Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:59:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41030 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #160 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:32:08 pm »


        TRẨN VIỆT (Trần Vũ; S. 1925), đạo diễn điện ảnh QĐ, Nghệ sĩ nhân dân (1993). Quê xã Vân Từ, h. Phú Xuyên, t. Hà Tây; nhập ngũ 1946, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, làm công tác tuyên huấn. 1958 công tác điện ảnh. 1959 biên tập và chủ nhiệm phim “Dưới cờ quyết thắng” (bộ phim tài liệu đầu tiên của QDND VN). 1962-88 đạo diễn hàng chục phim tài liệu, phóng sự có giá trị về nghệ thuật và lịch sử; giám đốc xí nghiệp phim QĐ (1973-75). Tác phẩm tiêu biểu: “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” (giải Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ nhất, 1961), “Quân và dân Trị Thiên tiến công và nổi dậy” (giải Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ hai, 1967), “Chiến thắng lịch sử Xuân 1975” (Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ tư, 1976), “Cuộc đụng đầu lịch sử” (giải Bông sen vàng liên hoan phim VN lần thứ sáu, 1980). Năm 1983 ủy viên BCH Hội điện ảnh VN khóa III. Huân chương: Độc lập hạng ba, Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhì...



        TRẦN XUÂN LAI (1942-72), Ah LLVTND (truy tặng 1973). Quê xã Văn Phú, h. Trấn Yên, t. Yên Bái; nhập ngũ 1968; đv ĐCS VN (1969); khi hi sinh là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, BTL Miền. Trong KCCM, 1969-72 chiến đấu tại miền Nam VN và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, chỉ huy đơn vị diệt hàng nghìn địch, TXL diệt 120 (có 40 Mĩ), bắt 5 địch, bắn cháy 7 xe tăng. Trận phục kích trên đoạn đường Bổ Túc -  Bà Chiêm (3.1970), bắn 2 quả đạn B-40 diệt 2 xe tăng, rồi dẫn đầu tiểu đội xông lên, cùng đại đội diệt đoàn xe 30 chiếc của địch. Trận đánh Thiết đoàn 1 của dịch ở Lộc Ninh (6.4.1972), hai lần bị thương vẫn chỉ huy đại đội làm tròn nhiệm vụ chốt chặn, tạo điều kiện cho trung đoàn diệt thiết đoàn địch, TXL diệt 4 xe tăng, 20 địch. Trận Bình Long (15.4.1972) chỉ huy đại đội thọc sâu vào thị xã, chủ động  phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm dinh tỉnh trưởng và anh dũng hi sinh. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba), 5 lần Dũng sĩ.



        TRẦN XUÂN SOẠN (1849-1923), người tham gia lãnh đạo phong trào Cần Vương. Quê làng Thọ Hạc, h. Đông Sơn, t. Thanh Hóa. Xuất thân nông dân nghèo. Chiến đấu lập nhiều công được phong chức lãnh binh. Sau được Tôn Thất Thuyết tin dùng, giao giữ chức đề đốc. 7.1885 trong trận đánh ở thành Huế, chỉ huy quân Phấn nghĩa tiến công quân Pháp ở đồn Mang Cá; bị thất bại, TXS cùng Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra Sơn Phòng (Quảng Trị), rồi Ấu Sơn (Hà Tĩnh), cùng Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân lãnh đạo kháng Pháp tại Thanh Hóa. Khi quân Pháp bao vây chiến luỹ Ba Đình, TXS đem quân hỗ trợ Đinh Công Tráng phá vây. Cùng Tôn Thất Thuyết sang Long Châu (TQ) cầu viện và mất tại đó.

        TRẦN XUÂN TRƯỜNG (Nguyễn Thạch Toàn; S. 1928), Nhà giáo nhân dân (1994), giáo sư (1988). Quê phường Nhân Chính, q. Thanh Xuân, tp Hà Nội; tham gia CM 6.1945, nhập ngũ 1946, trung tướng (1992); đv ĐCS VN (1946). Tháng 6.1945 đội viên tự vệ Trường kĩ nghệ Hà Nội. 8.1945 trung đội trưởng đội tự vệ chiến đấu Hà Nội. 1947-55 chính trị viên đại đội, trưởng ban chính tri trung đoàn, trưởng ban tuyên huấn Sư đoàn 308. Năm 1956-78 chủ nhiệm Khoa kinh tế - chính trị Trường trung cao chính trị QĐ, trưởng phòng giáo dục, cục phó Cục chính trị Học viện chính trị, cục phó Cục chính trị BTL 968 và Đoàn 559, chủ nhiệm Khoa kinh tế QS, Viện khoa học QS, chú nhiệm Khoa Mác - Lênin, Học viện QS cao cấp. 5.1979 phó giám đốc Học viện chính trị - QS. 1.1992 giám đốc Học viện chính trị - QS. ủy viên Hội đồng lí luận trung ương, ủy viên Hội đồng khoa học xã hội và nhân văn QS BQP. Chủ nhiệm nhiều đề tài khoa học cấp nhà nước và BQP. Tác phẩm: “Vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta” (1980), “Mấy vấn đề về chủ nghĩa yêu nước XHCN VN” (1981), “Bảo vệ tổ quốc XHCN” (1983), “Thời đại và thích nghi” (1991), “Chủ nghĩa yêu nước VN thời đại Hồ Chí Minh” (1999), “Một số vấn đề về định hướng XHCN ở nước ta” (2000)... Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng ba), Chiến thắng hạng nhì.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #161 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:33:30 pm »


        TRẤN HẢI, pháo đài cổ ở làng Thái Dương Hạ, h. Hương Trà, t. Thừa Thiên - Huế. Được xây dựng 1813 để bảo vệ cửa biển Thuận An. Pháo đài hình tròn, có thành bao quanh, chu vi 285m, cao 6m. Ở giữa có đài chu vi 68m, cao 4,4m. Ngoài có hào rộng 4m, sâu 2,4m, mở một cửa. Trên thành bố trí 994 súng. Pháo đài kiên cố, xung quanh có các đồn luỹ yểm trợ tạo thành một hệ thống công trình QS bảo vệ kinh đô Huế trước đây.

        TRẬN, gọi chung cạc cuộc giao chiến, không phân biệt quy mô, loại tác chiến. Như: T chiến đấu, T then chốt, T Ngọc Hồi, T Bạch Đằng, T Đông Khê. T Điện Biên Phủ, T Tây Nguyên. Cg trận đánh.

        TRẬN A BIA (10-17.5.1969), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 324) phối hợp với Trung đoàn 6 và du kích Thừa Thiên chặn đánh quân Mĩ và QĐ Sài Gòn hành quân càn quét tại khu vực A Bia (h. A Lưới, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế). Sáng 10.5 địch huy động 13 tiểu đoàn (có 8 tiểu đoàn Mĩ, trong đó lực lượng chủ yếu là Lữ đoàn dù 3 thuộc Sư đoàn dù 101), được máy bay, pháo binh yểm trợ càn quét vùng A Lưới nhằm đánh phá hậu phương và ngăn chặn tuyến vận chuyển của ta trên đường 14 vào nam Thừa Thiên. Dựa vào cụm trận địa chốt ở Ấp Bia (điểm cao 937), điểm cao 903 và 916, ta kịp thời đưa lực lượng vận động tiến công địch ở các điểm cao 400, 500 và 903; sau đó liên tục đánh phản kích và chặn đánh địch đổ bộ vào khu vực trận địa. Từ 15.5 Mĩ tiếp tục đổ thêm quân xuống điểm cao 916 và 900 phối hợp lấn sang A Bia, chiếm được một số chốt. Ta kiên cường bám trụ trận địa, đồng thời đánh vào bên sườn, đến 15 giờ ngày 17 giành lại điểm cao 916, bẻ gãy đợt tiến công cuối cùng của địch lên A Bia, buộc Mĩ phải rút quân về Phú Bài, chấm dứt hành quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu 1.300 địch (riêng ở Âp Bia diệt gần 300), góp phần bảo vệ hành lang chiến lược của ta, hỗ trợ phong trào đánh phá bình định ở đồng bằng Thừa Thiên. TAB làm quân Mĩ kinh hoàng, gây chấn động dư luận nước Mĩ và Âp Bia được báo chí Mĩ mệnh danh là “Đồi thịt băm”.

        TRẬN ACBEN (331tcn) nh TRẬN GÔGAMEN

        TRẬN AĐRIANÔPÔN (9.8.378), trận đánh giữa quân của người Tây Gôt do Phrithighec chỉ huy với quân La Mã của hoàng đế Valen tại Ađrianôpôn (nay là tp Êđianê, tây bắc Thổ Nhĩ Kì). Quân Tây Gôt liên kết với phong trào khởi nghĩa của các nô lệ và dân thuộc địa đã đánh bại quân La Mã. TA đã thúc đẩy quá trình tan rã của đế quốc La Mã.

        TRẬN ẢI QUAN (5.11.1952), trận chống càn của trung đội du kích xã Minh Hoàng đánh 1 tiểu đoàn quân Pháp càn quét làng Ải Quan (xã Minh Hoàng, h. Phù Cừ, t. Hưng Yên). 15 giờ ngày 5.11 địch có pháo binh yểm trợ, triển khai đội hình tiến công nhằm tìm diệt bộ đội chủ lực ta. Dựa vào trận địa đã chuẩn bị trước, du kích tích cực bám đánh, kết hợp nghi binh, dùng chông, mìn, cạm bẫy tự tạo đánh địch cả trong và ngoài làng, sau 3 giờ chiến đấu, diệt và làm bị thương 32 địch, thu 2 súng, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn quét. Trong TAQ lực lượng ta ít, trang bị kém, đã sử dụng tốt cách đánh du kích và các loại vũ khí tự tạo, giành thắng lợi, bảo vệ an toàn cho bộ đội chủ lực hành quân cơ động trên địa bàn.

        TRẬN ÁI TỬ (28.4-1.5.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304), Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B) được xe tăng, pháo binh chi viện, đánh căn cứ Ái Tử (h. Triệu Phong, t. Quáng Trị) do Trung đoàn bộ binh 2 và SCH Sư đoàn 3, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, Trung đoản thiết giáp 20 và 2 tiểu đoàn pháo binh QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên (30.3- 27.6.1972). Sau khi mất các cứ điểm phía tây và tây bắc Quảng Trị, để bảo vệ Ái Tử địch áp dụng chiến thuật phòng ngự cơ động, nòng cốt là lực lượng xe tăng; tổ chức 4 cụm phòng thủ phía tây căn cứ, mỗi cụm có 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đội tăng thiết giáp được ngụy trang kín đáo trong công sự, có hỏa lực mạnh tạo thành vành đai thép ngăn chặn đối phương tiên công. 5 giờ 28.4 trận đánh bắt đầu. Trung đoàn 24 triển khai tiến công từ hướng tây, dùng cách đánh “mớm” làm địch bộc lộ lực lượng, bắn cháy 6 xe tăng và đập tan đợt phản kích của địch, sau đó các mũi bộ binh và xe tăng đột phá vào căn cứ, phối hợp với mũi tiến công hướng bắc của Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) đánh xuống sân bay Ái Tử. Cùng lúc 1 tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 9 (Sư đoàn 304) được lệnh phối hợp đánh chiếm khu vực cầu Quảng Trị và đoạn QL 1 phía nam Ái Tử để cắt đường rút chạy của địch về tx Quảng Trị (x. trận cầu Quảng Trị, 29.4.1972). Cuộc chiến diễn ra quyết liệt, địch trong căn cứ dựa vào công sự cố thủ, dùng không quân (có cả B-52) đánh chặn dữ đội nhưng đến chiều 29.4 bị ta đánh chiếm sân bay. Sáng 30.4 ta tập trung lực lượng đồng loạt đánh vào khu trung tâm, chiếm SCH Sư đoàn 3, đến 14 giờ ngày 1.5 làm chủ toàn bộ căn cứ. Cùng với các hướng tiến công dịch ở Đông Hà (x. trận Đông Hà, 27- 28.4.1972), La Vang, Hải Lăng..., thắng lợi của TAT góp phần phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển giải phóng tỉnh Quảng Trị.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #162 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:34:32 pm »


        TRẬN AIACUCHÔ (1824), trận quyết chiến trong chiến tranh giải phóng dân tộc của các xứ thuộc địa ở châu Mĩ Latinh chống lại thực dân Tây Ban Nha. Tại Aiacuchô - thành phố ở đông nam Lima (thủ đô của Peru) 320km, liên quân các xứ thuộc địa Mĩ Latinh (hơn 5.700 người) đã đánh tan quân Tây Ban Nha (hơn 9.000 người), góp phần giải phóng toàn bộ vùng Thượng Peru (nay là Bolivia). Trước 1825 Aiacuchô gọi là Huamanga, cg trận Huamanga.

        TRẬN AMIÊNG (8-13.8.1918), trận tiến công của liên quân (Anh, Pháp) đánh quân Đức tại khu vực phía đông tp Amiêng bên Sông Xom (Bắc Pháp) trong giai đoạn kết thúc CTTG-I. Với ưu thế lực lượng gấp ba lần đối phương về bộ binh và pháo binh, liên quân đã phá vỡ tuyến phòng thủ của Đức trên chính diện 75km và chiều sâu 10-18km, bắt 30.000 tù binh. TA mở đầu sự đại bại của Đức; 8.8.1918 được coi là “ngày đen tối của QĐ Đức”. Điểm nổi bật của TA là đánh bất ngờ và sử dụng mật độ xe tăng dày đặc (500 chiếc) trong đột phá.

        TRẬN AN CHÂU (8.10.1948), trận kì tập của Tiểu đoàn bộ binh 29 (Trung đoàn 308), được tăng cường 1 đại đội chủ công của Tiểu đoàn bộ binh 18 cùng du kích địa phương, đánh cứ điểm An Châu (nay là thị trấn An Châu, h. Sơn Động, t. Bắc Giang), một trong những cứ điểm mạnh, căn cứ hậu cần đồng thời là SCH phân khu An Châu của Pháp, do 150 quân đóng giữ. TAC diễn ra đêm 8.10, mở đầu chiến dịch Đông Bắc I (8.10-7.12.1948). Do công tác chuẩn bị thiếu chu đáo, không dự kiến trước phương án chuyển sang cường tập khi tình huống nhân mối bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ, nên bị địch chống trả quyết liệt, quân ta phải rút lui sau khi diệt được 2/3 cứ điểm.

        TRẬN AN CƯ - KIM HÚC (27.1.1953), trận chống càn của Tiểu đoàn bộ binh 664 (Trung đoàn 42. Khu Tả Ngạn) và Đại đội 15 bộ đội địa phương tỉnh Hải Dương, đánh quân Pháp càn quét tại các thôn An Cư, Kim Húc (nam tx Hải Dương 16km). Sáng 27.1 trong khuôn khổ cuộc hành quân Noocmandi (27.1-12.2.1953). Pháp huy động Binh đoàn cơ động số 4 và 2 tiểu đoàn ứng cứu, có xe tăng, pháo binh yểm trợ, chia 2 cánh tiến công vào An Cư - Kim Húc nhằm tìm diệt quân chủ lực ta (Trung đoàn 42) đang đứng chân tại đây. Từ 10 giờ đến 17 giờ, địch tổ chức 6 đợt xung phong vào An Cư, 4 đợt vào Kim Húc. Dựa vào làng chiến đấu, bộ đội phối hợp cùng du kích và nhân dân địa phương đánh trả, giữ vững trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch, đến đêm vượt vòng vây về nơi an toàn.

        TRẬN AN ĐIỂN (10.10.1965), trận chiến đấu chống càn của tiểu đội du kích xã An Điền (t. Thủ Dầu Một, nay thuộc h. Bến Cát, t. Bình Dương) chặn đánh quân Mĩ thuộc Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 1) càn quét khu vục nam Bến Cát, trong đợt chống càn An Điền (8-13.10.1965). Dựa vào hệ thống công sự, địa đạo, vật cản, du kích kiên cường bám trụ đánh địch, dùng mìn định hướng kết hợp với hầm chông, hố đinh, lựa đạn gài và hỏa lực súng bộ binh tự tạo diệt 1 trung đội Mĩ, góp phần đánh bại cuộc càn lớn của địch. Một trong những trận đánh tiêu biểu đạt hiệu quả cao, chứng minh khả năng của lực lượng du kích có thể đánh thắng quân Mĩ bằng mọi thứ vũ khí có trong tay.

        TRẬN AN KHÊ (20.2.1966), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 407 (Quân khu 5) vào căn cứ Sư đoàn kị binh không vận 1 của Mĩ tại khu vực Tân Tạo (tây thị trấn An Khê 4km, h. An Khê, t. Gia Lai). Lực lượng địch có SCH sư đoàn, trung tâm thông tin, rada, trận địa pháo, sân bay trực thăng; tổ chức phòng thủ vững chắc bằng hệ thống cứ điểm, vật cản và lực lượng tuần tra, canh gác nghiêm ngặt. Đêm 19 rạng 20.2 tiểu đoàn chia 2 mũi, bí mật đột nhập diệt lực lượng bảo vệ, đồng loạt đánh vào các khu chứa máy bay. doanh trại, nhà kho, trận địa pháo, chiếm khu thông tin, rađa ở điểm cao Hòn Cong; sau 2 giờ chiến đấu diệt và làm bị thương hàng trăm địch, phá hủy hơn 90 máy bay, 50 xe QS, đốt cháy nhiều kho tàng. TAK đánh dấu bước trưởng thành bộ đội đặc công Khu 5 trong chiến thuật tập kích căn cứ QS Mĩ, góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược lần I (mùa khô 1965-66) của Mĩ ở chiến trường Tây Nguyên.

        TRẬN AN LỖ (29.11.1966), trận tập kích của bộ đội đặc công phối hợp với bộ binh Trung đoàn 6 (mặt trận Trị - Thiên) vào căn cứ hành quân của QĐ Sài Gòn ở thị trấn An Lỗ (bắc Huế 17km, nay thuộc h. Hương Trà, t. Thừa Thiên - Huế), nhằm khôi phục vùng đồng bằng bị địch lấn chiếm, mở rộng vùng giải phóng. Đêm 29 các đơn vị bộ binh Trung đoàn 6 và lực lượng đặc cổng đồng loạt tiến công tiêu diệt 1 tiểu đoàn QĐ Sài Gòn đóng vòng ngoài và lực lượng bảo vệ cầu An Lỗ, làm chủ hoàn toàn căn cứ. Trận đánh mở ra khả năng sử dụng từng tiểu đoàn đặc công phối hợp với các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh tiến công thắng lợi một số mục tiêu trong hậu cứ lớn của địch ở vùng đồng bằng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #163 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:35:26 pm »


        TRẬN AN LỘC (13.4-15.5.1972), trận tiến công hiệp đồng binh chủng của QGP miền Đổng Nam Bộ gồm 2 sư đoàn bộ binh (9 và 5), 2 trung đoàn pháo binh (28 và 42), 4 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội xe tăng nhằm giải phóng thị xã An Lộc thuộc t. Bình Long (nay là thị trấn An Lộc, h. Bình Long, t. Bình Phước) trong đợt 1 chiến dịch Nguyễn Huệ (1.4.1972-19.1.1973). Sau khi ta chiếm Lộc Ninh (x. trận Lộc Ninh, 5-7.4.1972), địch củng cố An Lộc thành vị trí phòng thủ cuối cùng ở tuyến ngoài phía bắc Sài Gòn; lực lượng gồm Sư đoàn bộ binh 5, Liên đoàn biệt động quân 3, cùng 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội thiết giáp, 8 đại đội địa phương.... sau tăng lẻn thành 5 chiến đoàn tăng cường (tương đương 2 sư đoàn) được không quân Mĩ chi viện (có B-52), tăng gấp 5 lần so với trước chiến dịch. 5 giờ ngày 13.4 ta tiến công từ ba hướng (bắc là hướng chủ yếu), đến cuối ngày chiếm các vị trí vòng ngoài (điểm cao 128, sân bay, cẩu Phú Hòa, Núi Gió...), phát triển vào nội đô, nhưng bị địch chặn quyết liệt ở đường Hùng Vương và chiếm lại Núi Gió. 5 giờ ngày 15.4 ta tiếp tục tiến công vào đường Trần Hưng Đạo, vườn hoa Tao Phùng và khu vực gần nhà lao... bị địch dùng không quân, pháo binh ngăn chặn, gây tổn thất nặng. Ở vòng ngoài ta tổ chức đánh địch đổ bộ đường không giải toả đạt kết quả tốt, chiếm lại Núi Gió và điểm cao 169 (ngày 20.4), tạo điều kiện thuận lợi cho tiến công địch trong thị xã. 11-15.5 ta tăng cường lực lượng cho Sư đoàn 9, hình thành nhiều mũi liên tục đột kích, chiếm được ti công chính, ti cảnh sát, nhà lao, ti chiêu hồi... nhưng bị tổn thất lớn (nhất là xe tăng) phải kết thúc trận đánh. Là trận then chốt chiến dịch, để lại nhiều bài học kinh nghiệm về chỉ huy, hiệp đồng tác chiến binh chủng trong đánh địch phòng ngự ở thành phố, thị xã.

        TRẬN AN LỘNG I (7.12.1972), trận tập kích của Đại đội bộ binh 1 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27), có 1 phân đội súng phun lửa thuộc Đại đội 3 (Tiểu đoàn 901, Cục hóa học) phối hợp, đánh chốt An Lộng I (xã Triệu Hòa, h. Triệu Phong, t. Quảng Trị) do Đại đội 2 (Tiểu đoàn 6, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258) QĐ Sài Gòn chốt giữ. Ta triển khai tiến công trên ba hướng, mỗi hướng có 1 súng phun lửa (loại LPO-50), 5 giờ 15 phút nổ súng. Phát huy sức mạnh hỏa lực khống chế và sát thương địch, yểm trợ cho bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu, sau 45 phút chiến đấu diệt gọn đại đội địch (riêng súng phun lửa diệt 20 quân), làm chủ trận địa và tổ chức chốt giữ đến 18 giờ, đẩy lui 4 đợt phản kích của 1 đại đội khác của địch đến ứng cứu. Trận đánh góp phần tích cực ngăn chặn hoạt động lấn chiếm của địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng của ta trên địa bàn phía đông tinh Quảng Trị trong chiến dịch phòng ngự Quàng Trị (28.6.1972-31.1.1973)..

        TRẬN AN SƠN (8-9.1.1968), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 2, Quân khu 5) đánh Tiểu đoàn bộ binh 3 (Lữ đoàn 196) của Mĩ càn quét tại thung lũng An Sơn (xã Sơn An, h. Quế Tiên, nay là xã Quế Thọ, h. Hiệp Đức, t. Quảng Nam). Sau khi tiến hành hoạt động nghi binh nhử địch, ta bố trí đội hình phục kích theo thế chân vạc: Tiểu đoàn 40 ở An Cường 2, Tiểu đoàn 60 ở Phước Tuy, Tiểu đoàn 90 ở cẩm Tú. Trưa 8.1 địch từ Phú Bình chia hai mũi tiến quân, lọt vào trận địa; ta dùng một bộ phận khoá đuôi ở hướng Phú Bình, đồng thời phát huy hỏa lực yểm trợ cho Tiểu đoàn 90 xung phong diệt phần lớn quân địch ở cánh đồng Cẩm Tú, nam Sông Trầu, ngã ba An Sơn. 9.1 ta điều chỉnh đội hình, vận động tiến công diệt địch đến lấy xác và tập kích hỏa lực vào quân địch co cụm ở xóm An Sơn. Trận đánh đạt hiệu suất cao, loại khỏi chiến đấu khoảng 500 địch, bắn rơi 4 máy bay, thu 61 súng các loại; hoàn thành nhiệm vụ nghi binh, kéo địch ra khỏi thành phố, hỗ trợ cho cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng Xuân Mậu Thân 1968.

        TRẬN AN THÁI (16.7.1972), trận tập kích của Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện An Nhơn đánh đồn An Thái (xã Nhơn Phú, h. An Nhơn, t. Bình Định) do 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ. 4 giờ 55 phút ta nổ súng, kết hợp chật chẽ các mũi tiến công và bao vây, đón lõng đánh địch rút chạy, sau 35 phút chiến đấu làm chủ trận địa, diệt 46 địch, thu nhiều vũ khí. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội địa phương huyện, phối hợp với hoạt động tiến công địch ở Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Bình Khê và tx Quy Nhơn, góp phần đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, mở rộng vùng giải phóng, làm thất bại chương trình “bình định nông thôn” của địch tại địa phương.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #164 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:36:28 pm »


        TRẬN AN THUẬN (21.4.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 24, Quân khu Cool vào QĐ Sài Gòn ở phân chi khu An Thuận (h. Cần Đước, t. Long An). 5 giờ 15 phút ta triển khai lực lượng thành ba mũi nổ súng tiến công, dùng mìn định hướng mở cửa mở, khắc phục vật cản rồi xung phong đánh chiếm các mục tiêu, sau 15 phút chiến đấu làm chủ phân chi khu, diệt và bắt 22 địch, thu 18 súng các loại. Trận đánh khiến địch trong vùng hoang mang, rút bỏ nhiều đồn bốt; góp phần mở nhanh vùng giải phóng, tạo thế tiến công Sài Gòn từ hướng tây nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975).

        TRẬN AN TỊNH (25.3.1968), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 9, QGP miền Đông Nam Bộ) đánh đoàn xe QS và bộ binh cơ giới Mĩ trên QL 22 tại xã An Tịnh (h. Trảng Bàng, t. Tây Ninh). Sáng 25.3 đoàn xe địch (khoảng 35 chiếc, có xe tăng M41 và xe bọc thép M113) cùng 1 đại đội bộ binh, hành quân từ Củ Chi lên Trảng Bàng, lọt vào trận địa phục kích của ta ở khu vực cầu Trường Chùa. Ta nổ súng chặn đầu, khoá đuôi, đồng thời triển khai lực lượng vận động đánh chính diện và 2 bên sườn, chia cắt và truy kích diệt phần lớn quân địch. Số địch còn lại rút về bốt Trường Chùa, co cụm chống cự quyết liệt, kết hợp hỏa lực máy bay, pháo binh ngăn chặn, đánh phá trận địa ta. Trưa và chiều 25.3 địch huy động lực lượng từ Củ Chi (30 xe) và chi khu Trảng Bàng (20 xe) phối hợp mở nhiều đợt phản kích, nhưng đều bị ta đẩy lùi. Kết quả loại khỏi chiến đấu gấn 500 địch, phá hủy 52 xe QS (có 40 xe M41 và M113), bán rơi 10 máy bay, thu 11 súng... Trận đánh gây bất ngờ lớn với địch ở cửa ngõ phía tây Sài Gòn, góp phần hỗ trợ cho cuộc tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968 phát triển thuận lợi.

        TRẬN ANGÔRA (7.1402), trận đánh lớn giữa quân của vương triều Timua (vùng Trung Á) do vua Timua (cg Tameclan) chỉ huy với quân Thổ của vua Baiadit I ở Angòra (nay là Ancara, thủ đô Thổ Nhĩ Kì). Cuối 7.1402 sau trận kịch chiến chủ yếu bằng kị binh, do các đạo quân chư hầu của Thổ bỏ chạy, quân của Timua đã đập tan quân đối phương, bắt sống vua Thổ. Thất bại ở TA đã làm đế chế Thổ (Ổxman) suy yếu mất hàng chục năm.

        TRẬN AOXTECLIT (2.12.1805). trận quyết chiến giữa quân Pháp của Napôlêóng 1 với liên quân Nga - Áo của M. I. Cutudôp trong chiến tranh Napôlêông (1799-1815), tại vùng Aoxteclit trên đất Áo (nay là tp Xlapcôp, Cộng hòa See). Với 73.000 quân và 250 pháo, Napôlêông I đã đánh tan đạo quân Nga - Áo (86.000 người và 250 pháo), khiến Áo phải rút ra khỏi chiến tranh, làm tan rã liên minh chống Pháp thứ ba (Anh - Nga - Áo - Thụy Điển). TA là thí dụ điển hình về tải dùng binh của Napôlêông I, chứng tỏ sự phá sản của chiến lược phòng thủ bằng phòng ngự dàn đều và thụ động (chiến lược ngăn phòng) của quân Nga - Áo.

        TRẬN APGUXTÔP (7-26.2.1915), trận phòng ngự của Tập đoàn quân 10 Nga (14 sư đoàn) phá vỡ cuộc tiến công của 2 tập đoàn quân 8 và 10 Đức (16 sư đoàn) tại vùng Apguxtôp (tây bắc Ba Lan) trong CTTG-I. Sau thất bại ở Tannenbec (1914), quân Nga phải lui ra ngoài biên giới Đông Phổ, tổ chức phòng thủ ở khu rừng Apguxtôp và bị quân Đức tiến công, hợp vây tại đây. Đến 22.2 Tập đoàn quân 12 của Nga (mới thành lập) bước vào phản công đã phá vây cho Tập đoàn quân 10 và chặn được cuộc tiến công của Đức. TA cho thấy Đức không dễ gì thực hiện ý đồ muốn nhanh chóng loại quân Nga ra khỏi vòng chiến. Cg trận Maduri.

        TRẬN AXPEC - ETLING (1809), trận đánh giữa quân Pháp (70.000 người, 114 pháo) của Napôlêông I với quân Áo (105.000 người, 288 pháo) của công tước Saclơ tại khu vực hai làng Axpec và Etling ở phía đông Viên khoảng 10km, trên bờ trái sông Đanuyp trong chiến tranh Napôlêông (1799-1815). Ngày 21-22.5 sau khi quân Pháp chiếm hai làng trên, quân Áo phản công. Hai bên giành đi giật lại nhiều lần, cuối cùng do cầu trên sông Đanuyp bị đánh sập, đường tiếp viện bị cắt, quân Pháp phải rút về đảo Lôban. Phía Pháp mất 37.000 người, phía Áo 20.000 người. Tuy cả hai bên đều tuyên bố mình thắng trận, nhưng TA-E là trận đầu tiên Napôlêông I bị thua nặng.

        TRẬN ÂN THI (26-30.5.1948). trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 64 (bộ đội chủ lực Liên khu 3) cùng du kích và nhân dân địa phương bẻ gãy cuộc càn quét lớn của quân Pháp tại Ấn Thi (t. Hưng Yên). Thực hiện ý đồ giải tỏa vùng giáp ranh, vây diệt quân chủ lực và cơ quan lãnh đạo kháng chiến t. Hưng Yên, 26.5 Pháp huy động 3.000 quân có thủy quân, không quân và pháo binh yểm trợ, thọc sâu vào vùng tự do thuộc các huyện Khoái Châu, Kim Động, Ấn Thi. Du kích và nhân dân địa phương đào đường, đắp ụ để ngăn các mũi tiến quân của địch. Đổng thời các tiểu đoàn 239 và 182 của Trung đoàn 64 tổ chức chặn đánh quyết liệt ở Cầu Đìa, Làng Thi tới Phố Thi, bẻ gãy nhiều đợt tiến công, diệt hơn 200 địch, bắn chìm 3 canô buộc Pháp phải lui quân. TÂT là thắng lợi lớn đầu tiên của quân và dân VN trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ trong KCCP.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #165 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:37:38 pm »


        TRẬN ẤP 2 (3.6.1973), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Quân khu Cool đánh Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 12, Sư đoàn 7) QĐ Sài Gòn hành quân lấn chiếm vùng giải phóng tại Ấp 2 (xã cẩm Sơn, h. Cai Lậy, t. Mĩ Tho, nay là t. Tiền Giang). Sáng 3.6 địch từ rạch Bà Phò chia hai mũi tiến quân về hướng đông ngã tư lộ Thầy Thanh. Trung đoàn 1 bí mật triển khai trận địa phục kích từ bắc lộ Thầy Thanh đến Ấp 2, chờ địch lọt hẳn vào khu quyết chiếm điểm; 11 giờ dùng hỏa lực cối 82mm bắn chặn không cho địch chạy về hướng tây, đồng thời các đơn vị nhanh chóng vận động hình thành thế bao vây, chia cắt, đẩy địch ra khu vực cánh đồng trống để tập trung tiêu diệt; sau 20 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa và tiến hành truy kích số địch sống sót bỏ chạy. Kết quả diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt 290, bắt 5), thu 10 súng (có 1 ĐKZ75mm) và nhiều phương tiện QS; làm thất bại âm mưu lấn chiếm của địch, giữ vững vùng giải phóng.

        TRẬN ẤP 5 (23-25.2.1967). trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn bộ binh 186 (Quân khu 6) ở khu vực Ấp 5 (h. Di Linh, t. Lâm Đồng). Đêm 23.2 ta sử dụng một bộ phận cùng du kích địa phương diệt 1 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng ở Ấp 5, đồng thời tiến hành phá cầu, đường và tổ chức phục kích chặn viện. Trong ngày 24 địch liên tiếp đưa 3 đại đội bảo an và 1 tiểu đoàn biệt động quân đến giải tỏa đều bị ta đánh bại. Trưa 25.2 địch tiếp tục dùng máy bay trực thăng đổ bộ 1 đại đội Mĩ xuống ứng cứu cũng bị ta đẩy lui. Kết quả diệt và đánh thiệt hại nặng 5 đại đội và 1 trung đội địch, bắn rơi 4 máy bay trực thăng; mở màn thắng lợi đợt hoạt động Xuân 1967 của LLVT Quân khu 6.

        TRẬN ẤP AN BÌNH, AN HÒA nh TRẬN TRUNG AN (8-9.1.1967)

        TRẬN ẤP BẮC (2.1.1963), trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam VN đánh bại lực lượng càn quét của QĐ Sài Gòn có cố vấn Mĩ chỉ huy tại Ấp Bắc (xã Tân Phú, h. Cai Lậy, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). Lực lượng ta gồm 1 đại đội tăng cường thuộc Tiểu đoàn 261 bộ đội chủ lực Quân khu 8, 1 đại đội địa phương tỉnh Mĩ Tho, 1 trung đội huyện Châu Thành, 1 trung đội trợ chiến và lực lượng dân quân du kích tại chỗ, do tiểu đoàn trưởng Tiếu đoàn 261 chỉ huy . 5 giờ ngày 2.1 địch huy động khoảng 2.000 quân (25 đại đội), gồm 3 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 7, Tiểu đoàn dù 8, 13 xe M113, 13 tàu chiến, có máy bay, pháo binh yểm trợ chia thành nhiều mũi, theo đường bộ, đường thủy, đường không đánh vào Ấp Bắc. Dựa vào hệ thống công sự, bờ mương, lùm cây trong ấp, bằng cách đánh du kích ta lần lượt bẻ gãy 5 đợt tiến công của địch. Để hỗ ữợ cho Ấp Bắc. Ban QS tỉnh Mĩ Tho cho 2 đại đội (Tiểu đoàn 514) đánh địch ở vòng ngoài, đồng thời huy động hàng ngàn quần chúng đấu tranh chặn đường hành quân của địch, đòi chấm dứt bắn pháo, càn quét. Trận đánh kéo dài tới 20 giờ, quân địch với số lượng gấp 10 lần, có phương tiện vũ khí hiện đại phải rút lui. Kết quả loại khỏi chiến đấu 450 địch, bắn rơi 7 máy bay trực thăng, bắn hỏng 3 xe M113 và 1 tàu chiến. TAB mở đầu sự thất bại của chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ, cổ vũ mạnh mẽ quân và dân miền Nam trong phong trào “thi đua Âp Bắc, giết giặc lập công”.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #166 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:39:13 pm »


        TRẬN ẤP CHÁNH (22.7.1968), trận chiến đấu của Đại đội 33 bộ đội địa phương huyện Gò Dầu phối hợp với du kích và nhân dân địa phương đánh bại cuộc càn của quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn Anh cả đỏ) tại Ấp Chánh (xã Hiệp Thạnh, h. Gò Dầu, t. Tây Ninh). Dựa vào làng chiến đấu, bộ đội và du kích kiên cường bám trụ trận địa, từ 9 giờ 30 phút đến 17 giờ ngày 22.7, liên tiếp bẻ gãy 8 đợt tiến công của bộ binh, xe tăng địch (có không quân, pháo binh yểm trợ), loại khỏi chiến đấu 120 địch, bắn cháy 11 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, thu 5 súng. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần thúc đẩy phong trào toàn dân đánh Mĩ ở địa phương.

        TRẬN ẤP ĐẤT CHÁY (23.4.1971), trận đánh địch đổ bộ đường không của Đại đội súng máy phòng không 18 (Trung đoàn bộ binh 10, Quân khu 9) tại ấp Đất Cháy (xã Phong Lạc, h. Mười Tế, nay là h. Trần Văn Thời, t. Cà Mau). 12 giờ 10 phút ngày 23.4, sau 1 giờ ném bom, bắn phá, địch sử dụng 5 máy bay trực thăng UH-1, có 3 máy bay trực thăng vũ trang yểm trợ. đổ bộ Đại đội trinh sát thám báo 967 (Tiểu khu An Xuyên) xuống khu vục Kênh Ba, Kênh Tư và ven đầm Đồng Cùng, nhằm chuẩn bị cho cuộc càn quét của Trung đoàn bộ binh 32 (Sư đoàn 21). Nắm chắc ý đồ của địch, ta bí mật bố trí trận địa (có 5 súng máy phòng không 12,7mm) sát nơi địch đổ quân, kịp thời nổ súng, với 120 viên đạn bắn rơi 7 máy bay (4 chiếc rơi tại chỗ), diệt phần lớn quân địch. Số còn lại co cụm chống cự, bị ta bao vây, diệt và bắt gần hết (lúc 17 giờ). Kết quả diệt gọn đại đội địch (diệt 63, bắt 23), bắn rơi 7 máy bay, thu 20 súng, góp phần phá vỡ kế hoạch càn quét, bình định vùng giải phóng của QĐ Sài Gòn.

        TRẬN ẤP HÒA LỢI (11.1.1972), trận phục kích của du kích xã Xuân Hòa đánh Đại đội 384 (thiếu) thuộc Liên đoàn bảo an 84 QĐ Sài Gòn, tại khu vực ấp Hòa Lợi (xã Xuân Hòa, h. Kế Sách. t. Sóc Trăng). Nắm vững hoạt động của địch, ta bố trí lực lượng phục kích theo trục đường chạy qua cánh đồng phía tây ấp Hòa Lợi. 17 giờ 30 phút, sau khi đi càn khu vực rạch Cái Cau, trên đường hành quân về đồi Đường Đào, địch lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi và tổ chức các mũi xung phong chia cắt tiêu diệt, kết hợp gọi hàng. Sau 10 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 22 địch (trong đó giáo dục và thả tại chỗ 6), thu 15 súng các loại, 1 máy thông tin PRC25. Trận đánh táo bạo, đạt hiệu quả cao, góp phần phá vỡ kế hoạch khai quang “tát nước bắt cá” của địch, thúc đẩy phong trào đấu tranh địch vận và chiến tranh du kích địa phương.

        TRẬN ẤP HOA TÂY (15.6.1965), trận tập kích của du kích xã Kì Anh phối hợp với du kích xã Kì Lí đánh ấp chiến lược Hòa Tây (xã Kì Lí, h. Tam Kì, t. Quảng Nam), do 1 trung đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ. Lực lượng ta có 1 trung đội du kích xã và một số du kích thôn, ấp, được tăng cường 1 tổ công binh huyện, 1 giờ 35 phút, chia hai tổ, bí mật tiếp cận mục tiêu, 3 giờ 35 phút đồng loạt nổ súng đánh chiếm trụ sở hội đồng xã và khu nhà ở của địch. Sau gần 1 giờ chiến đấu, ta làm chủ ấp, diệt và bắt 46 địch, thu 5 súng, phá sập 1 cầu, góp phần hỗ trợ nhân dân xã Kì Lí nổi dậy phá ấp chiến lược và bộ máy kìm kẹp của địch, đồng thời mở ra khả năng đánh tập trung của lực lượng du kích xã.

        TRẬN ẤP MĨ TRANG (31.1.1970), trận tập kích của đội du kích (12 người) xã Phổ Cường (h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi) đánh 1 trung đội bảo an, 1 tiểu đội dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ tại khu đông ấp Mĩ Trang. Đêm 30.1 ta tổ chức lực lượng thành hai mũi bí mật áp sát mục tiêu, 0 giờ 10 phút nổ súng, dùng lựu đạn, thủ pháo bất ngờ đánh chiếm lô cốt và tiêu diệt địch trong các khu nhà ở. Sau 7 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt toàn bộ quân địch. Trận đầu ra quân thắng lợi của du kích xã Phổ Cường bằng cách đánh đặc công, góp phần hỗ trợ nhân dân nổi dậy đấu tranh làm thất bại kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch trên địa bàn xã.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #167 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 02:40:14 pm »


        TRẬN ẤP SÒ ĐO (29.4.1965), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 510 bộ đội địa phương tỉnh Long An, được tăng cường 4 tiểu đội đặc công và hỏa lực (4 khẩu ĐKZ 57mm, 5 súng cối 82mm và 60mm) đánh Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 49, Sư đoàn 5) QĐ Sài Gòn hành quân càn quét, tạm dừng tại ấp Sò Đo (h. Đức Hòa, t. Long An). Địch tổ chức phòng ngự thành 2 tuyến, chủ yếu ở hướng tây và tây nam ấp. Đêm 28.4 ta bí mật triển khai chiếm lĩnh trận địa: bố trí 3 đại đội bộ binh tiến công từ hướng tây nam và đông nam, một bộ phận đón lõng ở hướng đông bắc, lực lượng đặc công luồn sâu cắt rào, tạo cửa mở; 0 giờ 15 phút ngày 29 đồng loạt nổ súng. Bằng cách đánh bất ngờ, phát huy hỏa lực áp đảo, đặc công đánh trước cho bộ binh xung phong, sau 15 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa. tiến hành truy kích diệt số địch bỏ chạy. Kết quả diệt gọn đại đội địch và 1 tiểu đội dân vệ ấp (diệt, bắt và làm bị thương 80 địch), thu 40 súng các loại, góp phần bẻ gãy cuộc hành quân càn quét, bình định nông thôn của địch ở Đức Hòa.

        TRẬN ẤP THẠCH BI (8-9.5.1970), trận tập kích của du kích xã Phổ Thạnh (h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi), đánh ấp chiến lược Thạch Bi do 2 trung đội dân vệ, 6 trung đội nghĩa quân cùng lực lượng bình định, tể điệp ác ôn của QĐ và chính quyến Sài Gòn chốt giữ. Đêm 7 rạng 8.5 ta tổ chức lực lượng thành bốn mũi bí mật áp sát mục tiêu, đồng loạt nổ súng đánh chiếm các khu nhà lính và cơ quan hội đồng địch, đồng thời tiến hành nghi binh, làm công tác binh vận, trừ diệt ác ón và tổ chức quần chúng đấu tranh đòi trở về làng cũ làm ăn, chống địch càn quét, khùng bố. 9.5 du kích mật ném lựu đạn vào nhà hội đồng địch, diệt thêm một số (trong đó có ấp trướng), kết hợp vận động làm tan rã 4 trung đội nghĩa quân. Trận đánh kết hợp giữa tiến công QS với đấu tranh chính trị và binh vận đạt hiệu quá cao, diệt, bắt và làm tan rã hơn 100 địch, thu 7 súng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược, mở rộng quyền kiểm soát của ta.

        TRẬN ẤP TUY TỊNH (5.4.1967). trận chống càn của Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 840, Quân khu 6) tại ấp Tuy Tịnh (h. Tuy Phong, t. Bình Thuận). Từ 9 giờ đến 19 giờ đại đội kiên cường bám trụ trận địa ở tây ấp Tuy Tịnh, liên tiếp đấy lui 4 đợt tiến công của 1 tiểu đoàn QĐ Sài Gòn, đồng thời đánh bại 1 đại đội Mĩ cơ động bằng máy bay trực thăng đến tăng viện. Kết quả diệt 287 địch, bắn rơi 2 máy bay trực thăng, thu 28 súng các loại.

        TRẬN BA ĐÌNH (18.12.1886-20.1.1887), trận phòng ngự của nghĩa quân Ba Đình do Phạm Bành, Đinh Công Tráng chỉ huy, chống lại cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Ba Đình (Nga Sơn, Thanh Hóa) trong khởi nghĩa Ba Đình (1886- 87). Dựa vào địa thế hiểm trở và hệ thống hào lũy, hầm hố, hơn 300 nghĩa quân bảo vệ căn cứ Ba Đình đã đánh lui 2 đợt tiến công lớn của quân Pháp (18.12.1886 và 6.1.1887). Sau thất bại, Pháp phải điều thêm quân từ miền Bắc. miền Trung đến đàn áp, sử dụng binh lực lớn gồm 78 sĩ quan, 3.530 lính (có 1.580 lính Pháp), 25 đại bác và 4 pháo hạm do đại tá Britxô chỉ huy, tập trung vây chặt Ba Đình nhằm làm cho nghĩa quân cạn lương thực và vũ khí, đồng thời khống chế nhân dân quanh vùng, ngày đêm bắn pháo vào căn cứ, phun dầu đốt chiến lũy, biến Ba Đình thành biển lửa. Mặc dù gặp khó khăn, tổn thất, nghĩa quân vẫn kiên trì chiến đấu. kết hợp công tác binh vận, đánh lui nhiều đợt tiến công của quân Pháp. Do chiến đấu dài ngày, lực lượng quá chênh lệch, bị cô lập. không liên lạc được với quân của Trần Xuân Soạn ở bên ngoài, đêm 20 rạng 21.1.1887, nghĩa quân chủ động phá vây, rút khỏi Ba Đình về căn cứ Mã Cao.

        TRẬN BA ĐỐN (25.5.1974), trận tập kích của Đại đội đặc công 2 (Tiểu đoàn 28, Trung đoàn 117, Quân khu 7) vào đồn Ba Đồn (xã Thanh Lợi, h. Đức Hòa, t. Long An) do 1 trung đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ. Ta tổ chức lực lượng thành 2 mũi, bí mật áp sát mục tiêu, 1 giờ 40 phút nổ súng, đánh nhà chỉ huy, phá sập tháp canh rồi tỏa ra diệt các lô cốt, ổ đề kháng...; sau 20 phút chiến đấu làm chủ trận địa, diệt toàn bộ địch (32 quân). Trận đánh diễn ra nhanh gọn, đạt hiệu suất cao, góp phần mở rộng vùng căn cứ ở huyện Đức Hòa.

        TRẬN BA ĐỘNG (3.1868). trận chiến đấu phòng ngự của nghĩa quân Trà Vinh do tán lí Lê Văn Quân, đề đốc Triều, đốc binh Say chỉ huy chống lại cuộc tiến công của quân Pháp tại xã Ba Động (Trà Vinh) trong kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84). Tháng 3.1868 nghĩa quân chuyển hoạt động về Ba Động lập căn cứ, vận động nhân dân nổi dậy diệt cường hào, chống lại việc chiếm đóng của quân Pháp. Pháp dưa quân đến đàn áp, bị nhân dân và nghĩa quân chặn đánh quyết liệt, dã dùng thủ đoạn đốt làng. Sau 6 ngày chiến đấu, gây cho địch nhiều thương vong, nghĩa quân rút lui an toàn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #168 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 05:44:15 pm »


        TRẬN BA HUYÊN (14.1 .1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 141 (Đại đoàn 312) đánh cứ điểm Ba Huyên (thôn Yên Lập. tổng Bình Hồa, nay thuộc xã Hướng Đạo, h. Tam Dương, t. Vĩnh Phúc), trong đợt 2 chiến dịch Trấn Hưng Đạo (25.12.1950- 18.1.1951). Đây là cứ điểm manh của quân Pháp bảo vệ cửa ngõ phía bắc tx Vĩnh Yên, lực lượng gồm 5 trung đội (có 2 trung đội Âu - Phi), tổ chức phòng ngự vững chắc trên đồi cao, có hệ thống lô cốt, hầm hào và nhiều lớp vật cản (tường, hào, hàng rào thép gai...). 1 giờ 10 phút ta nổ súng tiên công, nhung quá trình mở cửa gặp khó khăn, bị địch chống trả quyết liệt, phải đánh kéo dài đến 10 giờ mới dứt điểm, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Trong TBH Trung đoàn 141 đã thực hiện tốt ý đồ chiến dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị bạn đánh tiêu diệt lực lượng cơ động ứng cứu của địch ở Thanh Vân, Đạo Tú (xt trận Thanh Vân - Đạo Tú, 14.1.1951).

        TRẬN BA SƠN (5-6.3.1949), trận kì tập của 1 đại đội thuộc Trung đoàn 28 bộ đội Lạng Sơn và du kích tập trung h. Cao Lộc đánh đồn Ba Sơn (xã Xuất Lễ, h. Cao Lộc, t. Lạng Sơn; đông bắc tx Lạng Sơn 37km). Đồn dược Pháp xây dựng từ 8.1947, gồm toàn bộ xóm Ba Sơn, xung quanh có hào, lũy cắm chông tre, gai sắc bảo vệ, bên trong có 2 lô cốt đắp đất dày 60cm và hơn 40 ngôi nhà xây tương đối kiên cố, do 2 trung đội lính dõng đóng giữ. Được du kích dẫn đường vượt qua các vùng địch kiểm soát, đêm 4.3 bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa, hình thành các bộ phận đánh đồn và phục kích, chặn viện; 3 giờ ngày 5.3 bắt đầu tiến công. Dựa vào một số lính dõng làm nội ứng, ta đánh chiếm được lô cốt và một số vị trí ở cổng chính, nhưng sau đó không phát triển được (do địch co cụm vào lô cốt ở cổng sau dùng hỏa lực chống cự quyết liệt), phải chuyển sang bao vây kết hợp gọi hàng. Địch ở đồn Bản Sâm dưa 1 trung đội sang ứng cứu bị ta phục kích đẩy lùi, khiến số địch còn lại ở đồn Ba Sơn sau 1 ngày bị vây hãm buộc phải ra hàng (6.3). Kết quả diệt và bắt hơn 50 địch, thu 45 súng và nhiều đạn dược, giải phóng toàn bộ vùng Cao Lâu - Xuất Lẻ và một phần xã Mẫu Sơn, nối liền khu du kích h. Cao Lộc, tạo thế uy hiếp địch ở hướng đông bắc tx Lạng Sơn.

        TRẬN BẠCH ĐẰNG 938. trận phục kích đường sông của quân Việt do Ngô Quyền chỉ huy diệt thủy quân Nam Hán (TQ), trong kháng chiến chống Nam Hán lần II (938). Cuối 938 vua Nam Hán sai Lưu Hoằng Tháo chỉ huy thủy quân, theo đương biển qua cửa sông Bạch Đằng vào xâm lược. Nắm vững đường tiến quân của địch, Ngô Quyền lợi dụng thủy triều, dựng bãi cọc ngầm nơi hiểm yếu trên sông Bạch Đằng (nay thuộc h. Yên Hưng, t. Quảng Ninh), bố trí quân thủy, bộ mai phục. Khéo dụ địch vào nơi quyết chiến, chờ khi nước triều xuống, dồn sức phản công, trong 1 ngày, diệt phần lớn quân Nam Hán, giết Hoằng Tháo, buộc vua Nam Hán phải từ bỏ ý đổ xâm lược. Trận quyết chiến chiến lược, lần đầu lợi dụng thủy triều và trận địa cọc ngầm có hiệu quả trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN.

        TRẬN BẠCH ĐẰNG 9.4.1288. trận phục kích đường sông của quân Trần (Đại Việt), do Trần Quốc Tuấn chỉ huy diệt quân Nguyên - Mông rút chạy, kết thúc kháng chiến chống Ngu\ên - Mông lần III (1287-88). Cuối 3.1288, từ Vạn Kiếp (nay thuộc Hải Dương), khoảng 60.000 quân Nguyên - Mông với 600 chiến thuyền do ô Mã Nhi chỉ huy, có kị binh hộ tống rút bằng đường thủy ra sông Bạch Đằng. Trần Quốc Tuấn chọn sông Bạch Đằng (đoạn của Sông Chanh - sông Thái Khê, nay thuộc h. Yên Hưng, t. Quảng Ninh) làm nơi quyết chiến, dựng trận địa cọc ngầm ở cửa Sông Chanh, Sông Rút,... bố trí quân thủy, bộ mai phục kết hợp với thuyền lửa hỏa công, có thủy binh của vua Trần đánh bọc phía sau. Bằng cách chận kị binh hộ tống, chốt chặt các hướng phụ và nhử thủy binh địch vào đúng nơi đã định, chọn thời cơ tập trung đánh bất ngờ khi nước triều xuống, chỉ trong 1 ngày (9.4), quân Trần đã tiêu diệt hầu hết quân Nguyên - Mông, bắt Ô Mã Nhi và hơn 400 chiến thuyền. Trận quyết chiến chiến lược, dập tan ý chí xâm lược của nhà Nguyên, kế thừa và phát triển nghệ thuật lợi dụng thủy triều, dùng trận địa cọc ngầm ở trận Bạch Đẳng 938 trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #169 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2019, 05:45:31 pm »


        TRẬN BẢN KHÈN (15.10.1964), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 927 (Quân khu 4) được Đại đội 15 QGP nhân dân Lào phối hợp đánh Tiểu đoàn BR340 quân phái hữu Lào chốt giữ khu vực Bản Khèn (h. Khăm Cợt, t. Bòlikhămxay, Lào). Tại đây địch dựa vào địa hình núi cao, lèn đá hiểm trở, tổ chức phòng ngự thành 4 điểm, có công sự vững chắc. Rạng sáng 15.10 ta triển khai ba hướng bí mật vượt sông Nậm Himbun chiếm lĩnh trận địa, nổ súng lúc 4 giờ. Sau 7 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa, tiến hành truy kích địch rút chạy, đồng thời tổ chức lực lượng chốt giữ nhằm ngăn chặn địch từ đường 13 ra phản kích. Kết quả diệt và bắt hơn 30 địch, đốt cháy 2 kho đạn. thu 90 súng các loại,... làm thất bại kế hoạch của địch dùng Bản Khèn làm bàn đạp lấn chiếm vùng giải phóng.

        TRẬN BẢO VỆ BẮC KINH (10.1449), trận bảo vệ kinh thành Bắc Kinh của quân Minh (TQ) đánh bại cuộc tiến công của quân Ngoã Lạt (Mông cổ) sau trận Thổ Mộc Bào (7- 8.1449). Ngày 9.10.1449 quân Ngoã Lạt đánh chiếm Tử Kinh Quan và Bạch Dương Khấu rồi tiến đánh Bắc Kinh. Triều Minh rung chuyển. Binh bộ thượng thư Vu Khiêm kiên quyết chống lại chủ trương cố thủ trong thành, dùng 22 vạn quân bố trí ngoài chín cửa thành nghênh chiến. Mấy ngày đầu, quân Minh tránh quyết chiến, chi dùng binh lực nhỏ tập kích tiêu hao dịch. 13-14.10 hai bên kịch chiến ngoài cửa Đức Tháng, cửa Tây Trực và cửa Chương Nghĩa. Bộ binh và kị binh của Minh được sự yểm trợ đắc lực của pháo binh và sự phối hợp tác chiến của cư dân đường phố đánh quân Ngoã Lạt thiệt hại nặng, đầu tháng 11 buộc quân Ngoã Lạt phải rút hết ra. khỏi biên giới. Nét đặc sắc của TBVBK là trước cục diện nguy ngập, quân Minh giành thắng lợi nhờ chủ trương phòng thủ tích cực (dựa vào thành quách kiên cố, đánh địch ngoài thành), có sự phối hợp chặt chẽ quân dân. 

        TRẬN BÁO VỆ THIÊN KINH (1862-64), trận chiến đấu cuối cùng của quân Thái Bình Thiên Quốc chống quân Thanh tại Thiên Kinh (TQ). Từ 1862 quân Thái Bình Thiên Quốc bị triều Thanh tập trung quân tiến công. Hai bên đánh nhau liên tục 46 ngày trong hai tháng 10 và 11.1862. Thiên Kinh bị quân Thanh vây chặt (1864), thiếu lương thực, phải ăn cỏ ngọt, nhưng Hồng Tú Toàn không đồng ý với kiến nghị rút khỏi Thiên Kinh để chờ cơ hội khôi phục. 6.1864 Hồng Tú Toàn ốm chết, quân Thanh càng tiến công dữ đội và 19.7.1864 chiếm được thành, Thiên Kinh thất thủ. Cg trận Thiên Kinh.

        TRẬN BÀU BÀNG (12.11.1965), trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 (QGP miền Đông Nam Bộ) đánh Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn bộ binh 1 Mĩ) đóng quân dã ngoại tại khu vực Bàu Bàng - Đồng Sổ (bắc Thủ Dầu Một 25km, nay thuộc xã Lai Uyên, h. Bến Cát. t. Bình Dương), mở màn chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng (12-27.11.1965). Sau khi bí mật vận động áp sát, bao vây khu vực trú quân của địch, 5 giờ 30 phút từ nhiều hướng, các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công, dùng cách đánh thọc sâu, chia cắt, kết hợp hỏa lực và xung lực, tạo thế xen kẽ, đánh gần, nhanh chóng đẩy quân Mĩ vào thế bị động dẫn đến tan vỡ từng mảng và bị tiêu diệt từng cụm. Kết quả sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch, phá hủy 39 xe tăng, xe bọc thép, 6 pháo 105mm. Trận then chốt chiến dịch thắng lợi, lần đầu tiên đánh quân Mĩ giữa ban ngày ở cấp sư đoàn, thể hiện khả năng đánh tiêu diệt quân Mĩ của QGPMN VN.

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM