Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:01:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41410 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #110 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 04:10:41 pm »


        TỔ CHUYÊN KHOA TĂNG CƯỜNG, tổ quân y có trình độ kĩ thuật và trang bị chuyên khoa sâu, được tách ra từ các bệnh viện hoặc cơ sở y tế khác, dưa lên bệnh viện tuyến trước để tăng khả năng cứu chữa chuyên khoa của các bệnh viện đó. Thường có: tổ phẫu thuật chuyên khoa đầu - mặt - cổ, bụng, ngực, chấn thương, tổ chuyên khoa bỏng, gây mê hồi sức, X quang, độc - xạ, truyền nhiễm, tổ pha chế dịch truyền.

        TỔ CHỨC AN NINH VÀ HỢP TÁC CHÂU ÂU (A. Organization on Security and Cooperation in Europe, vt: OSCE), tổ chức khu vực có vai trò thúc đẩy an ninh thông qua hợp tác ở châu Âu; công cụ của khu vực nhằm cảnh báo sớm, ngăn chặn xung đột, kiểm soát khủng khoảng và khôi phục sau xung đột. Thành lập đầu những năm 70 (tk 20) với tên gọi Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu (A. Conference on Security and Cooperation in Europe, vt: CSCE) - diễn đàn đa phương để đối thoại và thương lượng giữa Đông Âu và Tây Âu. Hội nghị thượng đỉnh Buđapet (1994) chính thức đổi tên thành TCANVHTCÂ với 55 quốc gia thành viên (có vị trì địa lí trải dài từ Vancuyơ tới Vlađivôxtôc). Lĩnh vực hoạt động chủ yếu: kiểm soát vũ khí, ngoại giao phòng ngừa, các biện pháp xây dựng lòng tin và an ninh, nhân quyền, giám sát bầu cử, an ninh kinh tế, an ninh môi trường. Các nước thành viên đều bình đẳng và mọi quyết định đều dựa trên cơ sở đồng thuận. Về cơ cấu tổ chức gồm: Hội đồng thường trực - cơ quan tư vấn chính trị và ra quyết định (họp hàng tuần); Hội đồng cấp cao và Hội đồng ngoại trưởng (họp mỗi năm một lẩn), hội nghị thượng đỉnh (họp 2 năm một lần); chủ tịch luân phiên - chịu trách nhiệm chung về điều hành (luân phiên hàng năm giữa các nước thành viên); tổng thư kí - đại diện cho chủ tịch luân phiên, quản lí các cơ cấu và hoạt động chung (nhiệm kì 3 năm); Ban thư kí - cơ quan soạn thảo văn kiện và thu thập thông tin; ngoài ra còn một số cơ quan khác: Văn phòng liên lạc ở Trung Á, Văn phòng phụ trách các thể chế dân chủ và nhân quyền, Cao ủy phụ trách vấn đề dân tộc thiếu số của các quốc gia...

        TỔ CHỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TÀU, bố trí hợp lí các thành viên trên tàu theo vị trí chỉ huy và vị trí chiến đấu với chức trách cụ thể của từng người, nhằm duy trì mức độ sẵn sàng chiến đấu cao của tàu và nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện kĩ thuật trong chiến đấu. Cơ sở TCCĐCT là các bảng bố trí chiến đấu trên tàu.

        TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tổ chức cơ sở của ĐCS VN được thành lập ở các đơn vị cơ sở của QĐND VN (trung đoàn, lữ đoàn, tiểu đoàn, đại đội trực thuộc sư đoàn và tương đương). Căn cứ vào số lượng, chất lượng đảng viên và cơ cấu tổ chức đơn vị mà thành lập TCCSĐ: ba cấp (đảng bộ cơ sở, đảng bộ bộ phận, chi bộ), ở trung đoàn, lữ đoàn có các tiểu đoàn và tương đương; hai cấp (đảng bộ cơ sở, chi bộ) ở trung đoàn không có tiểu đoàn, ở tiểu đoàn độc lập và tương đương; một cấp (chi bộ cơ sở) ở đại đội độc lập và tương đương. TCCSĐ hoạt động theo điều lệ Đảng và các quy định của BCHTƯ, BCT, Ban bí thư và Đảng ủy QS trung ương. Nhiệm vụ chủ yếu: lãnh đạo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng đảng bộ trong sạch vũng mạnh, làm tốt công tác vận động quần chúng, lãnh đạo công tác kiểm tra,... phù hợp với tính chất và đặc điểm nhiệm vụ của từng loại TCCSĐ (đơn vị, cơ quan, nhà trường, bệnh viện, công ti, xí nghiệp...). Đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên của TCCSĐ 5 năm họp hai lần; đại hội chi bộ trong TCCSĐ mỗi năm 1 lần; đảng úy TCCSĐ nếu có 9 ủy viên trở lên bầu ra ban thường vụ.

        TỔ CHỨC CỨU CHỮA VẬN CHUYỂN THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, tổng thể các hoạt động phân loại cấp cứu, điều trị, vận chuyển thương binh, bệnh binh. TCCCVCTB.BB trong chiến tranh được tiến hành bằng các hình thức: tổ chức cứu chữa, vận chuyển theo tuyến trên từng hướng hoặc trong từng khu vực; kết hợp cứu chữa theo tuyến vận chuyển theo chỉ định về hậu phương (chỉ định y học) với điều trị tại chỗ ở từng khu vực; kết hợp quân y với dân y. Tổ chức cứu chữa theo tuyến là phân chia việc cấp cứu và điều trị thành từng thể loại cứu chữa, tiến hành một cách kịp thời, thống nhất, liên tục, kế tiếp nhau trên các tuyến. Có các thể loại cứu chữa: cấp cứu đầu tiên (do y tá, cứu thương đại đội và bộ đội tiến hành), bổ sung cấp cứu (do y sĩ tiểu đoàn), cứu chữa bước đầu (do tuyến quân y trung đoàn), cứu chữa cơ bản (do tuyến quân y sư đoàn), cứu chữa chuyên khoa (do tuyến quân y chiến dịch). Người chỉ huy quân y phải vận dụng những hình thức và thể loại TCCCVCTB.BB một cách linh hoạt sáng tạo vào những điểu kiện cụ thể.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #111 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:38:19 pm »


        TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM. bộ phận trong hệ thống tổ chức của ĐCS VN được tổ chức trong QĐND VN để thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mật của ĐCS VN đối với QĐND VN. TCĐTQĐNDVN, được tổ chức tương ứng với hệ thống tổ chức của QĐ gồm: Đảng ủy quân sự trung ương lãnh đạo mọi mặt đối với toàn quân; cấp quân khu, BTTM - cơ quan BQP, tổng cục, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, sư đoàn (và tương đương) mỗi đảng bộ có BCH (gọi tắt là đảng ủy) do đại hội cùng cấp dân chủ bầu cử, trường hợp đặc biệt do đảng ủy cấp trên chỉ định (đảng ủy quân khu ngoài số cấp ủy viên do đại hội cùng cấp dân chủ bầu cử còn có bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc trung ương trên địa bàn quân khu tham gia); cấp trung đoàn, lữ đoàn, tiểu đoàn, đại đội trực thuộc sư đoàn (và tương đương) thành lập tổ chức cơ sở đảng (x. tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam). Tổ chức đảng QS địa phương ở cấp nào đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương cấp đó về mọi mặt, đồng thời chấp hành nghị quyết của đảng ủy QS cấp trên về nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và công tác QS địa phương. Đảng ủy quân sự tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã (và tương đương) ngoài số cấp ủy viên do đại hội cùng cấp dân chủ bẩu cử, còn có bí thư và một số cấp ủy viên địa phương cùng cấp tham gia, do bí thư cấp ủy địa phương cùng cấp làm bí thư.

        TỔ CHỨC GIẢI PHÓNG PALEXTIN, tổ chức chính trị tập hợp hầu hết các tổ chức QS - chính trị yêu nước của nhân dân Palextin nhằm chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Xiôn: thành viên của Phong trào không liên kết, Liên đoàn các nước Arập (AL), Tổ chức hội nghị Hồi giáo (OIC) và của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác. Thành lập 1964, gồm: Phong trào giải phóng dân tộc Palextin (Anfatah); Quân giải phóng Palextin; Mặt trận dân chủ giải phóng Palextin; Mặt trận nhân dân giải phóng Palextin và một số tổ chức khác. TCGPP đã và đang lãnh đạo nhân dân Palextin đấu tranh giành quyền tự quyết và các quyền dân tộc cơ bản, trong đó có quyền thành lập một nhà nước Palextin độc lập trên lãnh thổ của mình và đấu tranh nhằm thiết lập một nền hòa bình bền vững ở Trung Cận Đông. TCGPP được hội nghị những người đứng đầu các nước Arập (1973), hội nghị những người đứng đầu các nước theo đạo Hồi (1974) và hơn 100 nước công nhận là người đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân Palextin; được hưởng quy chế quan sát viên tham gia hoạt động của Đại hội đồng LHQ và các hội nghị quốc tế dưới sự bảo trợ của LHQ. Có đại diện ở hàng chục nước, trong đó có VN. Các cơ quan chủ yếu gồm: Hội đồng dân tộc Palextin, BCH TCGPP (do Araphat làm chủ tịch). Dưới sự lãnh đạo của TCGPP, nhân dân Palextin đã giành được thắng lợi quan trọng buộc nhà cầm quyền Ixraen kí hiệp định hòa bình Trung Đông (1993), trao quyền tự trị cho người Palextin ở bờ Tây sông Gioocđan và dải Gada. Cg PLO.

        TỔ CHỨC HẬU CẦN, tổng thể các hoạt động do chủ nhiệm hậu cần và cơ quan hậu cần tiến hành theo ý định của người chỉ huy để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hậu cần. TCHC là một nôi dung quan trọng của chuẩn bị chiến đấu (chiến dịch); gồm: tổ chức, sắp xếp, bố trí lực lượng hậu cần, chuẩn bị đường vận tải, tổ chức phòng vệ hậu cần...

        TỔ CHỨC HIỆP ƯỚC VACSAVA, liên minh QS - chính trị nhằm bảo vệ an ninh của các nước XHCN châu Âu, duy trì, củng cố hòa bình ở châu Âu và trên thế giới. Thành lập trên cơ sở hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ giữa tám nước: Bungari, Hunggari, CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, LX, Tiệp Khắc và Anbani (1962 rút khỏi hiệp ước), kí 14.5.1955 ở Vacsava (Ba Lan), có hiệu lực từ 5.6.1955. Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Hội nghị chính trị hiệp thương, gồm những người đứng đầu đảng và chính phủ các nước thành viên, có hai cơ quan giúp việc (thành lập 1976) là HĐBT ngoại giao và Ban thư kí. Tổ chức QS gồm có HĐBT quốc phòng, LLVT thống nhất và Bộ chỉ huy thống nhất, ngoài ra còn có Hội đồng QS, Bộ tham mưu LLVT thống nhất và các cơ quan chỉ huy khác để chỉ huy  hoạt động của LLVT thống nhất. Tổng tư lệnh các LLVT thống nhất đầu tiên: nguyên soái I. X. Cônhep (LX). Trong thời gian tồn tại TCHƯV đã tăng cường được khả năng phòng thủ của các nước XHCN, trở thành một nhân tố duy trì hòa bình ở châu Âu, tích cực đấu tranh chống chính sách hiếu chiến và xâm lược của CNĐQ, hỗ trợ có hiệu quả phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình trên thế giới. Do sự sụp đổ của các nhà nước XHCN Đông Âu và việc thống nhất CHDC Đức vào CHLB Đức (1990), sự tồn tại của TCHƯV không còn ý nghĩa. 25.2.1991 hội nghị bộ trường ngoại giao và bộ trưởng quốc phòng các nước thành viên hiệp ước họp tại Buđapet (Hunggari) đã tuyên bố giải thể TCHƯV. Đến 1.7.1991 chấm dứt sự tồn tại.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #112 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:40:58 pm »


        TỔ CHỨC HÒA BÌNH XANH (A. Green Peace), tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế; ra đời 1971 từ một nhóm người Canada và Mĩ trên chiếc tàu nhỏ ở cảng Vancuyơ (Canada) phản đối những vụ thử vũ khí hạt nhân của Mĩ trên đảo Amchitca trong vịnh Alaxca. Trụ sở đặt tại Amxtecđam (Hà Lan). Hiện có 3,5 triệu người tham gia và 1.000 nhân viên làm việc tại hơn 30 nước trên thế giới; mỗi năm sử dụng khoảng 750 triệu USD cho chương trình bảo vệ môi trường. TCHBX đấu tranh đòi thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ môi trường như cấm thử vũ khí hạt nhân, cấm đổ chất thải hạt nhân xuống biển, không sử dụng các khí độc gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ tầng ôdôn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt dần, bảo vệ động vật, bảo vệ rừng... Hoạt động của TCHBX bị một số thế lực QS cản trở. 1985 trong lần phản đối Pháp thử lại vũ khí hạt nhân ở Nam Thái Bình Dương, một chiếc tàu của TCHBX đã bị tình báo Pháp đánh chìm.

        TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG PHÒNG NGỰ, tổng thể các hoạt động sử dụng lực lượng để thực hiện nhiệm vụ phòng ngự; một nội dung trong ý định tác chiến phòng ngự. TCLLPN phải căn cứ vào tình hình cụ thể; phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng; tập trung lực lượng vào hướng, khu vực phòng ngự chủ yếu; có lực lượng đủ sức giữ các trọng điểm (mục tiêu phòng ngự chủ yếu) và lực lượng cơ động kịp thời đáp ứng các tình huống; bí mật bất ngờ, hạn chế tổn thất, duy trì sức chiến đấu liên tục dài ngày. TCLLPN gồm: lực lượng tác chiến vòng ngoài; lực lượng phòng ngự giữ trận địa; lực lượng cơ động tiến công; lực lượng hỏa lực; lực lượng dự bị các binh chủng; lực lượng hậu cần kĩ thuật; các đội chuyên trách và các lực lượng bổ sung (nếu có); các SCH.

        TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG TIẾN CÔNG, tổng thể các hoạt động sử dụng lực lượng để thực hiện nhiệm vụ tiến công; một nội dung trong ý định tác chiến tiến công. TCLLTC phải căn cứ vào cách đánh và tình hình cụ thể và việc chọn mục tiêu, hướng tiến công, phương pháp, thứ tự tiêu diệt địch. TCLLTC phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong khu vực tác chiến, nhưng tập trung lực lượng vào hướng, mục tiêu chủ yếu, các trận then chốt; có lực lượng đủ sức đánh địch trong và ngoài công sự; hạn chế tổn thất, duy trì sức chiến đấu liên tục. TCLLTC gồm: lực lượng tạo thế, nghi binh; lực lượng tiến công địch (trong và ngoài công sự); lực lượng dự bị binh chủng hợp thành; lực lượng hỏa lực; lực lượng dự bị binh chủng; lực lượng làm các nhiệm vụ thọc sâu, chia cắt, bao vây, vu hồi, đón lõng...; lực lượng hậu cần kĩ thuật; các đội chuyên trách; các SCH.

        TỔ CHỨC QUÂN SỰ, 1) cơ cấu của LLVT để bảo đảm thành phần và tỉ lệ hợp lí giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị, giữa các bộ phận hợp thành LLVT, giữa các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn và các ngành nghiệp vụ, giữa cơ quan chỉ huy, lực lượng chiến đấu và lực lượng bảo đảm trong LLVT để thực hiện nhiệm vụ QS. TCQS phải phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, quy luật, nguyên tắc tổ chức và những yếu tố liên quan khác (con người, trang bị, điểu kiện kinh tế, chính trị, xã hội...); có đủ sức chiến đấu và hoàn thành các nhiệm vụ; 2) QĐ, đơn vị LLVT.

        TỔ CHỨC TÁC CHIẾN, tổng thể các hoạt động do người chỉ huy, cơ quan tham mưu và các cơ quan khác thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành nhiệm vụ tác chiến; một nội dung của chuẩn bị tác chiến. TCTC gồm: hạ quyết tâm, lập kế hoạch, giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng, tổ chức chỉ huy, tiến hành CTĐ,CTCT và các mặt bảo đảm.

        TỔ CHỨC TRINH SÁT, tổng thể các hoạt động nhằm bảo đảm  trinh sát cho cơ quan tham mưu và người chỉ huy. TCTS được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị tác chiến. Gồm: xác đinh nhiệm vụ, lập kế hoạch, ra chỉ lệnh, hiệp đồng trinh sát; tổ chức lực lượng và chuẩn bị khí tài trinh sát. TCTS được thực hiện theo lệnh của cơ quan tham mưu (ngành nghiệp vụ quân báo - trinh sát) và người chỉ huy cấp trên hoặc theo quyết tâm tác chiến và chỉ lệnh trinh sát của cấp mình.

        TỔ CHỨC VÀ CHIẾN THUẬT QUÂN Y, chuyên ngành y học QS nghiên cứu về tổ chức bảo đảm quản y thời chiến. Nội dung TCVCTQY gồm: nghiên cứu những kinh nghiệm bảo đảm quân y cho LLVT và điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động của quân y trong mọi tình huống tác chiến, tìm ra những quy luật, hình thức và phương pháp tổ chức, chỉ huy và bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiền và điều kiện hoạt động chiến đấu cụ thể của QĐ.

        TỔ CÔNG BINH, nhóm chiến sĩ công binh (thường từ 3-4 người) được tổ chức lâm thời trong các đơn vị công binh để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong chiến đấu hoặc công tác. TCB có thể thực hiện nhiệm vụ trong đội hình phân đội công binh hoặc hoạt động độc lập. Theo chức năng, nhiệm vụ có TCB: gây nổ, cấp nước, phá bom.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #113 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:42:33 pm »


        TỔ ĐẠI DIỆN KHÔNG QUÂN, nhóm sĩ quan tác chiến không quân được phái đến SCH binh đoàn, liên binh đoàn của các quân chủng khác để duy trì hiệp đồng và theo dõi sử dụng không quân trong quá trình tác chiến. TĐDKQ được trang bị các phương tiện kĩ thuật cần thiết để gọi máy bay đến hoạt động theo kế hoạch hoặc theo lệnh gọi; chỉ đạo các tổ chỉ thị mục tiêu trên các hướng tác chiến; thay đổi mục tiêu, nhiệm vụ, vị trí chiến đấu cho các máy bay đang bay; thông báo về hoạt động của không quân cho các đơn vị có liên quan.

        TỔ ĐẶC CÔNG, phân đội chiến thuật cơ sở của binh chủng đặc công, có thể chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình mũi đặc công, đội đặc công. Biên chế 4-6 người, được trang bị gọn, mạnh để luồn sâu đánh các mục tiêu trong hậu phương, trận địa, kho tàng,... địch hoặc làm nhiệm vụ mở cửa, đánh chiếm và bảo vệ đầu cầu.

        TỔ ĐỘT KÍCH, thành phần của mũi tiến công, thường là một trung đội bộ binh được trang bị thêm thuốc nổ và hỏa lực. Có TĐK 1 và TĐK 2. TĐK 1: lợi dụng kết quả hỏa lực mà mở cửa đánh chiếm đầu cầu, thực hành các thủ đoạn tác chiến, tiêu diệt mục tiêu tạo điều kiện cho TĐK 2 phát triển chiến đấu; sẵn sàng tăng cường lực lượng cho bộ phận (đội) mở cửa đánh chiếm đầu cầu trong tình huống bộ phận này chưa hoàn thành nhiệm vụ. TĐK 2: lợi dụng kết quả của TĐK 1 tiêu diệt lực lượng còn lại trong phạm vi nhiệm vụ của đại đội, hiệp đồng cùng đơn vị bạn đánh bại phản kích của địch, giữ vững khu vực đã chiếm, sẵn sàng phát triển chiến đấu vào chiều sâu phòng ngự của địch.

        TỔ HỎA LỰC, thành phần của bộ phận (đội) mở cửa đánh chiếm đầu cầu, được trang bị các phương tiện hỏa lực, có nhiệm vụ tiêu diệt và kiềm chế hỏa điểm của địch ở khu vực cửa mở, yểm hộ trực tiếp cho tổ mở cửa. Khi thực hiện nhiệm vụ phải chuẩn bị công sự, trận địa, xác định cự li bắn chính xác vào các mục tiêu được phân công.

        TỔ HỢP CÔNG NGHIỆP - QUÂN SỰ, liên minh của các tổ chức độc quyền công nghiệp quốc phòng với giới quân phiệt trong bộ máy quyền lực nhà nước ở các nước TBCN, tạo thành một thế lực hỗn hợp kinh tế - chính trị - QS trực tiếp chi phối đường lối chính trị, kinh tế và QS (vạch các chính sách QS và kinh tế - QS, học thuyết và chiến lược QS, kế hoạch xây dựng LLVT, các chương trình chế tạo vũ khí mới...) theo hướng đẩy mạnh quân sự hóa và chạy đua vũ trang nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền; một sản phẩm tất yếu của CNTB độc quyền nhà nước, phản ánh bản chất hiếu chiến, xâm lược và phản động của CNĐQ. THCN-QS phát triển mạnh sau CTTG-II ở Mĩ. sau đó trở thành phổ biến ở các nước tư bản phát triển. Các bộ phận kết thành THCN-QS gồm: các tập đoàn tư bản độc quyền công nghiệp quốc phòng, các cơ quan nghiên cứu và thực nghiệm khoa học KTQS, giới quân phiệt trong bộ máy chính quyền (quan chức chính phủ và BQP) và cơ quan chuẩn chi ngân sách QS của quốc hội, trong đó các tập đoàn tư hàn độc quyền công nghiệp quốc phòng là cơ sở kinh tế của THCN- QS giữ vai trò quyết định.

        TỔ HỢP PHÁO PHÒNG KHÔNG, tổ hợp một (hay một số) pháo phòng không, khí tài quan sát và chỉ huy bắn (rađa, pháo, máy đo xa. máy tính - chỉ huy, hệ thống bám...) và nguồn điện, có liên hệ chức năng với nhau để diệt mục tiêu trên không. Các THPPK trên bộ hiện nay thường dùng pháo cỡ nhỏ (20-57mm), lắp đặt trên một xe để diệt mục tiêu bay thấp. Điển hình như: ZSU-23 có 4 nòng cỡ 23mm (LX); Vuncan Phalanxơ 6 nòng cỡ 20mm (Mĩ); AMX 2 nòng cỡ 30mm (Pháp); VEAK-40 có 2 nòng cỡ 40mm (Thụy Điển)... THPPK trên tàu chiến là các pháo cỡ nhỏ, có tốc độ bắn nhanh, để diệt mục tiêu trên không trong tầm hỏa lực (máy bay, máy bay trực thăng, tên lửa đối hạm...), vd: Phalanxơ 6 nòng, cỡ 20mm, tốc độ bắn 3.000 phát/phút (Mĩ), BK-27 có 4 nòng, tốc độ bắn 7.200 phát/phút (Đức), Gôn Kipơ có 7 nòng, cỡ 30mm, tốc độ bắn 4.200 phát/phút (Hà Lan)... THPPK xuất hiện từ CTTG-II.

        TỔ HỢP TÊN LỬA, tổ hợp gồm tên lửa và các khí tài làm nhiệm vụ chỉ huy, phóng, điều khiển tên lửa theo yêu cầu. THTL thường gồm: thiết bị quan sát, chỉ thị, bám mục tiêu, tên lửa, thiết bị phóng, thiết bị điều khiển, chỉ huy và các thiết bị phụ khác. Theo lĩnh vực sử dụng, có: THTL nghiên cứu (vũ trụ, địa vật lí, khí tượng...), THTL chiến đấu và THTL huấn luyện; theo quy mô nhiệm vụ, có: THTL chiến lược, THTL chiến dịch - chiến thuật, THTL chiến thuật; theo công dụng chiến đấu, có: THTL phòng không, THTL chống tăng, THTL chống ngầm, THTL chống tên lửa...; theo nơi đặt, có: mặt đất (cố định, nửa cố định, cơ động), THTL trên tàu (tàu mặt nước, tàu ngầm) và THTL hàng không (trên máy bay, máy bay trực thăng).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #114 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:49:28 pm »


        TỔ HỢP TÊN LỬA - PHÁO PHÒNG KHÔNG, tổ hợp hệ thống tên lửa phòng không có điều khiển, pháo phòng không và khí tài chỉ huy lắp trên xe chuyên dụng, tự hành, có liên hệ chức năng với nhau để tăng khả năng hỏa lực khi bắn các mục tiêu bay thấp. Các THTL-PPK điển hình: SA-19 (Nga) đặt trên xe xích, lắp 8 tên lửa 9M311 và 2 pháo phòng không 2 nòng cỡ 30mm; Lay-25 (Mĩ) lắp 8 tên lửa Xtingơ và pháo phòng không 25mm; Samos (Pháp) lắp 4 tên lửa WNW và pháo phòng không 7 nòng cỡ 30mm...


        TỔ HỢP TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG X. TIỂU ĐOÀN HỞA Lực TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG

        TỔ HỢP VŨ TRỤ, tổ hợp các khí cụ có liên hệ chức năng với nhau trên vũ tru và phương tiện kĩ thuật ở mạt đất, được dùng giải quyết một cách độc lập những nhiệm vụ trong vũ trụ. từ vũ trụ hoặc để đảm bảo những nhiệm vụ đó trong thành phần của hệ thống vũ trụ. THVT gồm: tên lửa vũ trụ, khí cụ vũ trụ, tổ hợp kĩ thuật, tổ hợp phóng, các thiết bị của trung tâm đo đạc trên sân bay vũ trụ, trung tâm điểu khiển khí cụ vũ trụ ở mặt đất.

        TỔ MỞ CỬA, thành phần của bộ phận (đội) mở cửa đánh chiến đầu cầu, được trang bị các phương tiện mở cửa và hỏa khí, có nhiệm vụ tạo cửa mở qua vật cản của địch, tạo điều kiện cho lực lượng đánh chiếm đầu cầu. Khi thực hiện nhiệm vụ phải triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu, bí mật vận động tiến sát vật cản và mở cửa theo đúng quy cách và thời gian quy định. TMC được tổ hỏa lực trực tiếp bảo vệ và hỏa lực của cấp trên chi viện.

        TỔ SĂN DIỆT TĂNG, tổ chức lâm thời thường từ 3 đến 5 chiến sĩ bộ binh được trang bị các vũ khí và phương tiện chống tăng mang vác để làm nhiệm vụ tìm diệt xe tăng địch.

        TỔ TRINH SÁT. tổ chức làm thời thường gồm một tổ, một tiểu đội do cấp trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội hoặc do các toán, đội trinh sát phái ra làm nhiệm vụ trinh sát đặc biệt hoặc làm nhiệm vụ do toán, đội trinh sát giao. Theo nhiệm vụ, có: TTS cơ động luồn sâu, TTS tuần tiễu sục sạo chiến đấu, TTS tuần tiễu độc lập. TTS có thể dùng phương pháp trinh sát: quan sát, chụp ảnh, nghe trộm, phục kích, bắt tù binh...

        TỔ TRINH SÁT CƠ ĐỘNG LUỒN SÂU của pháo binh, tổ trinh sát pháo binh thường do cấp trung (lữ) đoàn pháo binh hoặc sư đoàn bộ binh tổ chức để bí mật cơ động luồn sâu vào đội hình địch thu thập tin tức, phát hiện và xác định các mục tiêu quan trọng, phục vụ bắn trong một thời gian nhất định của trận chiến đấu (chiến dịch). Thủ đoạn hoạt động cơ bản là bí mật cơ động luồn lách tránh địch. TTSCĐLScpb được tổ chức trang bị gọn nhẹ, hợp lí bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao. TTSCĐLS lần đầu tiên được sử dụng tại mặt trận Bắc Quảng Trị 9.1967, gồm 5 cán bộ và chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn pháo binh 164 từ bờ bắc luồn sang bờ nam sông Bến Hải, trinh sát phát hiện Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 2 Mĩ ở nam cứ điểm Cồn Tiên, bảo đảm cho trung đoàn tập kích hỏa lực vào mục tiêu có hiệu quả (19.9.1967).

        TỔ TRINH SÁT PHÁO BINH, tổ chức lâm thời tập hợp một số quân nhân từ các phân đội chuyên môn dưới sự chỉ huy chung để thực hiện nhiệm vụ trinh sát nhất định trong trận chiến đấu (chiến dịch). Để trinh sát địa hình có thể lập tổ trinh sát để trinh sát đường cơ động, trinh sát nơi trú quân, trinh sát trận địa bắn. Để trinh sát địa hình và địch có tổ trinh sát đi trước, làm nhiệm vụ trinh sát địch, lựa chọn đài quan sát và những khu vực có thể bố trí trận địa bắn trong hành quân có dự kiến gập địch. Để trinh sát địch cổ tổ trinh sát cơ động luồn sâu, tổ trinh sát vùng địch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #115 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:52:27 pm »


        TỔ TRINH SÁT VÙNG ĐỊCH của pháo binh, tổ trinh sát pháo binh hoạt động dài ngày và sâu trong hậu phương địch để trinh sát các mục tiêu quan trọng có ý nghĩa chiến dịch, phục vụ bắn. Do chủ nhiệm pháo binh quân khu, quân đoàn, mặt trận phái ra, có sự hiệp đồng và hỗ trợ của trinh sát bộ đội binh chủng hợp thành. TTSVĐ được huấn luyện riêng, trang bị gọn nhẹ, có khả năng hoạt động độc lập, dài ngày, dựa vào cơ sở địa phương và vận dụng nhiều phương pháp, thủ đoạn trinh sát khác nhau. Trong KCCM, TTSVĐ đã được sử dụng nhiều ở mặt trận Đường 9. Năm 1968, TTSVĐ thuộc Đại đội trinh sát 767 đã phát hiện, xác định chính xác các kho nhiên liệu và đạn dược ở căn cứ Đông Hà (Quảng Trị), quan sát đạn bắn giúp cho Trung đoàn pháo binh 204 tập kích hỏa lực độc lập 20.6.1968. Trong chiến dịch TrỊ-Thiên 1972, TTSVĐ đã phát hiện chính xác sở chỉ huy Sư đoàn 3 QĐ Sài Gòn ở căn cứ Ái Tử, đảm bảo cho tập kích hỏa lực “Bão táp 3” của pháo binh chiến dịch; kịp thời phát hiện địch chuẩn bị rút chạy khỏi Quảng Trị, giúp bộ chỉ huy chiến dịch kịp xứ trí, hạ quyết tâm đánh địch.

        TỐ CỘNG, chính sách của Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện 7.1954-60 nhằm xóa bỏ tư tưởng cộng sản, tìm diệt cán bộ CM, đảng viên ĐCS, lực lượng kháng chiến và các cơ sở của CM hoạt động bí mật ở miền Nam VN. Được tiến hành qua hai giai đoạn: giai đoạn 1 (7.1954-7.1956) làm thí điểm ở Tây Nguyên và miền Trung; giai đoạn 2 (7.1956- cuối 1960) thực hiện khắp miền Nam với các chiến dịch QS càn quét, đánh phá các cơ sở CM. Để chỉ đạo và triển khai TC, Mĩ và chính quyền Sài Gòn thành lập hệ thống hội đồng TC từ trung ương đến cơ sở, gồm đại diện các ngành QS, mật vụ, tình báo, cảnh sát. tâm lí chiến,... do người đứng đầu chính quyền các cấp làm chủ tịch; mở các lớp học TC ở nhiều nơi nhằm trấn áp tinh thần, kết hợp với khủng bố bằng bạo lực. Luật 10-59 có những điều khoản hợp pháp hóa mục tiêu diệt cộng. TC đã gây cho CM miền Nam những tổn thất nghiêm trọng về người và tổ chức (1954-60 có: 466.000 đảng viên và người yêu nước bị bắt; 400.000 người bị tù đày; 65.000 người bị giết), nhưng cuối cùng đã thất bại, buộc Mĩ và chính quyền Sài Gòn phải chuyển sang tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt.

        TỐC CHIẾN TỐC THẮNG X. ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH

        TỐC ĐỘ BAY, đại lượng đặc trưng cho mức độ chuyển động nhanh, chậm của khí cụ bay trên đường bay. Đơn vị tính: m/s (có thể dùng km/h - hoặc km/s). Theo hệ quy chiếu, có: không tốc (so với mới trường khí quyển), địa tốc (so với mặt đất); theo giá trị, có: TĐB lớn nhất, TĐB nhỏ nhất, TĐB trung bình; theo trạng thái, có: tốc độ tiếp đất (hạ cánh), tốc độ rời đất (cất cánh), tốc độ cho tầm bay, tốc độ cho thời gian bay lâu nhất; so với tốc độ âm thanh (thường dùng cho máy bay), có: TĐB dưới âm (số M<1), TĐB gần âm (M=l), TĐB vượt âm (1<M<5) và siêu âm hay siêu vượt âm (M>5). Với khí cụ vũ trụ, có tốc độ vũ trụ. TĐB phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng khí động (hình dáng, chất lượng bể mặt vỏ...) và trang bị động lực của khí cụ bay. Hiện nay, các biện pháp để nâng cao TĐB là: tăng chất lượng khí động bằng hình dáng và vật liệu vỏ mới. đổi mới kết cấu động cơ, dùng nhiên liệu mới... TĐB là thông số chiến-kĩ thuật quan trọng của các khí cụ bay dùng trong QS.

        TỐC ĐỘ BẮN, số phát bắn có thể thực hiện được trong một đơn vị thời gian (thường là 1 phút) đối với một mẫu vũ khí nhất định; một trong những tính năng chiến - kĩ thuật chủ yếu của vũ khí. Có: TĐB kĩ thuật, TĐB chiến đấu. TĐB kĩ thuật (TĐB lí thuyết) là TĐB lớn nhất mà khả năng kĩ thuật của vũ khí cho phép, được xác định căn cứ theo thời gian giữa hai phát bắn kế tiếp nhau hoặc thời gian chu trình làm việc của cơ cấu bắn tự động. TĐB chiến đấu (TĐB thực tế) là TĐB lớn nhất có thể thực hiện được trong điều kiện chiến đấu, có tính tới thời gian ngắm, nạp đạn lại và di chuyển hỏa lực từ mục tiêu này tới mục tiêu khác... TĐB chiến đấu luôn nhỏ hơn TĐB kĩ thuật và phụ thuộc vào các yếu tố: tính năng, chất lượng; độ ổn định của vũ khí; đặc tính và phân bố của mục tiêu; dạng hỏa lực (bắn phát một, điểm xạ ngắn hoặc dài, bắn liên tục...), mức độ thành thục, tinh thần và sức khỏe của người bắn (xạ thủ). Nâng cao TĐB chiến đấu là một trong những biện pháp để bảo đảm mật độ hỏa lực cao.

        TỐC ĐỘ ĐẠN, đại lượng đặc trưng cho mức độ chuyển động nhanh chậm của đạn trên quỹ đạo được đo bằng m/s, đôi khi bằng chỉ số M. Đối với đạn pháo (cối, súng) đại lượng quan trọng nhất là sơ tốc đạn. TĐĐ đạt giá trị cực đại ở cuối thời kì tác động sau cùng của khí thuốc (x. thuật phóng trong), sau đó dưới tác động của trọng lực và lực cản của không khí TĐĐ giảm đi, đạt giá trị nhỏ nhất ở đỉnh đường đạn, rồi lại tăng liên tục cho đến điểm rơi. Đối với đạn phản lực hoặc đạn phản lực tích cực đại lượng quan trọng nhất là tốc độ cực đại, đạt được ở cuối đoạn tích cực của quỹ đạo, sau đó thay đổi như với đạn thường.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #116 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:54:11 pm »


        TỐC ĐỘ HÀNH QUÂN, tốc độ di chuyển trung bình của bộ đội khi hành quân, được tính bằng cách lấy quãng đường hành quân chia cho tổng số thời gian đi và nghỉ. TĐHQ được quy định cho hành quân đi bộ, hành quân bằng phương tiện cơ giới. TĐHQ tuỳ thuộc vào: nhiệm vụ được giao, tình hình đối phương, tình hình cầu đường, khả năng và phương tiện hành quân của bộ đội và trình độ tổ chức của người chỉ huy...

        TỐC ĐỘ TIẾN CÔNG, tốc độ vận động của lực lượng tiến công vào đội hình địch, được tính bằng km/h hoặc bằng kilômét trong một ngày đêm. TĐTC tuỳ thuộc vào khả năng chiến đấu, mức độ chuẩn bị, mức độ chế áp của ta và sự chống trả của địch, tính chất địa hình và các yếu tố khác. Có TĐTC bằng vận động trên bộ và TĐTC bằng xe cơ giới. TĐTC càng nhanh, càng giảm được tổn thất và phá được thế của địch. Khi lập kế hoạch tác chiến phải xác định cụ thể tốc độ và thời gian hoàn thành nhiệm vụ tiến công.

        TỐC ĐỘ VŨ TRỤ, tốc độ nhỏ nhất mà khí cụ bay vũ trụ cần đạt tới để bay vào vũ trụ theo một dạng quỹ đạo xác định. Có 3 TĐVT: cấp một, cấp hai và cấp ba. TĐVT cấp một (V1) là tốc độ nhỏ nhất cần thiết để khí cụ vũ trụ trở thành vệ tinh nhân tạo của Trái Đất với quỹ đạo tròn; trên mặt đất Vl=7,91km/s, ở độ cao 200km Vl=7,78km/s. TĐVT cấp hai (V2) là tốc độ nhỏ nhất cần thiết để khí cụ vũ trụ thoát khỏi sức hút của Trái Đất và trở thành vệ tinh nhân tạo của Mặt Trời; trên mật đất V2=ll,186km/s, ở độ cao 200km V2=ll,01km/s. TĐVT cấp ba (V3) là tốc độ nhỏ nhất cần thiết để khí cụ vũ trụ xuất phát gần mặt đất thắng được sức hút của Mặt Trời, thoát khỏi Thái Dương hệ, di vào không gian giữa các vì sao; V3=16,67km/s. Khái niệm TĐVT cũng dược áp dụng khi phân tích chuyển động của khí cụ vũ trụ trong trường hấp dẫn của các hành tinh khác hay các vệ tinh tự nhiên của chúng, hoặc của Mặt Trời (vd: ở bề mặt Mặt Trăng V1=1,68km/s, V2=2,375km/s).

        TÔGÔ (Cộng hòa Tôgô; P Togo, République Togolaise, A. Republic of Togo), quốc gia ở Tây Phi. Dt 56.785km2; ds 5,43 triệu người (2003); chủ yếu người Eve, Mina... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp. Tôn giáo: 60% theo Bái vật giáo, 25% đạo Cơ Đốc... Thủ đô: Lômê. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên, nam là đồng bằng, tây nam là núi, đỉnh cao nhất 986m. Khí hậu xích đạo, cận xích đạo. Các sông lớn: Mônô, Ôti. Dọc theo các sông là rừng nhiệt đới. Nước nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển. GDP 1,259 ti USD (2002), bình quân đầu người 270 USD. Thành viên LHQ (20.9.1960), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 8.2.1975. LLVT: lực lượng thường trực 9.450 người (lục quân 9.000, hải quân 200, không quân 250), lực lượng bán vũ trang 750 người. Tuyển quân theo chế độ động viên. Thời hạn phục vụ 24 tháng. Trang bị: 11 xe tăng, 20 xe chiến đấu bộ binh, 55 xe thiết giáp trinh sát, 34 xe thiết giáp chở quân, 10 pháo mặt đất, 20 súng cối 82mm, 43 súng máy và pháo phòng không, 16 máy bay chiến đấu, 2 tàu tuần tiễu... Ngân sách quốc phòng 33 triệu USD (2002).



        TỐI HẬU THƯ, văn bản đưa ra những yêu sách buộc đối phương phải thực hiện trong một thời gian nhất định, nếu không sẽ bị áp dụng những biện pháp mạnh (vũ lực). THT được thể hiện dưới dạng công hàm của một nước (liên minh các nước) gửi cho một nước (liên minh các nước) khác hoặc của người chỉ huy cao nhất của một bên tham chiến gửi cho đối phương. Việc bác bỏ THT thường dẫn tới cắt đứt quan hệ ngoại giao, bị trừng phạt về kinh tế hoặc bị áp dụng những biện pháp QS ác liệt hơn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #117 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:56:48 pm »

     
        TỘI ÁC TRONG CHIẾN TRANH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi vi phạm công pháp quốc tế về luật pháp và tập tục chiến tranh. Những hành vi chủ yếu của TATCT: sử dụng những phương tiện và phương pháp tác chiến đã bị công pháp quốc tế lên án; hủy diệt có chủ đích và hệ thống những thành tựu văn hóa, những khu dân cư; đối xử tàn bạo với tù binh, người bị thương, người ốm và dân thường; bắt giữ con tin; tấn công quốc gia trung lập, các khu trung lập, an ninh y tế... TATCT được quy định trong điều ước của Phiên tòa Nurembe và đã được dùng để xét xử tội phạm chiến tranh trong CTTG-II.   '

        TỘI BẠO LOẠN, tội phạm mà người phạm tội có hành vi bạo loạn; thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 82. người phạm TBL hoặc đồng phạm, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình; ngoài ra còn có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung theo điều 92.

        TỘI BỎ VỊ TRÍ CHIẾN ĐẤU, tội phạm mà người phạm tội có hành vi bỏ vị trí hoặc không thực hiện nhiệm vụ trong chiến đấu; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 324, người phạm TBVTCĐ tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tù chung thân.

        TỘI CHIẾM ĐOẠT HOẶC HỦY HOẠI CHIẾN LỢI PHẨM, tội phạm mà người phạm tội có hành vi chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm, thuộc các tội xăm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 337, người phạm TCĐHHHCLP tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 12 năm.

        TỘI CHIẾM ĐOẠT VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện KTQS; thuộc các tội xâm phạm an toàn và trật tự công cộng, được quy định tại chương XIX, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 230, người phạm TCĐVKQD tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 1 năm đến chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư ưú từ 1 đến 5 năm.

        TỘI CHỐNG LOÀI NGƯỜI, tội phạm mà người phạm tội có hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư của một khu vực, phá hủy các nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hóa, tinh thần của một quốc gia dân tộc, làm đảo lộn nền tảng của một xã hội để phá hoại xã hội đó, hoặc có những hành vi diệt chủng, diệt môi trường tự nhiên, diệt sinh. TCLN đã được quy định trong điều ước của Phiên tòa Nurembe và được dùng để xét xử các tội phạm chiến tranh trong CTTG-II. Điều 392 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) đã quy định mức hình phạt đối với TCLN là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

        TỘI CHỐNG MỆNH LỆNH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi chống mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 316, người phạm TCML tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 6 tháng đến tử hình.

        TỘI DIỆT CHỦNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi tiêu diệt một bộ phận hay toàn thể cộng đồng người về các phương diện dân tộc, chủng tộc, nòi giống, tôn giáo hoặc chính trị (giết thành viên cộng đồng; xâm phạm nghiêm trọng đến sự toàn vẹn về thể chất hoặc tinh thần của thành viên cộng đồng; tạo ra những điều kiện sống làm hao mòn dần đến tuyệt diệt từng cộng đồng đó, kể cả việc ngăn cản sự sinh đẻ tự nhiên của họ; cưỡng bức trẻ em của những người trong cộng đồng này sang một cộng đồng khác). Trong CTTG-II (1939-45), Hitle đã phạm TDC trên quy mô lớn đối với nhiều dân tộc cháu Âu (Xlavơ, Do Thái...). Ở Campuchia, trong 4 năm cầm quyền (4.1975-1.1979), Pôn Pốt và Iêng Xari đã phạm TDC đối với chính nhân dân mình (giết hàng triệu người). Công ước quốc tế về TDC (9.12.1948) quy định; TDC dù xẩy ra với bất cứ lí do nào, người phạm tội với tư cách là cá nhân hay đại diện cho nhà nước, là kẻ thực hiện, chủ trương, cổ vũ, bao che đều bị xét xử và trừng trị tại nước đã xẩy ra diệt chúng hoặc trước một tòa án quốc tế mà các bên cam kết chấp nhận theo đúng pháp lí quốc tế (Mĩ là nước chưa tham gia công ước này). Điều 342 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định TDC thuộc tội danh của tội chống loài người, mức hình phạt: tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #118 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 08:58:54 pm »


        TỘI ĐÀO NGŨ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi đào ngũ; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 325, người phạm TĐN tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 12 năm.

        TỘI ĐẦU HÀNG ĐỊCH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi đầu hàng địch trong chiến đấu; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 322, người phạm TĐHĐ tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình.

        TỘI GÂY CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC, tội phạm mà người phạm tội có hành vi sử dụng vũ lực không hợp pháp (theo quan điểm của Hiến chương LHQ) nhằm chống lại chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của một quốc gia, một dân tộc. Luật pháp quốc tế coi TGCTXL là tội ác quốc tế lớn nhất chống hòa bình và an ninh nhân loại. Sau CTTG-II, tòa án QS quốc tế tiến hành ở Nurembe (Đức), ở Tôkiô (Nhật) đã xác định bọn phát xít Đức - Nhật phạm TGCTXL quốc tế nghiêm trọng nhất; 1967 Tòa án quốc tế Bectơrang Rutxen họp ở Xtôckhôm (Thụy Điển) đã kết luận: chính phủ Mĩ phạm TGCTXL chống nước VN. Điều 341 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định: “Người nào tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh xâm lược nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ một nước khác thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

        TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi gây rối trật tự công cộng; thuộc các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, được quy định tại chương XIX, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 245, người phạm TGRTTCC bị hình phạt thấp nhất từ 1 triệu đến 10 triệu đồng; mức cao nhất: tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tiền đến 10 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm, hoặc phạt tù đến 7 năm.

        TỘI GIÁN ĐIỆP. tội phạm mà người phạm tội có hành vi hoạt động gián điệp, thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 80, người phạm TGĐ tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình; ngoài ra còn có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung theo điều 92. Người nhận làm gián điệp nhưng không thực hiện nhiệm vụ và tự thú thành khẩn khai báo, được miễn trách nhiệm hình sự.

        TỘI HOẠT ĐỘNG PHỈ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi hoạt động trong các tổ chức phỉ, thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 83 người phạm THĐP, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình; ngoài ra theo điều 92, còn có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung.

        TỘI HỦY DIỆT MÔI TRƯỜNG, MÔI SINH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi phá hủy hoàn toàn những điều kiện về tự nhiên, xã hội trên quy mô rộng lớn nhằm ngăn trở hoạt động hoặc tiêu diệt đối phương trên các vùng đó như: dùng vũ khí hạt nhân gây nên sự hủy diệt hệ sinh thái tuyệt dối; dùng bom đạn và chất độc hóa học nhằm phá hủy hệ sinh thái từng vùng (hủy hoại mùa màng, vườn tược cây cối, thảm rừng, nguồn nước, diệt các động vật, vi sinh vật...); phá hoại để điều gây ngập lụt; triệt hạ thành phố, làng mạc để cưỡng bức dân chúng vào sống trong các trại tập trung... Trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), Mĩ đã phạm THDMT,MS một cách nghiêm trọng nhất, gây phẫn nộ trên toàn thế giới. Điều 342 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) đã quy định những hành vi hủy diệt môi trường, môi sinh thuộc tội danh của tội chống loài người, có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

        TỘI HỦY HOẠI VŨ KHÍ QUÂN DỤNG, PHƯƠNG TIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi phá hủy hoặc làm hư hỏng có chủ định vũ khí quân dụng, phương tiện KTQS trang bị cho QĐ; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 334, người phạm THHVKQD.PTKTQS tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 2 năm đến tử hình.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #119 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:01:13 pm »


        TỘI KHỦNG BỐ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi khủng bố công dân nước sở tại và nước ngoài; thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Ở VN, TKB được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 84, người phạm TKB căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, bị phạt tù từ 2 năm đến tử hình; ngoài ra có thể bị một hoặc một số hình phạt bổ sung theo điều 92.

        TỘI LÀM LỘ BÍ MẬT QUÂN SỰ, tội phạm mà người phạm tội có hành vi cố ý hay vô ý làm lộ hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật quân sự, thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 327, người cố ý phạm TLLBMQS, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm (nếu không thuộc điều 80 và 263), bị phạt tù từ 6 tháng đến 10 năm. Theo điều 328, người vô ý phạm TLLBMQS (nếu không thuộc điều 264) tuỳ theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm; hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm.

        TỘI LÀM MẤT VŨ KHÍ. tội phạm mà người phạm tội do làm mất hoặc vô ý làm hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện KTQS; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 335, người phạm TLMVK tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm; hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm.

        TỘI LÀM NHỤC, HÀNH HUNG ĐỒNG ĐỘI, tội phạm mà người phạm tội có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung đồng đội; thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy đinh tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 321, người phạm TLN.HHĐĐ tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. Các trường hợp phạm tội đối với chỉ huy hay cấp trên (điều 319), với cấp dưới (điều 320) trong quan hệ công tác, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm.

        TỘI NGƯỢC ĐÃI TÙ BINH, HÀNG BINH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi đối xử thô bạo (đe dọa, lăng nhục, tra tấn, không cho ăn, uống...) với tù binh, hàng binh, thuộc các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, được quy định tại chương XXIII, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 340, người phạm TNĐTB.HB tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

        TỘI PHÁ HOẠI HÒA BÌNH, tội phạm mà người phạm tội có hành vi tuyên truyền, kích động chiến tranh hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh nhằm những mục đích phi nghĩa, phản tiến bộ. TPHHB đã được quy định trong điều ước của Phiên tòa Nurembe và được dùng để xét xứ các tội phạm chiến tranh trong CTTG-II. Điều 341 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định mức hình phạt đối với TPHHB là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

        TỘI PHÁ HỦY CÔNG TRÌNH QUỐC PHÒNG, tội phạm mà người phạm tội có hành vi phá hủy công trình quốc phòng, thuộc các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được quy định tại chương XIX và các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại chương XI, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Theo điều 85, người phạm TPHCTQP nhằm mục đích chống chính quyền, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 5 năm đến tử hình. Theo điều 231. người phạm TPHCTQP nếu không thuộc điểu 85 tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm, bị phạt tù từ 3 năm đến tử hình; ngoài ra còn có thể bị hình phạt bổ sung theo điều 92 và điểm 3 điều 231.

        TỘI PHẠM, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và người đó phải bị xử phạt theo pháp luật, ở VN, các TP được quy định trong Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999). Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, TP được chia thành: TP ít nghiêm trọng (bị xử phạt đến 3 năm tù); TP nghiêm trọng (bị xử phạt đến 7 năm tù); TP rất nghiêm trọng (bị xử phạt đến 15 năm tù); TP đặc biệt nghiêm trọng (bị xử phạt trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình). Những hành vi tuy có dấu hiệu của TP, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là TP và được xử lí bằng các biện pháp khác. Thuật ngữ TP còn được dùng để chỉ người phạm tội.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM