Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:22:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41361 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #130 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:23:58 pm »


        TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân VN đập tan bộ máy chính quyền và QĐ Sài Gòn, giải phóng miền Nam VN, kết thúc thắng lợi KCCM. Từ giữa 1974 cục diện chiến trường miền Nam đã thay đổi cơ bản có lợi cho CM, đặc biệt thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long (14.12.1974-6.1.1975) cho thấy sự suy sụp của QĐ Sài GÒỊU khả năng can thiệp trở lại của Mĩ rất hạn chế. Qua 2 lần họp (30.9-8.10.1974 và 18.12.1974-8.1.1975), BCT BCHTƯ ĐLĐ VN đã thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam (1975-76) và dự kiến nếu thời cơ đến sẽ giải phóng miền Nam trong năm 1975. Trên tinh thần đó, công tác chuẩn bị cho cuộc TTCVNDX1975 được tiến hành khẩn trương, đồng bộ. Lực lượng ta có 4 quân đoàn chủ lực (1, 2, 3 và 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn), gồm: 15 sư đoàn, 2 lữ đoàn và 3 trung đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp; 6 trung đoàn và 4 tiểu đoàn đặc công, các đơn vị biệt động thành, bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh, thành phố miền Nam. Lực lượng địch có 4 quân khu - quân đoàn, gồm: 13 sư đoàn bộ binh, 18 liên đoàn biệt động quận, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn xe tăng thiết giáp, 22 trung đoàn hải quân, 66 tiểu đoàn pháo binh cùng với lực lượng lớn cảnh sát, bảo an, phòng vệ dân sự... TTCVNDX1975 mở đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên (4.3- 3.4.1975), tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 - Quân khu 2 và một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược của địch, giải phóng 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức), tạo sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, dẫn tới sự sụp đổ về chiến lược và tinh thần của chính quyền và QĐ Sài Gòn. Đồng thời tại Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5, ta mở chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975), chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975) và phát triển tiến công địch ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, diệt và làm tan rã phần lớn Quân đoàn 1- Quân khu 1 và bộ phận lực lượng tổng dự bị của địch, giải phóng 5 tỉnh (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng TÚI, Quảng Ngãi) và 2 thành phố lớn (Huế, Đà Nẵng), trực tiếp đập tan ý định co cụm chiến lược của địch, tạo bước nhảy vọt về cục diện chiến tranh hoàn toàn có lợi cho ta. Nắm vững thời cơ chiến lược, sau khi quét sạch địch ở Phan Rang (16.4), Xuân Lộc (21.4), tập trung lực lượng áp sát và hình thành thế tiến công Sài Gòn từ nhiều hướng, 26.4 ta mở chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) với tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo. bất ngờ, chắc thắng”, đập tan lực lượng phòng thủ và các cơ quan đầu não của địch, buộc chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện. Cùng với chiến dịch Hồ Chí Minh, ta giải phóng các đảo trên biển, các tỉnh miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Trong 55 ngày đêm của cuộc TTCVNDX1975, ta diệt và làm tan rã hơn 1 triệu quân chủ lực và 1,5 triệu quân thuộc lực lương phòng vệ dân sự của địch, đập tan bộ máy chính quyền và QĐ Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc toàn thăng cuộc KCCM và 30 năm chiến tranh giải phóng, mở ra kí nguyên mới của dân tộc VN: cả nước độc lập, thống nhất và đi lèn CNXH (x. minh họa giữa trang 176 và 177).


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #131 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:24:57 pm »

     
        TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN (1968), tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân miền Nam VN tại các thành phố, thị xã do Mĩ và chính quyền Sài Gòn chiếm đóng, nhằm tạo bước ngoặt lớn, chuyển chiến tranh CM miền Nam sang thời kì mới - thời kì giành thắng lợi quyết định. Lực lượng địch khoảng hơn 1 triệu 200 nghìn quân (quân Mĩ 542.000, quân các nước phụ thuộc Mĩ 57.800, QĐ Sài Gòn 650.000). Sau khi đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược của Mĩ trong các mùa khô 1965-66 và 1966- 67, thu hút và giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng địch ở Khe Sanh (x. chiến dịch Đường 9-Khe Sanh, 20.1-15.7.1968) , đêm 30 rạng 31.1.1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân) quân và dân miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công kết hợp với nổi dậy ở 4 thành phố (trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định và Huế), 37 thị xã và hàng trăm quận lị, thị trấn; tập trung đánh vào nội thành và các cơ quan đầu não (dinh Độc Lập, tòa đại sứ Mĩ, BTTM, BTL hải quân, Tổng nha cảnh sát, đài phát thanh Sài Gòn...), các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng lớn, nhiều SCH cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của địch...; giành nhiều thắng lợi, trong đó làm chủ cố đô Huế 25 ngày (x. tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968, tiến công Huế Xuân Mậu Thân 1968...). ở nhiều vùng nông thôn, được sự hỗ trợ của LLVT, nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ, đập tan bộ máy chính quyền địch. Tuy nhiên các địa phương không đạt được mục tiêu và không diễn ra tổng khởi nghĩa như dự kiến. Kết quả sau gần 2 tháng, ta diệt và làm tan rã 150.000 địch, phá hủy khoảng 34% khối lượng vật tư chiến tranh của Mĩ và QĐ Sài Gòn. TTCVNDXMT1968 giành thắng lợi quan trọng, đánh bại cố gắng QS cao nhất của Mĩ trong chiến tranh xâm lược VN, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mĩ, làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ, buộc Mĩ phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mĩ về nước, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc và chấp thuận đàm phán với ta ở hội nghị Pari (1968-73); để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức và thực hành tiến công trong thành phố, về sử dụng và phối hợp lực lượng, kết hợp giữa tiến công QS và nổi dậy của quần chúng, giữa tác chiến trong nội đô và đánh địch ở vùng ven,... tạo cơ sở nghiên cứu, vận dụng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 giành thắng lợi (x. minh họa giữa trang 176 và 177).

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #132 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:28:02 pm »


        TỔNG TRẠM THÔNG TIN, tổ hợp về tổ chức, kĩ thuật của lực lượng thông tin và tự động hóa chỉ huy được triển khai trong khu vực SCH hoặc vị trí chuyển tiếp, phân phối kênh thông tin; thành phần quan trọng của hệ thống thông tin. Theo điểu kiện bố trí và trang thiết bị thông tin, có; TTTT cố định và TTTT cơ động; theo ý nghĩa sử dụng, có: TTTT SCH và TTTT bổ trợ. Thành phần của TTTT thường có; cụm (trạm) vô tuyến điện, cụm (trạm) vồ tuyến điện tiếp sức, đối lưu; trạm điện thoại, trạm điện báo, trạm tạo kênh, trạm nguồn điện, trạm thông tin quân bưu, cụm xe chỉ huy tham mưu, phương tiện tự động hóa chỉ huy, vị trí điều hành TTTT... Yêu cầu cơ bản của TTTT là: vững chắc, dung lượng thích hợp; tổ chức đơn giản và sử dụng thuận tiện, phải kết hợp chặt chẽ các thành phần trong tổng trạm, không gây nhiều lẫn nhau và bảo đảm bí mật.

        TỔNG TRẠM THÔNG TIN BỔ TRỢ, tổng trạm thông tin triển khai ngoài khu vực SCH bảo đảm liên lạc với các đối tượng xa SCH, hoặc đang cơ động, nhằm nâng cao tính vững chắc và cơ động của hệ thống thông tin; thành phần của hệ thống  thông tin quân sự. Thường tổ chức từ cấp chiến dịch trở lên. Yêu cầu: đơn giản về tổ chức, thuận tiện trong khai thác, sử dụng, triển khai, di chuyển, thu hồi nhanh, bảo đảm liên lạc vững chắc, bí mật và an toàn.

        TỔNG TRẠM THÔNG TIN CỐ ĐỊNH, tổng trạm thông tin được triển khai trong nhà hoặc trong các công trình kiên cố, lâu bền trong khu vực SCH cố định (thường xuyên), để bảo đảm liên lạc trong nội bộ SCH cố định, giữa SCH cố định với các SCH cấp mình và SCH cấp trên, cấp dưới và các đơn vị có liên quan: thành phần của hệ thống thông tin cố định. TTTTCĐ gồm các lực lượng thông tin và tự động hóa chỉ huy. Yêu cầu: bảo đảm liên lạc vững chắc, ổn định, bí mật, an toàn, dung lượng hợp lí và không gây nhiễu lẫn nhau.

        TỔNG TRẠM THÔNG TIN CƠ ĐỘNG, tổng trạm thông tin được triển khai trên các phương tiện cơ động để bảo đảm liên lạc trong SCH cơ động, giữa SCH cơ động với SCH cố định cấp mình và các SCH cấp trên, cấp dưới, đơn vị có liên quan. TTTTCĐ thường trang bị phương tiện thông tin gọn nhẹ (mang, xách) hoặc lắp đặt trên các phương tiện cơ giới (ô tô, tàu thủy, máy bay...). Yêu cầu: tổ chức đơn giản, khai thác sử dụng thuận tiện, triển khai, thu hồi, di chuyển nhanh, dung lượng hợp lí và bảo đảm liên lạc vững chắc, bí mật trong quá trình cơ động.

        TỔNG TRẠM THÔNG TIN SỞ CHỈ HUY. tổng trạm thông tin triển khai trong khu vực SCH (trạm phát hoặc cụm vô tuyến điện sóng ngắn triển khai ngoài khu vực SCH) để bảo đảm thông tin liên lạc trong SCH, với các SCH cấp mình, SCH cấp trên, cấp dưới và các đơn vị có liên quan; thành phần quan trọng nhất của hệ thống thông tin quân sự. Có TTTTSCH: cố định, cơ động. Theo tính chất nhiệm vụ, có TTTTSCH: cơ bản, phía trước, phía sau, bổ trợ...; thường gồm: trạm điện thoại, trạm phát, trạm thu, cụm vô tuyến điện sóng ngắn, cụm vô tuyến điện sóng cực ngắn, tiếp sức (vi ba), trạm thông tin quân bưu, trạm thông tin tín hiệu, trạm nguồn điện... Yêu cầu của TTTTSCH: vững chắc, cơ động, dung lượng hợp lí, triển khai, thu hồi nhanh, sử dụng thuận tiện không gây nhiễu lẫn nhau và bảo đảm bí mật.

        TỔNG TRẠM THÔNG TIN SỞ CHỈ HUY BỔ TRỢ, tổng trạm thông tin được triển khai trong khu vực SCH bổ trợ để bảo đảm thông tin liên lạc nội bộ SCH bổ trợ, giữa SCH bổ trợ với các SCH cấp mình, SCH cấp trên, cấp dưới và các đơn vị có liên quan. Được tổ chức từ cấp chiến dịch trở lên. Yêu cầu: tổ chức đơn giản, khai thác thuận tiện, triển khai, sử dụng, di chuyển, thu hồi nhanh, dung lượng hợp lí và bảo đảm liên lạc bí mật, vững chắc.

        TỔNG TRUỞNG QUỐC PHÒNG, chức vụ đứng đầu BQP dưới chính quyền Bảo Đại (1949-54) và chính quyền Sài Gòn (1955-75). Chức TTQP thường do thủ tướng (hoặc phó thủ tướng) kiêm nhiệm.

        TỔNG TƯ LỆNH, chức vụ chỉ huy cao nhất của LLVT (QĐ) nhiều nước; thường do tổng thống, chủ tịch nước, chủ tịch hội đồng nhà nước kiêm nhiệm. Ở VN, chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền tổng chỉ huy (TTL) QĐ toàn quốc cho Võ Nguyên Giáp theo sắc lệnh số 230 ngày 30.11.1946 (xt Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam). Một số nước có TTL: chiến trường tác chiến chiến lược (Nga, đầu tk 19), hướng chiến lược, quân chủng, cụm bộ đội đóng ở nước ngoài (LX), LLVT hợp nhất (Tổ chức hiệp ước Vacsava), liên binh đoàn LLVT (khối NATO)...

        TỐNG (H. Song, Vũ Hán - C), lớp tàu ngầm tuần tiễu của hải quân TQ, kết cấu tương đương với tàu ngầm lớp Minh. Chiếc đầu tiên được hạ thủy ở xưởng đóng tàu Vũ Hán (5.1994), thử nghiệm trên biển 8.1995. Tính năng chiến - kĩ thuật: lượng giãn nước nổi 1.700t; lượng giãn nước ngầm 2.250t; kích thước 74,9x8,4x5,3m. Máy chính: 3 động cơ diezen MTU 12V493; 3 máy điện, 1 môtơ, 1 trục chân vịt. Tốc độ đi nổi 15 hải lí /h, đi ngầm 22 hải lí /h. Quân số: 60 (10 sĩ quan). Vũ khí trang bị: 6 ống phóng ngư lôi 533mm, 2 loại ngư lôi Yu-4 (SAE T-60) và Yu-1 (53-51); có thể thay thế bằng thủy lôi. Có khả năng phóng tên lửa đối hải, tên lửa chống ngầm. Được lắp đặt hệ thống kiểm tra bắn, hệ thống trinh sát thủy âm tiên tiến của Nga.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #133 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:29:53 pm »


        TỐNG BÌNH, huyện thuộc q. Giao Chỉ (nhà Đường đổi thành Giao Châu) thời Bắc thuộc. Đặt từ đời Hiếu Vi nhà Nam Tống (454-464), tách từ h. Long Biên thời Tấn, sau đổi thành quận. Sau khi thống nhất TQ (589) và chiếm nước Vạn Xuân (602), nhà Tùy đặt lại TB làm huyện. Địa bàn thuộc nam Hà Nội (phần phía nam Sông Hồng và Sông Đuống), đông Hà Tây, bắc Hưng Yên và nam Bắc Ninh; trị sở tại khu vực nội thành Hà Nội ngày nay. Từ thời Đại Nghiệp (605- 616) là quận trị quận Giao Chỉ. Năm Vũ Đức thứ 4 nhà Đường (621) đổi thành Tống Châu, năm thứ 6 thành châu Nam Tống. Năm Trinh Quán thứ 1 (627) bỏ châu, tách một phần khôi phục lại TB. Từ năm Bảo Lịch thứ 1 (825) là phủ trị An Nam đô hộ phủ. Trương Bá Nghi cho xây thành đất để phòng thủ (767), sau được Cao Biền củng cố (866), thường được gọi là La Thành.

        TỐNG DUY KIÊN (1942-72), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê xã Hà Bắc, h. Hà Trung, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1961; đv ĐCS VN (1966); khi hi sinh là trung úy, đội trưởng Đội đặc công 1, Đoàn 126, BTLhải quân. Trong KCCM, xây dựng Đội đặc công 1 và nhiều cơ sở trong nhân dân, tạo điều kiện cho đơn vị đánh tàu địch tại Cửa Việt, Đông Hà (Quảng Trị). 1966-72 chỉ huy đơn vị chiến đấu 52 trận, đánh chìm, đánh hỏng 47 tàu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch (TDK đánh chìm 4 tàu). 5.1967 cùng một đồng đội vượt qua nhiều vật cản, dùng khối thuốc nổ đánh chìm tàu cuốc lớn của Mĩ tại cảng Cửa Việt. 6.1970 chỉ huy trận đánh cảng cứa Việt, dùng 5 quả thủy lồi HAT2 diệt 5 tàu địch, khởi đầu thời kì sử dụng thuốc nổ có khối lượng lớn đánh tàu, đạt hiệu suất chiến đấu cao. 1972 chỉ huy 1 tổ luồn sâu vào vùng sau lưng địch tại Thừa Thiên-Huế, chuẩn bị cơ sở để mở hướng tác chiến mới. TDK hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hi sinh. Huân chương: 4 Chiến công hạng ba, 3 lần Dũng sĩ.



        TỐNG DUY TÂN (1837-92), người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh (188&-92), thuộc phong trào Cần Vương (1885-95). Quê làng Bồng Trung, xã Đông Biện (nay là xã Vĩnh Tán, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). 1875 đỗ tiến sĩ, được bổ chức tri phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), sau cáo quan về dạy học. Khi Tôn Thất Thuyết làm tổng đốc Thanh Hóa, TDT được mời làm đốc học, chuyển sang Thương biện tinh vụ, rồi lãnh chức chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa. 1885 hưởng ứng “Chiếu Cần Vương" của vua Hàm Nghi, TDT cùng Cao Điển chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ chống Pháp tại vùng núi Hùng Lĩnh (Nông Cống, Thanh Hóa), phối hợp hoạt động với các lực lượng khởi nghĩa khác trong tỉnh. Bị quân Pháp khủng bố sau khi khởi nghĩa Ba Đình (1886-87) thất bại, TDT phải tạm lánh ra Sơn Tây. 1889 trở về Thanh Hóa tiếp tục gây dựng lại phong trào ở vùng Yên Định, Vạn Lại, Nông Cống, Thọ Xuân, giành được một số thắng lợi, nổi bật là trận Niên Kỉ (18.5.1892). Ngày 5.10.1892 bị phản bội, TDT bị Pháp bắt ở xã Thiết Ống (Bá Thước, Thanh Hóa), xử chém tại tỉnh lị Thanh Hóa (15.10.1892).

        TÔNGA (Vương quốc Tônga; Pule’anga Fakatu’i ‘o Tonga, A. Kingdom of Tonga), quốc gia ở tây nam Thái Bình Dương, trên quần đảo Tônga, thuộc Châu Đại Dương. Dt 750km2; ds 108 nghìn người (2003); chủ yếu người Tonga. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tônga, tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Tin Lành. Thủ đô: Nacualôpha. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: hội đồng lập pháp (quốc hội). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Lãnh thổ gồm 175 đảo, tạo thành 2 chuỗi đảo, chuỗi phía tây có nguồn gốc núi lửa, nhiều núi lửa đang hoạt động, đỉnh cao nhất 1,029m; chuỗi phía đông là các đảo san hô, cao 200m. Khí hậu nhiệt đới, lượng mưa lớn. Nước nông nghiệp; dừa là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu. GDP 142 triệu USD (2002), bình quân đầu người 1.410 USD. Thành viên LHQ (14.9.1999), Khối liên hiệp Anh. LLVT; khoảng 200 cảnh sát (không có QĐ).


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #134 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:31:23 pm »


        TỐT (cổ), đơn vị tổ chức của quân đội Đinh, liền trên ngũ, dưới lữ. T có số quân 100 người (mỗi T gồm 10 ngũ; mỗi ngũ 10 người). Trong QĐ TQ thời nhà Chu, 1 T cũng gồm 100 người (mỗi T gồm 4 lạng; mỗi lạng gồm 5 ngũ; mỗi ngũ 5 người).

        TỐT ĐỘNG (Tụy Động, Làng Rét), làng thuộc h. Chương Đức, trấn Sơn Nam (nay là xã Tốt Động, h. Chương Mĩ, t. Hà Tây). Nằm trên vùng đồng chiêm trũng, đất thấp, lầy lội giữa Sông Bùi và Sông Đáy, gần Ngã Ba Thá, cách tx Hà Đông khoảng 20km về phía tây nam. Nơi nghĩa quân Lam Sơn tổ chức trận địa phục kích thứ nhất, tiêu diệt bộ phận tiền quân của quân Minh trong trận Tốt Động - Chúc Động (5- 7.11.1426).

        TƠCNƠ GIOI (A. Turner Joy), tàu khu trục hạng nhẹ của hải quân Mĩ thuộc lớp Phoret Sơmen, số hiệu DD-951. Dài 127,4m, rộng 13,7m; mớn nước 6,lm, lượng choán nước tiêu chuẩn 2.800t; tốc độ tối đa 33 hải lí/h (61km/h). Công suất động cơ 54.000kW. Trang bị 3 bệ pháo 127mm (mỗi bệ 1 nòng), 3 giàn phóng ngư lôi MK-32 (mỗi giàn 3 ống phóng), 2 bệ phóng bom chìm chống ngầm. Biên chế 292 người (17 sĩ quan). Hạ thủy 3.8.1959, hoạt động trong thành phần Hạm đội 7 Mĩ. 4.8.1964 cùng với tàu Mađôc xâm phạm vùng biển miền Bắc VN, tạo cớ cho chính quyền Mĩ dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8.1964).

        TPO-50 (N. TnO-50), súng phun lửa bộ binh (hóa học) hạng nặng dùng để tiêu diệt sinh lực trong và ngoài công sự, thiêu hủy các phương tiện KTQS đối phương bằng chất cháy. Súng có 3 nòng nối trực tiếp vào 3 bình chứa hỗn hợp cháy, dung tích mỗi bình 21 lít, lắp trên giá súng có 2 bánh xe, nặng 173kg. Mỗi bình chứa hỗn hợp cháy có vòi phun, cơ cấu châm lửa và thuốc phóng để tạo áp suất phóng hỗn hợp (60at). Bắn bằng cơ cấu điểm hỏa (cơ khí) hoặc điện. Tầm bắn hiệu quả 180m, 2 người sử dụng. Ưu điểm: chứa được một lượng chất cháy lớn, có thể phun bắn nhiều lần. Tương tựTPO-50 có M-132, ABC-M10-8 (Mĩ) gắn trên xe bọc thép, tầm bắn 180m, tần suất bắn 30-40 lần/phút. QĐND VN được trang bị TPO-50 vào dầu những năm 60 tk 20, chiến đấu có hiệu quả trong KCCM.

        TRA NẠP XĂNG DẦU, thao tác kĩ thuật tiến hành khi cấp phát xăng dầu cho các phương tiện, thiết bị sử dụng (máy bay, tàu thuyền, xe chiến đấu, phương tiện vận tải, xe máy công trình, máy phát điện...) bằng cách sử dụng các phương tiện, thiết bị chuyên dùng (xe tra nạp, máy bơm, cột tra, súng tra...). Khi tiến hành TNXD phải bảo đảm đúng số lượng, chất lượng, giảm hao hụt và bảo đảm an toàn bằng các phương tiện chuyên dùng. Theo phương pháp tiến hành, TNXD có: tra nạp kín và tra nạp hở. Theo điều kiện thực hiện (đối với các loại xe chiến đấu phục vụ chiến đấu), có TNXD cho xe: trong khu vực cấp phát cố định, trong điều kiện dã ngoại, trong hành quân, trong chiến đấu.

        TRÀ KHÚC, sông ở t. Quảng Ngãi, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua thị trấn Sơn Hà, tx Quảng Ngãi, đổ ra Biển Đông tại cửa Trà Khúc (Cổ Lũy), dài 120km. Giữa sông có nhiều cồn cát, thuyền bè đi lại khó khăn.

        TRÀ KIỆU, làng thuộc xã Duy Sơn, h. Duy Xuyên, t. Quàng Nam, cách Đà Nẵng 35km về phía nam, nơi có di tích kinh thành Simhapura (thành Sư Tử), kinh đó đầu tiên và tồn tại lâu dài nhất (đến cuối tk 10) của vương quốc Chămpa (Chiêm Thành). Kinh thành được xây dựng cuối tk 3 đầu tk 4 dưới đời vua Bađravacman (Phạm Hồ Đạt), gồm nhiều thành quách, cung điện, đền tháp...; bị chiến tranh tàn phá và hư hại theo thời gian, hiện chỉ còn lại các nền tháp lớn.

        TRÀ LÍ, sông nhánh của Sông Hồng, thuộc t. Thái Bình, từ Thượng Hỗ, xã Hồng Xuân, Vũ Thư, đổ ra cửa Trà Lí. Dài 65km, rộng trung bình 100-150m, sâu 3-5m, lòng sông nhiều bãi bồi, mùa cạn tàu thuyền đi lại khó khăn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #135 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:33:09 pm »


        TRÀ VINH, tỉnh ở đồng bằng sông cửu Long; đông bắc giáp Bến Tre, tây bắc giáp Vĩnh Long, tây nam giáp Sóc Trăng, đông nam giáp Biển Đông. Dt 2.225,67 km2; ds 1,0 triệu người (2003); phần lớn người Kinh, còn lại là người Khơme, người Hoa. 1889 lập tỉnh do tách phủ Lạc Hóa của t. Vĩnh Long. 1951 sáp nhập với t. Vĩnh Long thành t. Vĩnh Trà. 1954 tái lập tỉnh. 8.10.1957 đổi TV thành Vĩnh Bình. 2.1976 sáp nhập với Vĩnh Long thành t. Cửu Long. 12.1991 tái lập. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Trà Vinh. Địa hình bằng phẳng, ba mặt giáp sông biển, bờ biển dài 65km với hai cửa biển: Cung Hầu, Định An. Khí hậu nhiệt đới hai mùa; nhiệt độ trung bình trong năm 26,5°C, lượng mưa 1.400mm/năm. Các sông: sông Cổ Chiên, Sông nền, Sông Hậu, sông Ma Thít, kênh mương dày đặc, thuận lợi cho giao thông đường thủy. Tỉnh nông nghiệp, có thế mạnh nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 1.018 nghìn tấn (lúa 1.005 nghìn tấn); sản lượng thủy sản 103 nghìn tăn. Các ngành còng nghiệp: cơ khí sửa chữa, chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 771,5 tỉ đồng. Giao thông thủy, bộ phát triển. Sân bay: Trà Vinh, Long Toàn. Cảng sông: Trà Vinh. Phong trào chống Pháp của Phan Tôn, Phan Liêm (1867), khởi nghĩa Ba Động. Trong KCCP, KCCM diễn ra các trận đánh ác liệt: trận La Bang (1948), chiến dịch Cầu Kè (1949), Trà Vinh (1950), đồng khởi (1960), chiến thắng (1968). Ngày 6.11.1978, LLVTND Trà Vinh được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.



        TRẠI TẬP TRUNG, nhà tù tập trung người thuộc lực lượng đối kháng hoặc tù binh, nhằm thực hiện mục đích chính trị của các chính quyền phản động, phát xít. Nạn nhân của TTT thường là những người bị kì thị chủng tộc, bị coi là đối kháng, bị bắt trong chiến tranh... Ở TTT, con người bị đầy ải, dùng làm vật thí nghiệm y học, sinh học,... bị cưỡng bức lao động đến chết, bị tra tấn, bắn giết không cần xét xử. Trong CTTG- II, phát xít Đức lập ra các TTT người Do Thái, TTT công dân nước ngoài bị bắt để cưỡng bức lao động và thực hiện sự hủy diệt bằng các lò thiêu người (điển hình là Trại tập trung Bukhenvan, nơi đã thủ tiêu 56.000 tù nhân thuộc 18 dân tộc trên thế giới). Trong các cuộc chiến tranh xâm lược VN, thực dân Pháp, đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai đã lập ra nhiều nhà tù, dồn dân vào ấp chiến lược, thực chất là những TTT để khủng bố nhân dân và đàn áp phong trào CM.

        TRẠI TẬP TRUNG BUKHENVAN, trại tập trung của phát xít Đức giam giữ tù binh và những người chống chủ nghĩa phát xít trong CTTG-II; xây dựng 1937 ở ngoại vi tp Vâymai (Đức). 1937-45 trại đã giam giữ hơn 239.000 người. Tù nhân thường bị khủng bố, tra tấn dã man và làm vật thí nghiệm cho các chuyên gia y tế phát xít. Hơn 56.000 người thuộc 18 dân tộc bị chết trong ngục tù; hơn 10.000 người bị hành quyết, trong đó có lãnh tụ cộng sản Đức E. Tenlơman. Tại TTTB các tù nhân có nhiều hoạt động bí mật, đấu tranh chống phát xít: lập ra ủy ban quốc tế (1943) do chiến sĩ cộng sản Đức V. Baten lãnh đạo, tuyên truyền chống phát xít, tiêu diệt khủng bố, chuẩn bị vũ khí... 11.4.1945 nhân thời cơ tan rã của QĐ phát xít, ủy ban quốc tế được thành lập trong TTTB đã kịp thời lãnh đạo tù nhân đứng lên khởi nghĩa, bắt hơn 800 lính SS và lính gác, chiếm vũ khí, phá tan trại tập trung, cứu được hàng chục ngàn người (trước đó, lực lượng phát xít đã có lệnh giết hết các tù nhân). 1958 tại khu vực Bukhenvan đã khánh thành tượng đài kỉ niệm các tù nhân hi sinh trong trại tập trung này.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #136 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:35:27 pm »


        TRẠI TÙ BINH. nơi giam tập trung tù binh. Theo các điều ước quốc tế (công ước La Hay 1907; công ước Giơnevơ 1929 và 1949; nghị định thư Giơnevơ 1977), TTB của các nước phải: đảm bảo điều kiện ăn ở cho tù binh như binh sĩ nước họ; không ngược đãi, sỉ nhục, dọa nạt, không sử dụng tù binh làm vật thí nghiệm khoa học (y học, sinh học). Trong TTB, tù binh phải được tự do, nếu lao động phải được trả công, sau chiến tranh tù binh phải được phóng thích theo các hiệp định mà các bên tham chiến đã kí kết. Trong thực tế, ở các TTB của các chính quyền phản động, phát xít, tù binh bị ngược đãi vô nhân đạo, bị khủng bố dã man cả tinh thần và thân xác bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mặt.

        TRẠM BỔ TRỢ THÔNG TIN HŨU TUYẾN ĐIỆN, trạm thông tin liên lạc hữu tuyến điện làm nhiệm vụ liên lạc giữa tổng trạm thông tin sở chỉ huy với các đối tượng tác chiến trên hướng độc lập hoặc ở xa các SCH không có điều kiện tổ chức liên lạc hương (liên lạc trực tiếp) qua hữu tuyến điện. TBTT- THTĐ thường triển khai các máy: tổng đài, điện thoại, tải ba... và các trang bị đồng bộ.

        TRẠM CHUYỂN THƯƠNG, tổ chức quân y thiết lập trên tuyến giao thông QS trong thời chiến làm nhiệm vụ vận chuyển thương binh, bệnh binh từ các địa bàn chiến dịch và chiến trường về hậu phương. Có từ KCCP trong một số chiến dịch lớn (chiến dịch Trung Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ...). Trong KCCM được tổ chức thành hệ thống trên tuyến vận tải QS chiến lược từ nam Quân khu 4 ra phía bắc (nam Hà Nội). Nhiệm vụ của TCT: tiếp nhận, phân loại, điều trị hộ lí, nuôi dưỡng và hậu tống vận chuyển thương binh, bệnh binh đến các cơ sở điều trị, an dưỡng theo quy định. Thường biên chế 30-70 cán bộ, nhân viên (trong đó 1/3 là nhân viên chuyên môn), do một bác sĩ phụ trách. TCT tương đương cấp tiểu đoàn và trực thuộc binh trạm vận tải QS. Trạm được trang bị một số xe vận tải chuyên dụng (ô tô chuyển thương) và kết hợp với lực lượng vận tải cơ giới của binh trạm để vận chuyển thương binh, bệnh binh, về năng lực chuyên môn, TCT tương đương bệnh xá trung đoàn. Một số TCT được tổ chức kết hợp với bệnh xá (bệnh xá - chuyển thương) hoặc trạm giao liên (trạm giao liên - chuyển thương).

        TRẠM CHUYỂN TIẾP, trạm thông tin liên lạc làm nhiệm vụ chuyển tiếp nội dung liên lạc giữa các đài (trạm) trên đường truyền tin để tăng cự li liên lạc. Thường có: TCT thông tin vô tuyến diện, TCT thông tin hữu tuyến điện, TCT thông tin quân bưu (vận động) và TCT thông tin tín hiệu. Có TCT tích cực (chủ động) và thụ động. TCT tích cực thường sử dụng các thiết bị thu, phát tự động hoặc nhân công để chuyển tiếp liên lạc. TCT thụ động thường sử dụng thiết bị phản xạ để chuyển tín hiệu giữa 2 anten khi liên lạc vô tuyến điện tiếp sức (viba). Số lượng TCT trên đường truyền tin phụ thuộc vào cự li liên lạc, tính năng chiến - kĩ thuật của máy và điều kiện địa hình, thời tiết... Cg trạm trung gian hoặc trạm giữa.

        TRẠM CHUYỂN TIẾP VÔ TUYẾN ĐIỆN SÓNG CỰC NGẮN X. TRẠM TRUNG GIAN (CHUYỂN TIẾP) VÔ TUYẾN ĐIỆN SÓNG CỰC NGẮN

        TRẠM (ĐÀI) DẪN ĐƯỜNG VÀ CHỈ THỊ MỤC TIÊU, trạm (đài) điều khiển máy bay có người lái, đang bay ở trên không. Có nhiệm vụ dẫn máy bay đến khu vực tác chiến (mục tiêu trên không, trên mặt đất, mặt nước) và đảm bảo cho máy bay đó không bị phương tiện phòng không của bên dẫn đường bắn nhầm. Trạm (đài) có thể đặt ở mật đất, trên máy bay và trên tàu hải quân.

        TRẠM ĐIỆN BÁO, tổ hợp về mật tổ chức, kĩ thuật của các thiết bị điện báo, truyền chữ, truyền ảnh, truyền số liệu và các thiết bị khác để bảo đảm liên lạc điện báo bằng phương tiện thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TĐB thường được tiếp hợp với trạm điện thoại; trạm tạo kênh... Hiện nay TĐB được tổ chức chủ yếu ở tổng trạm thông tin cấp chiến lược và chiến dịch.

        TRẠM ĐIỆN THOẠI, tổ hợp về mặt tổ chức, kĩ thuật của các thiết bị tổng đài, máy diện thoại và các thiết bị khác, để bảo đảm thông tin hữu tuyến điên, và thông tin vô tuyến điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TĐT thường được tiếp hợp với trạm điện báo, trạm tạo kênh... TĐT có thể chuyển tiếp liên lạc bằng tự động hoặc nhân công và thường bố trí ở trung tâm tổng trạm thông tin.

        TRẠM ĐIỂU CHỈNH GIAO THÔNG, tổ chức cố định hoặc lâm thời trên các tuyến giao thông thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, điều chỉnh, phân luồng, giải tỏa lực lượng và các phương tiện tham gia giao thông, nhằm đảm bảo giao thông thông suốt. TĐCGT được lập ở những nơi xung yếu và đầu mối giao thông quan trọng, thường do lực lượng của các ngành công an, giao thông và QS phối hợp tổ chức.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #137 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:37:43 pm »


        TRẠM ĐO PHÔNG THIÊN NHIÊN, trạm theo dõi tình hình nhiễm xạ trong không khí, trên cơ sở phát hiện những đột biến tình hình phóng xạ trong khoảng không, nhằm báo động, bảo vệ môi trường chiến đấu và sinh hoạt trong từng khu vực. TĐPTN nằm trong trung tâm tính toán phân tích hóa học - phóng xạ, trực thuộc binh chủng hóa học, và có thể có ở một số đơn vị khác. 1986 sau sự cố Nhà máy điện nguyên từ Trecnôbưn (LX), ở VN, các TĐPTN của Binh chủng hóa học đã theo dõi và cung cấp các số liệu tin cậy cho nhà nước.

        TRẠM GIANG, thành phố cảng, căn cứ hải quân của Hạm đội Nam Hải (TQ), đông bán đảo Lôi Châu, t. Quảng Đông. 1898 bị Pháp chiếm (gọi là "Quảng Châu Loan”), TQ thu hồi 1945. Có công nghiệp hóa chất, dệt, thực phẩm và cơ khí. Tổng chiều dài các cầu cảng 9km, sâu 10m, có thể tiếp nhận tàu 10 nghìn tấn.

        TRẠM GIAO LIÊN, tổ chức được thiết lập trên tuyến (đường) giao thông để làm nhiệm vụ liên lạc, dẫn đường, tải thương và vận chuyển hàng QS trong thời chiến. Có từ KCCP với tên gọi: “trạm liên lạc”, “trạm giao thông”. Trong KCCM, được tổ chức thành hệ thống trên tuyến vận tải QS chiến lược Bắc - Nam (xt Đoàn 559). TGL tương đương cấp đại đội, thuộc tiểu đoàn giao liên (mỗi tiểu đoàn giao liên thường gồm 5-7 TGL). Mười năm cuối của KCCM (1965-75). TGL không làm nhiệm vụ vận chuyển hàng QS.

        TRẠM GIỮA nh TRẠM CHUYỂN TIẾP

        TRẠM HIỂN LƯƠNG (Trạm 54), trạm biên phòng đóng tại phía bắc cầu Hiền Lương trên QL 1, đơn vị bảo vệ giới tuyến QS tạm thời, thuộc Công an nhân dân vũ trang Vĩnh Linh. Thành lập 8.1954. Có nhiệm vụ: bảo vệ lá cờ Tổ quốc ở đầu cầu phía bắc, kiểm soát việc di lại, trao đổi bưu thiếp, thư tín giữa hai miền, quan hệ giao dịch với cảnh sát của Chính quyền Sài Gòn trên cầu Hiền Lương. 1954-62, đã 24 lần làm thất bại các cuộc hội họp lớn của địch, 32 lần đẩy đuổi các phái đoàn Mĩ và Chính quyền Sài Gòn xâm nhập trái phép khu phi QS, điển hình vụ 28.4.1962, đã đẩy đuổi phái đoàn QS gồm 60 tướng tá do trung tướng Trần Văn Đôn, bộ trưởng Công an dân vụ và Ngô Trọng Hiếu, bộ trưởng chiến tranh tâm lí của chính quyền Sài Gòn làm trưởng đoàn xâm nhập trái phép khu phi QS bờ nam sông Bến Hải. THL đã giáo dục, vận động và tranh thủ được 348 cảnh sát ngụy, 14 lần đấu tranh với địch sơn lại cầu Hiền Lương, bắt giữ gần 200 trường hợp vượt tuyến trái phép. Trong KCCM, lá cờ Tổ quốc chưa một lần ngừng bay ở giới tuyến mặc dù bị địch ném bom, bắn phá 192 lần (khoảng 7.000t bom, 2.000 quả đại bác, 5 lần bị rải chất độc hóa học) trên diện tích chưa đầy 2ha; trạm đã bắn rơi 1, bắn bị thương 2 máy bay. 15.5.1976 THL làm nhiệm vụ ở đồn biên phòng cửa khẩu Lao Bảo. Huân chương: Quân công hạng ba, 4 Chiến còng các loại. Trạm trưởng đầu tiên: Nguyễn Anh Thạc.

        TRẠM KIỂM SOÁT BIÊN PHÒNG, trạm thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và làm thủ tục cho người, phương tiện, hàng hóa qua lại biên giới quốc gia hoặc ra vào khu vực biên giới; một bộ phận của đồn biên phòng, thuộc sự chỉ huy trực tiếp của đồn trưởng đồn biên phòng. Được đặt ở các cửa khẩu: đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển, cửa sông, cửa lạch và kể cả các điểm qua lại biên giới hoặc đường ra vào khu vực biên giới... Biên chế do cấp trên quy định, có trạm trưởng, trạm phó và nhân viên nghiệp vụ được đào tạo cơ bản tại các trường của bộ đội biên phòng.

        TRẠM KIỂM SOÁT CỬA HỘI (Đồn 96), trạm biên phòng đóng tại xã Nghi Hoà, h. Nghi Lộc, t. Nghệ An, trực thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1970 và 1973). Thành lập 1.1959. Có nhiệm vụ: kiểm soát biên phòng, bảo vệ tàu thuyền trong nước và nước ngoài qua cửa sông Bến Thủy vận chuyển hàng hóa phục vụ tiền tuyến. Đã phát hiện 87 trường hợp vi phạm quy chế biên phòng (có 39 trường hợp phải xử 10; 136 lần tàu ra, vào không hợp lệ (có 9 lần tàu mang hàng lậu); giúp địa phương tổ chức các tổ đội đánh cá, bảo đảm sản xuất, chiến đấu tốt, góp phần đưa 3 xã ở địa bàn trở thành đơn vị tiên tiến và đơn vị quyết thắng. Trong KCCM, cán bộ, chiến sĩ của Trạm phát huy sáng kiến làm vòng phương vị giản đơn, có góc độ và kim chỉ hướng khá chính xác nên đã đánh dấu và phát hiện được 958 quả bom nổ chậm và bom từ trường, phá 50 quả bom từ trường, cứu được 56 người thoát chết, 20 nhà khỏi bị cháy, chuyển được nhiều tài sản của Nhà nước ra nơi an toàn, bắn rơi 2 máy bay Mĩ và phối hợp bắn rơi 2 chiếc khác. Huân chương: 2 Quân công hạng ba, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #138 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 09:39:12 pm »


        TRẠM NGUỒN ĐIỆN THÔNG TIN, tổ hợp về mặt tổ chức, kĩ thuật của các máy phát điện, máy nắn dòng, ăcquy và các thiết bị phân phối điện... để cung cấp điện cho các thiết bị trong tổng trạm thông tin; thành phần của tổng trạm thông tin. TNĐTT thường bố trí ở phía sau, nơi kín đáo đảm bảo giữ bí mật và yên tĩnh cho SCH và tổng trạm thông tin.

        TRẠM PHÁT THÔNG TIN VÔ TUYÊN ĐIỆN, trạm thông tin liên lạc chuyên làm nhiệm vụ phát tin tức bằng tín hiệu đến các đối tượng liên lạc; thành phần của tổng trạm thông tin sở chỉ huy. Thường triển khai ngoài khu vực SCH để đảm bảo bí mật và tránh nhiễu ảnh hưởng đến các thành phần khác của tổng trạm thông tin. TPTTVTĐ thường triển khai các máy phát vô tuyến điện sóng ngắn, máy vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), tải ba và các trang bị đồng bộ. Tín hiệu phát theo sự điều khiển từ trạm thu thông tin (điều khiển xa) qua vô tuyến diện tiếp sức (vi ba) hoặc hữu tuyến điện. Cg trạm phát.

        TRẠM QUAN SÁT BIỂN X. ĐÀI (TRẠM) QUAN SÁT BIỂN

        TRẠM QUÂN BƯU nh TRẠM THÔNG TIN QUÂN BƯU

        TRẠM QUÂN LƯƠNG, tổ chức (phân đội) trong biên chế ổn định hay tạm thời của ngành quân lương có nhiệm vụ bảo đảm quân lương cho bộ đội. Gồm việc tạo nguồn, khai thác, tiếp nhận, thu mua và dự trữ lương thực thực phẩm; chế biến, cấp phát (cung cấp) quân lương cho các cơ quan, đơn vị. Tổ chức TQL thường có: chỉ huy trạm, các cán bộ nhân viên phục vụ (kế hoạch, tài vụ, kế toán, thủ kho, thủ quỹ,... bộ phận tiếp phẩm, chế biến, kho, bảo vệ và chăn nuôi)... Trong hoạt động TQL được triển khai ở cấp sư đoàn, trung đoàn và các tiểu đoàn độc lập. Thường bố trí ở nơi giao thông thuận tiện, nguồn lương thực, thực phẩm ổn định, điều kiện dự trữ và xuất nhập thuận tiện.

        TRẠM QUÂN VẬN, bộ phân của các đơn vị vận tải khu vực (binh trạm) bố trí ở bến cảng, sân bay, ga tàu, có nhiệm vụ tổ chức kĩ thuật giao nhận, xếp dỡ, áp tải và vận chuyển cung ngắn lực lượng, vật chất hậu cần kĩ thuật QS. Tùy theo nhiệm vụ, TQV có thể gồm một hoặc một số chốt đặt tại các ga, cảng của nhà nước để làm nhiệm vụ QS. Lực lượng TQV trong thời chiến tương đương cấp đại đội, thời bình là tổ chốt, khi có nhiệm vụ thì huy động lực lượng đơn vị vận tải khu vực tổ chức thực hiện. Tổ chức TQV gồm: cán bộ chỉ huy, lực lượng quân vận áp tải, lực lượng chỉ huy hành quân, phương tiện xếp dỡ, vận chuyển, kho trung chuyển. Tiền thân của TQV là các chốt quân vận của Ban tiếp nhận biên giới thuộc Tổng cục cung cấp ở biên giới Việt - Trung (thành lập 8.1953).

        TRẠM QUÂN Y, phân đội hoặc một bộ phận phân đội quân y triển khai trên tuyến cứu chữa, vận chuyển trong chiến đấu. Có nhiệm vụ tiếp nhận, phân loại cứu chữa và chuẩn bị vận chuyển thương binh, bệnh binh về tuyến sau. Thường tổ chức ở cấp sư đoàn (do tiểu đoàn quân y triển khai), trung đoàn (do đại đội quân y trung đoàn triển khai). Một số trường hợp có thể tổ chức TQY tiểu đoàn (do quân y tiểu đoàn triển khai). TQY cũng là một tuyến trong hệ thống tuyến quân y từ đại đội về các tuyến sau.

        TRẠM QUỸ ĐẠO, khí cụ bay vũ trụ tự động hoàn toàn hoặc có người lái để hoạt động nhiều ngày trên quỹ đạo quanh thiên thể (Trái Đất, Mặt Trăng...). Được đưa lên quỹ đạo dưới dạng đã lắp sẵn hoặc đưa lên từng khối và lắp ráp trong vũ trụ. Được trang bị máy móc để tiến hành nghiên cứu về Trái Đất, các hành tinh khác, không gian vũ trụ, các thí nghiệm y - sinh học, kĩ thuật, công nghệ... Có hệ thống đảm bảo cho tổ bay làm việc và nghỉ ngơi trong chuyến bay. Các TQĐ đã hoạt động: Chào Mừng, Hòa Bình (LX); Xcailap (Mĩ); ISS (quốc tế).

        TRẠM RAĐA 45, trạm rađa cảnh giới kiêm dẫn đường, thuộc Trung đoàn rada 293, Sư đoàn phòng không 361; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 20.8.1965, thuộc biên chế: Trung đoàn rađa 291 (8.1965-4.1966; 8.1966-11.1969; 11.1972-4.1984); Trung đoàn rađa 290 (11.1969-11.1972); Tiểu đoàn rada 300 (4-11.1984); Trung đoàn rađa 293 (5- 8.1966 và 12.1984). Trong KCCM, cảnh giới kiêm dẫn đường ở Hà Nội (1965-68), Nghệ An (1969-75); phát hiện, thông báo kịp thời, chính xác các tình báo rađa cho các đơn vị hỏa lực phòng không khu vực và dẫn đường cho không quân đánh địch, báo động để nhân dân phòng tránh. 1965-75 phát hiện hàng vạn tốp máy bay địch (có 1.850 tốp ở tầng cao, 5.180 tốp ở tầng thấp). 6.11.1966 phát hiện, dãn đường cho không quân bắn rơi 3 máy bay trinh sát tầng cao (18.000m) không người lái BQM-34 ở tây Mường Xén. 18.4.1967 trong điều kiện nhiễu nặng, dẫn đường cho không quân ta bắn rơi 3 F- 105 ở Thanh Hóa. 17.9.1967 lần dầu dùng rađa P-35 phát hiện, bám sát máy bay trinh sát địch, vừa thông báo cho lực lượng phòng không đánh trả, vừa dẫn đường cho không quân bắn rơi 4 F-4. Ngày 24.4.1968 phát hiện máy bay C-130 phóng máy bay trinh sát không người lái bay thấp ở đảo Long Châu, thông báo kịp thời cho lực lượng phòng không bắn rơi. Một trong hai trạm rađa đầu tiên phát hiện, thông báo máy bay B-52 trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972), có nhiều kinh nghiệm chống tên lửa tự dẫn. Huân chương: 5 Chiến cổng. Trạm trưởng, chính trị viên đầu tiên: Lê Bá Chơn, Bùi Sĩ Nho.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #139 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:39:55 am »


        TRẠM RAĐA PHÒNG KHÔNG, phân đội rađa thuộc biên chế các trung đoàn (tiểu đoàn) rađa phòng không. Gồm; các trung đội rađa, thông tin, phân đội (tiểu đội súng máy phòng không, vọng quan sát mắt. Có nhiệm vụ trinh sát (dẫn đường), hoặc trinh sát - dẫn đương và thông báo tình hình trên không. Được trang bị chủ yếu đài rađa các loại, nguồn điện, phương tiện thông tin. Khi làm nhiệm vụ, TRPK tổ chức thành các kíp trắc thủ, phiên ban chiến đấu SCH, kíp chiến đấu toàn trạm.

        TRẠM SỬA CHỮA TRANG BỊ KHÍ TÀI PHÒNG HÓA, trạm để bảo dưỡng kĩ thuật định kì, sửa chữa vừa và nhỏ các khí tài trinh sát hóa học - phóng xạ, khí tài tiêu tẩy và khí tài phòng hóa khác. Có trạm cơ động và trạm cố định.

        TRẠM TẠO KÊNH, tổ hợp về mặt tổ chức, kĩ thuật của các máy tải ba, tải báo, vô tuyến điện tiếp sức, vô tuyến điện đối lưu... và thiết bị chuyển mạch, đo lường,... để tạo ra kênh liên lạc điện thoại, điện báo...; thành phần của tổng trạm thông tin cấp chiến lược, chiến dịch và thường bố trí gần trạm điện thoại (các máy tiếp sức, đối lưu, triển khai ngoài khu vực tổng trạm thông tin).

        TRẠM TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, nơi cơ quan quân sự địa phương triển khai tập trung, kiêm tra và đưa lực lượng dự bị động viên bàn giao cho đơn vị thường trực của QĐ theo kế hoạch khi có lệnh động viên. Được tổ chức ở cấp huyện (quận, thị xã...) và tỉnh, thành phố. Tùy theo đối tượng tập trung, có: trạm tập trung quân nhân dự bị và trạm tập trung phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân. TTTLLDBĐV được chuẩn bị trong thời bình, bố trí ở khu vực an toàn, thích hợp, có cán bộ, nhân viên của cơ quan QS địa phương và cơ quan dân sự (được trưng tập và huấn luyện nghiệp vụ), sẵn sàng triển khai hoạt động trong thời chiến.

        TRẠM TẬP TRUNG SƠ BỘ NGUỒN ĐỘNG VIÊN X. TRẠM TẬP TRUNG NGUỒN ĐỘNG VIÊN

        TRẠM THẢN, xã thuộc h. Phù Ninh, t. Phú Thọ. Nằm bên QL 2, đông nam Chân Mộng 4km, tây bắc Việt Trì khoảng 40km. 17.11.1952 tại khu vực Chân Mộng - Trạm Thản diễn ra trận phục kích của Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, phá hủy 44 xe QS Pháp, loại khỏi chiến đấu hàng trăm địch, góp phần đánh bại cuộc hành quân Loren của Pháp (x. trận Chân Mộng - Trạm Thản, 17.11.1952).

        TRẠM THÔNG TIN LIÊN LẠC, tổ hợp về tổ chức, kĩ thuật của lực lượng thông tin (thường cùng loại), được triển khai trong khu vực tổng trạm thông tin hoặc trên đường trục liên lạc (trạm chuyển tiếp vô tuyến điện sóng cực ngắn đặt trên điểm cao...), để bảo đảm thông tin liên lạc; thành phần của tổng trạm thông tin sở chỉ huy các cấp hoặc đường trục liên lạc. Theo nhiệm vụ và tính năng kĩ thuật, chiến thuật của phương tiện, có: trạm phát, trạm thu, trạm vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), trạm thông tin quang, trạm điện thoại, trạm thông tin quân bưu, trạm thông tin tín hiệu... Theo cách bố trí, có: .TTTLL cố định và TTTLL cơ động.

        TRẠM THÔNG TIN QUÂN BƯU, trạm thông tin liên lạc có nhiệm vụ tiếp nhận, chuyển đạt các văn kiện, công văn, thư từ, bưu phẩm...; thành phần của tổng trạm thông tin hoặc đường trục thông tin quân bưu. Từ cấp sư đoàn trở lên TTTQB thường có 2 tổ: tổ thu phát văn kiện và tổ thông tin quân bưu. Trong tác chiến, tổ thông tin quân bưu thường bố trí ở nơi kín đáo, ngoài khu vực SCH để giữ bí mật nhưng tiện cơ động cho người và phương tiện. Cg trạm thu phát văn kiện hoặc trạm quân bưu.

        TRẠM THÔNG TIN VỆ TINH MẶT ĐẤT, tổ hợp thiết bị thông tin, thiết bị truyền dẫn, nguồn điện và các trang bị đồng bộ khác dùng để bảo đảm thông tin liên lạc vệ tinh, thông tin hữu tuyến diện và thông tin vô tuyến điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TTTVTMĐ thường được tiếp hợp với các trạm điện thoại, trạm điện báo, trạm tạo kênh... Trang bị của TTTVTMĐ thường có dự bị 100% (để bảo đảm độ tin cậy quá trình thông tin liên lạc) và được bố trí trong nhà (thiết bị anten đặt ngoài trời). Các TTTVTMĐ liên lạc với nhau qua vệ tinh địa tĩnh. Được tổ chức và sử dụng ngày càng rộng rãi trong dân sự và QS. Trong QĐ nhiều nước (Mĩ, Nga...) có hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh TTTVTMĐ được tổ chức ở cấp chiến lược và chiến thuật.

        TRẠM THÔNG TIN VI BA, tổ hợp thiết bị thông tin vi ba để thiết lập đường truyền dẫn thông tin liên lạc. Các thành phần chính: thiết bị thu phát vô tuyến điện dải sóng vi ba. thiết bị ghép, tách kênh, nguồn cung cấp, hệ thống anten. phiđơ và các trang bị bổ trợ khác. Thông thường các thiết bị được lắp đặt cố định trong nhà hoặc trên xe, trừ hệ thống anten đật ngoài trời. Một số TTTVB có thiết bị thu phát VTĐ lắp đặt ngoài trời cùng với hệ thống anten. Theo vị trí đặt trạm trên đường trục thông tin, có TTTVB đầu cuối và TTTVB giữa (trạm trung gian). TTTVB đầu cuối được đặt ở vị trí bắt đầu hoặc vị trí kết thúc của đường trục thông tin vi ba (hoặc vị trí cuối của các đường nhánh). Trạm trung gian có chức năng thu phát chuyển tiếp tự động thông tin truyền đi trên đường trục, ngoài ra còn có thể có chức năng rẽ kênh để kết nối với tổng đài khu vực. TTTVB thường được triển khai ở cấp chiến dịch trở lên.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM