Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:37:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41147 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #200 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:38:33 am »


        TRẬN CORAN (7-8.5.1942), trận chiến đấu giữa hải quân Nhật và hải quân Mĩ trên vùng biển San Hô (tây Thái Bình Dương) trong chiến tranh thế giới lần II (1939-45). Nhật có 27 tàu chiến (3 tàu sân bay với 125 máy bay); Mĩ có 21 tàu chiến (2 tàu sân bay với 143 mấy bay). Nhật dự định đổ bộ chiếm cảng Môrơxơbi làm bàn đạp tiến công Ôxtrâylia và quần đảo Haoai nhưng Mĩ kịp thời phát hiện, tổ chức lực lượng ngăn chặn. 3.5 hải quân đánh bộ Nhật chiếm đảo Tulaghi. 7.5 không quân Mĩ đánh chìm 1 tàu sân bay của Nhật; không quân Nhật đánh chìm 1 tàu phóng lôi, đánh hỏng nặng 1 tàu chở xe tăng của Mĩ. 8.5 hai bên tiếp tục dùng không quân tiến công các tàu sân bay của đối phương. Kết quả Nhật bị tổn thất 6 tàu chiến (1 tàu sân bay chìm, 1 hỏng nặng), hơn 80 máy bay, gần 900 quân, buộc phải bỏ kế hoạch đánh chiếm cảng Môrơxơbi; Mĩ mất 3 tàu chiến, 66 máy bay, 543 quân. Trận đầu tiên hải quân Mĩ giành thắng lợi ở Thái Bình Dương nhờ sớm phát hiện được ý định tiến công của đối phương.

        TRẬN CỔ CÒ (22.1.1947). trận phục kích của Chi đội 17 (t. Mĩ Tho), Chi đội 18 (t. Sa Đéc), đại đội học viên Trường quân chính Khu 8, lực lượng quốc vệ đội và du kích huyện Cái Bè chặn đánh Tiểu đoàn Nêon của Pháp hành quân càn quét ở Chợ Mới trên đường về Sài Gòn. Trận địa phục kích được bố trí từ cầu Bà Tồn đến bắc Mĩ Thuận (dài 23km) dọc theo QL 4 (nay là QL 1), chủ yếu ở khu vực Cổ Cò (xã An Thái Đông, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). 10 giờ 30 phút ngày 22.1 (mông một Tết Đinh Hợi) trận đánh bắt đầu. Sau khi nổ mìn chặn đoàn xe chở quân địch ở cầu Rạch Miễu, các đơn vị đồng loạt tiến công bao vây, chia cắt, dùng tiêu liên, lựu đạn tiêu diệt phần lớn quân địch; số địch sống sót chạy về hướng Mĩ Thuận bị LLVT địa phương chặn đánh diệt gần hết. 13 giờ cùng ngày Chi đội 17 tiếp tục đánh thiệt hại 1 đại đội địch từ Mĩ Tho đến ứng cứu. Kết quả diệt và bắt 185 địch, phá hủy 14 xe QS (có 8 xe bọc thép), thu hơn 100 súng. Trận thắng lớn đầu tiên của LLVT Khu 8 trong thời kì đầu KCCP, đánh dấu bước trướng thành về trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng, góp phần thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở địa phương phát triển.

        TRẬN CỐC XÁ (5-8.10.1950), trận tiến công của Đại đoàn 308 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 154 (Trung đoàn 209), diệt Binh đoàn Lơ Pagiơ của Pháp tại vùng núi Cốc Xá trên đường 4 (tây nam Đông Khê 6-7km, nay thuộc h. Thạch An, t. Cao Bằng) trong đợt 2 chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Ý đồ chiếm một số điểm khống chế ở Đông Khê thất bại, Binh đoàn Lơ Pagiơ chạy về Cốc Xá tổ chức phòng ngự để chờ hội quân với Binh đoàn Sactông từ Cao Bằng rút về. Đại đoàn 308 sử dụng 3 tiểu đoàn (11, 80, 89) cùng với Tiểu đoàn 154 kịp thời bám sát và tổ chức bao vây tiêu diệt địch theo quyết tâm của bộ chỉ huy chiến dịch. 17 giờ ngày 5.10 các đơn vị nổ súng tiến công, đập tan nhiều đợt phản kích của địch, khép dần vòng vây, đồng thời cho một mũi luồn sâu bất ngờ chiếm đỉnh núi đánh xuống làm rối loạn đội hình địch. 6 giờ ngày 7.10 ta làm chủ trận địa và tổ chức lực lượng truy kích, đến chiều 8.10 diệt và bắt hầu hết quân địch, trong đó có Lơ Pagiơ; số địch sống sót chạy sang điểm cao 477 cũng bị tiêu diệt (x. trận điểm cao 477,. Một trong những trận then chốt, góp phần cho chiến dịch phát triển thuận lợi, thể hiện sự trưởng thành và khả năng đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực VN trên chiến trường rừng núi.

        TRẬN CỔN RỪNG (20.8.1972), trận đánh điểm diệt viện của đại đội bộ đội địa phương huyện Thạnh Phú (Bến Tre) và một bộ phận Tiểu đoàn đặc công 518 (Quân khu Cool tại Cồn Rừng (xã Thạnh Phong, h. Thạnh Phú, t. Bến Tre). 1 giờ ngày 20.8, phối hợp với lực lượng nội ứng, ta tiến công đánh chiếm đồn Cồn Rừng, diệt và bắt toàn bộ quân địch; tiếp đó lúc 6 giờ 30 phút tổ chức phục kích diệt 2 trung đội thuộc Đại đội bảo an 883 QĐ Sài Gòn từ Hồ Cỏ đến giải tỏa. Kết quả loại khỏi chiến đấu 57 địch (bắt 21), thu 57 súng các loại. TCR góp phần đẩy mạnh hoạt động chống phá bình định ở Bến Tre - hướng phối hợp mở mảng trong chiến dịch đồng bảng sông Cửu ling (10.6-10.9.1972).

        TRẬN CÔNG KÊ RƠ PÔ (17-18.1.1974), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 28, được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 24) thuộc Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên đánh Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 40) QĐ Sài Gòn tại dãy điểm cao Công Kê Rơ Pô (bắc tx Kon Tum 12km, t. Kon Tùm). 14.1 địch nống ra khu vực tây nam Công Kê Rơ Pô nhằm tạo bàn đạp lấn chiếm vùng giải phóng. Ta triển khai lực lượng bí mật bao vây, đón lõng, sáng 17 đến chiều 18.1 liên tục tiến công, bao vây, diệt từng bộ phận, kết hợp tập kích, truy kích địch rút chạy. Kết quả diệt và bắt 230 địch, thu hơn 100 súng các loại, góp phần đánh bại ý đồ của địch dùng chiến thuật “mạng nhện” lấn chiếm vùng giải phóng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #201 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:39:59 am »


        TRẬN CÔNXTANTINOP 559, trận bảo vệ kinh đô Cônxtantinôp (nay là thành phố cảng Ixtambun, tây bắc Thổ Nhĩ Kì, trên eo Bôxpho) của đế chế Bidăngtin do dân binh tiến hành dưới sự chỉ huy của cựu chiến binh Bêlixariut. Cuối 558 đầu 559, quân của các bộ tộc Hung Nô và Xlavơ vượt sông Đanuyp đóng băng tiến đánh kinh đô Cônxtantinôp, bắt sống tướng chỉ huy quân Bidăngtin. Trước nguy cơ kinh đô thất thủ, Bêlixariut đã tập hợp các cựu kị binh và dân chúng (khoảng 300 người) gấp rút huấn luyện. Bằng thủ đoạn nghi binh phô trương thanh thế làm đối phương lầm tưởng là quân Bidăngtin rất dông và mạnh, dân binh của Bêlixariut đã tiến công, khiến 7.000 quân Hung Nô - Xlavơ hoang mang phải bỏ chạy về sông Đanuyp.

        TRẬN CÔNXTANTINÔP 1453, trận 80.000 quân có 70 pháo của vua Thổ Muhamet II vây hãm kinh đô Cônxtantinôp của đế chế Bidàngtin (nay là thành phố cảng Ixtambun, tây bắc Thổ Nhĩ Kì, trên eo Bôxpho). Sau 50 ngày bị liên tục bắn pháo và vây hãm, mặc dù kinh đô được bảo vệ bởi ba lớp tường thành và hàng rào sắt ở cửa lạch, 7.000 quân Bidăngtin vẫn bị nguy khốn, thiếu lương thực trầm trọng. 29.5 quân Thổ dùng lực lượng 12.000 người vượt qua các cửa mở do pháo bắn thủng ở tường thành, tràn vào giết và bắt làm tù binh hầu hết quân giữ thành, tàn sát dân lành. Vua Cônxtantin XI của Bidăngtin bị chết. Đế chế Bidăngtin chấm dứt sự tồn tại. Trong TC pháo binh giữ vai trò nổi bật và có ảnh hường lớn về sau.

        TRẬN CÔRÔNEN (1.11.1914), trận hải chiến giữa hạm đội Đức và hạm đội Anh tại mũi Côrônen gần bờ biển Chi Lê trong CTTG-I. Hạm đội Đức với 5 tàu tuần dương (có 16 pháo tầm xa) do Phôn Xipi chỉ huy từ TQ vượt Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương; đến Nam Mĩ (ngoài khơi Chile) gặp hạm đội Anh với 4 tàu tuần dương (có 2 pháo tầm xa) do Cơrađôc chỉ huy. Tuy có nhiều pháo tầm gần, song hạm đội Anh không tiếp cận được hạm đội Đức, bị Đức bắn chìm 2 tàu tuần dương hạng nặng; các tàu còn lại bỏ chạy. Trong TC, hạm đội Đức chiếm ưu thế về trang bị và trình độ tác chiến.

        TRẬN CÔXÔVO (15.6.1389), trận đánh giữa liên quân Xecbia - Bôxnia (15-20 nghìn người) của vương công Lada với 27-30 nghìn quân của vua Thổ Murat I trên thung lũng Côxôvô (phía nam Xecbia ngày nay). Quân Thổ đại thắng, Lada bị bắt. Vua Murat I cũng chết trên chiến trường. Sau TC, Xecbi trở thành chư hầu của đế chế Thổ (Ôxman).

        TRẬN CRAVIÊN (19.6.1970), trận tập kích của Tiêu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 165, Sư đoàn 7) được tăng cường hỏa lực, đánh cụm quân Mĩ thuộc Trung đoàn kị binh thiết giáp 11 hành quân càn quét tại khu vưc phum Craviên (h. Mi Môt, t. Côngpông Chàm, Campuchia). 17 giờ 30 phút, khoảng 150 quân Mĩ cùng 50 xe tăng, xe bọc thép sau khi càn quét, dừng lại bố trí trận địa ở đông nam Crayiên. Ta bí mật áp sát, tổ chức đột kích từ 3 hướng, 20 giờ 45 phút đồng loạt nổ súng; sau hơn 1 giờ chiến đấu, diệt nhiều địch, phá hủy 42 xe. Trận đánh góp phần làm thất bại kế hoạch tiến công của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn nhằm triệt phá cơ sở hậu cần của ta ở vùng biên giới VN - Campuchia.

        TRẬN CRÊXI (26.8.1346), trận đánh giữa 10.000 quân của vua Anh Etuôt III với 12.000 quân (có 8.000 kị binh) của vua Pháp Philip VI trong cuộc chiến tranh trăm năm (1337-1453) tranh giành ngôi vua nước Pháp. Sau khi đổ bộ lên đất Pháp được một tháng rưỡi và bị đánh đuổi đến địa phận làng Crêxi (bắc Pháp, nay thuộc t. Xom), 26.8 bằng loại cung đại, bắn xa 250m (nhanh hơn nỏ), bộ binh Anh đã chia cắt và đánh lui kị binh mặc giáp sắt của Pháp. Hơn 1/3 quân Pháp bị trúng tên. Phía Anh tổn thất chưa đến trăm người. TC được coi là trận đánh đầu tiên của bộ binh Anh trang bị cung đánh bại kị binh và bộ binh Pháp trang bị nỏ.

        TRẬN CÙ LAO THU (27.4.1975), trận tập kích của LLVT Quân khu 5 (gồm 1 đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn 95, 1 phân đội đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 407 và 43 chiến sĩ bộ đội địa phương tỉnh Ninh Thuận) phối hợp với tàu hải quân 643 (có thêm 3 tàu đánh cá và 1 thuyền gỗ chở quân) giải phóng đảo Cù Lao Thu (nay là huyện đảo Phú Quý, t. Bình Thuận) do QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Lực lượng địch trên đảo có 1 liên đội nghĩa quân, 1 trung đội cảnh sát, gần 4.000 đoàn viên nhân dân tự vệ, khoảng 800 tàn quân mới từ đất liền chạy ra, từ 22.4 có thêm 2 tàu hải quân bảo vệ. Tối 26.4 các tàu chở quân của ta đến vị trí tập kết, 1 giờ 50 phút ngày 27.4 bí mật đổ bộ lên đảo triển khai nhiều hướng tiến công, 5 giờ 15 phút đồng loạt nổ súng, sau hơn 1 giờ chiến đấu làm chủ Cù Lao Thu. Ngoài khơi ven Cù Lao Thu, tàu 643 bắn bị thương 1 tàu địch, buộc 1 tàu khác phải rút chạy. Kết quả diệt và bắt 382 địch, thu 900 súng, bắn bị thương 1 tàu, 1 xuồng máy. Thắng lợi TCLT để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức đánh chiếm cù lao bằng lực lượng hỗn hợp trong thời gian chuẩn bị gấp.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #202 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:41:08 am »


        TRẬN CUA CHỮ S - XA CÁT (12.8.1969), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 9) vào cụm bộ binh cơ giới QĐ Sài Gòn ở khu vục cua Chữ S - Xa Cát (h. An Lộc, t. Bình Long, nay thuộc t. Bình Phước). Trận địa địch có công sự dã chiến, tường đất và rào thép gai bao quanh; lực lượng gồm 1 chi đoàn tăng - thiết giáp, 1 đại đội bộ binh, 1 trung đội pháo (3 khẩu 105mm), 1 trung đội cối 82mm, 1 đại đội vận tải. 1 giờ 5 phút, tận dụng yếu tố bí mật bất ngờ, tiểu đoàn nổ súng tiến công không có hỏa lực chuẩn bị (do bộ phận súng cối khi hành quân bị lạc), làm chủ trận đánh lúc 2 giờ 40 phút. Kết quả loại khỏi chiến đấu 450 địch, phá hủy 3 khẩu pháo, 60 xe QS (có 30 xe bọc thép), bắn cháy 3 máy bay trực thăng.

        TRẬN CỦNG SƠN (24.3.1975), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320, Mặt trận Tây Nguyên) được sự phối thuộc của Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tính Phú Yên chặn đánh QĐ Sài Gòn rút chạy tại khu vực quận lị Củng Sơn (nay là thị trấn Củng Sơn, h. Sơn Hòa, t. Phú Yên), trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Trước sức tiến công của ta, lực lượng địch ở Củng Sơn gồm cánh quân từ Cheo Reo chạy thoát về (có Liên đoàn biệt động quân 6, Thiết đoàn 19 và 1 tiểu đoàn pháo binh, công binh) và lực lượng tại chỗ (có 1 tiểu đoàn bảo an và lính biệt kích, dân vệ quận Sơn Hòa) hoang mang, tìm cách rút về Tuy Hòa (do cầu qua Sông Ba đã bị phá). Nắm chắc thời cơ đánh địch, 11 giờ ngày 24.3 ta cấp tốc đưa 1 đại đội vượt sông chốt chặn, đồng thời tập trung các loại hỏa lực áp đảo và tổ chức 2 mũi tiến công nhanh chóng thọc sâu, bao vây, chia cắt tiêu diệt xe tăng và các cụm quân địch. Kết quả diệt và bắt hơn 2.000 địch, thu và phá hủy 400 xe QS (có 41 xe tăng, xe bọc thép), hàng chục khẩu pháo lớn... Thắng lợi của TCS góp phần tiêu diệt lực lượng rút chạy cuối cùng của địch ở Tây Nguyên, mở đường cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công xuống tx Tuy Hòa.

        TRẬN CỨ ĐIỂM 206 (17-23.4.1954), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 36 (Đại đoàn 308), đánh cứ điểm 206 do 1 đại đội lính lê dương của Pháp đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Cứ điểm nằm trên cánh đồng phía bắc khu trung tâm Mường Thanh, trong hệ thống phòng ngự phía tây Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, có hỏa lực mạnh, công sự vững chắc, vật cản dày đặc, được hỏa lực pháo binh chi viện. 17.4 trung đoàn triển khai trận địa vây lấn trên ba hướng, tiến hành đào công sự và hệ thống giao thông hào, dùng rơm bện thành con cúi làm lá chắn, kết hợp bắn tỉa, đánh phản kích, phá hủy một số công sự, vật cản của địch để tạo sẵn cửa mở... Sau 4 ngày vây lấn, các chiến hào của ta đã áp sát trận địa tiền duyên của địch, đêm 22 rạng 23.4 bắt đầu nổ súng tiến công. Ngay loạt pháo đầu tiên, ta đã đánh trúng SCH địch, phá hủy điện đài, tạo điều kiện cho bộ đội xung phong đánh chiếm mục tiêu và làm chủ cứ điểm; sau 2 giờ chiến đấu, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Thắng lợi của TCĐ206 đã tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch áp sát trung tâm tập đoàn cứ điểm của địch, đồng thời góp phần hoàn thiện hình thức chiến thuật vây lấn của nghệ thuật QS VN trong KCCP.

        TRẬN CỬA VIỆT (31.1.1973), trận phản đột kích của một số đơn vị thuộc các sư đoàn bộ binh 304, 320 và 325 cùng với 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương và các lực lượng hải quân, pháo binh, xe tăng nhằm tiêu diệt Lữ đoàn đặc nhiệm QĐ Sài Gòn lấn chiếm vùng giải phóng ở nam Cửa Việt (h. Triệu Phong, t. Quảng Trị), trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28.6.1972-31.1.1973). Sau khi bất ngờ đánh chiếm vùng giải phóng nam Cửa Việt (đêm 25 và ngày 26.1.1973) theo kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” trước khi hiệp định Pari 1973 về Việt Nam có hiệu lực, nhưng bị ta chặn đánh quyết liệt từ 28 đến 30.1, địch buộc phải co lại thành 4 cụm, kéo dài từ nam Cửa Việt đến Vĩnh Hòa. 6 giờ 30 phút ngày 31.1 trận đánh bắt đầu. Sau nửa giờ bắn pháo cấp tập, xe tăng và bộ binh ta đánh vào cụm quân lớn nhất của địch ở gần Cửa Việt, dùng cách đánh gần, chia cắt địch thành tùng mảng, tích cực diệt xe tăng, đến 8 giờ 30 phút tiêu diệt hai cụm địch ở nam Cửa Việt và bắc Vĩnh Hòa, rồi thừa thắng phát triển tiến công đến 12 giờ 30 phút tiêu diệt nốt hai cụm địch ở nam Vĩnh Hòa và bắc Thanh Hội, khôi phục lại toàn bộ khu vực phòng thủ cảng Cửa Việt. Kết quả diệt và bắt gần 2.500 địch, phá hủy 113 xe tăng, xe thiết giáp, 10 khẩu pháo, bắn rơi 5 máy bay, thu 10 xe QS và hơn 300 súng các loại. Trận then chốt kết thúc thắng lợi đợt tác chiến ở Quảng Trị, có ý nghĩa lớn về chính trị, QS, ngoại giao, góp phần tạo thế bố trí và giành quyền chủ động đấu tranh chống địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #203 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:42:18 am »


        TRẬN DAMA (19.10.202tcn), trận quân La Mã (31-38 nghìn người) của Xipiô Châu Phi Già đánh bại quân Cacphaghen (Cactagiơ, 37-38 nghìn người, 80 thớt voi) của Haniban ở Dama, tây nam Cactagiơ (thuộc Tuynidi, Bắc Phi ngày nay) trong chiến tranh Punich (264-I46tcn). Bằng cách sử dụng kị binh (6-8 nghìn người) vu hồi, quân La Mã đã đánh quân Cactagiơ thua chạy và bị thiệt hại 10 nghìn người. Phía La Mã mất 1.500 người. Trong TD, lần đầu tiên đội hình chiến đấu nhiều thể đội được áp dụng, làm tăng khả năng đột kích của đơn vị chiến đấu.

        TRẬN DẦU TIẾNG (11.10.1958), trận tập kích của 2 đại đội bộ binh (80 và 70), Đại đội đặc công 60 LLVT miền Đông Nam Bộ vào quận lị Dầu Tiếng (t. Thủ Dầu Một, nay là thị trấn Dầu Tiếng, t. Bình Dương), do 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 13 cùng lực lượng bảo an, dân vệ QĐ Sài Gòn đóng giữ. Rạng ngày 11 ta nổ súng, sau 30 phút làm chủ quận lị, diệt gần 200, bắt 30 địch, thu hơn 200 súng các loại, buộc quân địch đóng ở 20 đồn bốt xung quanh Dầu Tiếng hoảng sợ, bỏ chạy, một trong những trận thắng lớn đầu tiên của LLVT CM miền Nam VN trong KCCM.

        TRẬN DI LĂNG (222), trận phòng ngự chuyển sang phản công của quân Ngô đánh bại quân Thục có lực lượng đông hơn nhiêu lần. Nhằm giành Kinh Châu bị Ngô chiếm năm 219 và báo thù cho Quan Vũ (tướng Thục) bị Tôn Quyền bắt giết, năm 221 Lưu Bị đem 500.000 quân đánh Ngô. Lục Tốn (tướng Ngô) đem 50.000 quân chống lại. Trước ưu thế rõ rệt của quân Thục, Lục Tốn chủ trương tránh kẻ địch đang mạnh, lui quân về tuyến có lợi từ Di Lăng đến Hào Đinh (nay ở Nghi Đô, Hồ Bắc, TQ), để cho Lưu Bị chiếm giữ mấy trăm dặm khe núi. Mặc quân Thục khiêu chiến, quân Ngô không ra đánh, cũng không chia quân đi cứu Tôn Hoàn đang bị vây ở Di Đạo. Sau 7-8 tháng khi quân Thục mỏi mệt, quân Ngô phản công, dùng hỏa công đốt cháy hơn 40 doanh trại Thục và thừa thắng truy kích. Quân Thục tan vỡ, thương vong và bỏ trốn hàng chục vạn. Lưu Bị thua chạy về thành Bạch Đế và chết ở đó năm 223. TDL là trận lấy ít thắng nhiều, đánh giá đúng so sánh lực lượng, biết lui quân khi điều kiện tác chiến không lợi, làm hao mòn sức địch, nắm đúng thời cơ phản công giành thắng lại. Cg trận Hào Đình.

        TRẬN DINH ĐỘC LẬP (31.1.1968), trận tập kích của Đội biệt động 5 (cụm 3, 4 và 5) LLVT Sài Gòn- Gia Định vào dinh Độc Lập (phủ tổng thống chính quyền Sài Gòn) trong cuộc tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968. Đội gồm 15 chiến sĩ (có 1 nữ), chia 3 tổ, 1 giờ 45 phút ta bí mật cải trang, cơ động bằng 3 xe ô tô, tới cổng phụ dinh Độc Lập (đường Nguyễn Du) nổ súng diệt lính gác rồi dùng bộc phá phá cổng nhung bộc phá không nổ, phải triển khai đánh địch trên đường Nguyễn Du. Địch điều lực lượng phản kích; ta bám giữ từng căn nhà, góc phố đánh trả quân địch, đến 17 giờ kết thúc trận đánh. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 50 địch, bắn cháy 2 xe QS; ta 8 chiến sĩ hi sinh, số còn lại bị thương và bị địch bắt. Trận đánh gây tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới.

        TRẬN DÓM (16.7.1949), trận tiến công của 2 tiểu đoàn bộ binh (54 và 79) bộ đội chủ lực Bộ tổng tư lệnh, có 2 đại đội pháo binh Liên khu 10 chi viện, đánh cứ điểm Dóm (h. Văn Yên, t. Yên Bái) thuộc phòng tuyến Sông Thao của Pháp, trong đợt 3 chiến dịch Sông Thao (19.5-18.7.1949). Cứ điểm có 5 lô cốt, 4 lớp rào, sau khi bị tiến công lần 1 (24.5.1949) địch đã tăng cường phòng thủ, lực lượng gồm 1 đại đội người Thái (có 15 lính Âu - Phi). Sáng 16.7 ta tổ chức chặn đánh các toán quân thăm dò và tuần tiễu của địch, đến 17 giờ bắt đầu tiến công cứ điểm. Bằng hỏa lực pháo binh từ bờ Sông Thao khống chế các hỏa điểm, công binh dùng mìn phá rào, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong đánh chiếm các lô cốt, sau gần 1 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa. tiến hành truy kích địch rút chạy, đồng thời chặn đánh quân địch từ Giốc Lụ tới ứng cứu. Kết quả diệt và bắt gần 60 địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, buộc Pháp phải rút bỏ nhiều vị trí trên phòng tuyến Sông Thao đoạn từ Ba Khe đến Báo Hà dài 70km, góp phần cho chiến dịch kết thúc thắng lợi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #204 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:43:19 am »


        TRẬN DỐC MIẾU (20.3.1967), trận tập kích hỏa lực của Trung đoàn pháo binh 164 (Quân khu 4) và 1 đại đội súng cối 82mm của Trung đoàn 270 (Khu đội Vĩnh Linh) vào căn cứ Dốc Miếu (nam cầu Hiền Lương 6km, thuộc h. Gio Linh, t. Quảng Trị). Dốc Miếu là một trong những căn cứ QS lớn của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên tuyến phòng thủ đường 9 được xây dựng kiên cố từ 1966 để ngăn chặn QGP và tiến hành các hoạt động đánh phá khu vực Vĩnh Linh; lực lượng thường xuyên có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (20 khẩu pháo 105mm - 175mm), 30 xe tăng và xe bọc thép. Để tổ chức trận đánh, Trung đoàn 164 sử dụng 20 khẩu pháo (loại 100 và 105mm) triển khai trận địa ở bờ bắc sông Bến Hải, đại đội cối 82mm (6 khẩu) bí mật luồn sâu bố trí sát căn cứ, đồng thời dân quân xã Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh) tổ chức 4 trận địa nghi binh thu hút hỏa lực địch. Chiều tối 20.3 phát hiện địch tập trung lực lượng (tăng cường thêm 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ và 7 khẩu pháo 105mm) chuẩn bị càn quét Gio Linh, ta kịp thời nổ súng; mở đầu bằng hỏa lực pháo binh bắn cấp tập, chính xác vào căn cứ, sau đó rạng sáng ngày 21 hỏa lực cối tiếp tục đánh bồi. Kết quả với hơn 1.200 viên đạn pháo và 350 viên đạn cối đã loại khỏi chiến đấu 1 tiểu đoàn địch, phá hủy 17 khẩu pháo, 57 xe QS, 5 máy bay trực thăng... Trận đánh phát huy tốt yếu tố bất ngờ, cách đánh và hiệu quả từng loại vũ khí, giành thắng lợi lớn, góp phần phá vỡ âm mưu đánh phá, càn quét của địch. Sau TDM bộ đội pháo binh VN được chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và tặng 8 chữ vàng: “chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”.

        TRẬN DUY XUYÊN (20-28.3.1975), trận tiến công của LLVT địa phương Quảng Đà phối hợp với nổi dậy của quần chúng giải phóng huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Ngày 20.3 các đại đội 2 và 3 bộ đội địa phương huyện Duy Xuyên diệt đồn Bò Coi, khu đồn Triều Châu. Đêm 22.3 Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 96 Quảng Đà) tiến công diệt địch ở Gò Phan. Đá Đen, Núi Đất; đồng thời Đại đội 3 (của Duy Xuyên) phục kích trên đoạn đường từ Nam Phước đi Câu Lâu diệt 40 địch. Phát huy thắng lợi của đòn QS, nhân dân nổi dậy làm chủ các khu Trung, khu Tây, khu Nam của huyện, buộc quân địch ở An Hòa, Đức Dục, Trà Kiệu, Nam Phước tháo chạy về Đà Nẵng. 13 giờ ngày 28.3 ta giải phóng hoàn toàn huyện Duy Xuyên, tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực Quân khu 5 và Quân đoàn 2 tiến công giải phóng Đà Nẵng.

        TRẬN DƯƠNG CÔI - SÔNG SỬ (24-25.7.1974), trận tiến công của 2 trung đoàn bộ binh (1 và 31) thuộc Sư đoàn 2 (Quân khu 5) đánh Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 3) QĐ Sài Gòn ở khu vực Dương Côi - Sông Sử (h. Quế Sơn, t. Quảng Nam) trong đợt 2 chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức (17.7- 25.8.1974). Sau khi ta chiếm Nông Sơn, địch điều Trung đoàn 2 đến ứng cứu, chiếm dãy điểm cao ở khu vực Dương Côi -  Sông Sứ. Đêm 23.7 ta bí mật vận động, hình thành thế bao vây, rạng sáng 24 nổ súng tiến công. Trung đoàn 1 đánh chiếm Dương Côi, diệt địch, trên núi Kì Vĩ, đến 15 giờ diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, làm chủ trận địa. Trung đoàn 31 tiến công địch ở Sông Sừ, Khương Quế, các điểm cao 238, 284...; địch chống cự, phản kích quyết liệt, trận đánh kéo dài đến sáng 25 mới kết thúc. Kết quả ta loại khỏi chiến đấu hơn 700 địch (bắt 73), bắn rơi 3 máy bay, phá hủy 16 xe QS, 10 khẩu pháo, thu trên 100 súng các loại; đánh bại cuộc phản kích của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi.

        TRẬN ĐACĐANEN nh TRẬN GALIPÔLI (19.2.1915- 9.1.1916)

        TRẬN ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN (31.1.1968), trận tập kích của Đội biệt động 4 (cụm 3, 4 và 5) LLVT Sài Gòn - Gia Định vào Đài phát thanh Sài Gòn trong cuộc tiến công Sải Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968. Đội gồm 14 cán bộ, chiến sĩ (có 2 nữ phục vụ) chia 3 tổ: 2 tổ (9 người) đột kích đánh vào bên trong, 1 tổ (3 người) kiểm chế bên ngoài. Sau khi bí mặt cải trang, tiếp cận mục tiêu từ vị trí ém quân cách đài 100m, 2 giờ ngày 31.1 ta bất ngờ nổ súng, nhanh chóng diệt trung đội bảo vệ, chiếm đài phát sóng nhưng không phát thanh được theo kế hoạch vì thiếu nhân viên kĩ thuật. Địch điều 1 đại đội dù, 1 chi đội thiết giáp đến phản kích. Ta kiên cường bám giữ trận địa đánh trả, đến 6 giờ 30 phút dùng bộc phá phá hủy đài. Kết quả tiêu hao nặng 1 đại đội và 1 trung đội địch, bắn cháy 1 xe thiết giáp; phía ta có 10 chiến sĩ hi sinh. Trận đánh gây tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #205 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:44:31 am »


        TRẬN ĐẠI AN (25.8.1971), trận tiến công của du kích và nhân dân xã Nhơn Mĩ (h. An Nhơn, t. Bình Định) đánh chốt Đại An do 1 trung đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ. Từ 17.8 ta mở đợt tiến công bằng ba mũi giáp công trên phạm vi toàn xã, đồng thời tiến hành một số hoạt động QS ở các chốt và khu vực lân cận, gây hoang mang, căng thẳng cho địch. Đêm 24.8 lực lượng du kích xã (16 người) triển khai đội hình tiến công, 1 giờ 15 phút ngày 25.8 nổ súng, sau 20 phút chiến đấu diệt toàn bộ trung đội địch, thu 35 súng, làm chủ trận địa. Phát huy thắng lợi cách đánh kết hợp ba mũi giáp công, du kích và nhân dân xã Nhơn Mĩ tiếp tục bao vây, bức rút 6 điểm chốt khác của địch, giải phóng hoàn toàn xã, đưa phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn huyện lên một bước mới.

        TRẬN ĐẠI BỤC (19.5.1949), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 54 chủ lực Bộ tổng tư lệnh, có pháo binh chi viện, đánh cứ điểm Đại Bục (nay thuộc Văn Yên, t. Yên Bái) thuộc phòng tuyến Sông Thao của Pháp, mở đầu chiến dịch Sông Thao (19.5-18.7.1949). Cứ điểm được xây dựng tương đối kiên cố gồm 2 khu bố trí theo đội hình tam giác, có lô cốt và ba lớp rào tre ken dày kiểu lóng nhím, do 120 lính Âu - Phi và lính người Thái chiếm giữ. 16 giờ 30 phút được sự yểm trợ của hỏa lực pháo và súng phóng bom làm tê liệt phần lớn các hỏa điểm của địch, tiểu đoàn tổ chức 2 mũi tiến công, dùng lửa đốt phá hàng rào, xung phong vào đồn đánh giáp lá cà bằng mác và mã tấu, kết hợp gọi hàng; sau hơn 30 phút chiến đấu diệt và bắt toàn bộ quân địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, cùng với việc diệt cứ điểm Đại Phác tạo đà cho chiến dịch phát triển, buộc địch phải điều quân từ Lào Cai, Phong Thổ đến đối phó.

        TRẬN ĐẠI CÔ (1858-60), trận chiến đấu bảo vệ bờ biển Đại Cô của QĐ nhà Thanh (TQ) ba lần chống liên quân Anh - Pháp trong chiến tranh Nha Phiến lần II (1856-60). Lần một (3.1858), 20 tàu chiến Anh - Pháp tiến vào cửa Đại Cô bắn pháo và cho 1.000 quân đổ bộ lên bờ. Quân Thanh đánh trả làm bị thương một số tàu và giết gần 100 quân, nhưng cuối cùng các pháo đài đều bị chiếm, buộc triều Thanh phải kí hiệp ước Thiên Tân (5.1858). Lần hai, Đại Cô được triều Thanh tăng cường, gồm 6 pháo đài, có 60 pháo lớn và 4.000 quân phòng giữ. 25.5.1859 liên quân sử dụng 13 pháo hạm tiến công; quân Thanh đánh trả có hiệu quả: bắn cháy 10 tàu (chìm 4, bị thương 6), giết và làm bị thương 500 lính Anh (tư lệnh hạm đội Anh bị thương), buộc liên quân phải rút. Lần ba, 10.6.1860 liên quân sử dụng 206 tàu chiến và 17.000 quân tiếp tục tiến đánh Đại Cô. 5.7.1860 tướng chỉ huy quân phòng thủ của nhà Thanh tử trận, đại bộ phận binh lính hi sinh, các pháo đài lần lượt bị chiếm. Đại Cô thất thủ. 10.7.1860 liên quân chiếm Thiên Tân, uy hiếp Bắc Kinh.

        TRẬN ĐẠI CÔ - THIÊN TÂN (1900), trận chiến đấu của Nghĩa Hòa Đoàn phối hợp với quân Thanh (TQ) bảo vệ Đại Cô và Thiên Tân chống liên quân tám nước Anh, Mĩ, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Ý, Áo. 6.1900 tám nước tổ chức liên quân, đem 20 tàu chiến tới cửa Đại Cô, đưa yêu sách đòi triều Thanh nhượng thêm quyền lợi ở miền Bắc. Lúc này phong trào Nghĩa Hòa Đoàn phát triển manh, yêu cầu triều Thanh không được bán rẻ quyền lợi đất nước. 15.6 hơn 900 quân liên quân đổ bộ lên Đường Cô, 10 tàu tiến vào sông, hình thành thế bao vây Đại Cô (nơi cửa sông, cửa ngõ vào Thiên Tân, trong pháo đài có 180 pháo và 2.000 quân phòng thủ). 17.6   qua 6 giờ kịch chiến, liên quân chiếm được Đại Cô và tiến vào khu tô giới Thiên Tân. 21.6 triều Thanh buộc phải tuyên chiến. Nghĩa Hòa Đoàn không ngừng tập kích quân xâm lược, phá đường sắt và dây điện thoại. 9.7 liên quân từ khu tô giới xuất kích chiếm thành phố, hai bên kịch chiến ở Bát Lí đài. Lo sợ trước Nghĩa Hòa Đoàn, 10.7 triều Thanh ra lệnh giải tán và tàn sát quân Nghĩa Hòa Đoàn, đồng thời đề nghị hòa đàm. 13.7 liên quân (7.000 người) tiến công thành Thiên Tân trên hai hướng. Hơn 2 vạn quân Thanh bỏ chạy, 14.7 Thiên Tân thất thủ. Bắc Kinh bị uy hiếp trực tiếp.

        TRẬN ĐÁNH nh TRẬN

        TRẬN ĐÁNH CĂN CỨ 45 (12.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên), được tăng cường 1 đại đội xe tăng đánh hậu cứ của Trung đoàn bộ binh 45 (Sư đoàn 23) QĐ Sài Gòn ở đông bắc thị xã Buôn Ma Thuột 3km (nay thuộc tp Buôn Ma Thuột, t. Đắc Lắc), trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Lúc 5 giờ bộ binh và xe tăng ta chia thành hai mũi thọc thẳng vào trung tâm căn cứ rồi tỏa ra đánh chiếm các mục tiêu, đến 9 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt 449 địch, bắn cháy 3 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 1 máy bay, thu 12 pháo 105mm và 155mm, 243 xe QS (có 2 xe M113), hơn 1.000 súng các loại. Thắng lợi của trận đánh góp phần phá vỡ bàn đạp và ý đồ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #206 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:45:38 am »


        TRẬN ĐÁNH ĐẠI DOANH GIANG NAM (3.1860), trận đánh lớn của quân Thái Bình Thiên Quốc vào đại doanh Giang Nam của quân Thanh (TQ) nhằm giải vây cho Thiên Kinh. 1856 sau khi bị đánh tan, quân Thanh xây dựng lại đại doanh Giang Nam, thắt chặt vòng vây Thiên Kinh; 1860 chiếm được cửa quan phía bắc thành. Vận dụng chiến thuật “vây Nguy cứu Triệu”, quân Thái Bình Thiên Quốc tiến quân nhanh chóng đánh chiếm Hàng Châu, thủ phủ t. Chiết Giang (27.2). Quân Thanh vội rút 13.000 quân ở đại doanh đi cứu. 3.3 quân Thái Bình Thiên Quốc bí mật rút khỏi Hàng Châu, quay về Thiên Kinh, chia làm năm mũi tiến công đại doanh Giang Nam (12.3). Bằng cách trong đánh ra, ngoài đánh vào, quân Thái Bình Thiên Quốc phá vỡ vòng vây, buộc quân Thanh tháo chạy về Trấn Giang.

        TRẬN ĐÁNH ĐẠI SỨ QUÁN MĨ 30.3.1965. trận tập kích của 5 chiến sĩ Cụm biệt động 345 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào đại sứ quân Mĩ ở Sài Gòn (nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí  Minh). Toà đại sứ Mĩ cao 5 tầng được bảo vệ cẩn mật bằng tường bê tông đặc biệt, bên trong là lính gác và nhân viên phục vụ Mĩ, bên ngoài là cảnh sát và mật vụ chính quyền Sài Gòn. Trận đánh diễn ra lúc 10 giờ 45 phút; bộ phận xung kích bí mật tiếp cận mục tiêu diệt lính gác, đồng thời lái xe chở 150kg thuốc nổ lao vào cửa chính tòa đại sứ rồi nhanh chóng thoát ra, được đồng đội ở bên ngoài phối hợp chiến đấu giải vây. Kết quả làm ngôi nhà sạt lở nhiều phòng, hơn 100 nhân viên Mĩ và Sài Gòn chết và bị thương (có phó đại sứ Mĩ Aléchdit Giônxơn), hơn 20 xe bị phá hủy. Trận đánh táo bạo đầu tiên vào đại sứ quân Mĩ ở Sài Gòn, gây tiếng vang lớn trong nước và thế giới.

        TRẬN ĐÁNH ĐẠI SỨ QUÁN Mĩ 31.1.1968, trận tập kích của Đội biệt động 11 (Đoàn F100, LLVT Sài Gòn-Gia Định) vào đại sứ quân Mĩ ở Sải Gòn trong tiến công Sài Gòn - Gia Định Xuân Mậu Thân 1968. Sau khi bị tiến công lần 1 (x. trận đánh đại sứ quân Mĩ 30.3.1965), tòa đại sứ Mĩ được xây dựng lại kiên cố gồm 6 tầng (khánh thành 7.1967), có tường cao 2,5m bao quanh, do lực lượng quân cảnh và lính thủy đánh bộ Mĩ trực tiếp canh gác, bảo vệ. 2 giờ 45 phút đội biệt động gồm 17 chiến sĩ bí mật cải trang, đi trên 2 xe ô tô tiến đến cổng chính, bất ngờ nổ súng diệt lính gác, dùng thuốc nổ phá vỡ một mảng tường, chia 3 tổ đánh chiếm tầng 1 đến tầng 3; chặn đánh nhiều toán quân cảnh Mĩ đến ứng cứu. 8 giờ BTL Dã chiến 2 của Mĩ cho quân dù đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống tầng thượng, dùng chất độc CS từ trên đánh xuống, kết hợp với lực lượng bên dưới vây kín tòa nhà. Cuộc chiến không cân sức kéo dài đến 9 giờ, các chiến sĩ biệt động kiên cường chống trả, hi sinh đến người cuối cùng. Kết quả diệt và làm bị thương hơn 100 lính Mĩ; làm choáng váng giới cầm quyền và chỉ huy QS Mĩ, gây xôn xao dư luận nước Mĩ và thế giới.

        TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN BRINH (24.12.1964), trận tập kích của Đội biệt động 5 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào khách sạn Brinh (tòa nhà 6 táng, 193 phòng, nằm ở trung tâm tp Sài Gòn), nơi ở thường xuyên của khoảng 200 sĩ quan Mĩ, bên ngoài có cảnh sát Sài Gòn, bên trong có trung đội lính thủy đánh bộ Mĩ bảo vệ. Lợi dụng địch chuẩn bị đón lễ Nôen, 17 giờ hai chiến sĩ của Đội biệt động 5 cải trang thành sĩ quan QĐ Sài Gòn lái xe đến làm việc với cố vấn Mĩ, khéo vượt qua gác cổng cho xe chở 100kg thuốc nổ hẹn giờ vào giữa tầng dưới của khách sạn. 18 giờ bộc phá nổ, làm sập 3 tầng nhà, gây chấy nổ kéo dài 40 phút, diệt và làm bị thương hơn 100 địch (có 2 đại tá). Trận đánh gây xôn xao dư luận Mĩ và thế giới.

        TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN MÊTRÔPÔN (4.12.1965), trận tập kích của 5 chiến sĩ Đội biệt động 5 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào khách sạn Mêtrôpôn cao 7 tầng - nơi ở chủ yếu cho phi công và nhân viên kĩ thuật Mĩ ở trung tâm thành phố Sài Gòn (nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí Minh). Bằng cách bí mật đột nhập đặt mìn hẹn giờ trong khách sạn, ta diệt và làm bị thương hơn 100 địch. Trận đánh đạt hiệu suất cao, gây hoang mang, lo sợ cho quân Mĩ ở Sài Gòn, đồng thời củng cố lòng tin của quân dân miền Nam VN dám đánh và đánh thắng Mĩ trong chiến lược chiến tranh cục bộ.

        TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN VICHTORIA (1.4.1966), trận tiến công chóp nhoáng của Đội biệt động 5 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) nhằm diệt phi công và chuyên viên kĩ thuật Mĩ tại khách sạn Vichtoria ở trung tâm Sài Gòn (nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí Minh). Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ, các chiến sĩ của Đội biệt động 5 khôn khéo vượt qua hệ thống canh phòng cẩn mật của địch, tiếp cận diệt lính gác, đưa xe thuốc nổ vào sân khách sạn rồi nhanh chóng điểm hỏa khối thuốc nổ trên xe, kết hợp nổ súng chận địch và rút lui an toàn. Kết quả làm sập một tầng lầu khách sạn, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #207 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:46:55 am »


        TRẬN ĐÁNH KHO THÀNH TUY HẠ (12-13.12.1972), trận tập kích của 5 chiến sĩ đặc công (Đoàn 10 Rừng Sác, Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào kho Thành Tuy Hạ (đông nam Sài Gòn 18km, nay thuộc q. Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh) - một trong những khu kho dự trữ bom đạn lớn của Mĩ và QĐ Sài Gòn ở miền Nam VN. Kho được xây dựng trên khu vực dài 1.500m, rộng l.000m, có 3 tuyến phòng thủ với 14 lớp rào kẽm gai, 1 hàng rào tôn cao 2m và một tuyến lô cốt; lực lượng bảo vệ gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn quân cụ, 1 trung đội cảnh sát, 100 chó becgiê, một số xe cơ động tuần tiễu. Đêm 12 ta khắc phục vật cản, đột nhập vào kho, nhưng không xác định được mục tiêu (do địch đã san ủi làm thay đổi địa hình), phải bí mật ém lại; đém 13 phát hiện 8 dãy nhà kho, đặt lượng nổ hẹn giờ rồi rút lui an toàn. Kết quả gây nổ truyền lan 60 gian kho kéo dài 3 ngày đêm, làm náo động cả tp Sài Gòn; phá hủy gần l0.000t bom đạn (80% số bom đạn trong kho).

        TRẬN ĐÁNH KHU KHO HẢI PHÒNG (18.6.1953), trận tập kích của LLVT tỉnh Kiến An vào căn cứ hậu cần lớn của Pháp tại tp Hải Phòng. Khu kho gồm kho dầu và kho bom đạn, được bảo vệ nghiêm mật bằng hệ thống rào kẽm gai, hào sâu, đèn chiếu sáng và lính Âu - Phi tuần tra, canh gác ngày đêm. Lực lượng tập kích gồm 5 tiểu đội chọn từ Đại đội 131 của tỉnh và đội du kích An Dương, đêm 18.6 chia ba mũi bí mật tiếp cận mục tiêu. Mũi đánh lực lượng bảo vệ khi đột nhập bị lộ, phải nổ súng trước giờ quy định; mũi đánh kho dầu nhanh chóng vượt vật cản, tiến công mục tiêu làm cả khu kho bốc cháy, thiêu hủy 147 triệu lít dầu và 300 xe các loại; mũi đánh kho bom đạn còn cách xa mục tiêu, không tiếp cận được, phải rút ra. TĐKKHP thể hiện khả năng của LLVT địa phương dùng lực lượng nhỏ, tinh nhuệ đánh căn cứ ở sâu trong hậu phương địch.

        TRẬN ĐÁNH TÀU BIỆT KÍCH 14.6.1966 nh TRẬN BIỂN SẨM SƠN (14.6.1966)

        TRẬN ĐÁNH TÀU CAĐƠ (2.5.1964), trận tập kích của Đội biệt động 65 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào tàu sân bay Cađơ của Mĩ tại cảng Sài Gòn. Tàu Cađơ trọng tải 15.000t chở 21 máy bay UH-1A, 2 máy bay L-19, 1 máy bay AD-6, được bảo vệ cẩn mật. Đêm 1.5 hai chiến sĩ của Đội biệt động 65 cải trang, dùng xuồng bí mật tiếp cận mục tiêu, đặt 80kg thuốc nổ hẹn giờ vào mạn tàu. 1 giò ngày 2.5 mìn nổ, nhấn chìm tàu Cađơ cùng toàn bộ máy bay và 55 lính Mĩ. TĐTC là một trong những chiến công xuất sắc nhất của lực lượng biệt động Sài Gòn, làm xôn xao dư luận Mĩ, góp phần đúc kết kinh nghiệm đánh tàu ở bến cảng bằng cách đánh đặc công.

        TRẬN ĐÁNH TÀU CRAYXẮC VÀ ÔĐAXIƠ (7 và 11.9.1945), trận chiến đấu của Đại đội Kí Con, đánh tàu chiến Pháp tại vùng biển Hòn Gai (t. Quảng Ninh) trong những ngày đầu bảo vệ chính quyền CM. Sáng 7.9 phát hiện tàu Crayxắc từ đảo Vạn Hoa vào bến Hòn Gai, ta sử dụng 2 tàu và 1 ca nô kịp thời triển khai đội hình bao vây, bất ngờ áp sát, bắt gọn. Trưa 11.9 Pháp cho tàu Ôđaxiơ vào tìm kiếm tàu Crayxắc, tiếp tục bị ta truy đuổi, bắt giữ. Kết quả ta thu 2 tàu cùng toàn bộ vũ khí, trang bị (có 1 pháo 37mm, 1 trọng liên 12,7mm, 5 đại liên...), bắt 24 sĩ quan và thủy thủ, góp phần hạn chế hoạt động của địch ở vùng biển Đông Bắc, bảo vệ chính quyền CM non trẻ.

        TRẬN ĐÁNH TÀU LST (29.6.1967), trận tập kích của 21 chiến sĩ đặc công thuộc Đoàn 126 Quân chủng hải quân đánh tàu LST (trọng tải gần 5.000t) của Mĩ tại cảng Cửa Việt (h. Gio Linh, t. Quảng Trị). Được sự phối hợp, giúp đỡ của du kích và nhân dân địa phương, các chiến sĩ đặc công chia thành 5 tổ bí mật vượt qua hệ thống bảo vệ của địch vào vị trí tập kết đúng kế hoạch. Đêm 29 rạng 30.6, tổ đánh tàu sử dụng kĩ thuật người nhái tiếp cận chính xác mục tiêu, bằng 2 mìn hẹn giờ đánh chìm tàu LST cùng toàn bộ vũ khí, thiết bị trên tàu. Trận đầu bộ đội đặc công hải quân sử dụng kĩ thuật người nhái đánh địch trên chiến trường sông biển đạt hiệu quả cao, góp phần đúc kết kinh nghiệm, phát triển nghệ thuật đánh tập kích của bộ đội đặc công VN trong KCCM.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #208 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:48:17 am »


        TRẬN ĐÁNH TÀU MAĐÔC (2.8.1964), trận chiến đấu của ba tàu phóng lôi (333, 336 và 339) thuộc Phân đội 3, Đoàn 135, Quân chủng hải quân đánh đuổi tàu khu trục Mađôc (số hiệu 731) thuộc Biên đội xung kích 77, Hạm đội 7 của Mĩ khiêu khích vũ trang, xâm phạm chủ quyền lãnh hải nước VN DCCH tại vùng biển giữa đảo Hòn Mê và Lạch Trường (Thanh Hóa). 13 giờ 50 phút các tàu của ta rời khỏi vị trí neo đậu ở phía bắc đảo Hòn Mê, tiến vào khu vực tàu Mađôc hoạt động; 14 giờ 52 phút phát hiện mục tiêu, tổ chức tiếp cận. Tàu địch tăng tốc chạy ra xa, dùng pháo bắn chặn, sau đó được không quân chi viện đánh phá ác liệt. Mạc dù bị một số thương vong, các tàu của 4a vẫn bám sát mục tiêu, phóng ngư lôi, dùng vũ khí bắn thẳng bắn vào boong tàu địch, đồng thời đánh trả máy bay. Kết quả bắn rơi tại chỗ một máy bay, bắn bị thương một chiếc khác, buộc tàu Mađốc rút chạy. Trận đánh đầu tiên của Hải quân nhân dân VN với hải quân hiện đại Mĩ, thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân VN trong KCCM



        TRẬN ĐẢO CÔN LÔN (1703), trận tập kích của quân chúa Nguyễn ở Đàng Trong do Trương Phúc Phan (trấn thủ vùng Trấn Biên) chỉ huy vào đảo Côn Lôn (nay là h. Côn Đảo, t. Bà Rịa - Vũng Tàu) bị Anh chiếm đóng. 1702 lợi dụng việc giao thương, buôn bán, công ti Đông Ấn của Anh đánh chiếm đảo Côn Lôn, xây dựng pháo đài và tuyển mộ 200 lính người Mã Lai đóng giữ, nhằm tạo bàn đạp xâm nhập vào VN và khu vực Đông Nam Á. Trước tình hình đó, 1703 chúa Nguyễn cử Trương Phúc Phan đem quân chiếm lại. Bằng cách sử dụng 15 người Mã Lai giả làm người giúp việc, trá hàng, đồng thời bí mật vận động một số binh lính địch làm nội ứng, phối hợp với nhân dân địa phương đang đêm nổi dậy, kết hợp trong ngoài cùng đánh, diệt phần lớn quân địch. Trận đánh thắng lợi, giành lại chủ quyền đảo Côn Lôn cho đất nước, góp phần làm thất bại âm mưu bành trướng của thực dân Anh.

        TRẬN ĐẮC HÀ (30.8-2.9.1961), trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn bộ binh 90, Đội đặc công 406, Phân đội học viên Trường quân chính Quân khu 5 và LLVT địa phương tại khu vực quận lị Đắc Hà (Tumơrông, nay là thị trán Đắc Hà. h. Đắc Hà, t. Kon Tum) trên đường 14B do QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đêm 30.8 ta tập kích vào Đắc Hà. diệt gọn đại đội bảo an, làm chủ quận lị. 2.9 địch đưa 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 22 từ Đắc Tô đến giải tỏa, bị ta phục kích đánh thiệt hại nặng, bắt gần 100 quân, thu nhiều súng đạn. Chiến thắng Đắc Hà hỗ trợ nhân dân 28 ấp dọc đường liên tỉnh 5 (từ Đắc Hà qua Măng Bút, Măng Đen đến Giá Vụt) nổi dậy phá tan hàng chục ấp chiến lược và khu dinh điền của địch, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng. TĐH là tiền đề cho sự ra đời loại hình chiến dịch tổng hợp.

        TRẬN ĐẮC PÉT (15.5.1974), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 10) được tăng cường xe tăng, pháo binh đánh căn cứ Đắc Pét (nay là thị trấn Đắc Giây, h. Đắc Giây, t. Kon Tum). Căn cứ Đắc Pét nằm sâu trong vùng giải phóng của ta, án ngữ đường 14, do Tiểu đoàn biệt động quân biên phòng 88 QĐ Sài Gòn đóng giữ. 8 giờ ngày 15.5 ta sử dụng 4 cụm pháo (14 khẩu) bắn ngắm trực tiếp phá hủy các mục tiêu, hỗ trợ tạo cửa mở; 11 giờ 15 phút bộ binh và xe tăng đột phá tiến công, sau 25 phút chiến đấu làm chủ căn cứ, diệt và bắt hơn 400 địch, thu hơn 600 súng các loại. Cùng thời gian, trên hướng phối hợp Trung đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 324) tiến công giải phóng quận lị Đắc Pét. Trận đánh thắng lợi tạo điều kiện cho LLVT và nhân dân địa phương nổi dậy giải phóng hoàn toàn khu vực Đắc Pét, nối liền vùng giải phóng từ bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc, mở thông hành lang chiến lược Đông Trường Sơn vào Nam Bộ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #209 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:50:18 am »


        TRẬN ĐẮC PƠ (24.6.1954), trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 96 bộ đội chủ lực Liên khu 5, diệt Binh đoàn cơ động 100 (GM100), Tiểu đoàn khinh quân 520 và 1 tiểu đoàn pháo binh của Pháp đang rút từ An Khê về phòng thủ Plây Cu, tại khu vực cầu Đắc Pơ (tây An Khê 15km, nay thuộc xã Hà Tam, h. An Khê, t. Gia Lai). 23.6 phát hiện quân Pháp rút chạy, Trung đoàn 96 đang chuẩn bị tiến công một cứ điểm trên đường 19, nhanh chóng chuyển hướng vận động đến khu vực cầu Đắc Pơ bố trí trận địa phục kích trên đoạn đường dài hơn 3km. 24.6 khi đại bộ phận quân địch lọt vào khu vực quyết chiến, bộ đội ta bất ngờ dùng hỏa lực cối và súng phóng bom sát thương, rồi cùng lúc đánh chặn đầu, khóa đuôi, chia cắt đội hình, đánh phản kích, kết hợp gọi hàng, sau hơn 1 giờ chiến đấu ta diệt và bắt gần 2.000 địch, trong đó có đại tá chỉ huy cùng toàn bộ Ban tham mưu Binh đoàn 100, thu và phá hủy hơn 200 xe QS (có 1 xe tăng), 20 đại bác và hàng nghìn súng các loại. Chiến thắng Đắc Pơ tạo điều kiện cho ta làm chủ đường 19, giải phóng An Khê và phần lớn tỉnh Gia Lai, bao vây tx Plây Cu, góp phần đập tan âm mưu co cụm của quân Pháp ở Tây Nguyên sau thất bại ở Điện Biên Phủ, đẩy Pháp ngày càng lún sâu vào thế lúng túng, bị động.



        TRẬN ĐẮC SÚT (18.8.1965), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 2 (Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường 2 pháo 75mm, 1 trung đội bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum đánh chi khu quận lị Đắc Sút trên trục đường 14 (nay thuộc xã Đắc Roong, h. Đắc Giây, t. Kon Tum), do 3 đại đội bảo an (101, 104 và 749), 2 đại đội biệt kích, 5 trung đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105mm QĐ Sài Gòn đóng giữ (có 13 cố vấn Mĩ chỉ huy). 18 giờ 34 phút ta đồng loạt nổ súng đánh chiếm các cứ điểm Bl, B2 (hướng chủ yếu) và B3, đến 20 giờ 13 phút chia thành nhiều mũi đột phá trung tâm. Sau gần 3 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa và tiến hành truy quét dịch rút chạy, diệt và bắt hơn 300 địch (có 5 cố vấn Mĩ), bắn rơi 7 máy bay, phá hủy 20 xe QS, thu 185 súng các loại... Trận đánh góp phần phá vỡ hệ thống kìm kẹp và âm mưu bình định của địch ở khu vực đường 14, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh tại địa phương phát triển.

        TRẬN ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH (24.4.1972), trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 2 (trung đoàn 1 và 141), được tăng cường Trung đoàn bộ binh 66, Tiểu đoàn đặc công 37, cùng 1 đại đội xe tăng và một bộ phận pháo binh, pháo phòng không cùng LLVT địa phương đánh cụm phòng ngự của QĐ Sài Gòn ở Đắc Tô - Tân Cành (bắc - tây bắc tx Kon Tum
37km), trong chiến dịch bắc Tây Nguyên (30.3-5.6.1972). Lực lượng địch gồm: SCH tiền phương Sư đoàn 22 và 2 trung đoàn bộ binh (42 và 47), một số tiểu đoàn độc lập, Thiết đoàn 14 và 2 tiểu đoàn pháo binh, 6 đại đội bảo an... 4 giờ 30 phút tại Tân Cảnh, sau khi pháo bắn chuẩn bị hỗ trợ tạo cửa mở, bộ binh và xe tăng phối hợp tiến công, nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm SCH Sư đoàn 22 và Trung đoàn 42. khu cố vấn Mĩ..., đến 11 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt toàn bộ quân địch (bắn chết đại tá sư đoàn trưởng, bắt đại tá sư đoàn phó Sư đoàn 22). Trên hướng Đắc Tô, 8 giờ ta nổ súng tiến công căn cứ Đắc Tô 2 (tây Tân Cảnh 4km) do Trung đoàn 47 đóng giữ, đến 10 giờ làm chủ căn cứ, truy kích, đón lõng diệt và bắt phần lớn quân địch; sau đó tiến công giải phóng quận lị Đắc Tô. Kết quả đánh quỵ Sư đoàn 22, loại khỏi chiến đấu gần 2.000 địch, bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng và xe bọc thép, 8 khẩu pháo, gần 100 xe QS...; góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đợt 1 chiến dịch, đập tan cụm phòng ngự then chốt và vững chắc nhất trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên của địch, buộc địch phải tăng thêm lực lượng bảo vệ tx Kon Tum.


Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM