Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:43:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41391 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #140 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:42:12 am »


        TRẠM THU HỔI TRANG BỊ, KHÍ TÀI BỊ NHIỄM, trạm tập trung và phân loại vũ khí, trang bị, khí tài, quân trang bị nhiễm độc, nhiễm xạ, nhiễm trùng để xử lí chuyên môn. TTHTB,KTBN được lập ra theo kế hoạch phòng chống vũ khí hủy diệt lớn do phân đội tiêu độc trang dụng thực hiện, có sự tham gia của các phân đội có trang bị, khí tài bị nhiễm. Trạm được bố trí theo yêu cầu đảm bảo thu hồi nhanh chóng các trang bị, khí tài bị nhiễm.

        TRẠM THU PHÁT CÔNG ĐIỆN, trạm nhận và chuyển các bức điện từ bộ phận cơ yếu đến các đài (trạm) vô tuyến điện và ngược lại, đăng kí và quân lí số lượng điện; thành phần của tổng trạm thông tin. TTPCĐ thường được bố trí gần đài (trạm) vô tuyến điện để kịp thời chuyên nhận côrtg điện.

        TRẠM THU PHÁT VĂN KIỆN nh TRẠM THÔNG TIN QUÂN BƯU

        TRẠM THU THÔNG TIN VÔ TUYẾN ĐIỆN, trạm thông tin liên lạc chuyên làm nhiệm vụ thu tín hiệu vó tuyến điện có chứa tin từ đối tượng liên lạc; thành phần của tổng trạm thòng tin sở chỉ huy cấp chiến lược, chiến dịch. TTTTVTĐ thường lắp đặt các máy thu vô tuyến điện sóng ngắn, máy vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), tải ba và các trang bị đồng bộ. TTTTVTĐ điểu khiển phát tín hiệu ở trạm phát thông tin (điểu khiển xa) qua vô tuyến điện tiếp sức (vi ba) hoặc hữu tuyến điện... Cg trạm thu hay buồng thu.

        TRAM TIẾP NHẬN LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, nơi đơn vị dự hị động viên triển khai tiếp nhận lực lượng dự bị động viên được bổ sung khi có lệnh động viên. Có: TTNLLDBĐV tăng cường đầu tiên (ở khu vực đóng quân thường xuyên) và TTNLLDBĐV bổ sung cơ bản (ở khu vực động viên). TTNLLDBĐV, tuỳ theo loại đôi tượng tiếp nhận, có: trạm tiếp nhận quân nhân dự bị và trạm tiếp nhận phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân. TTNLLDBĐV thường được chuẩn bị từ thời bình (địa điểm; phương tiện; cán bộ, nhân viên nghiệp vụ...), để nhanh chóng triển khai, tiếp nhận trong thời chiến.

        TRẠM TIÊU TẨY, trạm tiến hành tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng cho vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện vận tải, quân trang, quân dụng và xử lí vệ sinh cho người. TTT do các phân đội chuyên môn hóa học và các nhân viên quân y triển khai sẵn ở nơi an toàn, ngoài khu nhiễm, địa hình thuận lợi, kín đáo, để cơ động, gần nguồn nước. TTT gồm: điểm kiểm tra, phân phối, bãi tiêu tẩy vũ khí, binh khí kĩ thuật và phương tiện vận tải, bãi tiêu tẩy trang dụng và quần áo, bãi xử lí vệ sinh cho người, khu sạch, công sự cho người và phương tiện. TTT do phân đội tiêu tẩy chuyên môn phụ trách.

        TRẠM TÍNH TOÁN PHẦN TÍCH HÓA HỌC - PHÓNG XẠ X. TRUNG TÂM (TRẠM) TÍNH TOÁN PHÂN TÍCH HÒA HỌC - PHÓNG XẠ

        TRẠM TRUNG GIAN nh TRẠM CHUYỂN tiếp

        TRẠM TRUNG GIAN(CHUYỂN TIẾP) VÔ TUYẾN ĐIỆN SÓNG CỰC NGẮN , trạm thông tin liên lạc vô tuyến điện sóng cực ngắn, làm nhiệm vụ chuyển tiếp liên lạc giữa các đài vô tuyến điện sóng cực ngắn, để tăng cự li thông tin liên lạc hoặc khắc phục ảnh hưởng của địa hình đến việc truyền sóng và phòng chống tác chiến điện tử của địch, nâng cao tính vững chắc của liên lạc vô tuyến điện sóng cực ngắn. Tuỳ theo tính năng kĩ thuật, chiến thuật của máy và phương pháp tổ chức, TTG(CT)VTĐSCN có thể làm việc tự động, bán tự động, nhân công. Theo quy mô từng cấp, yêu cầu chỉ huy, yêu cầu liên lạc, khả năng trang bị, điều kiện địa hình,... trên mỗi trạm có một hay nhiều máy, cùng hoặc khác chủng loại.

        TRẠM TỰ ĐỘNG GIỮA CÁC HÀNH TINH, khí cụ bay vũ trụ không người lái để nghiên cứu các hành tinh của hệ Mặt Trời và không gian vũ trụ. Thường được trang bị các hệ thống định vị, động cơ hiệu chỉnh quỹ đạo bay và các thiết bị khoa học. Số liệu và hình ảnh thu nhận được có thể truyền về Trái Đất theo kênh vô tuyến hoặc nhờ các thiết bị thu hồi. Các TTĐGCHT của LX: Vêga, để nghiên cứu Sao Kim và sao chổi Halây (1984 phóng 2 trạm); Sao Kim, để nghiên cứu Sao Kim và không gian vũ trụ bao quanh nó, 1961-83 đã thực hiện 16 chuyến bay; Thăm Dò, để nghiên cứu đặc tính vật lí của không gian vũ trụ tuyến Trái Đất - Mật Trăng - Trái Đất, ảnh hưởng đến cơ thể sống, chụp ảnh Trái Đất và Mặt Trăng từ vũ trụ, từ 1964-70 đã phóng 8 trạm; Mặt Trăng, để nghiên cứu Mặt Trăng và không gian vũ trụ, từ 1959-76 phóng 24 trạm; Sao Hỏa, để nghiên cứu Sao Hỏa, từ 1962-73 phóng 7 trạm. Các TTĐGCHT của Mĩ: 2 trạm Viking, để nghiên cứu Sao Hỏa; 2 trạm Voiagiơ, để nghiên cứu Sao Mộc và Sao Thổ; Marinơ, để nghiên cứu Sao Kim và Sao Hỏa, 1962-73 đã phóng 10 trạm; Paiơnia, để nghiên cứu không gian giữa các hành tinh và các hành tinh Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Kim..., từ 1958-78 đã phóng 14 trạm; Rangiơ, để nghiên cứu Mặt Trăng, 1954-65 phóng 9 trạm; Xvâyơ đã hạ cánh nhẹ nhàng và chụp ảnh Mặt Trăng, chương trình bắt đầu 1960, năm 1966-68 đã phóng 7 trạm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #141 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:43:44 am »


        TRẠM VŨ TRỤ, khí cụ bay vũ trụ có người điều khiển hoặc tự động điều khiển, hoạt động lâu dài trên quỹ đạo của thiên thể vũ trụ (Trái Đất, Mặt Trăng...). Dùng để kíp (đội) bay thực hiện các công việc nghiên cứu khoa học. kĩ thuật, công nghệ... TVT có thể được đưa lên quỹ đạo ở dạng thu gọn hoặc được lắp ghép trên vũ trụ. Được trang bị máy móc khoa học, kĩ thuật,... cũng như các hệ thống bảo đảm cho kíp (đội) bay chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi dài ngày trong chuyến bay. Các TVT đã được phóng lên quỹ dạo quanh Trái Đất là Chào Mừng, Hòa Bình (Nga) và Xcailap (Mĩ). Từ 11.1998 dự án TVT quốc tế (ISS hợp tác Nga, Mĩ, Nhật và châu Âu) đã được thực hiện. Đây là TVT lớn nhất hiện nay (dài 108m, nặng 454t), bắt dầu hoạt động từ 11.2000, sẽ được hoàn chình vào 2005 và dự kiến tồn tại 15 năm.



        TRANG BỊ, gọi chung những phương tiện vật chất được giao cho LLVT quản lí và khai thác để chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, huân luyện QS và hoạt động hàng ngày. TB chia ra: theo ngành quản lí, có: TB kĩ thuật, TB hậu cần...; theo quân chủng, binh chủng sử dụng, có: TB không quân, TB hải quân, TB phòng không, TB pháo binh, TB công binh, TB tăng thiết giáp, TB hóa học...; theo đơn vị mà TB được biên chế, có: TB quân đoàn, TB sư đoàn, TB trung đoàn, TB tiểu đoàn, TB đại đội... Từng loại TB lại được phân chia theo nhiều cách khác nhau (nguyên lí hoạt động, công dụng, đặc điểm, kết cấu, tính nâng tác dụng...). Phần cơ bản lớn nhất của TB là TB kĩ thuật, trong đó vũ khí đôi khi được tách riêng thành một nhóm và tồn tại thuật ngữ “vũ khí và trang bị kĩ thuật (khác)”; cũng có thể tách vũ khí và các phương tiện, khí tài bảo đảm sử dụng chúng thành một nhóm riêng gọi là trang bị vũ khí.

        TRANG BỊ CÔNG BINH X. TRANG BỊ KĨ THUẬT CÔNG BINH

        TRANG BỊ - KHÍ TÀI HÓA HỌC, gọi chung phương tiện kĩ thuật để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hóa học, như: trinh sát, tiêu tẩy, phòng hóa, tạo màn khói... Theo mục đích sử dụng, chia ra: khí tài trinh sát phóng xạ, khí tài trinh sát hóa học, khí tài phòng hóa cá nhân, phương tiện đề phòng tập thể, khí tài tiêu tẩy, khí tài phát khói, khí tài sửa chữa... Theo biên chế, có: khí tài đặc chủng hóa học (sản xuất công nghiệp trang bị cho các phân đội phòng hóa) và khí tài phòng hóa ứng dụng.

        TRANG BỊ KĨ THUẬT CÔNG BINH, trang bị KTQS được sử dụng trong QĐ để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm công binh và chiến đấu. Gồm: vũ khí công binh, xe máy công binh và khí tài công binh. Vũ khí công binh có: lượng nổ, mìn (chống bộ binh, chống tăng, chống đổ bộ), thiết bị phóng nổ chuyên dùng, hỏa cụ... Xe máy công binh có các loại: xe máy trinh sát công binh, xe máy bố trí vật cản, xe máy làm đường, xe máy vượt sông, xe máy cấp nước dã chiến, xe máy làm đất, xe máy chế biến và gia công gõ cơ động, xe máy bảo đảm kĩ thuật chuyên dùng công binh, trạm điện công trình cơ động... Khí tài công binh có các loại: trinh sát công binh, vật cản, vượt sông, làm đất đá, chế biến và gia công gỗ, cấp nước, ngụy trang, quân cụ cầm tay, thiết bị công trình... Cg trang bị công binh.

        TRANG BỊ KĨ THUẬT TĂNG THIẾT GIÁP, gọi chung các loại xe QS có vỏ giáp bảo vệ. Gồm: xe tăng, pháo tự hành, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp chở quân (vận tải), xe trinh sát chiến đấu, xe thiết giáp chỉ huy... các xe bảo đảm kĩ thuật (vd: xe cẩu, xe cứu kéo), xe chở tăng... và xe cơ sở của nhiều loại trang bị KTQS khác (vd: các hệ thống phòng không, trang bị kĩ thuật công binh...)... Theo kết cấu phần dẫn tiến, TBKTTTG có các loại: chạy xích, bánh lốp hoặc hỗn hợp (xe nửa xích, ít dùng) hay lưỡng thể (xe xích - bánh lốp). Một bộ phận TBKTTTG là xe bơi (xe tăng bơi, xe thiết giáp bơi) và có thể vận chuyển bằng đường không. TBKTTTG hiện đại có thành phần rất đa dạng, đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau như đột kích, yểm trợ và chế áp hỏa lực, chống tăng, phòng không, chỉ huy, bảo đảm công trình, kĩ thuật, hậu cần... Tùy theo nhiệm vụ, trên xe có thể đặt các loại vũ khí có nòng, vũ khí tên lửa... và các thiết bị chuyên dùng. Ngoài vỏ giáp, còn có các hệ thống bảo vệ đặc biệt chống vũ khí hủy diệt lớn. Các thành tựu của kĩ thuật điện tử, tin học, tự động hóa được sử dụng ngày càng rộng rãi vào TBKTTTG.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #142 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:45:05 am »


        TRANG BỊ QUÂN Y CÁ NHÂN, phương tiện quân y cấp phát cho quân nhân để tự cấp cứu và cấp cứu cho đồng đội khi bị thương, tự phòng bệnh và điều trị một số chứng bệnh thông thường. Gồm: thuốc, bông băng đóng gói thành cơ số quân y (đơn hoặc kép). Cuối thời kì KCCP, TBQYCN là một cuộn băng cấp cứu. Trong KCCM, từ 1961 mỗi quân nhân vào Nam đi trong một tổ chức tập thể nhỏ không có nhân viên quân y đi cùng được phát TBQYCN là một túi thuốc cá nhân trong có 26 loại thuốc thông thường và 5 loại bông, băng, gạc, thuốc đóng trong tuýp nhựa; tất cả đóng vào một túi vải; từ 1966 túi này có tên là túi B2. Đối với quân nhân đi trong phân đội có biên chế nhân viên quân y, TBQYCN có một cơ số quân y kép gồm một hộp thuốc cá nhân (có 8 loại thuốc) và một bao cấp cứu tiêu độc cá nhân (có ống thuốc chống khói độc, dầu xua muỗi và bông băng). Trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc và tây nam Tổ quốc những năm 80 tk 20, sử dụng TBQYCN cơ số T81 cho bộ đội trinh sát luồn sâu và cơ số Đ84 cho bộ đội đặc công.

        TRANG BỊ THÔNG TIN LIÊN LẠC, gọi chung các phương tiện kĩ thuật quân sự để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc. Theo mục đích sử dụng, TBTTLL chia theo nhóm; tác chiến, huấn luyện, phục vụ và niêm cất; theo tính chất bảo đảm kĩ thuật, TBTTLL chia ra: trang bị chính (trực tiếp bảo đảm liên lạc), gồm các tổ hợp máy vô tuyến điện, các loại tổng đài và máy điện thoại, cáp, dây thông tin, súng pháo hiệu, cờ, đèn...; trang bị bổ trợ (đồng bộ đi cùng để bảo đảm trang bị chính hoạt động), gồm tổ máy nắn điện, ăcquy, phối nắn điện...; trang bị bảo đảm (bảo đảm kĩ thuật cho các trang bị chính và bổ trợ).

        TRANG BỊ VŨ KHÍ trên tàu, gọi chung vũ khí và phương tiện kĩ thuật bảo đảm sử dụng chúng đặt trên tàu hải quân. Vũ khí gồm: pháo, tên lửa, ngư lôi, thủy lôi, bom chìm...; phương tiện kĩ thuật bảo đảm gồm: các tổ hợp vô tuyến diện tử, thủy âm. dẫn đường, thông tin liên lạc, hệ tự động điều khiển vũ khí... Theo dạng vũ khí. có: TBVK pháo, gồm những tổ hợp pháo cỡ lớn, cỡ trung đa năng và pháo cỡ nhỏ (phòng không) đặt trên tàu mặt nước; TBVK tên lửa, gồm những tổ hợp tên lửa  đường đạn trên tàu ngầm, tên lửa có cánh và tên lửa - ngư lôi đặt trên tàu ngầm và tàu mặt nước, tên lửa phòng không và tên lửa đa năng trên tàu mặt nước; TBVK ngư lôi, gồm ngư lôi. ống phóng lôi (bệ), thiết bị bảo đảm nạp, ngắm và phóng lôi; TBVK thủy lôi, gồm thủy lôi, thiết bị bảo quản, chuẩn bị rải (thả) thủy lôi; TBVK chống ngầm, gồm tổ hợp tên lửa -  ngư lôi chống ngầm, ngư lôi tự dẫn chống ngầm, bom chìm phản lực, thiết bị bắn (phóng) và điều khiển chúng. Một số TBVKtt được máy bay hoặc máy bay trực thăng của hải quân sử dụng.

        TRANG BỊ VƯỢT SÔNG nh PHƯƠNG TIỆN VƯỢT SÔNG

        TRẠNG THÁI SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU, mức độ chuẩn bị chiến đấu của bộ đội được quy định trong văn kiện tác chiến, cho phép đơn vị chuẩn bị từng bước để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, trong một thời hạn quy định đáp ứng yèu cầu của tình hình QS. Có TTSSCĐ: thương xuyên, tăng cường, cao, toàn bộ. Từng quân chủng, binh chủng và bộ đội chuyên môn có quy định cụ thể nội dung, cách thức và thời hạn chuyển TTSSCĐ. Có thể chuyển TTSSCĐ tuần tự hoặc vượt cấp.

        TRANH CHẤP BIÊN GIỚI, tranh giành chủ quyền quốc gia giữa các nước đối với lãnh thổ ở khu vực biên giới. TCBG là một hiện tượng xã hội phát sinh trong quan hệ biên giới do mâu thuẫn về nhận thức, tư tưởng, lợi ích trong việc xác định đường biên giới: bất đồng về nguồn gốc đường biên giới, khi đường biên giới chưa phân giới cắm mốc hay hoạch định chưa chính xác; khi có tranh chấp về các nguồn tài nguyên khi có mâu thuẫn đối kháng giữa các nước có chung biên giới... TCBG có thể làm cho quan hệ giữa các nước có chung biên giới trở nên căng thẳng, phức tạp, có trường hợp dẫn đến xung đột biên giới, dụng độ QS, chiến tranh. TCBG cần được giải quyết triệt để bằng biện pháp thương lượng hòa bình, thông qua ngoại giao giữa các nước có chung biên giới.

        TRANH CHẤP XÔ - TRUNG (1969), tranh chấp biên giới và chủ quyền lãnh thổ giữa LX và TQ tại khu vực đảo Đamanxki (TQ gọi là Trân Bảo) trên sông Uxơri. Từ giữa những năm 50 của tk 20, quan hệ Xô - Trung bắt đầu rạn nút và trở nên căng thẳng, do bất đồng quan điểm trong giải quyết các vấn đề quốc tế, đặc biệt là đường biên giới lịch sử giữa hai nước, trong đó nổi bật là việc tranh chấp chủ quyền đối với đảo Đamanxki. Tranh chấp kéo dài dẫn đến xung đột vũ trang khi LX triển khai lực lượng QS trên đảo (2.3.1969). Bắt đầu là những trận đánh nhỏ lẻ, từ 15.3 QĐ hai bên đã sử dụng xe tăng, pháo binh tiến hành các trận đánh quy mô lớn, sau đó chiến sự lan ra một số khu vực khác ở biên giới, gây hậu quả nghiêm trọng. Trước tình hình đó, các cuộc đàm phán giữa hai nước đã được xúc tiến, xung đột chấm dứt, nhưng nhiều vấn đề chủ quyền lãnh thổ ở đây vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #143 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:47:02 am »


        TRAO ĐỔI TÙ BINH, đồng thời chuyển đổi tù binh cho nhau theo thỏa thuận giữa các bển tham chiến. Tù binh được đem trao đổi thường là những sĩ quan cấp cao hoặc sĩ quan và nhân viên đảm đương những nhiệm vụ đặc biệt. Được tiến hành trong lúc chiến tranh đang tiếp diễn hoặc trong giai đoạn tạm thời ngừng chiến. Địa điểm và thể thức TĐTB do hai bên thống nhất quy định.

        TRAO TRẢ TÙ BINH, trả lại cho nhau tù binh mà các bên tham chiến đã bắt giữ trong chiến tranh. TTTB thường được thực hiện trong thời gian ngừng bắn hoặc khi kết thúc chiến tranh, trên cơ sở những thỏa thuận của các bên. Công ước La Hay (1907) và Công ước Giơnevơ về tù binh là cơ sở luật pháp quốc tế về việc TTTB, theo đó khi TTTB, ngoài số tù binh còn sống, mỗi bên còn cung cấp cho nhau danh sách số tù binh đã chết, nguyên nhân chết, địa điểm chôn cất và sơ đồ mộ chí.

        TRẠO NHI ĐỘI (ĐOÀN) (cổ) nh QUÂN THIỆN TRẠO

        TRẮC ĐỊA, 1) khoa học về xác định hình dạng, kích thước và trọng trường của Trái Đất, về việc đo đạc trên bề mặt đất để lập bản đồ, xây dựng còng trình... phục vụ cho kinh tế, quốc phòng; 2) đo đạc và vẽ bản đồ.

        TRẮC ĐỊA QUÂN SỰ, chuyên ngành trắc địa nghiên cứu hình dạng, kích thước Trái Đất, đo vẽ bản đồ địa hình các loại tỉ lệ và phục vụ cho xây dựng quốc phòng, tác chiến và huấn luyện. Bao gồm: đo thiên văn, đo trọng lực, đo tam giác, đo độ cao, chụp ảnh hàng không, đo vẽ bản đồ, đo đạc công trình QS, đo đạc biển; biên chế các loại bản đồ: địa hình, hải đồ, không đồ, bảo đảm tư liệu địa hình cho ngành in, kĩ thuật công nghệ, điều tra biên chế binh yếu địa chí... và nghiên cứu khoa học kĩ thuật trắc địa QS.

        TRẮC ĐỊA THIÊN VĂN, môn khoa học ứng dụng nghiên cứu các phương pháp quan trắc thiên văn và sử dụng các kết quả quan trắc đó cho công tác đo đạc bản đồ. Trong QS, TĐTV được sử dụng cho ngành đo đạc bản đồ, đo đội hình chiến đấu, định hướng cho tên lửa, pháo và khí tài.

        TRẮC ĐỊA VỆ TINH (trắc địa vũ trụ), bộ phận của khoa học trắc địa, sử dụng kết quả quan sát, ảnh chụp từ vệ tinh... để xác định các số liệu trắc địa gốc, hình dáng, kích thước, thể trọng trường của Trái Đất; xác lập hệ tọa độ Trái Đất, hệ tọa độ vũ trụ, làm cơ sở cho việc xác lập lưới trắc địa toàn cầu; thiết lập các cơ quan theo dõi không gian vũ trụ, xử lí số liệu, cung cấp tín hiệu giờ chuẩn trên phạm vi thế giới. Từ khi có vệ tinh nhân tạo của Trái Đất (10.1957), TĐVT góp phần thay đổi diện mạo của ngành trắc địa theo phương pháp cổ truyền.

        TRẮC THỦ, người sử dụng khí tài chuyên dụng để xác định vị trí mục tiêu trên không, trên biển, trên đất liền phục vụ chỉ huy tác chiến của pháo và tên lửa (TT máy đo xa, TT máy chỉ huy, TT rađa, TT tên lửa...).

        TRÂN CHÂU CẢNG, căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương (Mĩ) ở đảo Oahu (quần đảo Haoai). Dt 22,7km2, tổng chiều dài các cầu cảng 12km. sâu 15m. Các bộ tham mưu của Hạm đội Thái Bình Dương, Hạm đội 3, các lực lượng tàu ngầm đóng tại TCC. 7.12.1941 không quân Nhật bất ngờ tiến công TCC, loại khỏi chiến đấu lực lượng chủ yếu của Hạm đội Thái Bình Dương Mĩ (x. trận Trân Cháu cảng, 7.12.1941), mở đầu cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương. Trong ngày đầu của cuộc chiến tranh, Nhật làm chủ vùng biển, tạo điều kiện mở các chiến dịch đánh chiếm Philippin, Malaixia và Inđônêxia.

        TRẦN BÁ (1923-63), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê thị trấn Diêu Trì, h. Tuy Phước, t. Bình Định; nhập ngũ 1951, chính ủy trung đoàn (1954); đv ĐCS VN; khi hi sinh là chính ủy trung đoàn thuộc Cục địch vận TCCT, biệt phái làm phó ban binh vận Miền. 1945-51 bí thư huyện ủy, tỉnh ủy viên. 1954-58 phó ban binh vận Miền, hoạt động tại Sài Gòn, xây dựng nhiều cơ sở CM trong QĐ Sài Gòn và một số cơ quan đầu não của địch; thu thập nhiều tin quan trọng. 1958 bị địch bắt, tra tấn cực hình, TB kiên cường bất khuất, động viên đồng đội đấu tranh với địch và tổ chức vượt ngục. Sau nhiều lần tra tấn không kết quả, TB bị địch sát hại trong tù.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #144 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:48:30 am »


        TRẦN BÁ LỘC (1839-99), quan tổng đốc triều Nguyễn thân Pháp ở Nam Kì nửa cuối tk 19. Quê Cù Lao Giêng, làng Tân Đức, tổng An Bình, t. Long Xuyên (nay thuộc h. Cái Bè, t. Tiền Giang). Khi Pháp chiếm Gia Định, TBL tình nguyện đi lính cho Pháp (1861), đội nhì (1862), đội nhất (1864), tri huyện Kiến Phong (1865), tri phú (1867), đốc phủ sứ (1868), tổng đốc Thuận Khánh (1883), rồi ủy viên Hội đồng tối cao Đông Dương (1899). TBL đã tham gia hoặc trực tiếp chỉ huy quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Thủ Khoa Huân ở Mĩ Tho, Trương Định ở Gò Công, Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười, Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, Trương Quyền - Pucom Bô ở Tây Ninh, Mai Xuân Thưởng ở Phú Yên, Bình Định... và trả thù những người thân của nghĩa quân. Đã bắt hàng ngàn dân đi phu, lao động khổ sai, đào hàng trăm kilômét kênh mương, đào đến đâu chiếm đất lập đồn điền riêng rộng nhất vùng Đồng Tháp Mười. Chết bệnh (26.10.1899).

        TRẦN BAY, độ cao lớn nhất mà máy bay đạt dược trong những điều kiện bay và chế độ bay nhất định. Phân biệt: TB tĩnh (cg TB lí thuyết), TB động và TB thực tế. Đối với máy bay có cánh: TB tĩnh là độ cao bay bằng lớn nhất với tốc độ không đổi, TB động là độ cao tối đa mà máy bay đạt được nhờ sử dụng động năng dự trữ trong quá trình cơ động lên và tốc độ giảm đến giới hạn nhỏ nhất cho phép, TB thực tế là độ cao hoạt động lớn nhất trong thực tế. Đối với máy bay trực thăng: TB tĩnh (cg TB treo) là độ cao lớn nhất ở chế độ bay treo (tốc độ tịnh tiến và tốc độ tháng đứng đều bằng 0), TB động là độ cao tối đa bay bằng, thẳng với tốc độ không đổi, TB thực tế là độ cao bay thực tế lớn nhất mà ở đó tốc độ lên thẳng cực đại bằng 0,5m/s. TB phụ thuộc vào tải trọng, vật treo ngoài, điều kiện khí tượng. Để có lượng dự trữ về lực kéo, bảo đảm khả năng sửa chữa những sai sót về lái hoặc trục trặc kĩ thuật, không nên bay ở TB.

        TRẦN BÌNH TRỌNG (1259-85), tướng trung nghĩa triều Trần Nhân Tông dược phong tước Bảo Nghĩa Vương. Quê h. Thanh Liêm, t. Hà Nam. Xuất thân thuộc dòng dõi Lê Đại Hành, đến đời Trần Thái Tông, ông cha có công với nhà Trần được ban quốc tính (mang họ vua). Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285) chỉ huy một cánh quân, chặn địch ở bãi Đà Mạc (nay là bãi Mạn Trù, t. Hưng Yên), bị địch bắt tra khảo và dụ dỗ cho làm vương đất Bắc, TBT lớn tiếng trả lời: “Ta thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc”. Bị địch giết 26.2.1285. Hiện có đền thờ ở quê.

        TRẦN CAN (1931-54), Ah LLVTND (truy tặng 1956). Quê xã Sơn Thành, h. Yên Thành, t. Nghệ An; nhập ngũ 1951; đv ĐCS VN (1953); khi hi sinh là đại đội phó thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Trong KCCP, tham gia đánh trận Bản Hoa (chiến dịch Tây Bắc, 1952), dẫn đầu tổ ba người vượt qua làn đạn dày đặc của địch, dùng thủ pháo diệt 3 ụ súng và toàn bộ địch trong SCH. Trận Him Lam (13.3.1954), trận mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, TC dẫn đầu tiểu đội đánh chiếm SCH, là người đầu tiên trong chiến dịch cắm cờ “Quyết chiến quyết thắng” lên nóc lô cốt địch, sau đó chỉ huy tiểu đội diệt 25 địch trong hầm ngầm. Trận đánh ở điểm cao 507, chỉ huy tiểu đội đánh chiếm mỏm cột cờ, giằng co quyết liệt từng tấc đất với địch. Khi cả ban chỉ huy đại đội bị thương vong, TC bị thương, vẫn chủ động chỉ huy đại đội đánh bại nhiều đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa bàn đạp, tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phú. Sáng 7.5.1954 TC hi sinh. Huân chương: Quân công (hạng nhì. hạng ba), 2 Chiến công hạng nhất.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #145 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:50:14 am »


        TRẦN CANH (Chen Geng. Hi Khang; 1903-61). đại tướng Quàn giải phóng nhân dân Trung Quốc (1955), cố vấn của QĐND VN trong chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Người h. Tương Hương, t. Hồ Nam (TQ); đv ĐCSTQ (1922). Tốt nghiệp khóa I Trường QS Hoàng Phố. Tham gia khởi nghĩa Nam Xương (1.8.1927). Năm 1928-33 tình báo đặc khoa của BCHTƯ ĐCS TQ ở Thượng Hải; sư đoàn trường, Phương diện quân 4 Hồng quân công nông Trung Quốc, hiệu trưởng Trường bộ binh Bành Dương. 1934-36 tham gia Vạn lí trường chinh, đoàn trường Đoàn cán bộ Hồng quân; khi tới Thiểm Bắc sư đoàn trưởng Sư đoàn 1, Quân đoàn 1 Hồng quân. Trong chiến tranh chống Nhật, 1940-49 tư lệnh: Quân khu Thái Nhạc, Tung đội Thái Nhạc; tham gia lãnh đạo thành lập khu căn cứ Sơn Tây - Hà Bắc - Hà Nam. Trong chiến tranh giải phóng, 1948-50 tham gia chiến dịch Hoài Hải; tư lệnh kiêm chính ủy Binh đoàn 4. vượt Trường Giang, tham gia chỉ huy  chiến dịch Quảng Đông - Quế Lâm, Vân Nam; chủ tịch t. Vân Nam, kiêm tư lệnh Quân khu Vân Nam. 8.1951 tham gia chiến tranh Triều Tiên, 1950-53, phó tư lệnh Chí nguyện quân, tư lệnh kiêm chính ủy Binh đoàn 3. Năm 1954 phó tổng tham mưu trường QGP nhân dân TQ. 1959 thứ trường BQP TQ. ủy viên BCHTU’ ĐCS TQ (dự khuyết khóa VII) khóa VIII, ủy viên Hội đồng quốc phòng TQ khóa I-II.

        TRẦN CAO VÂN (Trần Công Thọ; 1866-1916), người tham gia lãnh đạo cuộc vận động khởi nghĩa của Việt Nam quang phục hội (5.1916). Quê làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, phú Điện Bàn (nay là xã Điện Hòa, h. Điện Bàn), t. Quảng Nam. 1886 tu ở chùa Cổ Lâm (h. Đại Lộc, t. Quảng Nam), mở trường dạy học để tuyên truyền tư tưởng yêu nước và tập hợp lực lượng chống Pháp. 1892 hoạt động ở Bình Định, Phú Yên, cố vấn cuộc khởi nghĩa của nhà sư Võ Trứ (1898). Ba lần bị thực dân Pháp bắt (1898, 1900 và 1908), giam tại các nhà lao: Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Côn Đảo. 1914 được trả tự do. 1915 cùng Thái Phiên và một số người yêu nước lập cơ sở VN quang phục hội tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,... chủ trương khởi nghĩa vũ trang ở Huế. 1916 bí mật liên lạc với vua Duy Tân thống nhất kế hoạch khởi nghĩa, dự định vào đêm 3.5.1916. Khởi nghĩa không thành do kế hoạch bị lộ, TCV và những người lãnh đạo khởi nghĩa bị thực dân Pháp bắt trên đường đưa vua Duy Tân rời kinh thành Huế lên căn cứ. 17.5.1916 bị xử chém tại An Hòa (Huế).

        TRẦN CÔNG AN (Trần Văn Kìa; S. 1920), Ah LLVTND (1996). Quê xã Thanh Phước, h. Tân Uyên, t. Bình Dương; nhập ngũ 1946, đại tá (1980); đv ĐCS VN (1948). Trong KCCP, đại đội trưởng đại đội đặc công đầu tiên (Đại đội Nguyễn Văn Nghĩa) của bộ đội địa phương huyện Tân Uyên. Là một trong những người đầu tiên thực hiện thành công cách đánh công đồn. 19.3.1948 chỉ huy trận đánh tháp canh (đồn, bốt) cầu Bà Kiên thắng lợi, mở ra cách đánh mới, làm phá sản kế hoạch phòng thủ chiến lược của Pháp ở Đông Nam Bộ (sau chiến dịch Bến Cát 1950, Đại đội Nguyễn Văn Nghĩa được BTL khu tặng danh hiệu “Anh hùng diệt tháp canh”). Trong KCCM, 1955-61 tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó. 1964-71 thị đội trưởng Biên Hòa. 1972 đoàn trưởng Đoàn La Ngà, Quân khu 7, chỉ huy lực lượng đặc công đánh nhiều trận vào sân bay Biên Hòa, Tổng kho Long Bình diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mĩ và QĐ Sài Gòn. Huân chương: Chiến công (hạng nhì, hạng ba).



        TRẦN CÔNG NHỠN (1936-70), Ah LLVTND (1969). Quê xã Đông Sơn, h. Đông Hưng, t. Thái Bình; nhập ngũ 1959; đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là thượng sĩ, trung đội trưởng Trung đội ô tô vận tải, Đại đội 3, Đoàn 878, Binh trạm 16, TCHC. Trong KCCM, lái ô tô vận tải QS trên tuyến đường Quảng Bình - Vĩnh Linh (nơi địch thường xuyên đánh phá ác liệt). Hàng trăm lần dịch đánh phá vào đội hình đoàn xe đang chạy, TCN vẫn chở hàng đến đích an toàn. Máy bay địch đánh phá bãi đỗ xe, TCN lái xe làm mục tiêu thu hút máy bay địch để đơn vị sơ tán đến vị trí an toàn. TCN lái xe 155.000km an toàn. Huân chương: Chiến công hạng ba.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #146 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:52:41 am »


        TRẦN CỪ (1920-50), Ah LLVTND (truy tặng 1955). Quê xã Đức Bác, h. Lập Thạch, t. Vĩnh Phúc; nhập ngũ 1945; đv ĐCS VN; khi hi sinh là đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Sông Lô, Đại đoàn 312. Năm 1945-50 trưởng thành từ chiến sĩ đến đại đội trường, chiến đấu hàng chục trận ở chiến trường Việt Bắc. 9.1945 tham gia đánh Nhật ở tx Vĩnh Yên, diệt 1 lính Nhật, thu 1 súng. 1946 đánh quân Quốc dân đảng ở cầu Đông Đạo (Vĩnh Yên), cùng đồng đội dùng trung liên diệt 2 tiểu đội địch, giữ vũng trận địa. Trận đánh đồn Đông Khê (chiến dịch Biên Giới, 17-18.9.1950), chỉ huy đại đội chủ công của trung đoàn đánh chiếm được một số mục tiêu. Khi 100 địch cố thủ trong hầm có hỏa điểm lợi hại ngăn chặn bước tiến của đơn vị, TC bị thương nặng vẫn xông lên ném thủ pháo và dùng thân mình bịt lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đơn vị xông lên tiêu diệt đồn địch. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến công hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất.



        TRẦN ĐẠI NGHĨA (Phạm Quang Lễ; 1913-97), Ah lao động (1952). Quê xã Chân Hiệp, h. Tam Bình, t. Vĩnh Long; nhập ngũ 1946, thiếu tướng (1948), phó chủ nhiệm TCHC (1973-77); đv ĐCS VN (1949), giáo sư, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học LX (1966); khi tuyên dương Ah là cục trưởng Cục quân giới. Trong KCCP, có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Trong kháng chiến, cơ sở vật chất kĩ thuật nghèo nàn, TĐN đã thiết kế, hướng dẫn thiết kế và tổ chức sản xuất thành công nhiều loại vũ khí: mìn, đạn, lựu đạn, bom phóng, súng badôca, súng SKZ. 1947 cục trưởng đầu tiên của Cục quân giới kiêm cục trưởng Cục pháo binh (5.1949); thứ trưởng Bộ công thương (9.1950). Năm 1964-72 chủ nhiệm: ủy ban kiến thiết cơ bản nhà nước, ủy ban khoa học - kĩ thuật nhà nước kiêm phó trường ban cơ khí trung ương ĐCS VN (12.1972). Năm 1973-77 phó chú nhiệm TCHC, TCKT BQP. 3.1977 chuyển ngành, viện trưởng Viện khoa học VN. 1980- 83 chủ tịch: ủy ban nghiên cứu vũ trụ của VN, Liên hiệp các hội khoa học - kĩ thuật VN. Có nhiều cống hiến trong sự nghiệp xây dựng và phát triển khoa học - công nghệ của VN. Đại biểu Quốc hội khóa II, III. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công hạng ba, Kháng chiến hạng nhất...



        TRẦN ĐĂNG (Đặng Trần Thi; 1921-49), nhà văn. Quê xã Tây Tựu, h. Từ Liêm, tp Hà Nội; nhập ngũ 1946; đv ĐCS VN (1948). Sau CM tháng Tám (1945), làm việc trong Ban liên kiểm Việt - Pháp. 1946 làm việc ở Văn phòng BQP. 1948 phóng viên mặt trận báo “Vệ quốc quân” (nay là báo “Quân đội nhân dân ”). TĐ đã có mặt ở nhiều nơi trên chiến trường Bắc Bộ, viết hàng loạt bài báo, truyện ngắn, bút kí về anh bộ đội Cụ Hồ. Tác phẩm tiêu biểu: “Một lần tới thủ đô” (1948, tác phẩm đầu tiên về đề tài “Bộ đội Cụ Hồ”), ‘Trận phố Ràng” (1949), “Một cuộc chuẩn bị” (1949). Năm 1954 những truyện ngắn và kí của TĐ được xuất bản thành tập truyện và kí sự. 26.12.1949 hi sinh tại vùng biên giới Việt - Trung và là chiến sĩ văn nghệ đầu tiên hi sinh trên chiến trường. Huân chương: Kháng chiến hạng nhất, Clụến thắng hạng ba...



        TRẦN ĐĂNG NINH (1910-55), chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (chủ nhiệm đầu tiên của ngành hậu cần QĐND VN) (1950-55). Quê xã Quảng Phú Cầu, h. Ứng Hòa, t. Hà Tây; tham gia CM 1930, nhập ngũ 1950; đv ĐCS VN (1936). Năm 1939 ủy viên Thành ủy Hà Nội, tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân. 1940 ủy viên Xứ ủy Bắc Kì. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, được cử về Bắc Sơn tham gia lãnh đạo củng cố phong trào CM, lập ủy ban CM, tổ chức du kích, xây dựng căn cứ Ngũ Viễn - Vũ Lăng. 5.1941 bí thư Xứ ủy Bắc Kì. 1941-43 hai lần bị thực dân Pháp bắt giam, kết án tù chung thân. 3.1945 vượt ngục lần hai, ủy viên ủy ban QS CM Bắc Kì, phụ trách Chiến khu Hoàng Hoa Thám. 8.1945 được cử vào Tổng bộ Việt Minh, tham gia ủy ban khởi nghĩa. Cuối 1946 được chủ tịch Hồ Chí Minh cử đặc trách xây dựng căn cứ địa Việt Bắc. 1947 trưởng ban kiểm tra BCHTU Đảng, phó tổng thanh tra chính phủ. 1950-55 chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (TCHC), ủy viên Tổng quân ủy, kiêm trưởng ban cung cấp chiến dịch Biên Giới (1950), ủy viên BCHTU ĐCS VN khóa II (dự khuyết từ 1941). Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công hạng nhì, Chiến thắng hạng nhất...


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #147 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:54:22 am »


        TRẦN ĐÌNH XU (Trần Sinh; 1921- 69), tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định (1967). Quê t. Quảng Bình; nhập ngũ 8.1945, đại tá (1961); dv ĐCS VN (1947). Trong KCCP, giữ các chức vụ từ đại đội trưởng đến trung đoàn trưởng, chỉ huy liên trung đoàn 306-312, rồi tỉnh đội trưởng Gia Ninh. Trong KCCM, 1956-61 cục trưởng Cục công binh. 11.1964 chỉ huy chiến dịch Bình Giã. 1967 tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định, chỉ huy trưởng Phân khu 1 (x. phân khu). Hi sinh trong chiến đấu.



        TRẦN ĐỘC TÚ (Chen Duxiu; 1879-1942), tổng bí thư đẩu tiên ĐCSTQ. Người h. Hoài Ninh, t. An Huy (TQ). 1898 học ở Học viện cầu thị Hàng Châu, hoạt động chống triều Thanh, bị đuổi học. 1901 sang Nhật học, tham gia phong trào học sinh chống CNĐQ xâm lược TQ, bị trục xuất, về nước dạy ở Trường tiểu học Hàng Châu. Sau CM Tân Hợi (1911), tham gia chính quyến CM tỉnh An Huy. 1915 sáng lập tạp chí "Tân thanh niên” vận động phong trào văn hóa mới, giương cao ngọn cờ khoa học và dân chủ, trở nên nổi tiếng và được mời giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh. CM tháng Mười Nga (1917) đã ảnh hưởng sâu sắc tới giới trí thức tiến bộ TQ. TĐT là một trong những người đầu tiên tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác ở TQ. 1920 lập ra tiểu tổ cộng sản đầu tiên của TQ tại Thượng Hải và vận động thành lập ĐCS TQ. 7.1921 tại đại hội đại biểu ĐCS TQ lần thứ nhất được bầu làm tổng bí thư. Sau khi Tôn Trung Sơn mất (1925), những phần tử phái hữu trong Quốc dân đảng tiến hành chống lại ĐCS và ngăn chặn CM TQ. TĐT lại theo đường lối cơ hội hữu khuynh, thỏa hiệp, nhượng bộ. 8.1927 BCHTƯ ĐCS TQ họp ở Cừu Giang (Giang Tây) đã phê phán đường lối của TĐT và cách chức tổng bí thư. 11.1929 bị khai trừ khỏi ĐCS TQ. Sau đó thành lập và lãnh đạo nhóm Trôtkit “Người vô sản”. 1932-37 bị chính quyền Quốc dân đảng bắt giam ở Thượng Hải. 1942 bị bệnh chết tại Tứ Xuyên. Tác phẩm chính: “Độc Tú văn tồn”.

        TRẦN ĐỐI (Trần Khoa; S. 1933), Ah LLVTND (1978). Quê xã Điện Nam, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam; nhập ngũ 1950, thiếu tướng (1985), phó trưởng đoàn chuyên gia Khu vục 4 Campuchia; đv ĐCS VN (1950); khi tuyên dương Ah là trung tá, trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 bộ binh, Sư đoàn 5, Quân khu 9. Trong KCCM, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên và Nam Bộ, trưởng thành từ đại đội trưởng đến trung đoàn trưởng, chỉ huy đơn vị tham gia nhiều chiến dịch và trận đánh tiêu biểu như: chiến dịch Sa Thầy (18.10-6.12.1966), chỉ huy 2 tiểu đoàn, diệt và làm bị thương gần 1.000 địch (chủ yếu là quân Mĩ); chiến dịch Đắc Tô 1 (3-22.11.1967), chỉ huy 1 tiểu đoàn diệt gọn 2 đại đội Mĩ và góp phần cùng đơn vị bạn diệt 2 tiểu đoàn Mĩ; tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), chỉ huy trung đoàn tiến công kết hợp chốt diệt 2 đại đội Mĩ trong các trận Chư Tăng Cra, Ngọc Cam Liệt. 4.1972 vào chiến trường Nam Bộ chỉ huy trung đoàn tiêu diệt căn cứ Xa Mát, vây ép căn cứ Thiện Ngôn, buộc địch phải tháo chạy, diệt Chiến đoàn 49, QĐ Sài Gòn. 1973-74 chỉ huy trung đoàn đánh địch ở Mĩ Tho diệt 4 tiểu đoàn địch, 30 đồn bốt, mờ rộng vùng giải phóng bắc Cái Bè. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (1 hạng nhì, 2 hạng ba).



        TRẦN ĐỨC (1917-50), Ah LLVTND (truy tặng 1956). Quê xã Hải Yến, h. Tĩnh Gia, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1946; đv ĐCS VN (1947); khi hi sinh là tiểu đội trưởng, Đại đội 212, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Sư 305, Liên khu 5. Trong KCCP, chiến đấu ở chiến trường Khu 5. Năm 1946-50 đánh 40 trận, diệt 200 địch, bắn hỏng 7 xe vận tải QS. Trận chặn đánh 3 đại đội địch ở Nam Ô (4.1947), dùng súng trung liên diệt 1 trung đội địch, yểm trợ cho đơn vị diệt 1 trung đội, đánh bại 3 đợt tấn công của địch. Trận 1.000 địch bao vây 2 đại đội ở nam Thừa Thiên - Huế (2.1949), TĐ dùng trung liên bắn chế áp, diệt và làm bị thương 70 địch, cùng đơn vị đánh bại các đợt tấn công của địch. 11.1950 sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh chặn địch cho đại đội rút lui an toàn, TĐ hi sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhì.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #148 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 11:58:38 am »


        TRẦN ĐỨC LƯƠNG (S. 1937), chủ tịch nước CHXHCN VN (từ 1997). Qué xã Phổ Khanh, h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi; tham gia CM 1955; đv ĐCS VN (1959). Tháng 2.1955 tập kết ra miền Bắc, công tác trong ngành địa chất. 1969-76 kĩ sư địa chất; cục phó, đảng ủy viên thường trực Cục bản đồ địa chất. 1977-81 liên đoàn phó, rồi liên đoàn trưởng Liên đoàn bản đồ địa chất; tổng cục trưởng Tổng cục địa chất, kiêm bí thư Ban cán sự Đảng; phó chủ nhiệm rồi chủ nhiệm ủy ban khoa học và kĩ thuật của Quốc hội. 1982-86 và an ninh, ủy viên thường vụ Đảng úy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VI-IX (dự khuyết khóa V). ủy viên BCT khóa VIII, IX, ủy viên thường vụ BCT khóa VIII. Đại biểu Quốc hội khóa VII-XI.



        TRẦN HẢI PHỤNG (Trần Lương; S. 1925), tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định (1961-67 và 1972-74). Quê xã Đức Lâm, h. Đức Thọ. t. Hà Tĩnh; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1979); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP. 1945-52 trưởng thành từ chiến sĩ đến cán bộ trung đoàn; tham mưu trưởng Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. 1954-55 cán bộ Ban liên hiệp đình chiến trung ương. 11.1956 trung đoàn trưởng, trưởng phái đoàn liên hiệp đình chiến ở khu phi QS. 1960 cục phó: Cục tình báo, Cục kế hoạch trang bị vật tư BTTM. Trong KCCM. 1961-67 tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Đặc trách nội thành Sài Gòn, chỉ huy trưởng Phân khu 6 (x. phân khu). 1968 chỉ huy trưởng Tiền phương 2 (Đoàn 500). Năm 1972-74 tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định. 10.1976 chỉ huy trưởng đoàn Phước Long, Quân khu 7. Tháng 2.1978- 82 cục trưởng Cục xây dựng kinh tế Quân khu 7; tư lệnh Bộ chỉ huy QS Thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ Quân khu 7. Năm 1984-88 phó trưởng đoàn chuyên gia QS VN tại Cuba. Huân chương: Độc lập hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Chiến thắng hạng nhất...



        TRẦN HANH (S. 1932). thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (1996-2000). Ah LLVTND (1967). Quê xã Lộc Vượng, tp Nam Định, t. Nam Định; nhập ngũ 1949, trung tướng (1989); đv ĐCS VN (1950). Trong KCCP, 1951- 55 phái viên ban chính trị trung đoàn, chính trị viên đại đội, chính trị viên Tiểu đoàn 680, Trung đoàn 48, Đại đoàn 320. Năm 1956-58 học tại Trường không quân số 3 (TQ). 1964-69 đại đội trưởng Đại đội máy bay phản lực, rồi trung đoàn phó, trung đoàn trưởng Trung đoàn 921, Quân chủng phòng không - không quân. 1972 phó tư lệnh BTL không quân. 1973 học tại Học viện Gagarin (LX). 1974-76 tư lệnh Binh chúng không quân chiến đấu kiêm sư đoàn trưởng Sư đoàn 371, rồi tham mưu phó Quân chủng phòng không - không quân. 1977 phó tư lệnh Quân chủng không quân. 8.1977-79 học tại Trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. 1980-83 phó tư lệnh kiêm cục trưởng Cục huấn luyện, rồi phó tư lệnh thứ nhất Quân chủng không quân. 1985-86 học tại Học viện Vôrôsilôp (LX). 3.1986 tư lệnh Quân chủng không quân. 1989 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 1996-2000 thứ trưởng BQP. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV (dự khuyết 1976-81. chính thức 11.1981-82). Đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, XI. Từ 2002 phó chủ tịch kiêm tổng thư kí BCHTU Hội cựu chiến binh VN. Huân chương: Quân công (hạng nhất, 2 hạng ba), Chiến công (hạng nhất. 2 hạng ba), Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất.



        TRẤN HIỂN QUANG (S. 1928), Ah LLVTND (1956). Quê xã Ninh Qưới, h. Hồng Dân, t. Bạc Liêu; nhập ngũ 1947, đại tá (1990); đv ĐCS VN (1948); khi tuyên dương Ah là đại đội trưởng công binh, Sư đoàn 330. Trong KCCP, 1950-54 chiến sĩ công binh, chỉ huy và tham gia đánh tàu địch trên sông tại chiến trường miền Tây Nam Bộ, đánh chìm 5 tàu, 1 xe lội nước, đánh hỏng nặng 2 tàu, diệt hơn 500 địch (có 12 sĩ quan). 2.1952 trong trận đánh đoàn tàu của bộ tham mưu vùng Cần Thơ, Rạch Giá đi kiểm tra trên sông Sa Nô (Ô Môn, Cần Thơ), THQ chỉ huy tiểu đội, khéo ngụy trang, đặt thủy lôi đánh chìm tàu chỉ huy, diệt toàn bộ địch trên tàu. Trận chống càn 12.1952 cùng đồng đội đặt thủy lôi ở sông Cái Xĩnh (Long Mĩ, Cần Thơ), đánh chìm 1 tàu lớn của địch đón quân đổ bộ, diệt hơn 400 sĩ quan và binh lính dịch, buộc dịch phải bỏ dở cuộc càn quét. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công hạng ba.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #149 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 12:00:37 pm »


        TRẦN HƯNG ĐẠO X. TRẦN QUỐC TUẤN

        TRẦN HỮU BÀO (S. 1949). Ah LLVTND (1970). Quê xã Hiền Sơn, h. Đô Lương, t. Nghệ An; nhập ngũ 1967, đại tá (1992); dv ĐCS VN (1970); khi tuyên dương Ah là chiến sĩ, Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304. Ngày 6-7.4.1968 cùng tiểu đội chốt giữ điểm cao 595 (Khe Sanh, Quảng Trị), đánh lui nhiều đợt tiến công của hơn 1 tiểu đoàn Mĩ có máy bay và pháo binh yểm trợ, diệt gần 200 địch (THB diệt 78). Khi còn một mình. THB vừa băng bó cho đồng đội, vừa chiến đấu giữ vững chốt. Huân chương: Chiến công hạng nhất, Dũng sĩ diệt Mĩ cấp ưu tú.



        TRẦN ÍCH TẮC (?-?), Chiêu Quốc Vương (1267) triều Trần đầu hàng quân Nguyên - Mông. Con thứ vua Trần Thái Tông, có tham vọng đoạt ngôi trưởng, muốn dựa vào thế lực quân Nguyên - Mông để lên ngôi vua. 1285 quân Nguyên -  Mông do Thoát Hoan cầm đầu sang xâm lược Đại Việt lần hai. Thăng Long thất thủ, TIT cùng gia quyến ra hàng. Khi quân Nguyên - Mông bị đánh bại, đã chạy theo sang TQ, vua Nguyên phong làm An Nam quốc vương, cho ở Hán Dương (t. Hồ Bắc, TQ) sử dụng làm con bài để tiếp tục thực hiện âm mưu xâm lược Đại Việt. 1287 quân Nguyên - Mông xâm lược Đại Việt lần ba, TIT theo chân về nước. Một lần nữa quân Nguyên - Mông bị đánh bại, TIT lại chạy theo sang TQ, vua Nguyên cho làm bình chương ở Hồ Quảng; gần 30 năm sau TIT chết tại đó.

        TRẦN KHÁNH DƯ (7-1339), danh tướng, tôn thất nhà Trần, tước Nhân Huệ Vương. Quê h. Chí Linh, t. Hải Dương. Say mê sách vở, giỏi binh thư. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần / (1258), TKD là một trong những dũng tướng thường bất ngờ đánh úp quân địch, lập nhiều chiến công, được Trần Thái Tông khen là người trí dũng, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Sau đó, dẹp loạn ở vùng núi, thắng lớn, được phong Phiêu kị đại tướng quân. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần III (1287-88) TKD làm phó tướng chận giặc ở Vân Đồn, tuy không ngăn được đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi (cuối 1287), nhưng nhờ tài phán đoán thuyền lương giặc sẽ đến, TKD chỉ huy đánh bại đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, thu nhiều quân lương, khí giới (đầu 1288). Mất nguồn lương thảo, quân Nguyên - Mông hoang mang, dao động, buộc phải tìm cách rút khỏi Đại Việt. TKD viết đề tựa cho tập binh thư “Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của Trần Quốc Tuấn. Có đền thờ ở bến Linh Giang (Chí Linh, Hải Dương).

        TRẦN KHÁT CHÂN (1370-99), danh tướng cuối thời Trần. Quê Hà Lương, h. Vĩnh Ninh (nay là h. Thanh Liêm, t. Hà Nam). Xuất thân dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng. 1389 quân Chiêm Thành vào đánh phá Thanh Hóa, Hồ Quý Li không đánh dẹp được, thượng hoàng Trần Nghệ Tông cử TKC chỉ huy quân Long Tiệp đánh bại quân Chiêm Thành, giết chúa Chiêm là Chế Bồng Nga. từ đó quân Chiêm không dám quấy phá nữa. TKC được phong nội vệ thượng tướng quân, tước Vũ Tiết Quan Nội Hầu. 1399 nhân hội thề ở Đốn Sơn (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), cùng một số vương hầu và tướng nhà Trần mưu giết Hồ Quý Li, nhằm khôi phục nhà Trần. Việc không thành, TKC cùng hơn 370 người bị Hổ Quý Li giết hại. Nhân dân vùng Kẻ Mơ (Thăng Long) và nhiều nơi khác đã lập đền thờ TKC.

        TRẦN KIỆN (7-1285), tướng nhà Trần đầu hàng quân Nguyên - Mông. Đầu 1285 khi quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy đánh Đại Việt ở phía nam, Chương Hiến Hầu TK được lệnh đem quân vào giữ Thanh Hóa. 8.3.1285 chỉ huy 10.000 quân chưa đánh đã đầu hàng địch. 9.3.1285 dẫn đường cho tướng Nguyên - Mông là Giảo Kỉ tập kích quân Trần ở Thanh Hóa, giết hai tướng Đại Việt là Đinh Xá và Nguyễn Tất Thống. 5.1285 khi tướng Nguyên - Mông là Minh Lí Tích Ban đưa những người đầu hàng phản bội về TQ, TK bị Nguyễn Địa Lô bắn chết.

        TRẦN KIỆT (Trần Thùng; 1937-71), Ah LLVTND (truy tặng 1976).Quê xã Hòa Hiệp Nam, h. Tuy Hòa, t. Phú Yên; nhập ngũ 1960; đv ĐCS VN (1964); khi hi sinh là trung úy, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14, bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên. 1960-71 tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu hàng trăm trận, cùng đơn vị diệt hơn 800 địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh (TK diệt 245 địch, có 35 Mĩ và 69 Nam Triều Tiên). 30.12.1971 khi đi chuẩn bị chiến trường bị 3 đại đội bộ binh địch có máy bay yểm trợ bao vây ở Tuy Hòa, một mình giữa vòng vây, TK bình tĩnh chiến đấu, diệt 18 địch và hi sinh. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba).


Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM