy Gia Định. 1954-55 trưởng ban chuyển quân tập kết khu Hàm Tân, Xuyên Mộc; chủ nhiệm phòng cung cấp Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. 1957-64 chính ủy Sư đoàn 338, chánh án Tòa án QS trung ương. 6.1967-74 chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu Hữu Ngạn. 12.1978 chuyển ngành sang Tổng cục dầu khí. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Chiến công hạng nhì...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:09:18 pm » |
|
TÔ NHƯ KHUÊ (S. 1925), Nhà giáo nhân dân (1994), giáo sư (1984). Quê xã Đại Hoàng, h. Tiền Hải, t. Thái Bình; nhập ngũ 1945, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1950). Tháng 10.1945 chính trị viên Đại đội Hoàng Văn Thụ, Chiến khu 3. Năm 1946-54 học Đại học y khoa kháng chiến, trưởng ban quân y Trung đoàn 108, đội trưỏng Đội điều trị Phòng quân y Liên khu 5, phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm Ban quân y Sư đoàn 305. Năm 1955-63 trưởng ban huấn luyện Cục quân y, phó chủ nhiệm Y vụ Viện quân y 108. Năm 1963-97 giảng viên, phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm Bộ môn sinh lí lao động Học viện quân y. Chuyên viên đầu ngành sinh lí học lao động QS, BQP. Phó chủ tịch, rồi chủ tịch Hội sinh lí học VN (1969-98). ủy viên nhiều hội đồng khoa học y học của nhà nước và BQP. Chủ nhiệm nhiều đề tài khoa học về lĩnh vực sinh lí lao động QS cấp nhà nước và BQP, được ứng dụng có hiệu quả như: “Nghiên cứu áp dụng các biện pháp cổ truyền Á Đông về rèn luyện tâm thế, dưỡng sinh, võ thuật để nâng cao bản lĩnh tự điều chỉnh của phi hành viên vũ trụ” (1982), “Bảo đảm an toàn cho thợ lặn VN sử dụng các kĩ thuật hiện đại” (1991)... Biên soạn nhiều tài liệu, giáo trình, giáo khoa chuyên ngành được sử dụng như; “Giáo trình sinh lí lao động”, “Giáo trình y học hàng không”, “Đại cương tâm lí học kĩ thuật”... Tham gia giảng dạy nhiều khóa đào tạo bác sĩ, cao học, nghiên cứu sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng ba, Chiến thắng hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất.  TÔ VĨNH DIỆN (1924-54), Ah LLVTND (truy tặng 1956). Quê xã Nông Trường, h. Triệu Sơn, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1949; đv ĐCS VN (1949); khi hi sinh là khẩu đội trưởng pháo phòng không, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), khi kéo pháo ra, đến đoạn xuống Dốc Chuối, TVD và pháo thủ Ty xung phong cầm càng lái pháo. Khi dây tời chính bị đứt, pháo lao nhanh và khó điều khiển, pháo thủ Ty bị càng pháo đánh bật ra, TVD vẫn bám càng, điều khiển hướng lao của pháo, bất chấp nguy hiểm lấy thân mình đẩy càng vàovách núi cho pháo dừng lại, TVD hi sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhất. TỔ BA NGƯỜI, tập thể chiến đấu, công tác và sinh hoạt tư tưởng có tính chất quần chúng, được tổ chức ở tiểu đội và tương đương (chu yếu ở các đơn vị chiến đấu) của QĐND VN. Thông thường, cứ ba quân nhân có liên quan, gắn bó với nhau về nhiệm vụ thì tổ chức thành TBN để giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong chiến đấu, học tập, công tác và tư tưởng, tình cảm... Hoạt động dưới sự lãnh đạo của chi bộ (chi ủy), sự chỉ đạo của cán bộ trong đại đội, nhất là cán bộ chính trị. Hình thức sinh hoạt ngắn gọn, đơn giản, nội dung thiết thực. TBN mạnh là cơ sở để xây dựng tiểu đội, trung đội, đại đội mạnh và tạo nguồn đào tạo cán bộ QĐ. TỔ BAY, nhóm quân nhân được đào tạo chuyên môn (phi công, hoa tiêu, kĩ sư hàng không, nhân viên điện đài...) và được biên chế để trực tiếp thực hiện chuyến bay trên một khí cụ bay (máy bay, máy bay trực thăng, khinh khí cầu, tàu vũ trụ...). TB thường gồm tổ trưởng (chỉ huy) và các thành viên. Tổ trường là người lái (phi công) chính, có nhiệm vụ chỉ huy TB thực hiện nhiệm vụ được giao. Các thành viên có thể gồm: người lái phụ, dẫn đường trên không, cơ giới, điều khiển vũ khí,... thực hiện nhiệm vụ theo chức trách quy định dưới sự chỉ huy của tổ trưởng TB. Số lượng thành viên TB phụ thuộc vào công dụng của từng loại máy bay, giải pháp thiết kế các hệ thống, thiết bị điều khiển máy bay, động cơ, dẫn đường, vũ khí, thông tin liên lạc... và phụ thuộc vào yêu cầu, nhiệm vụ bay. TB có thể gồm 1-2 người hoặc 2-5 người (máy bay ném bom, vận tải). Cg kíp bay, đội bay.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|