Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:41:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41194 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #250 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:16:21 pm »


        TRẬN LỮ THUẬN 10-11.1894, trận quân Nhật đánh chiếm cảng Lữ Thuận ở đông bắc TQ trong chiến tranh Trung - Nhật (1894-95). Sau khi đánh bại quân Thanh ở Triều Tiên. 10.1894 Nhật sử dụng hơn 200.000 quân chia thành hai đường tiến sang TQ. Hướng đường bộ, quân Nhật vượt sông Áp Lục, chiếm các thành Cửu Liên (nay ở đông bắc Đan Đông), An Đống (nay là Đan Đông), đánh tan 40.000 quân Thanh. Hướng đường thủy, quân Nhật đổ bộ lên bán đảo Liêu Đông, 6.11 chiếm Kim Châu (nay là Kim Huyện), 7.11 chiếm Đại Liên, chuẩn bị tiến đánh Lữ Thuận. Tại đây quân Thanh phòng thủ khá mạnh, có 29 pháo đài với 150 khẩu pháo đủ đạn, nhưng tinh thần chiến đấu thấp, nhiều tướng lĩnh bỏ trốn, chỉ còn tổng binh Từ Bang Đạo và một số quân chống trả. Sau 4 ngày chiến đấu tuyệt vọng (18-22.11), Lữ Thuận thất thủ. Nhật tàn sát toàn bộ 18.000 dân trong thành.

        TRẬN LỮ THUẬN 8.1904-1.1905, trận tiến công của quân Nhật vào cảng Lữ Thuận ở đông bắc TQ do quân Nga chiếm giữ trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-05). Sau khi bao vây dài ngày và triệt đường tiếp tế của quân Nga, 19.8.1904 Nhật dùng 130.000 quân, 400 khẩu pháo tiến công quân Nga (50.000 quân, 545 khấu pháo) phòng thủ tại cảng. Bằng thủ đoạn bao vây, chia cắt, kết hợp tiến công. 5.12.1904 Nhật chiếm được điếm cao 203, lập trạm quan sát pháo binh, bắn phá các tàu ra vào tiếp tế cho cảng. 1.1.1905 quân Nga đầu hàng, bị bắt 32.000 người. Nhạt bị thương vong 60.000 người.

        TRẬN MÃ LĂNG (342tcn), trận phục kích nổi tiếng thời Chiến Quốc của quân Tề diệt toàn bộ đạo quân chủ lực Ngụy tại Mã Lăng (Hà Nam, TQ). 343tcn Ngụy đánh Hàn, Hàn cầu cứu Tề. 342tcn quân Tề dùng kế “vây Ngụy cứu Triệu”, đem quân đánh sang đất Ngụy khiến Bàng Quyên (tướng Ngụy) vội rút quân từ Hàn về Ngụy. Quân sư Tôn Tẫn của Tề biết Bàng Quyên kiêu ngạo, lập kế vờ rút chạy và chủ trương giảm số bếp nấu ăn hàng ngày, nhằm đánh lừa quân Ngụy là quân Tề bị hao hụt do bỏ trốn. Bàng Quyên mắc mưu. thúc quân đuổi gấp đến Mã Lăng (nơi đất hiểm) bị quân Tề phục binh, bắn tên dày đặc tiêu diệt toàn bộ quân Ngụy. Bàng Quyên tự sát. Thái tử Thân của Ngụy bị bắt. Trận nổi tiếng về nghi binh và phục kích trong lịch sử chiến tranh thời cổ đại ở TQ.

        TRẬN MÃ VĨ (1884). trận tập kích trên biển của hạm đội Pháp vào Hạm đội Phúc Kiến của TQ trong chiến tranh Trung -  Pháp (1883-85). Sau khi đánh Cơ Long (Đài Loan) không thành công, hạm đội Pháp lui về vùng biển Mã Vĩ (Phúc Kiến) thả neo cạnh hạm đội TQ lấy danh nghĩa du lịch. Nhân phía TQ mất cảnh giác, 23.8.1884 tàu Pháp bất ngờ tiến công, bắn chìm 9 tàu của Hạm đội Phúc Kiến, 2 tàu còn lại bị thương. TQ bị thương vong 760 người. Trên đường rút, 2 tàu Pháp bị pháo TQ bắn bị thương, trong đó có tàu chỉ huy hạm đội của đô đốc Cuôcbê.

        TRẬN MACNƠ 5-12.9.1914, trận phản công của liên quân Anh - Pháp vào quân Đức ở khu vực sông Macnơ (đông bắc Pari khoảng 25km) trong CTTG-I (1914-18). Sau thắng lợi trong trận biên giới Bắc Pháp (21-25.8.1914), quân Đức (51 sư đoàn, 3.364 khẩu pháo) tiến về Pari, trong đó đưa Tập đoàn quân 1 vòng sang hướng đông nam đến sông Macnơ (2.9) nhằm đánh vào phía sau quân Pháp. Liên quân Anh -  Pháp (56 sư đoàn, 3.000 khẩu pháo) tổ chức chặn đánh trên chính diện, đồng thời dùng Tập đoàn quân 6 (Pháp) tiến công vào sườn phía tây Tập đoàn quân 1 (Đức). Ở phía sau quân Đức cũng bị Tập đoàn quân 9 (Pháp) đánh chặn. Trước nguy cơ bị chia cắt, quân Đức rút về tuyến sông Enơ tổ chức trận địa phòng ngự. TM làm tiêu tan ý đồ đánh nhanh thắng nhanh của Đức; đánh dấu bước chuyển tiếp từ giai đoạn chiến tranh vận động sang giai đoạn chiến tranh trận địa trong CTTG-I.

        TRẬN MACNƠ 15.7-4.8.1918. trận chiến đấu giữa quân Pháp trong lực lượng Đồng minh với quân Đức ở khu vực giữa hai sông Macnơ và Enơ ở Bắc Pháp trên mặt trận Tây Âu trong CTTG-I. Sau ba ngày (15-17.7) phòng ngự ngoan cường gây thiệt hại nặng cho đối phương, 18.7 quân Pháp (36 sư đoàn, 3.038 pháo) với sự tham gia của một số sư đoàn Mĩ, đã chuyển sang phản công bất ngờ, không có chuẩn bị bằng hỏa lực, trên dải 50km, đánh bật quân Đức (48 sư đoàn, 6.353 pháo) về phía sông Enơ được 40km, cứu thủ đô Pari của Pháp khỏi nguy cơ bị Đức chiếm. Sau TM quyền chủ động chiến lược hoàn toàn chuyển sang tay Đồng minh, CTTG-I bước vào giai đoạn kết thúc.

        TRẬN MADURI nh TRẬN APGUXTÔP (7-26.2.1915)

        TRẬN MAI LĨNH (9.3.1975), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 10 (bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị) vào chi khu Mai Lĩnh (xã Hải Phú, h. Hải Lăng, t. Quảng Trị), do 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong đợt 1 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975). Chi khu có hệ thống lô cốt, công sự kiên cố, xung quanh có hào sâu, tường bê tông và 9 lớp rào kẽm gai xen kẽ mìn. Đêm 8.3 tiểu đoàn chia ba mũi bí mật luồn sâu, áp sát các mục tiêu; 1 giờ 47 phút ngày 9 đồng loạt nổ súng, sau hơn 10 phút chiến đấu làm chủ trận địa. Kết quả diệt và bắt 113 địch, thu toàn bố vũ khí, góp phần phá vỡ một trong những mắt xích chủ yếu trong hệ thống phòng thủ của địch ở bắc thị xã Quảng Trị. tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #251 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:18:05 pm »


        TRẬN MANDICƠT (1071), trận đánh giải vây của 40.000 quân Bidăngtin chống 70.000 quân Thổ xâm chiếm tại khu vực Mandicơt trên đất Bidăngtin (địa phận Acmênia ngày nay). Ban ngày, quân tinh nhuệ của vua Bidăngtin Rômanơt IV tiến công chính diện và đẩy lui đối phương ra khỏi Mandicơt. Ban đêm, quân của vua Thổ Acxlan phản công, bao vây tiêu diệt toàn bộ quân đối phương, bắt sống vua Rômanơt IV. Thất bại trong TM mở đầu sự suy tàn của đế chế Bidăngtin vùng Tiểu Á.

        TRẬN MANVINAT (8.12.1914), trận hải chiến giữa hạm đội Đức và hạm đội Anh gần vùng đảo Phooclen (Manvinat) ở tây nam Đại Tây Dương trong CTTG-I. Do không nắm được hạm đội Anh (9 tàu tuần dương, 56 pháo) đang đậu tại cảng để tiếp dầu, hạm đội Đức (5 tàu tuần dương, 28 pháo) tiến vào vùng đảo Manvinat, dự định tập kích cảng Itxtanlây. Trên đường rút ra bị hạm đội Anh tiến công, hầu hết hạm đội Đức bị đánh chìm, chỉ còn một tàu tuần dương hạng nhẹ chạy thoát. TM đã củng cố quyền bá chủ trên biển của Anh. Từ đây, Đức chuyển sang đẩy mạnh hoạt động của tàu ngầm. Cg trận Phooclen.

        TRẬN MẠO KHÊ MỎ (30.3.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 209 (Đại đoàn 312) và Liên đội sơn pháo 756 (Trung đoàn 675) vào đồn Mạo Khê Mỏ (thị trấn Mạo Khê, h. Đông Triều, t. Quăng Ninh), do 140 lính Pháp đóng giữ, trong đợt 1 chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23.3-7.4.1951). Dự kiến bắt dầu lúc 23 giờ ngày 29.3, nhưng do hành quân chiếm lĩnh trận địa chậm, đến 3 giờ 30 phút ngày 30.3 Trung đoàn 209 mới nổ súng; kết hợp hỏa lực pháo binh, cối và các mũi xung kích đột phá cửa mở, sau 40 phút chiến đấu chiếm được lô cốt đầu cầu rồi phát triển vào bên trong tiêu diệt địch. Số địch còn lại (khoảng 50 quân) dồn về cố thủ quyết liệt trong ngôi nhà ba tầng chờ tăng viện. Sau nhiều lần công kích không kết quả, bị máy bay, pháo binh địch bắn cản dữ đội, Trung đoàn 209 tạm rút ra ngoài tiếp tục bao vây, chờ đêm đánh tiếp. Chiều 30.3 Pháp đưa 1 tiểu đoàn Âu - Phi có xe tăng yểm trợ, từ Đông Triều tới ứng cứu. Nhân lúc bộ đội ta tập trung chặn viện, lực lượng địch cố thủ ở Mạo Khê Mỏ bỏ đồn chạy thoát.

        TRẬN MẠO KHÊ PHỐ (31.3.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 36 (Đại đoàn 308) vào đồn Mạo Khê Phố (thị trấn Mạo Khê, h. Đông Triều, t. Quảng Ninh) của quân Pháp, trong đợt 1 chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23.3- 7.4.1951). Trước trận đánh Pháp đột ngột tăng cường 1 tiểu đoàn Âu - Phi cho Mạo Khê Phố, đưa số quân ở đây từ 150 lên 700, bộ chỉ huy chiến dịch quyết định hoãn tiến công. Do mệnh lệnh không đến kịp, 1 giờ ngày 31.3 Trung đoàn 36 vẫn nổ súng theo kế hoạch. Do địch có quân đông, công sự vững chắc, được pháo binh từ Đông Triều và pháo hạm từ sông Đá Bạch hỗ trợ nên trận đánh không thành công. Trung đoàn chỉ tiêu hao được một số địch rồi lui quân.

        TRẬN MARATÔNG (13.9.490tcn), trận chiến đấu giữa quân Ba Tư và Hi Lạp trong cuộc chiến tranh Hi Lạp - Ba Tư (500-449tcn), trên cánh đồng làng Maratông, đông bắc Aten khoảng 40km. Quân Ba Tư có 72.000 (bộ binh 60.000. kị binh 12.000), quân Hi Lạp có 11.000. Sau khi tàn phá thành phố Erêtri trên đảo ơbê (đông Hi Lạp), quân Ba Tư đổ bộ gần Maratông, nhưng ngay sau đó, xét địa hình bất lợi, nhổ trại để tiến về cảng Pirê của Aten bằng đường biển. Đúng lúc một bộ phận quân Ba Tư lên tàu, quân Hi Lạp xông thẳng vào đối phương, gây cho quân Ba Tư thiệt hại nặng (Ba Tư mất 6.000 quân, 7 tàu bị bắt; Hi Lạp: 200 quân). Một binh sĩ được phái chạy về Aten báo tin chiến thắng đã gục chết khi tới nơi vì kiệt sức. Từ sự kiện này, tên gọi Maratông được đặt cho môn thi chạy đường dài trong phong trào Ôlempic hiện đại.

        TRẬN MARENGÔ (1800), trận phản công của quân Pháp (30.000 người) do Napôlêông I chỉ huy đánh quân Áo (40.000 người) do nam tước M.v. Melat chỉ huy tại khu vực làng Marengô ở Bắc Italia, tây nam tp Alêchxanđria, trong thời gian đầu chiến tranh Napôlêông (1799-1815), xảy ra giữa Pháp với liên minh chống Pháp thứ hai. 14.6 khi quân Pháp chưa kịp triển khai thì bị đánh bất ngờ, phải rút. Quân Áo truy kích chậm chạp, nên sau khi được tăng viện, quân Pháp đã tổ chức lại và phản công, đẩy lui đối phương về Marengô. Đến đêm kị binh Pháp xung trận diệt tan quân Áo. Phía Áo thiệt hại hơn 9.000 quân, Pháp gần 6.000. Sau TM, Napôlêông I chiếm được Bắc Italia. [/b][/color]
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #252 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:19:16 pm »


        TRẬN MĂNG ĐEN (27-28.1.1954), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 108 bộ đội chủ lực Liên khu 5 vào cứ điểm Măng Đen (đông bắc tx Kon Tum 50km, nay là thị trấn Kon Plông. h. Kon Plông, t. Kon Tum), trong đợt 1 chiến dịch Bắc Tây Nguyên (26.1-17.2.1954). Măng Đen là cứ điểm then chốt trong tuyến phòng thủ của Pháp ở bắc Tây Nguyên, được xây dựng kiên cố trên ngọn đồi hình yên ngựa, gồm hai khu cách nhau 800m: khu A (chính) cấu trúc hình tam giác, có 4 lô cốt bê tông, nối nhau bằng hệ thống hào, hầm ngầm, do 2 đại đội đóng giữ; khu B cấu trúc hình móng ngựa, có 3 lô cốt và hệ thống hào, công sự ngầm với khoảng 100-150, lúc cao lên tới 400 lính ứng chiến đóng giữ; giữa 2 khu có sân bay dã chiến, xung quanh là hàng rào thép gai dày 30-90m. 23 giờ 30 phút ngày 27.1, Trung đoàn 108 sử dụng 2 tiểu đoàn (19 và 79) chia hai hướng đồng loạt tiến công. Sau khi dùng hỏa lực chế áp và phá hủy công sự địch, các mũi xung kích cùng lúc mở cửa bằng bộc phá liên tục cho bộ đội xung phong. Trên hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 19 tiến công khu A gặp khó khăn tại cửa mở và rơi vào thế trận giằng co sau 3 đợt tiến công không đạt kết quả. Trong khi đó tại khu B, Tiểu đoàn 79 giành thắng lợi sau 6 giờ chiến đấu, đã kịp thời phát triển sang khu A, hỗ trợ Tiểu đoàn 19 đè bẹp sự kháng cự của địch; đến 7 giờ ngày 28.1 làm chủ toàn bộ cứ điểm. Kết quả diệt hơn 100 địch, bắt 2 đại đội. thu gần 300 súng. Trận then chốt mở màn hướng chính chiến dịch thắng lợi, cùng với các trận diệt cứ điểm Măng Bút và Kon Brây, đập tan cụm phòng ngự then chốt của quân Pháp ở bắc Tây Nguyên, tạo điều kiện cho lực lượng chiến dịch đẩy nhanh tốc độ tiến công, áp sát và uy hiếp tx Kon Tum.



        TRẬN MEXIN (7-15.6.1917), trận tiến công của quân Anh trong CTTG-I nhằm phá vỡ tuyến phòng ngự của quân Đức ở khu vực thành phố Mexin (tây bắc Bỉ ngày nay). 7.6 quân Anh cho nổ 19 khối mìn (mỗi khối 23t) được bí mật đặt trong địa đạo sâu 20-30m, phá hủy tuyến phòng ngự 1 và một phần tuyến 2 của Đức, rồi tiến công chính diện và cạnh sườn, bắt hơn 7.000 tù binh, thu nhiều vũ khí. 8.6 quân Đức tổ chức một số cuộc phản công, nhưng không kết quả, đến 15.6 phải rút khỏi Mexin. Trong TM. Đức mất 25.000 quân. Anh - 16.000. Quân Anh tạo được bất ngờ lớn về chiến thuật nên thắng lợi, cải thiện được thế trận.

        TRẬN MÊ PU (17.1.1965), trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 186 (Quân khu 6) và du kích địa phương chặn đánh QĐ Sài Gòn ở khu vực Mê Pu (h. Hoài Đức, nay là h. Tánh Linh. t. Bình Thuận). Sáng 17.1 địch huy động 1 đại đội bảo an, 4 trung đội dân vệ, 1 đoàn bình định thực hiện kế hoạch bình định, chiếm đóng Mê Pu; 6 giờ đến xóm Mừn Nhà, bị ta chặn đánh diệt một số. 10 giờ lợi dụng lúc địch sơ hở khi dừng lại, ta tổ chức lực lượng thành ba mũi, bí mật vận động tiếp cận, bất ngờ tiến công, sau 30 phút làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch (bắt 29), thu 93 súng các loại.

        TRẬN MĨ HẠNH (9.5.1968), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 6 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 9) được tăng cường 1 trung đội bộ đội địa phương, 5 súng máy phòng khòng 12,7mm. 2 ĐKZ 75mm, 3 cối 82mm, đánh cụm quân Mĩ ở cánh đồng xóm Giồng Lớn (xã Mĩ Hạnh, h. Đức Hoà, t. Long An), nhằm phá vành đai phòng ngự bảo vệ Sài Gòn của địch, hỗ trợ cho lực lượng chủ yếu của ta tiến công bén trong. Quân Mĩ ở Giồng Lớn gồm 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới (100 xe tăng, thiết giáp), phòng ngự trên khu vực dài 350m, rộng 250m, bố trí thành tùng cụm có công sự, hàng rào dây thép gai. 0 giờ 30 phút ta bắn pháo chuẩn bị 5 phút, sau đó bộ binh từ ba hướng đột phá, làm địch rối loạn. Sau 2 giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa. loại khỏi chiến đấu 300 dịch, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp, 12 cối 106,7mm. bắn rơi 7 máy bay trực thăng; 30 xe QS của địch chạy về Bà Quẹo (Sài Gòn) cũng bị du kích Mĩ Hạnh và Tiểu đoàn bộ binh 5 tiêu diệt. TMH là trận điển hình về tiêu diệt lớn lực lượng bộ binh cơ giới Mĩ, trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp và sát hậu cứ địch. Cg trận Giồng Lớn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #253 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:20:16 pm »


        TRẬN MINH THẠNH (10.8.1957), trận tập kích của LLVT miền Đông Nam Bộ vào thị trấn Minh Thạnh (Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương) do QĐ Sài Gòn chiếm giữ. Lực lượng ta gồm 21 tiểu đội của Thủ Dầu Một, Đại đội 20 Tây Ninh, Đại đội 60 miền Đông Nam Bộ, một số đơn vị Bình Xuyên đi theo CM, hoạt động dưới danh nghĩa LLVT Bình Xuyên. 9 giờ ngày 10.8, từ ba hướng ta bất ngờ tập kích diệt lực lượng cảnh sát, bảo vệ ở các trạm gác, tháp canh vòng ngoài rồi dột nhập thị trấn đánh các mục tiêu bén trong, sau một thời gian ngắn ta làm chủ thị trấn, thu nhiều vũ khí, lương thực, thuốc men. Trận đánh thắng lợi góp phần hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, xây dựng LLVT ở miền Đông Nam Bộ trong những năm đầu KCCM.

        TRẬN MỘC CHÂU (19.11.1952), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 174 (Đại đoàn 316) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 215 (Trung đoàn 98) vào cứ điểm Mộc Châu, một trong những vị trí tiền tiêu bảo vệ vòng ngoài nam Sơn La của Pháp, trong đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (14.10-10.12.1952). Cứ điếm được xây dựng trên núi dá hiểm trở, có hệ thống công sự vững chắc, hỏa lực mạnh, xung quanh có hàng rào thép gai xen kẽ bãi mìn, do 1 tiểu đoàn người Thái (sĩ quan Pháp chỉ huy) đóng giữ. 23 giờ 30 phút ngày 19.11 trung đoàn tổ chức tiến công từ ba hướng, dùng một mũi thọc sâu chiếm đỉnh núi, bất ngờ đánh từ trên xuống phối hợp với lực lượng từ dưới đánh lên. Sau ba giờ chiến đấu, ta làm chủ cứ điểm, diệt và bắt 350 địch, thu hơn 500 súng các loại (có 1 pháo 94mm), giải phóng hàng nghìn dân bị địch giam giữ. Thắng lợi của TMC góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ mạnh của địch ở cửa ngõ Tây Bắc. buộc Pháp phải rút quân khỏi nhiều vị trí ven Sông Đà và đường 41 về Nà Sản, tạo điều kiện cho chiến dịch Tây Bắc phát triển thuận lợi.

        TRẬN MỘC HẠ (28.3-12.4.1951), trận chống càn của 1 đại đội bộ đội địa phương tỉnh Sơn La, 1 trung đội bộ đội địa phương huyện Mộc Châu và dân quân du kích các xã Quang Minh, Mường Tè, Song Khủa, Quy Hương,... đánh 2 tiểu đoàn quân Pháp (khoảng 1.000 quân, phần lớn là lính dõng Lai Châu) càn quét khu căn cứ Mộc Hạ ở đông bắc h. Mộc Châu, t. Sơn La. 28.3 địch chia hai cánh, từ Mộc Li, Vạn Yên đánh vào căn cứ, hình thành thế bao vây Bó Bụt (nơi diễn ra đại hội đảng bộ tỉnh), nhằm tìm diệt cơ quan đầu não của ta. Lúc đầu ta bị động đối phó, từ 3.4 tổ chức sơ tán dân vào rừng, thực hiện "vườn không nhà trống”, đồng thời dùng lực lượng nhỏ tích cực bám đánh bàng các loại chông, mìn, cạm bẫy. gây cho địch nhiều thiệt hại và buộc chúng phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 100 địch, bảo vệ an toàn căn cứ và lực lượng ta. tạo điểu kiện thúc đấy chiến tranh du kích ở địa phương tiếp tục phát triển.

        TRẬN MỘC HÓA (16-18.9.1948), trận vây đồn diệt viện của Tiểu đoàn 307 và Trung đoàn 120 (bộ đội chủ lực Khu Cool, 1 trung đội bộ đội huyện Mộc Hóa cùng du kích địa phương, đánh quân Pháp tại Mộc Hóa (t. Tân An, nay thuộc t. Long An). Đêm 16 và ngày 17.9 ta tổ chức vây ép đồn Mộc Hóa và chặn đánh các toán quân địch ra thăm dò, đồng thời tập trung lực lượng phục kích chờ đánh viện binh trên lộ Côngpông Rồ và sông Vàm cỏ Tây. 15 giờ ngày 18.9 địch đưa 1 tiểu đoàn từ Xvay Riêng (Campuchia) theo lộ Côngpông Rồ đến ứng cứu, lọt vào trận địa phục kích. Ta đồng loạt nổ súng, bao vây, chia cắt tiêu diệt phần lớn quân địch. Kết quả sau 15 phút chiến đấu, ta diệt và bắt hơn 300 địch, thu hơn 300 súng (có 3 súng cối 60mm). TMH là chiến công đầu của Tiểu đoàn 307. đồng thời là trận đầu tiên vận dụng thành công cách đánh vây đồn diệt viện trên chiến trường Nam Bộ trong KCCP.

        TRẬN MÔÔNDUN (12-19.10.1917), trận hải quân Đức đổ bộ đánh chiếm quần đảo Môôndun (cg quần đảo Tây Extônia) của Nga ở vịnh Phần Lan (vịnh Riga) trong CTTG-I. Phía Đức có 300 tàu chiến (10 tàu tuần dương), trên 100 máy bay và 25.000 quân. Phía Nga có 116 tàu chiến, 30 máy bay và 12.000 quân. Với ưu thế lực lượng, quân Đức chiếm được các đảo, đổ bộ lên dược đất liền, nhưng không tiến được về phía Pêtrôgrat (nay là Xanh Pêtecbua).

        TRẬN MỤC DÃ (1057tcn), trận quyết chiến của Chu Vũ Vương diệt vua Trụ nhà Thương. Vua Trụ đứng đầu tập đoàn thống trị chủ nô Ấn Thương tàn bạo, bị liên minh các bộ tộc, đứng đầu là bộ tộc Chu chống lại. Nhân lúc quân chủ lực Ấn Thương đang viễn chinh, quân Chu nhanh chóng tiến đánh thủ đô Triều Ca bó trống; vua Trụ vội vã vũ trang cho nô lệ, nghênh chiến tại Mục Dã (nay ở Huyện Kì, Hà Nam, TQ). Trước trận đánh, Chu Vũ Vương cho đọc bản tuyên thệ (sử gọi là Mục Thệ), lên án vua Trụ, khích lệ quân sĩ và tuyên bố chính sách không giết tù binh. Quân Thương tan rã, vua Trụ tự thiêu chết, nhà Thương mất. Trận đánh nổi tiếng thời cổ bằng chiến xa, kết hợp QS với chính trị, tâm lí, làm tan rã hàng ngũ địch, có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển tư tưởng QS cổ đại TQ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #254 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:21:11 pm »


        TRẬN MƯỜNG SẠI (16-20.11.1952), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 564 (Trung đoàn 165, Đại đoàn 312), đánh đồn Mường Sại (h. Quỳnh Nhãi, t. Sơn La) do 1 tiểu đoàn ngụy Thái của Pháp đóng giữ, trong đợt 2 chiến dịch Tây Bắc (14.10- 10.12.1952). Sau khi đuổi địch rút chạy khỏi Pác Ôn, Tà Giàng về Mường Sại. 16.10 ta triển khai lực lượng áp sát, bao vây, kết hợp tập kích hỏa lực chuẩn bị tiến công. 16 giờ ngày 20.11 phát hiện địch bỏ đồn rút chạy về Mường Piềng, ta tổ chức truy kích trên quãng đường gần 10 km, kết hợp tiến công với gọi hàng, đến 22 giờ diệt và bắt phần lớn quân địch (diệt 28, bắt 348). Trận đánh góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của mũi vu hồi chiến dịch (Mặt trận Y13), phá vỡ tuyến phòng thủ mới củng cố của địch dọc tuyến Sông Đà. cắt đứt liên lạc và cô lập địch ở Sơn La, buộc chúng phải rút về Nà Sản.

        TRẬN NÀ NGẦN (26.12.1944), trận đánh thứ hai của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào đồn Nà Ngần (xã Cẩm Lí, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, h. Nguyên Bình, t. Cao Bằng), nhằm tiếp tục gây hoang mang tinh thần binh lính Pháp sau trận Phai Khắt (25.12.1944). Đồn do 22 lính khố đỏ đóng trong nhà của phó lí Páo từ đầu 1944, xung quanh có giao thông hào và hàng rào tre bảo vệ. Trận đánh diễn ra 5 phút (7 giờ 14 phút - 7 giờ 19 phút), bằng cách cải trang thành toán lính tuần tra bắt được “cộng sản” giải lên quan đồn. Khi tiếp xúc, phát hiện địch có biểu hiện nghi ngờ, ta chủ động nổ súng diệt và bắt toàn bộ quân địch, thu 17 súng các loại. TNN tiêu biểu sự khôn khéo, mau lẹ, kết hợp mưu và lực của bộ đội VN trong chiến đấu.

        TRẬN NAM ĐỊNH (28.4.1953), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 46 (chủ lực Liên khu 3) phối hợp với LLVT địa phương, đánh tiểu đoàn huấn luyện tân binh của Pháp (hơn 1.000 quân do sĩ quan Pháp huấn luyện, chỉ huy) đóng tại tp Nam Định. 18 giờ ngày 28.4 ta bí mật chiếm lĩnh trận địa xung quanh vị trí địch, được lực lượng nội ứng giúp sức đưa một bộ phận vào bên trong án ngữ những nơi xung yếu, nửa đêm đồng loạt nổ súng, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào, diệt gọn tiểu đoàn địch (diệt, bắt và gọi hàng hơn 700), thu 700 súng các loại. Là trận tập kích táo bạo vào thành phố vùng dịch tạm chiếm giành thắng lợi lớn, buộc địch phải điều lực lượng cơ động từ Ninh Bình về phòng giữ.

        TRẬN NAM SA MÁT (7.10.1971), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 209, Sư đoàn 7) đánh 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 (Chiến đoàn 50) QĐ Sài Gòn đi giải tỏa trên đường 22, đoạn Sa Mát - Thiện Ngôn (t. Tây Ninh). Tiểu đoàn được tăng cường 1 đại đội ĐKZ, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không, tổ chức trận địa phục kích theo thế chân kiềng (có thể đánh địch từ mọi hướng) trong các cánh rừng ven đường 22, phía nam Sa Mát 2km. Sau gần nửa tháng kiên trì chờ đợi, 9 giờ ngày 7.10 đại đội địch từ Sa Mát xuống lọt vào trận địa phục kích; ta bất ngờ nổ súng chặn đầu rồi xung phong, sau 15 phút chiến đấu diệt gọn quân địch. 9 giờ 30 phút địch cho 1 đại đội khác đến ứng cứu, bị pháo ta bắn chận diệt một số, số còn lại rút chạy. Trận đánh thắng lợi, diệt và bắt 90 địch, bắn cháy 2 máy bay, thu 30 súng; góp phần vào thắng lợi chung của đợt hoạt động tiến công địch trên tuyến phòng thủ đường 22.

        TRẬN NAM THANH GIÁO (20-24.12.1972), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 48 (Sư đoàn 320) diệt Tiểu đoàn 22 (Liên đoàn biệt động quân 2) QĐ Sài Gòn ở khu vực phía nam Thanh Giáo 10km (nay thuộc xã la Lang, h. Đức Cơ, t. Gia Lai). 17.12 địch dùng máy bay trực thăng đổ 2 tiểu đoàn biệt động quân (11 và 22) xuống nam Thanh Giáo nhằm bất ngờ luồn sâu đánh phá hậu phương ta. Đêm 19.12 trung đoàn triển khai trận địa, tổ chức lực lượng chốt chặn, bao vây (lúc này Tiếu đoàn 11 của địch đã kịp rút về Thanh Giáo), chiều 20.12 nổ súng diệt một bộ phận quân địch. Tiếp đó, trong các ngày 21-24.12 liên tục cơ động, bám sát và tiến công địch, kết hợp bắn máy bay, không cho địch dùng trực thăng bốc quân rút chạy. Kết quả loại khỏi chiến đấu Tiểu đoàn 22 (diệt và bắt hơn 300 địch), bắn rơi 7 máy bay, thu 115 súng, góp phần đánh bại âm mưu của địch, bảo vệ an toàn hậu phương của ta ở tây Gia Lai.

        TRẬN NẬM THON (28.10.1972), trận tập kích của Đại đội đặc công 3 (Tiểu đoàn 31, Quân khu 4) vào căn cứ SCH tiểu đoàn địa phương quân (BV43) QĐ phái hữu Lào tại khu vực Nậm Thon (bắc tx Thà Khẹt 12km, thuộc h. Hiên Bun, t. Khăm Muộn, Lào). Căn cứ do 1 đại đội bộ binh và 1 đại đội hỏa lực bảo vệ, có hệ thống hàng rào vật cản, lô cốt gỗ, đất, nằm sâu trong hậu phương địch. Tối 27.10 ta tổ chức lực lượng thành nhiều mũi, bí mật cắt rào tiềm nhập, 0 giờ 15 phút ngày 28.10 nổ súng. Sau 25 phút chiến đấu, ta làm chủ căn cứ, diệt và bắt gần 100 địch, phá hủy 4 xe QS và 2 kho, thu 173 súng và nhiều phương tiện QS. TNT thắng lợi góp phần mở rộng vùng giải phóng, tạo thuận lợi cho hoạt động tác chiến của ta ở khu vực Noọng Leng, đường 7 và đường 12.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #255 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:22:17 pm »


        TRẬN NÉM BOM DINH ĐỘC LẬP (8.4.1975), trận tập kích đường không vào dinh Độc Lập (dinh tổng thống chính quyền Sài Gòn, nay thuộc q. 1, tp Hồ Chí Minh), do Nguyễn Thành Trung (chiến sĩ CM hoạt động bí mật trong lực lượng không quân QĐ Sài Gòn) tiến hành, trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Lợi dụng nhiệm vụ được giao, Nguyễn Thành Trung lái máy bay chiến đấu F-5E cất cánh từ căn cứ không quân Biên Hòa bất ngờ ném 2 quả bom xuống dinh Độc Lập rồi hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long trong vùng giải phóng. Trận đánh gây chấn động lớn, làm tăng thêm sự hoảng loạn của chính quyền và QĐ Sài Gòn.

        TRẬN NÉM BOM SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT (28.4.1975), trận tập kích đường không của Phi đội Quyết Thắng vào Tân Sơn Nhất (nay thuộc q. Tân Bình, tp Hồ Chí Minh) trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Lúc 16 giờ 25 phút, biên đội cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang), vượt qua mạng lưới cảnh giới của địch, ném bom trúng khu vực đỗ máy bay, phá hủy 24 chiếc, diệt hàng trăm sĩ quan, nhân viên kĩ thuật QĐ Sài Gòn, rồi trở vê sân bay Thành Sơn an toàn. Trận đánh bất ngờ, làm tê liệt cầu hàng không di tản của địch, góp phần làm suy sụp tinh thần và thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của chính quyền và QĐ Sài Gòn.

        TRẬN NGÃ BA ĐƯỜNG 15 (29.4.1975), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 9 (Sư đoàn 304, Quân đoàn 2) được tăng cường 10 xe tăng và hỏa lực pháo binh, đánh chiếm khu vực ngã ba đường 15 (cách căn cứ Nước Trong 9km, thuộc h. Long Thành, t. Long Khánh, nay thuộc t. Đồng Nai), do Tiêu đoàn thủy quân lục chiến 1 (Lữ đoàn 468), 4 tiểu đoàn bộ binh (8, 16, 21, 82) và 2 chi đoàn thiết giáp (20, 22) QĐ Sài Gòn chốt giữ, trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Tại đây sau khi căn cứ Nước Trong bị tiêu diệt, địch cấp tốc tổ chức các tuyến phòng ngự lâm thời, lấy xe tăng và pháo binh làm lực lượng chủ yếu để ngăn chặn, phản kích. Trận đánh bắt đầu lúc 5 giờ 15 phút; sau gần 1 giờ pháo bắn chuẩn bị, bộ binh và xe tăng ta đồng loạt tiến công từ hai hướng, kết hợp đột phá chính diện và đánh vu hồi, nhanh chóng thọc sâu, chia cắt tiêu diệt địch, đến 10 giờ làm chủ trận địa. Kết quả diệt và bắt hơn 500 địch, bắn cháy 19 xe tăng và xe bọc thép, góp phần cắt đứt giao thông, phá vỡ tuyến phòng ngự của địch ở đông bắc Sài Gòn, tạo bàn đạp thuận lợi cho hướng tiến công của Quân đoàn 2 vào giải phóng Sài Gòn.

        TRẬN NGÃ BA TÂN THÀNH (18.2.1967), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 261 (Quân khu Cool, 2 đại đội của Tiểu đoàn 516 (t. Bến Tre) và đại đội địa phương huyện Mỏ Cày, đánh Tiểu đoàn biệt động quân 41 đóng tại hậu cứ của Trung đoàn bộ binh 10 QĐ Sài Gòn ở ngã ba Tân Thành (xã Sơn Đông, tây bắc tx Bẽn Tre 3,5km). Đêm 17.2 ta bí mật tiếp cận, triển khai đội hình chiến đấu; 2 giờ 35 phút ngày 18 tập kích hỏa lực vào sân bay, các mục tiêu trong hậu cứ, đồng thời tổ chức lực lượng nhanh chóng thọc sâu vào vị trí đóng quân của Tiểu đoàn biệt động quân 41, sau 50 phút chiến đấu diệt 360 địch, phá hủy 4 máy bay, 7 xe QS, 1 kho xãng, 1 kho đạn, thu 90 súng.

        TRẬN NGÃ HAI (18.9.1952), trận tập kích của 1 trung đội đặc công, 1 đại đội xung kích và 1 trung đội bộ đội địa phương tỉnh Bình Thuận vào cứ điểm Ngã Hai (nam tx Phan Thiết 7km), do 1 đại đội tăng cường của Pháp đóng giữ. Cứ điểm được xây dựng kiên cố theo hình tam giác, gồm khu nhà lính ở giữa và hệ thống lô cốt bảo vệ (10 chiếc), xung quanh có 3 lớp rào thép gai, tường cao, hào sâu cắm đầy chông và thả vịt, ngỗng để báo động. 2 giờ ngày 18.9 trận đánh bắt đầu. Trung đội đặc công hình thành 4 mũi, bí mật luồn sâu, ém sát, bất ngờ dùng bộc phá đánh sập các lô cốt, diệt các ụ súng, nhà lính, tạo điều kiện cho đại đội xung kích vào đánh chiếm các mục tiêu bắt tù binh, thu vũ khí. Cùng lúc, lực lượng chặn viện diệt các tháp canh ở cầu 40 và trong khu tập trung dãn. Kết quả sau 20 phút chiến đấu. ta làm chủ trận địa. diệt và bát hơn 120 quân Pháp, giải phóng hơn 1.000 dân khỏi khu tập trung của địch. TNH là chiến thăng đầu tiên bằng cách đánh đặc công của LLVT Bình Thuận, góp phần đánh bại chiến thuật phòng ngự bằng cứ điểm và tháp canh của địch ở chiến trường cực Nam Trung Bộ trong KCCP. 18.9.1952 trở thành ngày truyền thống của bộ đội đặc công Bình Thuận.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #256 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:23:17 pm »


        TRẬN NGÃ SÁU (11.3.1975). trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 24 (Quân khu Cool vào cứ điểm Ngã Sáu (xã Mĩ Trung, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang), mở đầu đợt tiến công của LLVT Quân khu 8 trong tổng tiến công và nổi dậv Xuân 1975. Là vị trí then chốt trên tuyến phòng thủ bắc đường 4 (nay là QL1) của QĐ Sài Gòn, cứ điểm có 11 lô cốt, hệ thống công sự, hàng rào, vật cản dày đặc, do 1 tiểu đoàn bảo an, 1 trung đội thám báo, 1 trung đội pháo binh đóng giữ. Đêm 10.3 ta vượt kênh 28 vào chiếm lĩnh trận địa, bí mật cắt rào, tạo cửa mở; 5 giờ ngày 11.3 dùng bộc phá đánh sập các lô cốt đầu cầu rồi từ hai hướng phát triển vào bên trong. Địch dùng máy bay trục thăng đổ 1 tiểu đoàn xuống phía đông cứ điểm 1 km để ứng cứu, bị ta chặn đánh. Cuộc chiến đấu trong cứ điểm diễn ra giằng co. đến 17 giờ mới kết thúc. Kết quả ta loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch (bắt 3), thu 60 súng, phá hủy 2 pháo 105mm, 4t đạn... TNS thắng lợi góp phần làm lung lay hệ thống phòng thủ của địch, tạo điều kiện cho LLVT và nhân dân các huyện Cái Bè, Cai Lậy,... nổi dậy phá đồn bốt, mở mảng, mở vùng thuận lợi.

        TRẬN NGHĨA LÔ (3-4.10.1951), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 141 (Đại đoàn 312) vào cứ điểm Nghĩa Lộ (nay thuộc thị xã Nghĩa Lộ, t. Yên Bái), vị trí quan trọng nhất của phân khu Nghĩa Lộ, do 350 lính Pháp đóng giữ, trong chiến dịch Lí Thường Kiệt (29.9-10.10.1951). Theo kế hoạch, trung đoàn dự định tiến công lúc 22 giờ ngày 2.10, nhưng do chủ quan, tổ chức hành quân chiếm lĩnh trận địa thiếu chặt chẽ, đến 3 giờ ngày 3.10 mới nổ súng. Phát hiện ý định tác chiến của ta, quân Pháp dựa vào công sự vững chắc và hỏa lực mạnh tổ chức chống trả quyết liệt. Đêm 3.10 trung đoàn tổ chức tiến công lần hai. nhưng lại mắc sai lầm như trước, đến 2 giờ 30 phút ngày 4.10 mới nổ súng. Trong khi đó địch được bổ sung thêm 2 đại đội và tăng cường phòng thủ, có ưu thể hơn. Trận đánh không thành công, loại khỏi chiến đấu 169 địch, nhưng ta cũng bị thương vong lớn, phải lui quân.

        TRẬN NGỌC HỔI - ĐẤM MỰC (30.1.1789). trận tiến công trên hướng chủ yếu của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, diệt quân Thanh (TQ) ở đồn Ngọc Hồi (nay thuộc Thường Tín, Hà Tây), trong kháng chiến chống Thanh (1788- 89). Sau khi đồn Hà Hồi bị hạ (x. trận Hà Hồi. 28.1.1789), đồn Ngọc Hồi do Hứa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long chỉ huy được tăng cường, gồm khoảng 30.000 quân tinh nhuệ, hỏa lực mạnh, ngoài lũy đất có hàng rào chông sắt, địa lôi, là cứ điểm then chốt chặn quân Tây Sơn, bảo vệ nam Thăng Long. Sáng 29.1 (mồng 4 Tết), quân Tây Sơn triển khai xong lực lượng gồm hai bộ phận: bộ phận chính do Nguyễn Huệ chỉ huy, tập kết tại cánh đồng Cung ở phía nam Hà Hồi; bộ phận phối hợp do đô đốc Bảo chỉ huy, tập kết ở Đại Áng, bố trí mai phục tại cánh đồng gần Đầm Mực (nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội). Trong ngày 29.1, Nguyễn Huệ chỉ dùng những toán nhỏ đánh khiêu khích vùng ngoại vi Ngọc Hồi, gây tâm lí căng thẳng cho quân Thanh và tạo yếu tố bất ngờ cho cánh quân đô đốc Long trên hướng thứ yếu đánh đồn Đống Đa (x. trận Đống Đa - Thăng Long, 30.1.1789). Mờ sáng 30.1, từ hướng nam, quân Tây Sơn bắt dầu tiến công: mở đầu, đội tượng binh (hơn 100 voi chiến) đánh tan phản kích của kị binh Hứa Thế Hanh rồi vòng sang tiến công ở hai hướng tà, hữu, dùng đại bác, hỏa hổ bắn phá thành lũy, đốt cháy doanh trại địch; tiếp đến, đội cảm tử (khoảng 600 quân, chia thành 20 toán), trang bị đoản đao, ván gỗ quấn rơm ướt chống hỏa lực, tiến thành hàng ngang, áp sát chiến luỹ, tạo điều kiện cho đại quân do Nguyễn Huệ đốc chiến ập vào giáp chiến. Quân Thanh không chống nổi, bỏ đồn chạy, chết và bị thương quá nửa. Hứa Thế Hanh và Thượng Duy Thăng bị giết. Tàn quân do Trương Triều Long chỉ huy định rút về Thăng Long theo đường để Yên Ninh, nhưng Nguyễn Huệ đã bố trí sẵn lực lượng nghi binh, chặn đường, dồn địch vào trận địa phục kích ở Đầm Mực để cho quân đô đốc Bảo diệt gọn. Quân Tây Sơn thừa thắng đánh chiếm đồn Văn Điển (nay thuộc Thanh Trì. Hà Nội), mở thông đường vào giải phóng Thăng Long. Chi trong ngày mồng 5 Tết Kỉ Dậu, quân Tây Sơn đã tiêu diệt toàn bộ quân Thanh ở đồn Ngọc Hồi. Là trận quyết chiến chiến lược thể hiện quyết tâm đánh tiêu diệt và nghệ thuật tổ chức lực lượng, nhất là dùng voi chiến công đổn của Nguyễn Huệ.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #257 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:27:18 pm »


        TRẬN NGỌC RINH RUA (31.3.1971), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 66, Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường Đại đội đặc công 19 và một bộ phận Trung đoàn pháo binh 40 vào cứ điểm Ngọc Rinh Rua (điểm cao 1001), ở tây nam Đắc Tô (nay thuộc xã Đắc Xú, h. Ngọc Hồi, t. Kon Tum) do Tiểu đoàn bộ binh 4 (thiếu) thuộc Trung đoàn 42, 1 đại đội bảo an, 1 đại đội pháo binh (thiếu) QĐ Sài Gòn đóng giữ, trong chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Quang Trung 4 (27.2-16.4.1971). Đêm 30.3 các đơn vị triển khai chiếm lĩnh trận địa trên 3 hướng, 5 giờ ngày 31.3 nổ súng tiến công. Do địch có lợi thế hỏa lực máy bay, pháo binh, dựa vào hệ thống vật cản, công sự vững chắc, co cụm chống cự quyết liệt, trận đánh kéo dài đến 16 giờ ta mới làm chủ cứ điếm. Kết quả diệt và bắt hơn 100 địch, thu 95 súng các loại (có 4 pháo 105mm), bắn cháy 5 máy bay trực thăng. Thắng lợi TNRR chứng minh khả năng tiến công ban ngày và liên tục của QGP Tây Nguyên vào cứ điểm địch có công sự vững chắc.

        TRẬN NGỌC TA VÁT (10.5.1968), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 40 (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2) và 1 đại đội đặc công vào cứ điểm Ngọc Ta Vát (xã Phước Năng, h. Phước Sơn, t. Quảng Nam), do 1 đại đội và 1 trung đội biệt động quân, 1 trung đội pháo binh QĐ Sài Gòn đóng giữ. Cứ điểm được xây dựng trên đồi cao 540m, có lô cốt, công sự kiên cố, hàng rào thép gai bảo vệ, là vị trí án ngữ phía tây nam chi khu Khâm Đức. Đêm 9 rạng 10.5 lực lượng đặc công dẫn bộ binh vào tiềm nhập định tập kích bí mật nhưng bị lộ, phải chuyển sang cường tập, gần sáng chiếm được một phần cứ điểm. 8 giờ 30 phút địch cho máy bay trực thăng đổ quân cứu viện; ta dùng hỏa lực chặn đánh kịp thời, bắn cháy 2 máy bay, sau đó tiếp tục tiến công buộc địch phải rút chạy khỏi cứ điểm. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 200 địch, bắn cháy 2 máy bay trực thăng, thu nhiều vũ khí (có 2 pháo 105mm), tạo điều kiện phát triển tiến công giải phóng vùng Khâm Đức.

        TRẬN NGỌC TÔ BA (3-4.3.1971), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 66 (Mặt trận Tây Nguyên) đánh Trung đoàn bộ binh 42 và Liên đoàn biệt động quân 2 QĐ Sài Gòn ở khu vực Ngọc Tô Ba (nay thuộc xã Sa Loong, h. Ngọc Hồi, t. Kon Tum), trong chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Quang Trung 4 (27.2-16.4.1971). Sau khi tiêu diệt địch ở điểm cao 935, từ 3.3 Trung đoàn 66 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 28) và 1 tiểu đoàn hỏa lực cối, ĐKZ chuyển sang bao vây, tiến công lực lượng chủ yếu của địch ở Ngọc Tô Ba. Sau 2 ngày chiến đấu quyết liệt, ta đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 42) và Tiểu đoàn biệt động quân 22 (Liên đoàn 2), diệt và bắt hơn 400 địch, bắn rơi 4 máy bay, thu hàng trăm súng các loại. Trận then chốt chiến dịch thắng lợi, góp phần bảo vệ căn cứ và hành lang chiến lược của ta ở Tây Nguyên, buộc QĐ Sài Gòn phải rút lực lượng về phòng ngự trên tuyến Plây Cần - Đắc Mốt - Tân Cảnh.

        TRẬN NGŨ GIÁP (14.7.1966), trận tập kích của du kích xã Điện Thắng (h. Điện Bàn, t. Quảng Nam) được tăng cường 2 tiểu đội bộ đội huyện và sự phối hợp của du kích các xã Điện An, Thanh Trung, đánh đồn Ngũ Giáp do Đại đội bảo an 466 QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đồn nằm ở trung tâm xã, án ngữ hai bên QL 1, được xây dựng kiên cố và bảo vệ cẩn mật, trang bị hỏa lực mạnh. 12 giờ ngày 14.7 du kích xã Điện Thắng (24 người chia 4 mũi) hóa trang đột nhập đồn, diệt lính gác và nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu bên trong; cùng lúc bộ đội huyện bí mật tiếp cận diệt lô cốt phía nam, dùng hỏa lực khống chế địch, kịp thời hỗ trợ du kích diệt đồn. Địch ở các đồn xung quanh đến ứng cứu bị du kích các xã Điện An, Thanh Trung và lực lượng chính trị quần chúng đấu tranh, ngăn chặn. Sau 35 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, diệt và bắt 58 địch, thu và phá hủy 12 súng các loại. Là trận đánh phối hợp nhiều lực lượng, được chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ, kết hợp tiến công QS với đấu tranh chính trị, tạo sức mạnh tổng hợp đạt hiệu quả cao.

        TRẬN NGỤY DIỆT THỤC (263), trận đánh nổi tiếng bằng kì binh thời cổ TQ. do tướng Ngụy là Đặng Ngải bất ngờ đánh thẳng vào kinh đô Thục. Tháng 8, quân Ngụy chia làm ba đường đánh Thục. Cánh quân chủ lực do Chung Hội chỉ huy bị ngăn lại ở Kiếm Các. không tiến được. Đặng Ngải dẫn một cánh quân nhỏ vượt đường núi 700 dặm không có dấu chân người, dục núi mở đường, lấp suối bắc cầu, vòng qua Kiếm Các đến thẳng Thành Đô (kinh đô Thục). Không có quân bảo vệ, triều đình Thục phải hàng. Nước Thục mất.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #258 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:40:00 pm »


        TRẬN NGUYÊN CHIẾM LÂM AN (1275-76), trận quyết chiến chiến lược của quân Nguyên do thừa tướng Nguyễn Bá Nhan chỉ huy đánh vào Lâm An (Hàng Châu) thủ đô của Nam Tống (TQ). Sau khi mở thông Trường Giang, 20 vạn quân Nguyên theo hai đường thủy bộ đánh xuống Lâm An. 2.1275 chỉ trong một trận, 13 vạn quân Tống do thừa tướng Giả Tự Đao chỉ huy bị đánh tan. Từ 3.1275 các thành phố quan trọng khác như Kiến Khang (Nam Kinh), Trấn Giang, Thường Châu (thuộc Giang Tô), Bình Giang (Tô Châu). Quảng Đức (thuộc An Huy) lần lượt bị chiếm. Nam Tống xin hòa, bị cự tuyệt, phải dốc toàn lực chống cự. 7.1275, thủy quân Tống do danh tướng Trương Thế Kiệt chỉ huy bị quân Nguyên giáp kích, bắt hơn 1 vạn quân và 700 thuyển. 11.1275 quân Nguyên chia ba đường tiến xuống Lâm An, liên tục đánh thắng quân Tống. Triều Tống xin làm thuộc quốc, không được chấp nhận, phải xin hàng. 3.1276 quân Nguyên vào Lâm An, bắt Tạ thái hậu và vua Tống Cung Đế Triệu Hiển đưa về Bắc. Các tướng Tống đem hai con nhỏ của vua Tống chạy xuống Quảng Đông, đến 7.1279 bị quân Nguyên diệt nốt.

        TRẬN NHÀ BÈ (3.12.1973), trận tập kích của Đội đặc công 5 (Đoàn 10 Rừng Sác, Quân khu Sài Gòn - Gia Định) vào kho xăng dầu tại cảng Nhà Bè (đông nam Sài Gòn 12km, nay thuộc q. Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh). Kho được xây dựng trên địa hình bốn mặt đều có sông lạch, sình lầy; xung quanh có hệ thống vật cản dày đặc và các lô cốt bảo vệ. Sau 14 lần trinh sát và chuẩn bị chu đáo, đêm 2 rạng 3.12, Đội đặc công 5 sử dụng 8 chiến sĩ (chia 2 tổ) bí mật luồn lách từ nhiều hướng vượt qua hệ thống bảo vệ của địch, đột nhập đặt mìn hẹn giờ vào các bồn xăng và khí cháy (butan)...; 2 giờ 15 phút ngày 3.12 mìn nổ, gây cháy nổ 8 ngày đêm. Kết quả phá hủy toàn bộ kho xăng dầu. đốt cháy 140 triệu lít xăng dầu, 12 bồn khí cháy. 1 tàu chở dầu trọng tải 12.000t. 1 cơ sở lọc dầu. 1 kho lương thực. 1 khu nhà lính... Trận đánh đạt hiệu suất cao. gây khó khăn lớn cho địch trong việc cung cấp xăng dầu tại tp Sài Gòn.

        TRẬN NHÀ ĐỎ - BÔNG TRANG (24.2.1966), trận tập kích của Sư đoàn bộ binh 9 QGPMN VN vào cụm quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 1 (gồm 2 tiểu đoàn bộ binh. 2 chi đoàn thiết giáp và SCH Lữ đoàn bộ binh 1), đóng quân dã ngoại ở khu vực phía tây Sở cao su Nhà Đỏ và dọc suối Bông Trang (nay thuộc xã Tân Bình. h. Tân Uyên, t. Bình Dương). 1 giờ 20 phút trận đánh bắt đầu bằng đợt hỏa lực dồn dập vào đội hình địch trong 7 phút, tạo điều kiện cho bộ binh từ hai hướng (đông bắc và tây nam) đồng loạt tiến công, thọc sâu, chia cắt diệt từng bộ phận địch. Địch co cụm, dựa vào xe tăng chống trả quyết liệt chờ trời sáng; ta đưa lực lượng dự bị vào tiếp tục đột phá. đến 4 giờ 45 phút kết thúc trận đánh. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 1.000 địch, phá hủy 72 xe tăng và xe bọc thép. Trận đánh đạt hiệu quả cao, góp phần làm thất bại cuộc hành quân Đá Lăn (15.2-5.3.1966) trong cuộc phản công chiến lược lần 1 (mùa khô 1965-66) của Mĩ ở miền Đông Nam Bộ.

        TRẬN NHÀ THƯƠNG VỌNG (15.1.1947), trận phòng ngự của Đại đội 68 (Tiểu đoàn 64) và 3 trung đội tự vệ Hà Nội, chặn đánh quân Pháp ở khu vực Nhà thương Vọng (nay là Bệnh viện Bạch Mai) trong đợt tác chiến Hà Nội 119.12.1946-18.2.1947). Sáng 15.1 Pháp huy động khoảng 300 quân có xe tăng, thiết giáp dẫn đầu từ hướng Kim Liên tiến đánh Nhà thương Vọng. Ta chặn đánh quyết liệt, dùng bom ba càng phá xe tăng, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, đến chiều tối thoát vòng vây ra ngoài. Kết quả diệt khoảng 100 địch, bắn cháy 2 xe tăng, 3 xe vận tải QS nhưng lực lượng ta cũng bị tổn thất, không thực hiện đúng phương châm bảo toàn lực lượng để đánh lâu dài thời kì đầu KCCP.

        TRẬN NHÀ XANH (7.7.1959), trận tập kích đầu tiên tiêu diệt cố vấn Mĩ tại câu lạc bộ sĩ quan Mĩ ở Nhà Xanh (nay thuộc tp Biên Hoà, t. Đồng Nai), do Đội đặc công C250 miền Đông Nam Bộ tiến hành. Được sự hỗ trợ của lực lượng tự vệ mật thị xã Biên Hoà, 19 giờ 15 phút Đội đặc công C250 sử dụng 6 chiến sĩ cải trang, bí mật đột nhập diệt lính gác và các cố vấn Mĩ đang xem phim trong câu lạc bộ. Kết quả sau 15 phút chiến đấu ta diệt và làm bị thương 6 địch, trong đó có 2 cố vấn Mĩ chết là Đalơ Bơvit và Chextơ Môtman được ghi đầu tiên trong danh sách lính Mĩ chết và mất tích tại đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam đặt ở thủ đô Oasinhtơn (Mĩ).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #259 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:40:49 pm »


        TRẬN NHÀ XÔ VA (6.2.1947), trận phòng ngự của Đại đội 14 (Tiểu đoàn 103, Trung đoàn Thủ Đô) và công nhân tự vệ Hà Nội, chặn đánh quân Pháp tại khu vực trụ sở Công ti vận tải  thủy Xôva (nay là trường Nguyễn Huệ, phố Trần Quang Khải, Hà Nội) trong đợt tác chiến Hà Nội (19.12.1946- 18.2.1947). Sáng 6.2 Pháp huy động 1 đại đội lê dương có xe tăng, xe bọc thép dần đầu tiến công nhà Xôva. Trong gần 2 giờ chiến đấu. ta đẩy lui 3 đợt xung phong của địch, nhưng bị dịch chiếm tầng một, phải rút lên tầng hai cố thủ; sau đó được 1 trung đội cảm tử quân đến hỗ trợ phản kích, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào, ta chiếm lại nhà Xôva, truy kích địch rút chạy. Kết quả loại khỏi chiến đấu 40 địch, đốt cháy 1 xe tăng và 1 xe bọc thép, góp phần giữ vững đầu mối giao thông quan trọng nối Liên khu 1 với hậu phương trong những ngày đầu KCCP ở thủ đô Hà Nội.

        TRẬN NHẠC NGHỊ ĐÁNH TỀ (284tcn), trận tiến công quy mô lớn của liên quân 5 nước dưới sự chỉ huy của Nhạc Nghị (tướng Yên) đánh chiếm nước Tề cuối thời Chiến Quốc (TQ). Để báo thù việc năm 314tcn Tề đánh chiếm thủ đô nước Yên, năm 284tcn Yên dùng mưu đấy Tề tranh chấp với các nước Tống, Tần rồi liên kết với 4 nước Tần, Hàn, Triệu, Ngụy đánh Tể. Tề đem toàn bộ chủ lực ra đón đánh, bị diệt ngay trong trận đầu. Nhạc Nghị cho quân các nước dừng lại, dùng quân Yên tiến chiếm thủ đô Tề, rồi chia quân nhanh chóng đánh chiếm tiếp hơn 70 thành. Nước Tề chỉ còn lại hai thành: Cử và Tức Mặc. Trận đánh để lại bài học quý trong lịch sử về việc dùng binh biết giành thắng lợi bằng phương lược liên kết với nhiều nước và tiến công nhanh, liên tục của Yên và thất bại của Tề do đem chủ lực quyết chiến quá sớm (xt trận Tức Mặc, 279tcn).

        TRẬN NHAN BlỀU (2-3.11.1972), trận phòng ngự của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 18, Sư đoàn 325), đánh Tiểu đoàn 6 (Lữ đoàn thủy quân lục chiến 369) QĐ Sài Gòn tiến công, lấn chiếm khu vực Nhan Biều ở bắc sông Thạch Hãn (h. Triệu Phong, t. Quảng Trị) trong đợt 2 chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28.6.1972-31.1.1973). Rạng sáng 2.11 dịch bí mặt vượt sông Thạch Hãn định bất ngờ đánh chiếm Nhan Biều, tạo bàn đạp chiếm lại các huyện phía bắc Quảng Trị, khôi phục phòng tuyến đường 9. Tiểu đoàn kịp thời phát hiện, tổ chức chặn đánh quyết liệt, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa; từ chiều 2.11 đến sáng 3.11. được xe tăng và pháo binh chi viện, tiến hành phản kích, đánh địch co cụm. Kết quả diệt 2 đại đội, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội khác, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ trên hướng phòng ngự chủ yếu của trung đoàn, làm thất bại âm mưu lấn chiếm của địch, đồng thời rút được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ huy , cách đánh trong tác chiến phòng ngự đạt hiệu quả cao.

        TRẬN NHÂN LANG (8.4.1951), trận tập kích của Tiểu đoản 38 bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình đánh đồn Nhân Lang (xã Tân Tiến, h. Hưng Hà, t. Thái Bình). Đồn nằm trong hệ thống phòng ngự nam Sông Luộc của quân Pháp, được xây dựng và bảo vệ khá vững chắc (có hệ thống lô cốt, ụ súng, giao thông hào, 3 lớp rào tre), do 1 trung đội đóng giữ. Được sự phối hợp của bộ đội huyện, du kích và nhân dân xã, tiểu đoàn đã điều tra, nắm chắc tình hình địch và gây dựng lực lượng nội ứng. Chiều 8.4 bộ đội cải trang cùng nhân dân đi làm đồng vào sát đồn, bí mật chiếm lĩnh trận địa, 17 giờ 30 phút xung phong đánh chiếm đồn lúc địch đang tập trung ăn cơm. Bằng cách đánh bất ngờ, kết hợp trong ngoài cùng đánh, bao vây, khống chế, sau 5 phút, chiến đấu ta làm chủ đồn, diệt 2, bắt 50 địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, lần đầu tiên tiểu đoàn sử dụng cách đánh kì tập kết hợp nội ứng đạt hiệu quả cao, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng.

        TRẬN NHẬT TẢO (10.12.1861), trận tập kích của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực diệt pháo hạm Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, thuộc địa phận làng Nhật Tảo (nay thuộc t. Long An). Trưa 10.12 Nguyễn Trung Trực chỉ huy đội cảm tử quân (59 người), phân tán thành nhiều thuyền nhỏ, giả làm thuyền đám cưới, áp sát pháo hạm Experanxơ (Hi Vọng) đang tuần tra trên sông. Bằng vũ khí thô sơ, nghĩa quân bất thần nhảy lên chiếm tàu, diệt 37 địch (có 17 Pháp), sau đó lấy búa phá tàu không được, bèn nổi lửa đốt cháy tàu. 4 nghĩa binh hi sinh. Lần đầu tiên, pháo hạm - một ưu thế QS của Pháp trong chiến tranh xâm lược VN bị đánh bại. Sau TNT Pháp đem quân tàn phá, đốt cháy làng Nhật Tảo để trả thù. Bài học của chiến thắng Nhật Tảo được nghĩa quân nhiều nơi áp dụng. Cg trận Vàm cỏ Đông.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM