Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:24:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41115 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #210 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:51:38 am »


        TRẬN ĐẨM DƠI (10.9.1963), trận tập kích của Tiểu đoàn U Minh (bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau) được phối thuộc 1 trung đội đặc công, 1 đại đội ĐKZ 75mm đánh chi khu QS Đầm Dơi (nay là thị trấn Đầm Dơi. h. Đầm Dơi, t. Cà Mau), do QĐ Sài Gòn đóng giữ. 4 giờ 10 phút ta nổ súng tiến công, sau 2 giờ chiến đấu làm chủ chi khu quận lị, diệt và bắt 158 địch, thu 86 súng các loại; tiếp đó chặn đánh 1 tiểu đoàn địch đến ứng cứu, loại khỏi chiến đấu gần 200 quân, bắn rơi 3 máy bay. Cùng với trận Cái Nước (10.9.1963), TDD góp phần hỗ trợ nhân dân vùng nam Cà Mau nổi dậy phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng. 

        TRẬN ĐẨM RÒN (5.12.1962), trận tập kích của Đại đội đặc công 121 phối hợp với 4 đại đội bộ binh và một bộ phận hỏa lực của Quân khu 6, đánh căn cứ hành quân Đầm Ròn (Tuyên Đức, nay thuộc h. Lạc Dương, t. Lâm Đồng), nhằm tiêu diệt SCH tiền phương Sư đoàn bộ binh 23 QĐ Sài Gòn. Đêm 4 rạng 5.12, ta bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng đánh thiệt hại nặng SCH Sư đoàn 23, phá hủy 2 pháo 105mm, loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch. TĐR là trận thắng lớn nhất của Quân khu 6 trong năm 1962, hỗ trợ nhân dân địa phương nổi dậy phá ấp chiến lược và diệt chi khu Đơn Dương (Tuyên Đức).

        TRẬN ĐẬP ĐÁ (5-7.6.1972), trận tiến công của 3 tiểu đoàn bộ binh (8, 50 và 52), một số đơn vị hỏa lực, công binh, đặc công thuộc LLVT tỉnh Bình Định phối hợp với 2 đại đội địa phương huyện An Nhơn, đánh chiếm thị trấn Đập Đá (h. An Nhơn, t. Bình Định) do 2 tiểu đoàn bảo an (201 và 209), Liên đội bảo an 49, Đại đội bảo an 211, cùng 2 trung đội dân vệ và lực lượng cảnh sát dã chiến QĐ Sài Gòn đóng giữ. 5 giờ ngày 5.6 ta nổ súng tiến công và vây lấn địch ở các chốt Ngãi Chánh, cầu Đập Đá. 10 giờ ngày 6.6 địch đưa Đại đội bảo an 211 đến giải tỏa, ta phục kích diệt gọn và chiếm chốt Ngãi Chánh; 15 giờ địch tiếp tục đưa Tiểu đoàn bảo an 201 đến ứng cứu cũng bị ta đẩy lùi. 5 giờ ngày 7.6 ta tập trung lực lượng bao vây, tiến công và truy kích tiêu diệt địch, đến 17 giờ 30 phút làm chủ thị trấn Đập Đá. Kết quả diệt và bắt 565 địch, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 2 xe QS, thu 1.600 súng các loại cùng nhiều phương tiện QS. TDD mở ra khả năng đánh tập trung quy mô lớn của LLVT tỉnh Bình Định, hỗ trợ tích cực cho phong trào nổi dậy của nhân dân địa phương đấu tranh chống âm mưu bình định của địch.

        TRẬN ĐẤT CUỐC 8.11.1965, trân vận động phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 1 Sư đoàn 9) chặn đánh quân Mĩ thuộc Lữ đoàn không vận 173 hành quân càn quét tại khu vực Đất Cuốc (bắc tx Biên Hòa 30km, nay là xã Tân Mĩ, h. Tân Uyên, t. Bình Dương). Sau một ngày chiến đấu, với lối đánh gần, chia cắt, ta đẩy lui 13 đợt phản kích của địch, loại khỏi chiến đấu 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn khác, thu nhiều vũ khí và trang bị. Trận đầu diệt 1 tiểu đoàn quân Mĩ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ động viên tinh thần quyết tâm đánh Mĩ của quân và dân cả nước.

        TRẬN ĐẤT CUỐC 24.11.1967, trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu 1 đại đội) thuộc Trung đoàn Đồng Nai, QGP miền Đông Nam Bộ đánh Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 48, Sư đoàn 18) QĐ Sài Gòn ở Đất Cuốc (h. Tân Uyên, t. Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương). Chiều 23.11 sau 1 ngày hành quân, càn quét, tiểu đoàn địch trú quân dã ngoại gần cầu Tân Lợi. Được du kích dẫn đường, ta bí mật vận động tiếp cận, áp sát địch; 6 giờ 10 phút ngày 24 chia năm mũi đồng loạt tiến công, sau 35 phút chiến đấu, diệt và bắt hơn 300 địch, thu 29 súng. Nhờ nắm chắc địch, làm tốt công tác tổ chức, chỉ huy nên tuy thời gian chuẩn bị gấp, trận đánh vẫn giành thắng lợi nhanh, gọn, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

        TRẬN ĐẦU, trận chiến đấu đầu tiên của chiến dịch (đợt tác chiến tập trung) hoặc của đơn vị. TĐ có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của chiến dịch, giành quyền chủ động, thắng TĐ có tác dụng động, viên khí thế phấn khởi, tin tường cho các lực lượng chiến dịch, tạo điều kiện cho các trận chiến đấu tiếp theo giành thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Yêu cầu TĐ: chủ động tiến công địch, tạo được bất ngờ; bảo đảm chắc thắng (đặc biệt TĐ là trận then chốt); tạo được tình huống và thời cơ thuận lợi để phát triển tiến công (phản công). Để đánh thắng TĐ cần chọn đúng đối tượng, mục tiêu; đúng thời cơ; tập trung lực lượng đủ sức; chọn cách đánh thích hợp; chỉ huy kiên quyết, linh hoạt.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #211 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:52:33 am »


        TRẬN ĐẦU MẦU (31.3.1972), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304) vào căn cứ Đầu Mầu -  một vị trí lợi hại án ngữ trên đường 9, mở cửa phía tây tx Đông Hà (t. Quảng Trị), do Tiểu đoàn bộ binh 3 (thiếu một đại đội) thuộc Trung đoàn 56 QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Ta triển khai bao vây, chốt chặn đường rút (ngã ba đường 9 và đường rẽ vào điểm cao 241) và khống chế các trận địa pháo của địch, 10 giờ 30 phút nổ súng tiến công; sau 2 giờ chiến đấu làm chủ căn cứ, diệt gọn Tiểu đoàn bộ binh 3 (diệt và bắt 128 địch, thu 35 súng). TĐM thắng lợi tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công, bao vây căn cứ địch ở điểm cao 241, Núi Kiếm.

        TRẬN ĐÈO MAĐRẮC (29.3-1.4.1975), trận vận động tiến công của Sư đoàn bộ binh 10 (Quân đoàn 3) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 25, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn pháo phòng không 234 và 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn xe tăng (thiếu) diệt Lữ đoàn dù 3 (thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược) QĐ Sài Gòn, nhằm mở đường xuống duyên hải miền Trung trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Lữ đoàn dù 3 của địch được tăng cường 1 tiểu đoàn biệt động quân, có Sư đoàn không quân 6 chi viện, đã chốt đèo Mađrắc (Phượng Hoàng, vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh Đắc Lắc và Khánh Hòa) trên đường 21, áp dụng chiến thuật “mạng nhện”, phân tán từng đại đội, chốt, dùng hỏa lực không quân và pháo binh chi viện tối đa kết hợp với phản kích nhằm ngăn chặn các mũi truy kích của QGP. Sáng 29.3 trận đánh bắt đầu. Ta tập trung các loại hỏa lực diệt pháo binh địch, kết hợp bắn máy bay, làm mất chỗ dựa của quân dù, đồng thời liên tục tiến công chia cắt vây diệt từng đại đội và các cụm chốt của địch, mở đường cho bộ binh, xe tăng đột phá mục tiêu chính. Bằng cách đánh hiệp đồng binh chủng và sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị, đến chiều 30.3 ta đã loại khỏi chiến đấu 2 tiểu đoàn dù và một phần ba lực lượng pháo binh, xe tăng của địch, hình thành thế bao vây, tiêu diệt. Sáng 31.3 địch tập trung các trận địa pháo ở Lam Sơn, Dục Mĩ cùng với không quân đánh phá ác liệt vào trận địa chốt của Trung đoàn 24 ở phía đông đèo, đồng thời đưa 1 tiểu đoàn biệt động quân và 1 chi đội xe bọc thép đến ứng cứu hòng mở đường'rút chạy nhưng đều thất bại. Sáng 1.4 Trung đoàn 24 chuyển từ chốt chặn sang tiến công diệt gọn SCH lữ đoàn dịch. Kết quả loại khỏi chiến đấu Lữ đoàn dù 3 (diệt và bắt khoảng 3.800 địch), thu 24 khẩu pháo 105 và 155mm, 84 xe QS cùng toàn bộ vũ khí, trang bị. Thắng lợi của TĐM mở đường cho Sư đoàn 10 phát triển tiến công giải phóng tx Ninh Hòa và tp Nha Trang.

        TRẬN ĐÈO NHÔNG (7-8.2.1965), trận đánh điểm diệt viện của Trung đoàn bộ binh 2 (Quân khu 5) chặn đánh QĐ Sài Gòn tại khu vực Dương Liễu - Đèo Nhông (h. Phù Mĩ, t. Bình Định). Rạng sáng 7.2 ta tập kích cứ điểm Dương Liễu diệt 1 đại đội báo an và 4 trung đội dân vệ của địch, đồng thời bố trí lực lượng đánh viện ở khu vực Đèo Nhông trên QL 1 (đoạn núi Chóp Vung - Núi Nùng, dài 5km). Sáng 8.2 địch điều 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đoàn xe thiết giáp thuộc Sư đoàn 22 từ Phù Mĩ theo QL 1 tiến ra Dương Liễu theo đội hình sâu đo, dùng 2 đại đội bộ binh đi trước lùng sục và chiếm các điểm cao khống chế ở hai bên đường. Ta bí mật đưa lực lượng ém nơi bộ phận lùng sục của địch vừa đi qua, chờ đánh lực lượng chính ở phía sau. 13 giờ 30 phút khi đội hình địch lọt vào trận địa phục kích, ta đồng loạt nổ súng, tập trung hỏa lực diệt xe M113 kết hợp các mũi bộ binh bao vây chia cắt, đánh gần tiêu diệt các cụm quân địch ngoan cố chống cự. Kết quả sau 2 giờ loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, phá hủy 10 xe M113. Trận đánh thể hiện sự trưởng thành về trình độ đánh tập trung, tiêu diệt gọn của bộ đội chủ lực Quân khu 5 trong KCCM.

        TRẬN ĐÈO PHÚ GIA (3.7.1967), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Quân khu Trị - Thiên) ở đèo Phú Gia trên QL 1, đoạn cẩu Thổ Sơn - ấp Luân Lí (h. Phú Lộc, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế) nhằm cắt tuyến vận chuyển đường bộ Huế - Đà Nẵng của QĐ Sài Gòn, phối hợp với lực lượng chủ yếu tiến công ở đường 9. Ta tổ chức lực lượng thành ba bộ phận, tối 1.7 bí mật chiếm lĩnh vị trí, làm công sự trận địa cách đường 400-500m. 1 giờ 55 phút ngày 3.7, đoàn xe vận tải QS thuộc lực lượng Vùng chiến thuật 1 của địch từ Đà Nẵng ra Huế lọt vào trận địa phục kích, ta nổ súng chặn đầu, khóa đuôi và nhanh chóng vận động đánh chính diện; sau 3 giờ loại khỏi chiến đấu 371 địch (bắt 20), phá hủy 70 xe, 2 pháo 105mm. Trận đánh cắt giao thông đạt hiệu suất cao ở mặt trận nam Huế 1967, góp phần kìm giữ bộ phận quân địch ở Trị - Thiên, hỗ trợ cho các nơi khác tiến công thuận lợi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #212 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:54:17 am »


        TRẬN ĐỊA. khu vực địa hình (mặt nước) mà các đơn vị LLVT đang hoặc sẽ chiếm lĩnh để tiến hành tác chiến. TĐ thường được thiết bị công trình. Lục quân thường có: TĐ chờ, TĐ xuất phát tiến công, TĐ phòng ngự, TĐ hỏa lực pháo binh... Quân chủng  phòng không - không quân, có: TĐ tên lửa phòng không, TĐ pháo phòng không, TĐ rađa phòng không. Hải quân có: TĐ bắn, TĐ chống ngầm... Ngoài ra còn có TĐ giả. ở VN, TĐ được xây dựng kết hợp với làng (bản) chiến đấu.

        TRẬN ĐỊA BẮN của xe tăng, trận địa do xe (phân đội) tăng chiếm lĩnh để bắn. Có TĐB: chính, lâm thời, dự bị và giả. TĐB chính để thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực chủ yếu trong một giai đoạn chiến đấu nhất định. TĐB dự bị được chuẩn bị sẵn để chiếm lĩnh và bắn khi bắt buộc phải rời khỏi TĐB chính. TĐB lâm thời thường được chuẩn bị trong phòng ngự để thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực riêng lẻ, chi viện cho bộ binh, giữ bí mật cho TĐB chính, TĐB giả để đánh lừa dịch.

        TRẬN ĐỊA BẤN pháo binh, trận địa do một phân đội hỏa lực pháo binh chiếm lĩnh hoặc đã chuẩn bị chiếm lĩnh. TĐB có các vị trí đạt bắn của pháo (cối, xe chiến đấu phản lực, bệ phóng tên lửa chống tăng), chỉ huy, phương tiện xe, đạn, phòng vệ... TĐB thường có công sự, hầm hố, phương tiện ngụy trang cho người và vũ khí, trang bị; vật cản... Theo công dụng, có: TĐB cơ bản (để thực hiện các nhiệm vụ hỏa lực chủ yếu), TĐB dự bị (để khi cần. cơ động đến hoặc khi bắt buộc phải rời khỏi TĐB chính); trận địa lâm thời để thực hiện các nhiệm vụ bắn trước khi bắn ở TĐB chính (thường trong chiến đấu phòng ngự), TĐB nghi binh. Theo mức độ che khuất đối với các đài quan sát mật đất của địch, có: TĐB che khuất (ẩn) (giấu được vũ khí, ánh lửa, khói, bụi khi bắn), TĐB nửa che khuất (chỉ che giấu được vũ khí), TĐB không che khuất (lộ) (không che giấu được vũ khí, khói, bụi và ánh lửa khi bắn).

        TRẬN ĐỊA CẢNH GIỚI CHIẾN ĐẤU trong phòng ngự. trận địa xây dựng trước tiền duyên trên các hướng địch có thể tiến công khi không có trận địa chiến đấu phía trước. TĐCGCĐ thường cấu trúc theo kiểu điểm tựa hình tròn. Lực lượng ở TĐCGCĐ thường từ một tiểu đội đến một trung đội do đại đội bộ binh (bộ binh cơ giới) trên hướng bị uy hiếp phái ra hoặc LLVT địa phương đảm nhiệm.

        TRẬN ĐỊA CHÉO, thành phần của hệ thống trận địa phòng ngự được xây dựng nhằm ngăn chặn quân địch tiến công phát triển sang bén sườn. Trong TĐC có thể xây dựng các điểm tựa, cụm điểm tựa, hào chiến đấu, hào giao thông, bố trí vật cản... Số lượng TĐC trong khu vực, dải phòng ngự và mức độ cấu trúc công trình phụ thuộc vào ý định tác chiến. TĐC còn được dùng làm tuyến triển khai cho lực lượng cơ động tiến công (thể đội 2, lực lượng dự bị) tiến hành phản kích (phản đột kích); làm tuyến hỏa lực cho xe tăng, xe thiết giáp. TĐC cổ thể dùng để tạo thành túi hỏa lực.

        TRẬN ĐỊA CHIẾN ĐẤU PHÍA TRƯỚC, trận địa được xây dựng trước tiền duyên phòng ngự; nhằm sớm phát hiện địch, giữ bí mật hình thái tiền duyên và bố trí trận địa phòng ngự của ta; tiêu hao, tiêu diệt, từng bước, buộc địch phải sớm triển khai đội hình chiến đấu, không cho địch bất ngờ tiến công vào trận địa phòng ngự cơ bản của ta. Để tổ chức TĐCĐPT các lực lượng phòng ngự phái ra các phân đội bộ binh (bộ binh cơ giới) phối hợp với LLVT địa phương xây dựng những điểm tựa trung đội, đại đội kết hợp hỏa lực với vật cản chốt chặn trên hướng địch có khả năng tiến công.

        TRẬN ĐỊA DÃ CHIẾN. trận địa có cấu trúc bằng công sự dã chiến là chủ yếu để tiến hành tổ chức phòng ngự gấp. TĐDC có đặc điểm: công sự không kiên cố, bố trí vật cản chưa hoàn chỉnh. Khi cấu trúc TĐDC phải lợi dụng, cải tạo địa hình và dùng cấu kiện chế sẵn có trọng điểm, có kế hoạch củng cố và hoàn thiện liên tục trong quá trình chiến đấu.

        TRẬN ĐỊA DỰ BỊ, trận địa được chuẩn bị trước để cơ động lực lượng từ trận địa cơ bản hoặc trận địa chính về chiếm lĩnh.

        TRẬN ĐỊA ĐẦU CẦU, 1) gọi chung các cứ điểm dùng để xâm nhập vào đối phương; 2) lô cốt, điểm chốt được cấu trúc để khống chế cầu và bến vượt: 3) trận địa chiếm lĩnh ở bến vượt, đầu cầu bên bờ phía đối phương hoặc phụ cận, dùng để ngăn cản địch tới gần, chiếm lại cầu, bến vượt hoặc để yếm hộ cho bộ đội vượt sông.

        TRẬN ĐỊA GIẢ, trận địa được xây dựng để nghi binh, đánh lừa đối phương, có hình dáng bên ngoài giống như thật. Được cấu trúc công trình giả và thật, có thể có vũ khí, mô hình, phương tiện KTQS và một số phân đội hoạt động nghi binh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #213 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:55:42 am »


        TRẬN ĐỊA HỎA LỰC, trận địa bố trí khẩu đội, phân đội hỏa lực và phân đội xe tăng, xe chiến đấu để bắn; một thành phần của hệ thống trận địa. Theo tính chất hỏa lực, có: TĐHL bộ binh (bộ binh cơ giới), TĐHL pháo binh, TĐHL phòng không. TĐHL hải quân. Theo nhiệm vụ, có: TĐHL cơ bản (dùng để hoàn thành nhiệm vụ bắn chủ yếu trong một thời gian dài), TĐHL lâm thời và TĐHL dự bị; theo vị trí trận địa và mức độ quan sát, có: TĐHL che khuất, TĐHL nửa che khuất. TĐHL không che khuất (ngắm bắn trực tiếp).

        TRẬN ĐỊA KIÊN CỐ, trận địa phòng ngự có cấu trúc chủ yếu bằng hệ thống công sự lâu bền, có chiều sâu, có chướng ngại vật ở những nơi trọng yếu, bộ đội có thể thực hành phòng ngự lâu dài. TĐKC có đặc điểm: công sự kiên cố, sức chống đỡ cao, thiết bị hoàn chỉnh, cấu trúc từ thời bình hoặc trước khi bước vào chiến tranh. TĐKC có thể kết hợp cấu trúc công sự dã chiến, nhưng nòng cốt vẫn lấy cấu trúc công sự lâu bền.

        TRẬN ĐỊA PHÒNG NGỰ, trận địa do lực lượng phòng ngự chiếm lĩnh làm chỗ dựa đánh trả quân địch tiến công. TĐPN của phân đội thường là các điểm tựa, cụm điểm tựa; của binh đội, binh đoàn là khu vực phòng ngự. TĐPN thường gồm: trận địa của lực lượng tác chiến vòng ngoài (hoặc trận địa cảnh giới chiến đấu), trận địa của lực lượng phòng ngự, khu vực bố trí và trận địa của lực lượng cơ động tiến công (lực lượng dự bị), trận địa hỏa lực pháo binh, trận địa pháo (tên lửa) phòng không, trận địa trung gian, trận địa chéo, trận địa dự bị, trận địa giả...

        TRẬN ĐỊA TÀU NGẦM, khu vực biển có giới hạn xác định mà tàu ngầm phải chiếm lĩnh và hoạt động khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Có trận địa tuần tiễu chiến đấu, trận địa trinh sát, trận địa phục kích, trận địa chờ... Cg khu vực hoạt động của tàu ngầm.

        TRẬN ĐỊA TRUNG GIAN, trận địa được xây dựng giữa các khu vực (dải) phòng ngự dành cho các đơn vị phòng ngự phía trước lui về hoặc từ chiều sâu tiến lên hay từ các hướng không bị tiến công đến, chiếm lĩnh để ngăn chặn địch phát triển tiến công. TĐTG có thể dùng làm tuyến triển khai của lực lượng cơ động tiến công (thể đội 2, lực lượng dự bị) để đánh địch đột nhập. Trong QĐ một số nước, TĐTG còn được dùng để tác chiến trì hoãn trong phòng ngự và được xây dựng giữa dải phòng ngự cơ bản và dải phòng ngự 2.

        TRẬN ĐỊA XUẤT PHÁT TIẾN CÔNG, trận địa mà các phân đội, binh đội, binh đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng, tàu hải quân chiếm lĩnh để tiến công. TĐXPTC thường được chọn ở địa hình có lợi, tiện quan sát, bố trí và phát huy binh lực, hỏa lực, bất ngờ mở đầu tiến công. Được cấu trúc công trình và ngụy trang chu đáo.

        TRẬN ĐIỂM CAO 25 (27-28.6.1974), trận phòng ngự của Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 9) chặn đánh QĐ Sài Gòn lấn chiếm tại khu vực điểm cao 25 (h. Bến Cát, t. Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương). Với mục đích giành lại các vị trí đã mất trên tuyến đường 7 ngang (Bến Cát - Rạch Báp), củng cố tuyến phòng thủ bắc Sài Gòn, từ 27.6 địch huy động lực lượng lớn bộ binh và xe tăng, thiết giáp thuộc Quân đoàn 3 đánh vào khu vực phòng ngự của Tiểu đoàn 3 ở điếm cao 25. Dựa vào trận địa được xây dựng vững chắc, liên hoàn, tiểu đoàn tổ chức chặn đánh trước tiền duyên, tập trung hỏa lực diệt xe tăng, kết hợp phản kích đánh địch đột nhập, giữ vững trận địa, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch. Kết quả diệt 340 địch, bắn cháy 22 xe tăng, góp phần kìm giữ lực lượng địch, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiến công hướng đường 14, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng.

        TRẬN ĐIỂM CAO 37 (19.4.1972), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 102, Sư đoàn 308) đánh 2 đại đội thuộc Liên đoàn biệt động quân 5 QĐ Sài Gòn phòng ngự di động tại khu vực điểm cao 37 (ven tx Đông Hà, t. Quảng Trị), trong chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Sáng 19.4 ta triển khai lực lượng bí mật chiếm lĩnh trận địa, 16 giờ 45 phút tập trung hỏa lực pháo cối, ĐKZ, B-40, B-41 bắn đồng loạt vào đội hình địch đang thu quân di chuyển, tiêu diệt các xe bọc thép địch vừa ra khỏi công sự; tiếp đó các mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu. Sau gần một giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt gọn 2 đại đội địch, bắn cháy 7 xe bọc thép M113,... làm thất bại chiến thuật “phòng ngự di động” của địch, tạo thuận lợi cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công đánh chiếm căn cứ Đông Hà và giải phóng tỉnh Quảng Trị.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #214 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:57:01 am »


        TRẬN ĐIỂM CAO 62 (4-5.3.1966), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 21 (Sư đoàn 2, Quân khu 5) đánh Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 1 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 1) của Mĩ tại điểm cao 62 (xã Sơn Châu, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi) trong đợt 2 chiến dịch Tây Sơn Tịnh (20.2-20.4.1966). Sáng 4.3 địch dùng máy bay trục thãng đổ quân chiếm điểm cao 62 nhằm thực hiện kế hoạch tìm diệt bộ đội chủ lực ta. Trung đoàn sử dụng 2 tiểu đoàn (22 và 33) nhanh chóng vận động tiếp cận, triển khai tiến công trên hai hướng {bắc, đông nam), 10 giờ bắt đầu nổ súng. Do tổ chức hiệp đồng giữa các mũi thiếu chặt chẽ, bị pháo binh địch ngăn chặn quyết liệt nên trận đánh kéo dài. Đêm 4.3 ta đưa thêm Tiểu đoàn 11 vào chiến đấu và tăng cường hỏa lực chi viện, tiếp tục tiến công, đến 5 giờ ngày 5.3 làm chủ trận địa, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn địch. Một trong những trận then chốt, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, làm thất bại kế hoạch hành quân tìm diệt của địch.

        TRẬN ĐIỂM CAO 252 (30.3.1972), trận tiến công của Đại đội bộ binh 6 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304) đánh 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 56) QĐ Sài Gòn chốt giữ điểm cao 252, trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Đúng 8 giò ta nổ súng tiến công từ hai hướng. Địch dùng hỏa lực cối, đại liên chống trả quyết liệt, giành giật với ta từng vị trí, sau đó rút lên đỉnh điểm cao cố thủ. 15 giờ 30 phút ta tăng cường hỏa lực, tiếp tục tiến công, phối hợp chặt chẽ giữa hỏa lực với xung lực, đến 16 giờ 30 phút làm chủ trận địa, diệt và bắt 53 địch. Thắng lợi của trận đánh góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở tây Quảng Tn, mở đầu thuận lợi cho chiến dịch phát triển.

        TRẬN ĐIỂM CAO 311 (3-21.3.1971), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 102, Sư đoàn 308) được tăng cường 1 trung đội súng máy phòng không 12,7mm và 1 trung đội ĐKZ 75mm, đánh Lữ đoàn dù 2 QĐ Sài Gòn cơ động trên đường 9, tại khu vực điểm cao 311 (bản Po Ho, h. Sê Pôn, t. Xavannakhẹt, Lào), trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.197ì). Đêm 3 rạng 4.3, ta triển khai trận địa chốt, bất ngờ nổ súng đánh bộ phận địch trú quân ở chân điểm cao, diệt 9 xe; 14 giờ ngày 5.3 ta phục kích diệt gọn đoàn xe (30 chiếc) chở đạn cùng 1 đại đội hộ tống của địch trên đường 9. Địch phát hiện trận địa chốt, tập trung lực lượng có xe tăng, máy hay, pháo binh yểm trợ, tiến hành gần 30 đợt tiến công đánh phá trong các ngày 6-13.3, nhưng đều bị đẩy lùi. Từ 15 đến 21.3, ta củng cố trận địa, bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của địch, tiếp tục giữ vững chốt, đồng thời đưa lực lượng cơ động xuống phía nam phối hợp đánh địch rút chạy trên đường 9. Kết quả diệt và bắt gần 600 địch, bắn rơi 5 máy bay, phá hủy 52 xe QS (có nhiều xe tăng và xe bọc thép), 2 pháo 105mm, góp phần chia cắt, khống chế hoạt động của địch trên đường 9, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Trận địa chốt ở điểm cao 311 được mang tên “Chốt thép anh hùng”.

        TRẬN ĐIỂM CAO 351 (8.2-21.3.1971), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 304) tại khu vực điểm cao 351- cầu Ca Ki (h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị) nhằm ngăn chặn hoạt động của QĐ Sài Gòn trên đường 9 tới Bản Đông trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971). Tiểu đoàn (được tăng cường 2 súng máy phòng không 12,7mm và 1 súng ĐKZ 82mm) sử dụng 1 đại đội làm nhiệm vụ chốt giữ các điểm cao (351, 402 và 489), 2 đại đội làm nhiệm vụ cơ động đánh địch trên đường 9 và sẵn sàng hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ chốt. Trong 43 ngày đêm, địch dùng 2 tiểu đoàn dù cùng nhiều xe tăng, xe bọc thép M113, có máy bay, pháo binh yểm trợ. mờ 32 đợt tiến công vào trận địa. Ta kiên cường bám trụ, tổ chức phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng, vừa chốt chặn, phản kích, vừa cơ động đánh địch đổ bộ đường không, tập kích và truy kích tiêu diệt dịch, giữ vững trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 900 địch, bắn rơi 24 máy bay, phá hủy 21 xe QS và 1 pháo 105mm. thu 27 súng các loại và nhiều phương tiện QS, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi đồng thời đúc kết được kinh nghiệm chốt chặn trong chiến dịch phản công trên địa bàn rừng núi.

        TRẬN ĐIỂM CAO 400 (7.4.1968), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 5 (Trung đoàn 24. Sư đoàn 304) vào điểm cao 400 (Làng Bù, h. Hướng Hóa, t. Quáng Trị) do 2 tiểu đoàn dù (3, Cool thuộc Chiến đoàn 3 QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong đợt 3 chiến dịch Dường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Ta hình thành bốn mũi bí mật luồn sâu, áp sát, 2 giờ đồng loạt nổ súng. Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ: mũi 1 (mũi chủ yếu) từ đỉnh núi đánh thẳng xuống khu nhà ở, phối hợp với mũi 2 đánh vào trung tâm phòng ngự của địch, mũi 3 đánh bên phải và mũi 4 đánh sườn trái, làm đội hình địch rối loạn, không kịp đối phó, đến 3 giờ ta làm chủ trận địa và truy kích số địch sống sót bỏ chạy. Trận đánh đạt hiệu quả cao (loại khỏi chiến đấu gần 300 địch), tạo thuận lợi cho chiến dịch phát triển, đúc kết kinh nghiệm về cách đánh địch đổ bộ đường không chốt giữ điểm cao trong KCCM.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #215 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:58:02 am »


        TRẬN ĐIỂM CAO 477 (7.10.1950), trận vận động tiến công của 3 tiểu đoàn bộ binh (23, 18 và 29) thuộc Đại đoàn 308 và Tiểu đoàn bộ binh 84 (Trung đoàn 209), diệt Binh đoàn Sactông của Pháp đang rút chạy tại khu vực điếm cao 477 (tây nam Đông Khê 8km, nay thuộc h. Thạch An, t. Cao Bằng), trong đợt 2 chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Bị đánh thiệt hại nặng trên đường rút khỏi Cao Bằng, nhất là ở điểm cao 590, tối 6.10 Binh đoàn Sactông còn khoảng 2 tiểu đoàn về tới vùng Lán Hai và điểm cao 477, hi vọng hội quân với Binh đoàn Lơ Pagiơ và chờ lực lượng ứng cứu từ Thất Khê lên, nhưng chưa kịp thực hiện, đã bị bộ đội VN vây chặt. 7 giờ ngày 7.10 trận đánh bắt đầu. Bằng tác chiến hợp đồng, khép dần vòng vây từ 3 hướng và tổ chức lực lượng đón lõng ở thung lũng Bản Ca, đến 17 giờ ta diệt và bắt toàn bộ quân địch, trong đó có chỉ huy Binh đoàn Sactông và tỉnh trưởng Cao Bằng. Một trong những trận then chốt góp phần cho chiến dịch phát triển thuận lợi, cùng với trận Cốc Xá (5- 8.10.1950) mở ra khả năng đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực  VN trên chiến trường rừng núi.

        TRẬN ĐIỂM CAO 500 (14.5.1967), trận phục kích bằng mìn tự tạo và súng bộ binh của du kích xã Con Riêng đánh quân Mĩ đổ bộ đường không càn quét tại khu vực điểm cao 500 (làng Tà Ém, xã Con Riêng, nay là xã Vĩnh Hảo, h. Vĩnh Thạnh, t. Bình Định). Sáng 14.5 ta sử dụng 1 tổ du kích (3 người) bí mật gài mìn và phục sẵn ở bãi đổ quân của địch, 8 giờ 30 phút diệt tại chỗ 1 máy bay trực thăng UH-1A chớ biệt kích. Sau đó ta tiếp tục gài mìn kết hợp súng bộ binh bắn rơi thêm 2 máy bay trực thăng cần cẩu H-54 đến lấy xác lúc 9 giờ 40 phút và 10 giờ. Trận đánh đạt hiệu quả cao (diệt 22 địch và 3 máy bay trực thăng) nhờ phán đoán chính xác, cách đánh táo bạo, bất ngờ, được nhiều địa phương vận dụng trong phòng chống địch đổ bộ đường không bằng máy bay trực thăng trong KCCM. Cg trận chiến đấu phòng không Con Riêng (14.5.1967).

        TRẬN ĐIỂM CAO 500 VÀ 564 (29-30.12.1951), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 11 (Trung đoàn 141. Sư đoàn 312) vào các điểm cao 500 và 564 (núi Ba Vì, h. Ba Vì, t. Hà Tây) do 1 đại đội lính Âu - Phi và 1 đại đội lính ngụy chốt giữ. trong đợt 2 chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951-25.2.1952). Đêm 29.12 ta nổ súng đánh chiếm cửa mở, đồng thời tổ chức lực lượng dùng thang vượt vách đá bất ngờ đánh vào trung tâm, nhanh chóng diệt địch ở điểm cao 500; tiếp đó đột phá sang điểm cao 564. hình thành các mũi thọc sâu, bao vây chia cắt tiêu diệt địch. 6 giờ 30 phút ngày 30.12, ta làm chủ trận địa, diệt 2 đại đội địch (bắt 87), thu nhiều vũ khí, trang bị QS. Trận đánh góp phần phá vỡ mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ Sông Đà của quân Pháp, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi.

        TRẬN ĐIỂM CAO 543 (20-25.2.1971), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320) được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 tiêu đoàn pháo binh. 2 đại đội súng máy phòng không vào căn cứ 31 của Lữ đoàn dù 3 QĐ Sài Gòn tại điểm cao 543 (tây bắc Bản Đông 7km), trong đợt 2 chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971). Lực lượng địch có SCH lữ đoàn, 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội công binh, tổ chức phòng ngự kiên cố. Từ 20.2 ta thực hành vây lấn trên hướng đông (chủ yếu) và tây bắc (thứ yếu), 11 giờ 30 phút ngày 25.2 nổ súng tiến công. Bằng cách đánh bất ngờ (chuyển hướng đột phá từ hướng đông sang đông nam), phát huy sức mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng, sau 5 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và bắt hơn 500 địch (có đại tá lữ đoàn trưởng cùng toàn bộ ban tham mưu Lữ đoàn dù 3), thu 10 khẩu pháo, bắn rơi 1 máy bay. Trận đánh then chốt thắng lợi, tạo điểu kiện cho lực lượng chiến dịch phát triền, bẻ gãy cánh quân bảo vệ phía bắc đường 9 của địch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #216 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 05:59:37 am »


        TRẬN ĐIỂM CAO 544 (30-31.3.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 27 (Mặt trận B5) đánh 2 tiểu đoàn và 2 đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn 56 (Sư đoàn 3) QĐ Sài Gòn chốt giữ và cơ động ứng cứu tại khu vực điểm cao 544, đồi Tròn (xã Cam Tuyền, h. Cam Lộ, t. Quảng Trị), mở đầu chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Theo kế hoạch tác chiến, trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 2 (được tăng cường hỏa lực) và một bộ phận của Tiểu đoàn 1 tiến công điểm cao 544 và đồi Tròn (do 2 đại đội bộ binh địch phòng ngự trong còng sự vững chắc), đồng thời sử dụng Tiểu đoàn 3 bí mật luồn sâu đánh lực lượng ứng cứu của địch. Sau khi đánh chiếm các mỏm đồi Dl, D2, D3, D4 ở phía bắc điểm cao 544, đến 22 giờ 30 phút ngày 30.3 Tiểu đoàn 2 tiến hành mở cửa bằng bộ phá rào FR, tổ chức các mũi thọc sâu và phát huy hỏa lực (súng phun lừa, B- 40, B-41) nhanh chóng đánh chiếm điểm cao 544; sáng 31.3 tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở đồi Tròn. Phối hợp với lực lượng tiến công, Tiểu đoàn 3 phục kích ở phía nam dãy điếm cao 322,288 và 166, diệt phần lớn 1 tiểu đoàn địch (30.3), sau đó chuyển sang chốt chặn, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội địch ở cầu Thiện Xuân. Kết quá loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, thu và phá hủy 8 xe QS (có 2 xe tăng) cùng nhiều vũ khí trang bị, góp phần phá vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch trên đường 9, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch phát triển tiến công giải phóng tx Quảng Trị.

        TRẬN ĐIỂM CAO 550 (15-22.3.1971), trận vây lấn tiến công của Sư đoàn 324 tại khu vực điểm cao 550 (t. Xayannakhẹt, Lào), trong đợt 3 chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971). Điểm cao 550 nằm ở phía tây nam Lao Bảo 10km, do Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 QĐ Sài Gòn chiếm giữ và tổ chức phòng ngự, có công sự dã chiến, hàng rào thép gai, sân bay trực thăng, trận địa pháo. Từ 15.3 sư đoàn sử dụng 2 trung đoàn (1 và 3) đánh địch ở vòng ngoài và tiến hành vây ép, đêm 22.3 được tăng cường xe tăng, pháo binh, tiến công dứt điểm và làm chủ điểm cao. Do vây không chặt, SCH lữ đoàn và một phần lực lượng địch chạy thoát bằng máy bay trực thăng. Kết quà đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147, loại khỏi chiến đấu hơn 1.000 địch, phá hủy 12 khẩu pháo, thu gần 1.500 súng, tạo điều kiện cho chiến dịch kết thúc thắng lợi.

        TRẬN ĐlỂM CAO 560 (21.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 9 (Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) được tàng cường 1 đại đội bộ binh, 3 trung đội hỏa lực, đánh chiếm điểm cao 560 (bắc dãy núi Bạch Mã, h. Hương Thủy, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế), do Tiểu đoàn biệt động quân 61 QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975). Lúc 5 giờ 50 phút ta nổ súng tiến công; sau đợt hỏa lực chuẩn bị, bộ đội từ ba hướng xung phong đánh chiếm mục tiêu. Địch chống cự quyết liệt, ta đưa lực lượng dự bị dồn sức tiến công, đến 15 giò làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch (bắt 10), góp phần phá vỡ mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của địch ở tây và tây nam Huế, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch cắt QL 1, không cho dịch rút chạy bằng đường bộ từ Huế vào Đà Nẵng.

        TRẬN ĐIỂM CAO 581 (14.3.1975), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 10, Quân đoàn 3) được tăng cường 1 đại đội xe tăng vào khu vực điểm cao 581 (đông Buôn Ma Thuột 9km), do Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 45, Sư đoàn 23) QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975). Chiều 12.3 địch đổ quân xuống khu vực điểm cao 581 và trục đường 21 nhằm tạo bàn đạp phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. 7 giờ ngày 14.3 ta tổ chức lực lượng thành hai hướng vận động tiến công địch: hướng chủ yếu tập trung bộ binh và xe tăng đánh thẳng lên điểm cao 581, đến 12 giờ làm chủ điểm cao và khu vực xung quanh; hướng thứ yếu theo đường 21 diệt địch từ kilômét 9 đến cầu la ích, truy kích, đón lõng, diệt tàn quân địch tháo chạy. Kết quả diệt và bắt hơn 300 dịch, thu 3 khẩu pháo 105mm, 1 xe QS,... góp phần đập tan ý đồ phản đột kích của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi.

        TRẬN ĐIỂM CAO 600 (9.5.1969), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24, Mặt trận Tây Nguyên) vào điểm cao 600 - làng Giả (h. Chư Pa, t. Gia Lai) do Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4) của Mĩ đóng giữ, nhằm phối hợp với hướng chính trong chiến dịch Đắc Tô II (5.5-17.6.1969). Lực lượng địch có SCH tiểu đoàn, 2 đại đội bộ binh, 2 đại đội pháo và cối, 3 xe tăng, tổ chức trận địa phòng ngự gồm nhiều công sự gỗ, đất, lô cốt cố thủ, 3-4 lớp rào thép gai và bãi mìn. 0 giờ 20 phút tiểu đoàn tổ chức thành bốn mũi, bí mật cắt rào, tiếp cận vị trí địch trên 2 hướng; 2 giờ 10 phút đồng loạt nổ súng, sau 1 giờ chiến đấu đánh chiếm phần lớn trận địa, loại khỏi chiến đấu 250 địch, phá hủy 2 pháo 105mm, 2 cối 106,7mm. Địch phản kích quyết liệt; ta không tiếp tục phát triển được nên lui quân, riêng bộ phận hỏa lực trụ lại bắn rơi 5 máy bay trực thăng đến ứng cứu. Lần đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên, bộ binh dùng cách đánh đặc công tập kích cụm quân Mĩ giành thắng lợi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #217 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 06:01:11 am »


        TRẬN ĐIỂM CAO 622 (16.4.1968), trận vận động tiến công kết hợp chốt của Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 304) đánh 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn lính thủy đánh bộ 26 của Mĩ và một số đơn vị QĐ Sài Gòn hành quân giải tỏa tại khu vực điểm cao 622 (h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị), trong đợt 3 chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Hồi 10 giờ 8 phút địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, chia ba mũi đánh vào điểm cao, ta kiên cường bám giữ trận địa, chờ địch tới gần nổ súng, liên tiếp đẩy lùi 2 đợt tiến công của địch. 16 giờ 30 phút địch sử dụng toàn bộ lực lượng mở đợt tiến công lần 3, ta dùng lực lượng chốt ngăn chặn, đồng thời đưa lực lượng cơ động đánh tạt sườn và truy kích, đến 19 giờ buộc địch phải rút chạy về Tà Cơn. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 300 địch, bắn rơi 2 máy bay, thu 53 súng các loại, tạo thế tiếp tục bao vây tiến công dịch ở cụm cứ điểm Tà Cơn.

        TRẬN ĐIỂM CAO 690 (16-18.6.1968), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 88, Sư đoàn 308) đánh Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3 (Trung đoàn 4) của Mĩ tại khu vực điểm cao 690 (núi Phu Nhôi, h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị), trong đợt 4 chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Ngày 12.6 địch huy động máy bay trực thăng đổ bộ 2 đại đội xuống điểm cao 690 ở phía sau đội hình tác chiến Sư đoàn 308, nhằm ngăn chặn tuyến hậu cần tiếp tế của ta. Đêm 15.6 ta triển khai chiếm lĩnh trận địa, 5 giờ 30 phút ngày 16 nổ súng tiến công từ ba hướng, chiếm được một phấn điểm cao. Địch dùng máy bay, pháo binh ngăn chặn và phản kích quyết liệt, sáng 17.6 tăng cường thêm lực lượng, vũ khí trang bị xây dựng công sự phòng thủ. Tiểu đoàn 4 được bổ sung 2 đại đội bộ binh và 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, 5 giờ ngày 18 tổ chức tiến công lần 2, diệt phần lớn quân địch, đến 16 giờ làm chủ trận địa. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 400 địch, bắn rơi 3 máy bay. Thắng lợi của TĐC690 đã tác động mạnh đến tinh thần binh lính Mĩ ở Khe Sanh, buộc địch phải co về giữ đường 9 và nam Tà Cơn, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển, góp phần xây dựng cách đánh địch đổ bộ đường không chốt giữ điểm cao ở địa bàn rừng núi trong KCCM.

        TRẬN ĐIỂM CAO 723 (13-18.3.1971), trận vây lấn cứ điểm 723 (Phu Rệp, h. Sê Pôn, t. Xavannakhẹt, Lào) trong đợt 3 chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1-23.3.1971), do Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu 1 trung đoàn) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 48) và Trung đoàn pháo binh 368 thuộc mặt trận B70 tiến hành. Cứ điểm 723 có công sự khá vững chắc do Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 1) QĐ Sài Gòn đóng giữ, gồm 2 tiểu đoàn bộ binh đóng tại cứ điểm và 2 tiểu đoàn khác cơ động ở vòng ngoài, 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp (12 khẩu pháo 105mm, 155mm và cối 81mm)... 13-15.3 ta thực hành vây ép, tập trung hỏa lực sát thương địch trong cứ điểm, bắn máy bay tiếp tế đường không, đồng thời dùng lực lượng nhỏ đột phá, đánh địch phản kích. Sáng 16.3 phát hiện địch có biểu hiện rút chạy, ta đồng loạt tiến công đánh chiếm điểm cao 723, sau đó vận động bao vây, tiến công liên tục quân địch rút chạy và quân cơ động ở vòng ngoài, đến 9 giờ 30 phút ngày 18.3 làm chủ trận địa. Kết quả tiêu diệt gọn Trung đoàn 1 (4 tiểu đoàn bộ binh) và 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp. trong đó diệt và bắt 1.950 địch, bắn rơi 19 máy bay trực thăng, thu 332 súng các loại (4 khẩu 155mm, 5 khẩu 105mm) và nhiều quân trang quân dụng. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần bẻ gãy cánh quân phía nam đường 9 của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi.

        TRẬN ĐIỂM CAO 824 (25.5.1968), trận tiến còng của Trung đoàn bộ binh 2 vào điểm cao 824 (nam đường 18, nay thuộc h. Ngọc Hồi, t. Kon Tum) do 2 đại đội Mĩ chốt giữ. Đêm 25.5 trung đoàn sử dụng 2 đại đội (2 và 3) của Tiểu đoàn 4 và Đại đội 9 (Tiểu đoàn 6) triển khai tiến công trên hai hướng, nhưng do thiếu khí tài phòng hóa, quá trình chiến đấu bị địch dùng hỏa lực và vũ khí hóa học ngăn chặn quyết liệt tại cửa mở và trong trung tâm, gây nhiễm độc và thương vong lớn; trong khi đó trận địa hỏa lực của trung đoàn cũng bị địch khống chế bằng chất độc hóa học, không thực hiện được nhiệm vụ chi viện cho đội hình tiến công. Thất bại của trận đánh là bài học lớn về công tác bảo đảm phòng hóa của bộ đội ta trong KCCM.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #218 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 06:02:46 am »


        TRẬN ĐIỂM CAO 875 (19.11.1967), trân vận động tiến công kết hợp chốt của Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 174, Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường 1 đại đội bộ binh và 1 trung đội hỏa lực, đánh Tiểu đoàn dù 2 (Lữ đoàn 173) của Mĩ tại khu vực điểm cao 875 (tây nam quận lị Đắc Tô 25km. t. Kon Tum), trong chiến dịch Đắc Tô I (3-22.11.1967). Ta sử dụng 1 đại đội chốt giữ điểm cao 875 để khống chế, thu hút địch, lực lượng còn lại bố trí ở khu vục đồi Không Tên làm nhiệm vụ cơ động. 17-18.11 địch dùng 2 đại đội thám báo, biệt kích đánh thâm dò trận địa chốt của ta nhưng bị đẩy lùi; ngày 19 tập trung Tiểu đoàn dù 2 có máy bay, pháo binh yểm trơ tiếp tục tiến công. Ta kịp thời đưa lực lượng cơ động hình thành thế bao vây, phối hợp với bộ phận chốt chặn đánh từ 14 giờ đến 18 giờ tiêu diệt phần lớn tiểu đoàn địch. Trận then chốt chiến dịch kết thúc thắng lợi, đánh dấu bước phát triển tương đối hoàn chỉnh của chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt trong tác chiến với quân Mĩ trên chiến trường rừng núi.

        TRẬN ĐIỂM CAO 1015 (12-15.4.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 64 (Sư đoàn 320) vào khu vực điểm cao 1015 (nay thuộc xã Pô Cô, h. Đắc Tô, t. Kon Tum) do Tiểu đoàn dù 11 (Lữ đoàn dù 3) QĐ Sài Gòn chốt giữ (có công sự, vật cản dày đặc), trong đợt 1 chiến dịch Bắc Tây Nguyên (30.3-5.6.1972). Lúc 10 giờ ngày 12.4 trung đoàn tổ chức đột phá lần 1 nhưng không thành công, bị địch chống cự, phản kích quyết liệt. 8 giờ ngày 14 trận đánh tiếp tục bằng hỏa lực tập trung phá hoại công sự và sát thương địch, sau đó các mũi bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu, truy quét, bao vây đón lõng diệt địch rút chạy, đến 13 giờ ngày 15 làm chủ trận địa. Kết quả diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt 260, bắt 166), bắn rơi 20 máy bay, thu 160 súng các loại; là trận then chốt thứ nhất, góp phần tạo thế cho trận then chốt tiếp theo của chiến dịch ở Đác Tô - Tân Cảnh (x. trận Đắc Tô - Tân Cảnh, 24.4.1972).

        TRẬN ĐIỂM CAO 1049 (30.3-3.4.1972), trận vây lấn tiến công của Trung đoàn bộ binh 52 (Sư đoàn 320, Mặt trận Tây Nguyên) tại điểm cao 1049 do Tiểu đoàn 2 (Lữ đoàn dù 2) QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong đợt 1 chiến dịch Bắc Tây Nguyên (30.3-5.6.1972). Điểm cao 1049 (xã Sa Nhơn, h. Sa Thầy,.t. Kon Tum) là cứ điểm thuộc tuyến ngăn chặn vòng ngoài của địch ở phía tây bắc tx Kon Tum, có hệ thống hàng rào (2-3 lớp), công sự gỗ cát và các tuyến hào chiến đấu. Sáng 30.3 Trung đoàn 52 được tăng cường hỏa lực, tổ chức vây lấn từ ba hướng; địch dùng không quân, pháo binh yểm trợ cho bộ binh đánh trả quyết liệt. Ta vừa đánh địch phản kích, vừa tiếp tục vây ép, rạng sáng 31.3 chiếm được đồi C, đồi Không Tên; 3 giờ 30 phút ngày 3.4 tiếp tục tiến công đánh chiếm các đồi A, B, đến 7 giờ chiếm được SCH địch. Do ta không tiêu diệt gọn, số địch sống sót co cụm lại, gọi không quân, pháo binh đánh trùm lên cứ điểm và kết hợp với lực lượng ứng cứu phản kích chiếm lại. Kết quả diệt 190 địch, bắn rơi 12 máy bay. Trận đánh tuy không dứt điểm, song đã góp phần thu hút lực lượng địch, tạo điều kiện cho ta chuẩn bị tiến công ở Đắc Tô, Tân Cảnh và rút kinh nghiệm cách đánh vây lấn tiến công cứ điểm địch có hỏa lực mạnh trên địa hình rừng núi.

        TRẬN ĐIỂM CAO 1227 nh TRẬN CON RỐC (2.4.1974)

        TRẬN ĐIỂN XÁ (4.3.1949), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 98 bộ đội chủ lực Liên Khu I. chặn đánh đoàn xe QS Pháp trên đường 4, đoạn Khe Mo - Điền Xá (xã Điền Xá, h. Tiên Yên, t. Quảng Ninh) mở đầu chiến dịch Đông Bắc II (4.3- 30.4.1949). Khi đoàn xe địch gồm 52 chiếc từ Tiên Yên chở vũ khí lên Cao Băng. Lạng Sơn lọt vào trận địa phục kích, bộ đội ta dùng mìn chặn đầu, khóa đuôi rồi xung phong bao vây, chia cắt. diệt từng toán địch co cụm chống cự; sau 30 phút chiến đấu. ta phá hủy 18 xe, diệt và bắt hơn 100 địch (trong đó có chỉ huy đoàn xe), thu 71 súng các loại. Thắng lợi của TĐX góp phần làm hạn chế việc vận chuyển tiếp tế của Pháp ở vùng Đông Bác, tạo điểu kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi.

        TRẬN ĐIỆN NGỌC (20.4.1962), trận phòng ngự của tiểu đội trinh sát đặc công (7 chiến sĩ) và 3 cán bộ đội công tác huyện Điện Bàn đánh trả cuộc tiến công của 1 đại đội biệt kích và 1 trung đội bảo an QĐ Sài Gòn tại thôn 4 (xã Điện Ngọc, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam). Sáng 20.4 phát hiện lực lượng ta đang hoạt động ở Điện Ngọc, địch tập trung lực lượng đông hơn nhiều lần bao vây hòng tiêu diệt. Tận dụng địa hình có lợi. ta chủ động luồn tránh và phối hợp đánh địch ở trong làng, đến 16 giờ rút ra giếng cạn giữa đồng, tiếp tục đẩy lui 3 đợt xung phong của địch, sau đó lợi dụng đêm tối, nghi binh và đột phá thoát vây, đưa thương binh về hậu cứ an toàn. Kết quả diệt gần 100 địch; với tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, 10 chiến sĩ tham gia trận đánh được tôn vinh danh hiệu Dũng sĩ Điện Ngọc.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #219 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2019, 06:05:05 am »


        TRẬN ĐỖ XÁ (30.4-15.5.1963), trận chống càn của Trung đoàn bộ binh 2, Phân đội đặc công 409 bộ đội chủ lực Quân khu 5 cùng một số đơn vị bộ đội địa phương, dân quân và nhân dân  các làng vùng Đỗ Xá, nhằm bảo vệ khu căn cứ Mang Xim (địch gọi là mật khu Đỗ Xá, nay là xã Trà Dơn. h. Trà Mi. t. Quảng Nam), nằm ở giáp ranh ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum - nơi đứng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến Khu 5. Ta tổ chức nhiều trận địa chốt chặn ở vòng ngoài và vòng trong căn cứ, giành quyền chủ động, phối hợp chặt chẽ các lực lượng liên tục ngăn chặn, phục kích, tập kích, đẩy lui các mũi tiến công đường bộ và đổ bộ đường không của 16 tiểu đoàn bộ binh (thuộc 3 sư đoàn: 2, 22 và 25), 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến QĐ Sài Gòn; loại khỏi chiến đấu gần 600 địch, bắn rơi và bắn hỏng 20 máy bay trực thăng, bảo vệ an toàn căn cứ. Trận chống càn lớn nhất từ đầu cuộc KCCM trên chiến trường Khu 5, hỗ trợ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh của nhân dân chống phá kế hoạch bình định của địch.

        TRẬN ĐỒI AI (30.3-7.5.1954), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 174 (Đại đoàn 316), Trung đoàn bộ binh 102 (Đại đoàn 308), được chi viện của cụm pháo binh và pháo phòng không chiến dịch đánh đồi AI (nay thuộc tp Điện Biên Phủ, t. Điện Biên), một trong những cứ điểm quan trọng nhất, được xây dựng kiên cố trong hệ thống phòng ngự phía đóng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp, do 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Marốc 4 đóng giữ, trong đợt 2 và đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Từ 21 giờ 30 phút ngày 30.3, Trung đoàn 174 bắt đầu nổ súng, đến 4 giờ ngày chiếm được 2/3 cứ điểm, nhưng bị địch dựa vào hầm ngầm, đưa lực lượng phản kích, có pháo binh, xe tăng yểm trợ, giành lại phần lớn. Trung đoàn 102 được điều đến cùng một bộ phận của Trung đoàn 174, tiếp tục tiến công lần hai (đêm 31.3), lần ba (đêm 1.4), chiến đấu giằng co quyết liệt với địch đến 4.4 vẫn không dứt điểm, phải ngừng lại củng cố và tổ chức phòng giữ nửa đồi phía đông (lúc này địch đã đưa Tiểu đoàn dù 6 lên thay thể). Cùng với việc đẩy mạnh bao vây, khống chế, đánh địch phản kích tại các khu vực, Bộ chỉ huy  chiến dịch quyết định sử dụng công binh đào đường ngầm tới sát vị trí địch trong lòng đồi Al, đặt 1.000kg thuốc nổ để phá hầm ngẩm đồng thời làm hiệu lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận. 21 giờ ngày 6.5 sau khi bộc phá nổ, Trung đoàn 174 tổ chức tiến công từ ba hướng vào các vị trí còn lại của địch và đến 4 giờ 30 phút ngày 7.5 chiếm toàn bộ cứ điểm A1. Thắng lợi của trận đánh góp phần quyết định cho chiến dịch chuyến sang tổng công kích giành toàn thắng.

        TRẬN ĐỒI C1 (30.3-1.5.1954), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 98 (Đại đoàn 316) vào đồi C1 (nay thuộc tp Điện Biên Phủ, t. Điện Biên), một cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng ngự phía đông Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. do 1 đại đội bộ binh thuộc địa và 1 trung đội lê dương của Pháp đóng giữ. trong đợt 2 và đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Lúc 18 giờ ngày 30.3, được pháo binh chi viện. Trung đoàn 98 bắt đầu tiến công, sau 45 phút chiếm được cứ điểm, diệt toàn bộ quân địch. Sáng 1.4 Pháp đưa 1 tiểu đoàn tới phản kích, dùng pháo bắn ác liệt vào trận địa gây cho ta một số thương vong. Hai bên giành giật nhau từng vị trí, đến 17 giờ cùng ngày, địch bị đẩy lùi. 9.4 quân Pháp được tăng cường 1 tiểu đoàn dù tiếp tục phản kích và sau 4 ngày đêm chiến đấu, chiếm được nửa phía tây. Trung đoàn 98 tổ chức phòng ngự giữ vững nửa phía đông, đến đêm 1.5 chuyển sang phản công giành lại toàn bộ cứ điểm. Thắng lợi của TĐC1 tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch khép chặt vòng vây, uy hiếp Mường Thanh và chuyển sang tổng công kích giành thắng lợi.

        TRẬN ĐỒI CHUỐI - VÀNH KHĂN (23.4.1972), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 141 (Sư đoàn 312) đánh chiếm cứ điểm đồi Chuối - Vành Khăn trên trục đường Sảm Thông đi Long Chẹng (t. Xiêng Khoảng, Lào), do Tiểu đoàn 8 (TEM) quân Thái Lan đóng giữ. 11 giờ ta dùng hỏa lực bắn khống chế và sát thương địch, 12 giờ tổ chức tiến công: sử dụng 1 tiểu đoàn phối hợp 1 trung đội xe bọc thép K63 diệt địch ở đồi Chuối, 2 tiểu đoàn đánh chiếm đồi Vành Khăn, đến 16 giờ làm chủ cứ điểm và tiến hành cúng cố trận địa sẵn sàng đánh địch phản kích. Kết quả diệt hơn 100 địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị, góp phần cùng cố thắng lợi của ta sau chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường sùi (18.12.1971-6.4.1972), cùng LLVT CM Lào đánh bại âm mưu lấn chiếm Cánh Đồng Chum của địch.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM