Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:01:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41036 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #260 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:42:21 pm »


        TRẬN NHƯ NGUYỆT 18.1-2.1077, trận quyết chiến chiến lược diệt quân Tống xâm lược trên phòng tuyến Sông cầu (Bắc Ninh) của quân dân Đại Việt do Lí Thường Kiệt chỉ huy, kết thúc cuộc kháng chiến chống Tống lần II (1075-77). Ngày 18.1 các mũi tiến công của bộ binh và kị binh Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy (100.000 quân và 200.000 dân phu) đến bờ bắc Sông Cầu đóng quân trên trận tuyến dài khoảng 30km (từ bến Như Nguyệt đến núi Nham Biền), dựng cầu phao, đóng bè, chuẩn bị vượt sông tiến về Thăng Long. Dựa vào chiến tuyến Sông Cầu từ ngã ba sông Cà Lồ - Sông Cầu (Đa Phúc) đến Vạn Xuân (Phả Lại), quân Lí Thường Kiệt khoảng 60.000 đã đánh bại 2 cuộc tiến công vượt sông lớn của địch. Bị tổn thất nặng, Quách Quỳ phải lui về bờ bắc phòng ngự, hình thành hai cụm quân: cụm đóng ở Thị Cầu (chừng 50.000 quân) do Quách Quỳ chỉ huy, và cụm ở Như Nguyệt (chừng 30.000 quân) do Triệu Tiết chỉ huy, hi vọng chờ tiếp viện. Cuối 2.1077 nắm bắt thời cơ, Lí Thường Kiệt tổ chức phản công: sau khi dùng thủy quân đánh vào cụm quân ở Thị Cầu, nhằm thu hút lực lượng và sự chú ý của quân Tống, mũi chủ công do Lí Thường Kiệt chỉ huy, lợi dụng đêm tối, bất ngờ vượt sông đánh úp vào cụm quân ở Như Nguyệt, diệt quá nửa quân địch. Chiến thắng Như Nguyệt dồn quân Tống vào thế cùng lực kiệt, buộc phải giảng hòa, xin rút quân về nước. 3.1077 quân Tống rút lui trong cảnh hỗn loạn, khi về đến TQ (4.1077) chỉ còn 23.400 quân và 3.174 ngựa với chi phí chiến tranh hết 5.190.000 lạng vàng. Nhà Tống phải từ bỏ âm mưu xâm lược Đại Việt.



        TRẬN NHƯ NGUYỆT 16.6.1953 nh TRẬN PHẢ LẠI (16.6.1953)

        TRẬN NHƯ NGUYỆT - VẠN KIẾP - VĨNH BÌNH (6.1285), trận truy kích kết hợp phục kích của quân Trần (Đại Việt), diệt quân Nguyên - Mông (TQ) rút chạy trong kháng chiến chống Nguyên - Móng lần II (1285). Sau khi đập tan hệ thống phòng thủ trên Sông Hồng và bao vây Thăng Long, nhà Trần đã bố trí các trận địa mai phục sẵn sàng đánh địch rút chạy. 10.6 cánh quân Nguyên - Mông ở Thăng Long do Thoát Hoan chỉ huy rút theo đường bộ, hướng đông bắc. Đến Như Nguyệt (nay thuộc Bắc Ninh), bị quân Trần Quốc Toản đánh chặn, Thoát Hoan phải đưa quân chạy sang Vạn Kiếp (nay thuộc Hải Dương). Tại đây quân Nguyên - Mông bị Trần Quốc Tuấn dùng đại binh phục kích diệt quá nửa lúc đang tranh nhau vượt sông bằng cầu phao. Số quân còn lại tiếp tục bị truy kích đến Vĩnh Bình (nay thuộc Lạng Sơn) và bị chặn đánh, thêm nhiều quân, tướng bị diệt. Sau gần 1 tháng Thoát Hoan cùng tàn quân mới chạy thoát về Tư Minh (Quảng Tây, TQ).

        TRẬN NHƯ SƠN - BẾN ĐÁ (24.10.1950), trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 227 (Trung đoàn 95. Mặt trận Bình - Trị - Thiên) được tăng cường 1 đại đội bộ binh, 2 tiểu đội công binh đánh đoàn tàu QS của Pháp từ Đà Nẵng ra Quảng Trị trên đoạn đường sắt Như Sơn - Bến Đá (h. Hải Lăng, t. Quảng Trị), trong đợt 2 chiến dịch Phan Đình Phùng (15.6-24.10.1950). Đoàn tàu gồm 15 toa xe bọc thép trang bị 2 pháo Bôpho 40mm, 4 trọng liên 12,7mm, 10 đại liên, có 1 đại đội Âu - Phi đi cùng bảo vệ. 2 giờ ngày 24.10, tiểu đoàn vào vị trí phục kích; 9 giờ 5 phút khi đoàn tàu lọt vào trận địa. ta cho nổ quá mìn 50kg làm đoàn tàu trật bánh, tiếp đó công binh điểm hỏa các quả mìn chôn dọc ven đường tàu đồng thời bộ binh xung phong lên tàu diệt địch. Sau gần 2 giờ chiến đấu phá hủy 1 đầu máy và 10 toa xe, diệt và bắt 170 địch, thu 75 súng các loại, góp phần hạn chê hoạt động vận chuyển, chi viện bằng đường sắt của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi.

        TRẬN NIÊN KỈ (18.5.1892), trận chiến đấu phòng ngự của liên quân Đốc Ngữ - Tống Duy Tân chống lại cuộc tiến công của quân Pháp tại căn cứ Niên Kỉ (châu Quan Hóa, nay thuộc h. Quan Hoá, t. Thanh Hóa). 3.1892 sau thắng lợi trận Yên Lãng (5.2.1892), để bảo toàn lực lượng, Đốc Ngữ rút quân khỏi vùng Sông Đà vào Thanh Hóa phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Tống Duy Tân tại căn cứ Niên Ki. Đạo quan binh 4 Sơn La của Pháp do quan năm Pennơcanh chỉ huy bám theo truy kích. 18.5 quân Pháp từ hai hướng mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ, nhưng bị nghĩa quân đánh thiệt hại nặng (chết 8 sĩ quan và 70 lính...), phải lui quân. Sau TNK Đốc Ngữ đưa quân trở lại vùng Sông Đà tiếp tục chống Pháp.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #261 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:43:33 pm »


        TRẬN NINH KIỂU, NHÂN MỤC (13.9 và 20.10.1426), trận đánh phục kích của nghĩa quân Lam Sơn (Đại Việt), diệt quân Minh (TQ) trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27). Tháng 9.1426, sau khi vây chặt các thành Nghệ An, Tây Đô (Thanh Hóa), nghĩa quân Lam Sơn chia thành ba cánh quân tiến ra Bắc. Cánh thứ nhất do Phạm Văn xảo, Lí Triện, Đỗ Bí và Trịnh Khả chỉ huy 3.000 quân uy hiếp phía tây nam thành Đông Quan (nay là Hà Nội). Để tránh nguy cơ bị vây, 13.9 tướng Minh ở Đông Quan là Trần Trí dốc hết quân ra đánh, bị phục kích ở Ninh Kiều (nay thuộc Chương Mĩ, Hà Tây), mất 2.000 quân, phải rút lui. 20.10 đạo quân Minh do Viên Lượng chỉ huy lại ra tiến công, rơi vào trận địa mai phục của quân Lam Sơn do Lí Triên, Đỗ Bí tổ chức ở cầu Nhân Mục (nay thuộc q. Thanh Xuân, Hà Nội), mất hơn 1.000 quân, Viên Lượng bị bắt. TNK,NM thắng lợi là bước mở đầu giai đoạn phản công ra Bắc của nghĩa quân Lam Sơn, buộc quân Minh phải lui vào cố thủ ở Đông Quan.

        TRẬN NON NƯỚC 30.5.1951, trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 54 (Trung đoàn 102, Đại đoàn 308) vào cứ điểm Non Nước, một vị trí quan trọng bảo vệ tx Ninh Bình của Pháp, trong đợt 1 chiến dịch Quang Trung (28.5-20.6.1951). Cứ điếm được xây dựng trên núi Non Nước (tx Ninh Bình), có địa thế hiểm trở, công sự vững chắc, do 2 đại đội quân Pháp và lính Bảo Hoàng đóng giữ. 2 giờ 15 phút 30.5 được pháo binh chi viện, tiểu đoàn sử dụng 2 đại đội tiến công từ hai hướng. Bằng chiến thuật tổ ba người, dùng thang vượt vách đá, khắc phục vật cản, bộ đội ta nhanh chóng thọc sâu chia cắt, đánh chiếm từng hầm ngầm, lô cốt, ngách hang; đến 5 giờ 30 phút làm chủ trận địa. Khi lui quân, 18 cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn không rút kịp, đã tổ chức phòng ngự đẩy lùi nhiều đợt phản kích của 2 đại đội địch, đến 12 giờ mới rời khỏi trận địa. Kết quả diệt và bắt gần 200 địch, đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội ta về đánh địch trong công sự vững chắc trên địa hình đồng bằng, tạo đà cho chiến dịch phát triển thuận lợi.



        TRẬN NON NƯỚC 23.8.1968, trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu) bộ đội địa phương tỉnh Quáng Đà (Khu 5) vào căn cứ Non Nước (nay thuộc q. Ngũ Hành Sơn, tp Đà Nẩng), do Tiểu đoàn biệt kích 776 QĐ Sài Gòn đóng giữ (cố vấn Mĩ chỉ huy). Căn cứ được xây dựng trên khu vực dài 900m, rộng 600m, chia thành 4 khu (1, 2, 3, 4), có hệ thống hầm ngầm, lô cốt, hào, hàng rào thép gai và mìn bao quanh. Đêm 22.8 tiểu đoàn sử dụng 2 đại đội, chia thành 5 mũi (mỗi mũi 2-3 tổ) từ ba hướng (bắc, nam, đông nam) bí mật luồn sâu, 1 giờ 45 phút ngày 23.8 đồng loạt nổ súng, dùng lựu đạn, thù pháo tiêu diệt các mục tiêu trong căn cứ. Địch hoàn toàn bị bất ngờ và tê liệt. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, ta loại khỏi chiến đấu hơn 300 địch, phá hủy hàng chục dãy nhà, 25 xe QS. bắn cháy 1 máy bay trực thăng, thu 9 súng. Trận đánh đạt hiệu suất cao, góp phần phá vỡ tuyến phòng thủ đông nam tp Đà Nẵng của Mĩ và QĐ Sài Gòn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #262 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:44:23 pm »


        TRẬN NÔNG TRẠI - CHƯ CÚC (14-18.3.1975), trận vận động tiến công của Sư đoàn bộ binh 10 (Mặt trận Tây Nguyên) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, cụm pháo binh và pháo phòng không chiến dịch tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 23 (thiếu), Liên đoàn biệt động quân 21, 3 tiểu đoàn bảo an và tàn quân của Trung đoàn bộ binh 45... QĐ Sài Gòn ở khu vực Nông Trại - Phước An - Chư Cúc (t. Đắc Lắc), trong chiến dịch Tây Ngu\ên (4.3-3.4.1975). Ngày 14.3 sư đoàn sử dụng Trung đoàn 24 và 1 đại đội xe tăng tiêu diệt và làm tan rã 2tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn bảo an của địch ở chân điểm cao 581 và trên đường 21 tới phân chi khu Phước Bình, dồn tàn quân Trung đoàn 45 và Liên đoàn biệt động quân 21 về Nông Trại (đông 581). 16-17.3 sư đoàn tập trung lực lượng tiếp tục tiến công, diệt và bắt phần lớn quân địch ở khu vực Nông Trại - Phước An, trong đó có SCH nhẹ Sư đoàn 23, sau đó từ 12 giờ ngày 18.3 tiến hành truy kích đập tan lực lượng còn lại của địch co cụm ở Chư Cúc. Trận then chốt thứ hai của chiến dịch thắng lợi góp phần đánh bại ý đồ phán kích chiếm lại Buôn Ma Thuật của địch.

        TRẬN NÚI BÀ ĐEN (16.6.1969), trận tập kích của đại đội trinh sát thuộc Trung đoàn 16 bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đánh trung tâm tiếp vận truyền tin của SCH Dã chiến 2 Mĩ tại đỉnh núi Bà Đen (đông bắc tx Tây Ninh 8km). Lực lượng địch tại trung tâm gồm các nhân viên kĩ thuật và 2 đại đội quân cảnh (khoảng 300 quân), được bảo vệ nghiêm ngặt bằng hệ thống hàng rào (3-5 lớp), bãi mìn, đèn pha chiếu sáng, hầm ngầm, lô cốt, tháp canh và lính gác tuần tra ngày, đêm. Tối 15.6 ta tổ chức lực lượng thành 2 mũi, bí mật luồn sâu áp sát từ hai hướng tây (hướng chủ yếu) và nam, 24 giờ đồng loạt nổ súng, dùng bộc phá, B-40, lựu đạn đánh sập các mục tiêu và diệt dịch trong các công sự, khu nhà ở... Sau gần 2 giờ chiến đấu, ta làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 100 địch (phần lớn là nhân viên kĩ thuật), phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, góp phần làm tê liệt hoạt động cảnh giới, thông tin liên lạc của địch trong khu vực.

        TRẬN NÚI BÔNG (21.3.1975), trận tập kích cua Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 324, Quân đoàn 2) được tăng cường cụm pháo binh và pháo phòng không chiến dịch, vào trận địa phòng ngự công sự vững chắc của QĐ Sài Gòn tại khu vực Núi Bông (h. Hương Phú, nay thuộc h. Hương Thủy, t. Thừa Thiên - Huế), trên phòng tuyến tây nam Huế. 5 giờ 40 phút trung đoàn nổ súng tiến công, sau 40 phút chiến đấu chiếm Núi Bông, buộc địch phải điều Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 cùng lực lượng lớn bộ binh, xe tăng từ Núi Nghệ tới phản kích. TNB góp phần tiêu hao, thu hút dịch, tạo thuận lợi cho Sư đoàn bộ binh 325 phát triển tiến công cắt QL 1, hiệp đồng giải phóng tp Huế trong đợt 2 chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975).

        TRẬN NÚI ĐANH (16.1.1951), trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh 209 (Đại đoàn 312) đánh quân Pháp tại Núi Đanh (bắc tx Vĩnh Yên khoảng 6km, nay thuộc h. Tam Dương, t. Vĩnh Phúc ), trong đợt 2 chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950-18.1.1951). Ngày 15.1 Pháp mở cuộc hành quân giải tỏa tx Vĩnh Yên đang bị bao vây, dùng 2 tiểu đoàn chiếm các điểm cao trên dãy Núi Đanh để khống chế ta. Phát hiện ý đồ của địch, Trung đoàn 209 được lệnh đánh chiếm Núi Đanh nhằm tạo điểu kiện cho các đơn vị bạn phối hợp đánh địch giải tỏa. Sáng 16.1 các đơn vị của trung đoàn vượt qua hỏa lực ngăn chặn của không quân, pháo binh địch, chiếm được điểm cao 210 (mỏm cao nhất Núi Đanh), đồng thời tổ chức chặn đánh địch quyết liệt ở điểm cao 83, nhưng đến 14 giờ 30 phút bị địch tập trung lực lượng đẩy lùi khỏi điểm cao 210. Chiều và đêm 16.1 trung đoàn hai lần tổ chức phản kích chiếm lại điểm cao này đều không thành công. Kết quả loại khỏi chiến đấu 250 địch, nhưng ta bị thương vong lớn, phải kết thúc trận đánh. 

        TRẬN NÚI MIẾU (29.10.1966), trận chống càn của du kích xã Kì Chánh (nay là xã Tam Anh, h. Núi Thành, t. Quảng Nam) đánh 1 tiểu đoàn quân Mĩ và 1 đại đội bảo an QĐ Sài Gòn (có 12 xe tăng và xe bọc thép). Sáng 29.10 địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, chia thành nhiều mũi càn quét các thôn Xuân Vinh, Đức Bổ 2, Đập Đá, trong đó tập trung 1 đại đội Mĩ đánh chiếm Núi Miếu (ở trung tâm xã) để xây dựng thành cứ điểm mạnh làm bàn đạp tiến công và khống chế ta. Nắm vững ý đồ của địch, ta triển khai lực lượng ngăn chặn trên các hướng, đồng thời bố trí trận địa phục kích bằng bom, mìn tự tạo tại Núi Miếu, kết hợp hỏa lực đánh thiệt hại nặng 1 đại đội, buộc địch phải rút quân. Kết quả diệt và làm bị thương hơn 100 địch, giữ vững địa bàn, đẩy mạnh phong trào cải tiến bom đạn địch thành vũ khí chống càn có hiệu quả ở vành đai diệt Mĩ Chu Lai trong KCCM.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #263 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:45:17 pm »


        TRẬN NÚI ÔNG LA (14.1.1972), trận tập kích của Đại đội bộ binh 3 (Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên) vào SCH hành quân của 1 trung đoàn quân Nam Triều Tiên tại núi Ông La (tây bắc tx Tuy Hòa 16km). Từ 9.1 địch đổ quân xuống núi Ông La gồm SCH trung đoàn, 1 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 trung đội cối 106,7mm, 1 đại đội bố binh (khoảng 350 quân), xây dựng công sự dã chiến, có hàng rào kẽm gai và mìn bảo vệ, nhằm thiết lập SCH cuộc càn quét ở Sơn Long - Sơn Hòa. 2 giờ ngày 14.1 sau khi bí mật tiềm nhập, áp sát mục tiêu, ta đồng loạt nổ súng, sau 25 phút chiến đấu diệt SCH, trung tâm thông tin, trận địa pháo..., loại khỏi chiến đấu gần 100 địch, thu 21 súng, phá hủy nhiều vũ khí, điện đài. Trận đánh diệt đầu não chỉ huy của địch, buộc 4 tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên đang càn quét ở Sơn Long phải vội vã rút lui.

        TRẬN NÚI RO (20.4.1972), trận tập kích của Trung đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn 5) vào SCH Lữ đoàn dù 1 và Tiểu đoàn dù 6 QĐ Sài Gòn chốt giữ khu vực Núi Rô (điểm cao 169), một vị trí trọng yếu án ngữ phía đông nam thị trấn An Lộc (t. Bình Long, nay thuộc t. Bình Phước), trong đợt 1 chiến dịch Nguyễn Huệ (1.4.1972-19.1.1973). Trung đoàn được tăng cường 3 xe tăng T-54 và hỏa lực pháo binh chi viện, 2 giờ ngày 20.4 tổ chức đột kích vào trận địa địch trên 2 hướng. Trận đánh diễn ra quyết liệt, đến 10 giờ ta làm chủ trận địa. Tàn quân địch đạt xuống chân núi, cụm lại ở Tông Cui cũng bị ta truy kích, tiêu diệt. Kết quả loại khỏi chiến đấu 460 địch (bắt 35), thu hơn 100 súng (có 6 pháo 105mm). Trận đầu sử dụng xe tăng trên chiến trường Đông Nam Bộ, sức tiến công của ta được nâng cao, nhưng chỉ huy, hiệp đồng lúng túng nên hiệu quả tác chiến của xe tăng bị hạn chế.

        TRẬN NÚI SÁNG (5.10.1909), trận chiến đấu phòng ngự cứa nghĩa quân Đề Thám (Hoàng Hoa Thám), chống lại cuộc tiến công của quân Pháp tại căn cứ Núi Sáng (h. Lập Thạch, t. Vĩnh Phúc), trong khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Sau khi phát hiện được căn cứ nghĩa quân ở Núi Sáng, 5.10 một lực lượng lớn quân Pháp cùng quân của tổng đốc Lê Hoan chia thành hai cánh bao vây nhằm diệt bằng được Đề Thám. Dựa vào công sự và bằng cách đánh gần, nghĩa quân chống trả quyết liệt, đẩy lùi nhiều đợt tiến công, diệt 52 địch, đến sáng 6.10 bí mật rút khỏi vòng vây về vùng Tam Đảo, Thái Nguyên tiếp tục hoạt động.

        TRẬN NÚI THÀNH (26.5.1965), trận tập kích của Đại đội bộ binh 2 (Tiểu đoàn 70) và 12 chiến sĩ đặc công thuộc Đại đội đặc công 16 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đánh 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mĩ ở Núi Thành (tây căn cứ Chu Lai 4km, nằm trong cụm núi đá trọc thuộc xã Kì Liên, h. Tam Kì, nay thuộc xã Tam Nghĩa, h. Núi Thành, t. Quảng Nam). Tại đây quân Mĩ bố trí phòng ngự thành ba cụm, công sự dã chiến, xung quanh có 2 lớp hàng rào thép gai bùng nhùng bảo vệ. Đêm 25.5 ta tổ chức lực lượng thành các tổ ba người bí mật luồn sâu, áp sát; 0 giờ 30 phút ngày 26.5 đồng loạt nổ súng, dùng lựu đạn. thủ pháo đánh chiếm công sự vòng ngoài rồi phát triển vào trong. Sau ít phút bị bất ngờ, hoảng loạn, địch tổ chức chống trả quyết liệt; ta đưa lực lượng dự bị vào diệt thêm một số rồi kết thúc trận đánh lúc 0 giờ 50 phút. TNT mở đầu phong trào đánh Mĩ của QGPMN VN, ngay khi Mĩ bắt đầu thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam VN.

        TRẬN OATECLÔ (18.6.1815), trận đánh giữa quân Pháp của Napôlêông I (72.000 người) với liên quân của Liên minh chống Pháp lần thứ bảy (Anh, Hà Lan, Phổ, 130.000 người) tại khu vực Oateclô (15km nam Brucxen, Bỉ), trong thời kì 100 ngày tái trị của hoàng đế Napôlêông I. Với ưu thế áp đảo về lực lượng, liên quân đánh thắng quân Pháp, chấm dứt chiến tranh Napôlêông (1799-1815), buộc hoàng đế Napôlêông I phải thoái vị lần thứ hai (22.6.1815).

        TRẬN Ô CAU DỂN (26-28.12.1946), trận phòng ngự của 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 56 vệ quốc đoàn và tự vệ Hà Nội chặn đánh quân Pháp tại khu vực ô Cầu Dền (đoạn để La Thành cuối phô Bà Triệu, đầu phô Bạch Mai), trong những ngày đầu KCCP ở thủ đô Hà Nội. Sáng 26.12 Pháp cho bộ binh và xe tăng tiến công ô Cầu Dền nhằm thực hiện kế hoạch đánh thông đường La Thành. Ta dựa vào chiến lũy dược xây dựng vững chắc, kiên quyết chặn đánh, đẩy lui 3 đợt xung phong của địch. 28.12 địch tiến công lần 2, ta sử dụng khẩu badôca duy nhất của Mặt trận Hà Nội vừa được điều đến, bắn cháy 1 xe tăng và 1 xe bọc thép buộc địch tháo chạy. Ta giữ vững cửa ô hơn 20 ngày đêm. góp phần vào thắng lợi của đợt tác chiến Hà Nội (19.12.1946-18.2.1947).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #264 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:46:22 pm »


        TRẬN ÔXÔVET (12.2-22.8.1915), trận chiến đấu phòng thủ  của quân Nga tại Ôxôvet (thảnh phố đông bắc Ba Lan) chống lại cuộc tiến công của quân Đức trong CTTG-I. Ôxôvet là pháo đài của Nga được xây dựng trên sông Bôpbrơ từ 1882-87, sang đầu CTTG-I được củng cố và tăng cường công sự kiên cố và dã chiến trên một chính diện 60km, sâu 15km. Trong hơn 6 tháng dựa vào các công trình phòng thủ, Sư đoàn bộ binh 57 Nga (27 tiểu đoàn) cùng với các đơn vị đồn trú bảo vệ pháo dài đã chiến đấu kiên cường, đánh bại cuộc tiến công của Tập đoàn quân 8 Đức (40 tiểu đoàn và 68 đại đội). TÔ là mô hình phòng thủ trận địa kết hợp hệ thống công sự kiên cố và công sự dã chiến được các nước châu Âu coi là vững chắc và đã áp dụng trong những năm 1920-40.

        TRẬN PA THÍ 12.1.1968. trận tập kích đường không của biên đội máy bay An-2 (4 chiếc, do Phan Như Cẩn chỉ huy) thuộc Trung đoàn không quân vận tải 919 Quân chủng phòng không - không quân, đánh căn cứ rađa của Mĩ ở Pa Thí (thuộc t. Hủa Phăn, Lào). Căn cứ được xây dựng trên đinh núi cao 1.667m, có địa hình hiểm trở và hệ thống bảo vệ cẩn mật, là một trong những trạm rađa lớn và hiện đại của Mĩ bảo đảm cho hoạt động chỉ huy và dẫn đường máy bay từ các sân bay ở Thái Lan vào đánh phá miền Bắc VN. Sau thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, 11 giờ 43 phút ngày 12.1 biên đội cất cánh từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội), dùng cách bay thấp để tránh địch phát hiện, bí mật tiếp cận mục tiêu, tiến hành công kích lúc 13 giờ 7 phút. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, bất ngờ, với 128 quả rôckét và 48 đạn cối 120mm phá hủy toàn bộ hệ thống rađa, đài chỉ huy, diệt 1 đại đội bảo vệ và hàng chục nhân viên kĩ thuật của địch. Trận đầu bộ đội không quân vận tải VN đánh mục tiêu mặt đất thắng lợi, góp phần hạn chế hoạt động đánh phá của không quân Mĩ trên hướng tây. Cg trận chiến đấu không quân 12.1.1968.

        TRẬN PA THÍ 11.3.1968. trận tập kích của phân đội đặc công (31 người) thuộc Tiểu đoàn đặc công 41 (Quân khu Tây Bắc) được tăng cường 1 tiểu đội bộ binh, vào căn cứ của Lực lượng đặc biệt Vàng Pao trên dãy núi Pa Thí (thuộc t. Hủa Phăn, Lào). Căn cứ được xây dựng kiên cố trên đỉnh núi cao, vách đứng, đường lên độc đạo, có trận địa pháo, sân bay trực thăng, SCH và trạm rađa; xung quanh có các bãi mìn, do 4 trung đội phỉ đóng giữ (có 19 cố vấn Mĩ và một số nhân viên kĩ thuật Thái Lan), bên dưới và các khu vực xung quanh còn có 15 đại đội bảo vệ. Ta tổ chức 2 mũi (9 tổ), bí mật leo vách đá, đột nhập vào căn cứ; 3 giờ 45 phút đồng loạt nổ súng, đánh chiếm các mục tiêu, diệt gọn quân địch, làm chủ trận địa. Lực lượng bảo vệ bên dưới của địch hoảng sợ bỏ chạy, tạo điều kiện cho các đơn vị bộ binh, pháo binh của ta đánh chiếm toàn bộ khu vực, giải phóng 10.000 dân.

        TRẬN PHẢ LẠI (16.6.1953), trận tập kích tàu chiến Pháp trên sông Như Nguyệt, gần phố Phả Lại (nay là thị trấn Phả Lại, h. Chí Linh, t. Hải Dương), do Trung đội 59 bộ đội địa phương tỉnh Bắc Giang tiến hành trong KCCP. ở khu vực neo dậu tàu, địch tổ chức báo vệ nghiêm ngặt bằng hệ thống đồn bốt dày đặc dọc phố Phả Lại, có lính tuần tra canh gác ngày đêm kết hợp với hệ thống đèn chiếu sáng và hàng rào thép gai xung quanh. 21 giờ ngày 15.6 từ vị trí tập kết, 4 chiến sĩ của Trung đội 59 dùng bè chuối bí mật tiếp cận đặt 60kg thuốc nổ sát thành tàu. đốt dây cháy chậm rồi rút ra an toàn. 4 giờ 30 phút ngày 16 bộc phá nổ làm chìm 1 tàu, 2 ca nô, phá hủy nhiều vũ khí trang bị, diệt và làm bị thương nhiều quân địch trên tàu. Thắng lợi của TPL góp phần phá kế hoạch càn quét của Pháp vào khu du kích Yên Dũng (Bắc Giang). Cg trận Như Nguyệt.

        TRẬN PHACXAN (6.6.48tcn), trận của Xéda (30.000 bộ binh, 1.000-2.000 kị binh) đánh bại quân của Pômpây (30.000 bộ binh. 3.000-4.000 kị binh) ở gần Phacxan (Phacxala, đông Hi Lạp) trong nội chiến ở La Mã (49-45tcn). Sau khi liên minh tam hùng lần thứ nhất tan vỡ do một trong ba người chết (53tcn), giữa Xêda và Pômpây diễn ra cuộc tranh giành quyết liệt quyền thống trị La Mã. Trong TP, tuy lực lượng ít hơn, nhưng do khéo sử dụng đội dự bị, nên Xêda đã chiến thắng, trở thành người độc quyền ngự trị đế quốc La Mã.

        TRẬN PHAI KHẮT (25.12.1944), trận chiến đấu tiến công đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào đồn Phai Khắt (tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay là h. Nguyên Bình. t. Cao Bằng), nhằm thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “trong vòng một tháng sau khi thành lập phái có hoạt động”, “trận đầu nhất định phải đánh thắng”. Đồn do 21 lính dõng đóng giữ dưới sự chỉ huy của đồn trường Simônơ người Pháp. 17 giờ, lợi dụng lúc địch đang ăn cơm chiều và Simônơ đi vắng, Đội VN tuyên truyền giải phóng quân cùng du kích (khoáng 50 người) để một bộ phận canh gác vòng ngoài, số còn lại chia thành 2 tiểu đội cải trang làm quân tuần tiễu của cấp trên đến kiểm tra đồn rồi bất ngờ chĩa súng buộc địch phải đầu hàng. Cùng lúc đó, Simônơ trở về đồn cũng bị bắn chết. Kết quả trong 10 phút chiến đấu, ta diệt và bắt 18 địch (4 lính trốn trại từ trước), thu 17 súng cùng toàn bộ trang bị và rút lui an toàn. Thắng lợi của TPK mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của QĐND VN.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #265 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:47:38 pm »


        TRẬN PHAN RANG (16.4.1975), trận tiến công của Quân đoàn 2 (gồm Sư đoàn bộ binh 325, 2 trung đoàn pháo phòng không, 1 lữ đoàn và 1 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn xe tăng  thiết giáp) được tăng cường Sư đoàn bộ binh 3 (Quân khu 5) và Trung đoàn bộ binh 25 (Mặt trận Tây Nguyên), phá vỡ tuyến phòng thủ của QĐ Sài Gòn ở khu vực tx Phan Rang (t. Ninh Thuận), trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Sau khi mất Quân khu 1 và Quân khu 2, địch gấp rút củng cố Phan Rang thành tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ Sài Gòn với lực lượng khoảng 12.000 quân, gồm: BTL tiền phương Quân khu 3, Sư đoàn bộ binh 2 (thiếu), Lữ đoàn dù 2, Liên đoàn biệt động quân 31, 4 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 chi đội thiết giáp; ngoài ra còn có SCH Sư đoàn không quân 6 ở sân bay Thành Sơn, khoảng 7-10 tàu chiến ở cảng Ninh Chữ... Trận đánh mở màn lúc 5 giờ. Bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiến công trong hành tiến, phát huy sức mạnh đột phá của xe tăng và các loại hỏa lực chế áp dịch, đến 6 giờ 10 phút ta chọc thủng tuyến phòng ngự bên ngoài, hình thành các mũi thọc sâu, làm chủ thị xã lúc 7 giờ, sau đó nhanh chóng phát triển tiến công, đánh chiếm các cảng Ninh Chữ, Tân Thành, quận lị Bửu Sơn (Tháp Chàm) và sân bay Thành Sơn, tiến hành truy kích tàn quân địch ở Cà Ná. Kết quả diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ quân địch, trong đó bắt hàng nghìn binh lính, sĩ quan (có 1 trung tướng, 2 chuẩn tướng), thu 40 máy bay, 60 khẩu pháo cùng nhiều phương tiện QS; giải phóng hoàn toàn tx Phan Rang và t. Ninh Thuận, tạo thế tiến công thuận lợi giải phóng Bình Tuy, Bình Thuận, đập tan kế hoạch phòng thủ từ xa của địch.

        TRẬN PHAN TÂY HỔ (5.3.1951), trận chống càn của Đại đội 26 bộ đội địa phương huyện Tiên Lữ và du kích xã Phan Tây Hồ (nay thuộc các xã Lệ Xá và Trung Dũng, h. Tiên Lữ, t. Hưng Yên), đánh 2 tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) và lực lượng đồn trú của Pháp càn quét vào xã. Đầu 1951 Phan Tây Hồ là khu du kích cuối cùng ở Hưng Yên mà địch tập trung triệt phá, gồm 7 thôn được xây dựng thành làng chiến đấu liên hoàn, có hệ thống hầm hào rộng khắp, vững chắc. Sáng 5.3 địch có pháo binh yểm trợ triển khai nhiều hướng tiến công vào các thôn Canh Hoạch, An Tràng, Hoàng Xá, Phí Xá,... nhưng bị chặn đánh quyết liệt và thiệt hại nặng, đặc biệt tại thôn Hoàng Xá. Sau 6 giờ chiến đấu, do địch chiếm ưu thế. ta chủ trương vừa đánh vừa rút sang Phù Liễu, sau đó rút về thôn Giai Lệ (nơi có làng chiến đấu vững chắc nhất của xã), tiếp tục bám trụ, đẩy lui 4 đợt tiến công của địch, bảo vệ cho các lực lượng (trong đó có cơ quan lãnh đạo kháng chiến các huyện Tiên Lữ, Phù Cừ) rút sang Thái Bình an toàn. TPTH tuy không giữ được căn cứ nhưng đã gây cho địch nhiều thiệt hại (diệt hơn 300 địch), bảo toàn lực lượng ta, tạo cơ sở đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm.

        TRẬN PHÁP (cổ), phương pháp bố trí lực lượng thành thế trận. TP là một bộ phận của binh pháp. Ở VN, trong cuốn binh pháp “Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ, TP được chuyên bàn trong tập “Địa”.

        TRẬN PHÂN CHI KHU CẦU TRÀM (22-23.4.1975), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Quân khu Cool vào phân chi khu QS Cầu Tràm (h. Cân Đước, t. Long An), do QĐ Sài Gòn chiếm giữ. Lực lượng địch ở phân chi khu khoảng 70 quân, tổ chức phòng ngự có công sự vững chắc, xung quanh có 3-4 lớp rào thép gai xen kẽ mìn bảo vệ. 5 giờ 10 phút ngày 22.4 tiểu đoàn chia ba mũi đồng loạt tiến công, sau gần 1 giờ chiến đấu. làm chủ phân chi khu và tổ chức chốt giữ, trong ngày 23 đánh lui 4 đợt phản kích của địch. Kết quả diệt và bắt hơn 50 địch, thu 22 súng; góp phần giữ vững địa bàn, mở đường cho bộ đội chủ lực quân khu vào tham gia giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975).

        TRẬN PHÂN CHI KHU MƯỜI BỔN NGÀN (6.12.1974), trận tập kích của đại đội bộ đội địa phương huyện Long Mĩ và du kích xã Vị Thanh vào phân chi khu QS Mười Bốn Ngàn của QĐ Sài Gòn ở xã Vị Thanh (h. Long Mĩ, t. Chương Thiện, nay thuộc h. Vị Thủy, t. Hậu Giang). Tại đây địch tổ chức phòng ngự vững chắc, gồm 1 đồn chính, 2 chốt tiền tiêu, có nhiều lô cốt, tường, rào kẽm gai, mìn bảo vệ; lực lượng khoảng 90 sĩ quan, binh lính, gồm ban chỉ huy phân chi khu, bảo an, dân vệ, cảnh sát, bình định... Đèm 5.12 ta bí mật triển khai, chiếm lĩnh trận địa; 0 giờ 10 phút ngày 6.12 dùng hỏa lực B-40, phi lôi bắn chế áp rồi từ nhiều hướng, xung phong đánh chiếm các mục tiêu; đến 5 giờ làm chủ trận địa, diệt và bắt 89 địch, thu 83 súng. Trận đánh thắng lợi tạo thế cho ta bức rút 3 đồn dân vệ khác, giải phóng một vùng dài hơn 10km trên tuyến xáng Xà No.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #266 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:48:36 pm »


        TRẬN PHÂN CHI KHU NGÃ BẮC (24.8.1974), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ binh 7 (Trung đoàn 10, Quân khu Cool vào QĐ Sài Gòn ở phân chi khu Ngã Bắc (xã Xà Phiên, h. Long Mĩ, t. Hậu Giang). Phân chi khu có khu QS do 1 đại đội bảo an đóng giữ và khu hội đồng xã do 2 trung đội dân vệ và 1 tiểu đội cảnh sát bảo vệ. Đêm 23.8 ta chiếm lĩnh trận địa, khắc phục vật cản; 2 giờ ngày 24 nổ súng diệt đồn bảo an, sau đó đánh địch ở khu hội đồng xã; đến 5 giờ làm chủ phân chi khu, diệt và bắt 119 địch, thu 103 súng. Trận đánh tạo điều kiện cho LLVT và nhân dân địa phương bức rút các đồn lân cận, giải phóng các xã Xà Phiên, Tân Thành.

        TRẬN PHÂN CHI KHU TRẦU HÔI (12-13.3.1975), trận tập kích của Tiêu đoàn Tây Đô bộ đội địa phương tinh Cần Thơ vào phân chi khu QS Trầu Hôi (xã Nhơn Nghĩa, h. Châu Thành, nay thuộc h. Phong Điền, tp Cần Thơ), do 1 đại đội thám báo, 1 trung đội dân vệ và lực lượng cảnh sát, bình định QĐ Sài Gòn đóng giữ. Đêm 12.3 ta bí mật tiếp cận, cắt rào, gỡ mìn; 22 giờ 30 phút chia bốn mũi xung phong đánh chiếm các mục tiêu, sau 25 phút chiến đấu làm chủ phân chi khu. Ngày 13 tiểu đoàn tiếp tục bám trụ, đánh lui 2 đợt phản kích của địch. Kết quá diệt và bắt hơn 70 địch, thu 63 súng các loại; góp phần mở rộng địa bàn cho bộ đội chủ lực Quân khu 9 vào áp sát tp Cần Thơ trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

        TRẬN PHEO (7.1.1952), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 102 (Đại đoàn 308) vào cụm cứ điểm Pheo (bắc tx Hòa Bình 6km), một vị trí quan trọng trên phòng tuyến đường 6 do 1 tiểu đoàn lê dương, 1 đại đội pháo binh và 1 trung đội xe tăng của Pháp đóng giữ, trong đợt 3 chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951-25.2.1952). Đêm 7.1 trung đoàn nổ súng theo kê hoạch, pháo binh diệt được một số mục tiêu, nhưng bộ binh chưa chiếm lĩnh xong trận địa nên các mũi đột phá gập khó khăn; sau khi mở cửa, bị pháo binh và xe tăng địch bắn chặn, bộ đội không phát triển được, bị thương vong lớn, phải lui quân. Trận đánh không thành công do chủ quan, đơn giản, nắm tình hình địch và địa hình không chính xác, chuẩn bị chiến đấu không chu đáo, tổ chức hiệp đồng thiếu chặt chẽ...

        TRẬN PHÌ THỦY (383), trận tập kích của quân Đông Tấn vào lực lượng ưu thế gấp nhiều lần của Tiền Tần tại Phì Thủy (nay thuộc vùng hồ Ngõa Phụ, An Huy, TQ). Sau khi thống nhất phương Bắc, Tiền Tần không ngừng bành trướng xuống phương Nam, lần lượt đánh chiếm Lương Châu, Ích Châu, Tương Dương, Bành Thành. Tháng 7, vua Tiền Tần là Phù Kiên tập trung hơn 90 vạn quân, mở cuộc tiến công vào Đông Tấn với đội quân tiên phong gồm 25 vạn do Phù Dung và Mộ Dung Thùy chỉ huy; Phù Kiên dẫn quân chủ lực đi sau, đội hình hành quân dài hàng ngàn dặm. Đông Tấn quyết tâm chống lại, phái Tạ Thạch, Tạ Huyền, Lưu Lao Chi đem 8 vạn quân đến bờ Sông Hoài chống trả. Được Chu Tự (tướng người Hán trong QĐ Tiền Tần) cho biết về những mâu thuẫn và tâm lí chán ghét chiến tranh trong hàng ngũ binh lính của Tiền Tần, về tình trạng đạo quân Tiền Tần phía trước tiến nhanh và bị cắt rời, cách xa đạo quân chủ lực, Tạ Thạch quyết định đánh nhanh khi quân Tiền Tần chưa đến đủ. Tháng 11, khoảng 5.000  quân Đông Tấn tập kích vào căn cứ Lạc Gián, tiêu diệt 15.000 quân và 10 tướng trong đội tiên phong của Tiền Tần. Khi quân chủ lực của mình đến bờ Phì Thủy, Đông Tấn dùng Chu Tự làm nội gián, lập mưu lừa chủ tướng Tiền Tần cho quân lui lại lấy chỗ cho quân Tấn sang sông quyết chiến. Quân Tiền Tần được lệnh cứ lui mãi, lại bị Chu Tự tung tin thất thiệt làm cho hoảng loạn. Quân Tấn thừa cơ vượt sông truy kích. Quân Tiền Tần dẫm đạp lên nhau rút chạy, chết đới. chết rét đến bảy, tám phần mười; về đến Lạc Dương, chỉ còn lại hơn 10 vạn. Phù Dung chết trong đám loạn quân, Phù Kiên trúng tên, một mình một ngựa chạy về Hoài Bắc. Với lực lượng chưa bằng 1/10 quân đối phương, nhờ đồng tâm nhất trí, nắm vững tình hình nội bộ địch, xác định phương lược tác chiến thích hợp, biết dùng tướng trong QĐ đối phương lập mưu lừa giặc giỏi nên Đông Tấn dã giành toàn thắng. Một trận điển hình về lấy ít thắng nhiều trong lịch sử chiến tranh ở TQ.

        TRẬN PHOOCLEN nh TRẬN MANVINAT (8.12.1914)

        TRẬN PHỐ LU (8-12.2.1950), trận tiến công của Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) vào thị trấn Phố Lu (nay thuộc h. Bảo Thắng, t. Lào Cai), một ví trí phòng ngự vững chắc của Pháp, do 1 đại đội Âu - Phi, 1 đại đội lính khố đỏ và khoảng 80 lính dõng đóng giữ, mở đầu chiến dịch Lê Hồng Phong I (7.2-15.3.1950). Đúng 17 giờ ngày 8.2, được pháo binh chi viện, Trung đoàn 102 (có 2 tiểu đoàn: 79 và 54) nổ súng tiến công, nhung không đạt kết quả; đêm 10.2 tiếp tục tiến công lần 2 cũng không thành công do thiếu kinh nghiệm đánh công sự vững chắc và công tác hiệp đồng tác chiến giữa bộ binh với pháo binh khống chặt chẽ. Chiều 12.2 trung đoàn được tăng cường Tiểu đoàn 11 (bộ đội chủ lực Liên khu 10), tập trung các loại hỏa lực tổ chức tiến công lần 3, diệt phần lớn quân địch và làm chủ trận địa sau 2 giờ chiến đấu. TPL tuy giành thắng lợi nhưng thời gian trận đánh kéo dài, bộ đội thương vong nhiều phải dừng lại củng cố nên đã ảnh hưởng tới kết quả và sự phát triển của chiến dịch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #267 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:49:35 pm »


        TRẬN PHỒN XƯƠNG (29.1.1909), trận chiến đấu phòng ngự của nghĩa quân Đề Thám, bảo vệ căn cứ Phồn Xương (nay thuộc thị trấn Cầu Gồ, h. Yên Thế, t. Bắc Giang), trong khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Trong khi Pháp đang tập trung lực lượng lớn (khoảng 15.000 quân) về Nhã Nam, chuẩn bị cuộc hành quân bí mật nhằm đánh úp và tiêu diệt nghĩa quân Đề Thám, sáng 29.1 viên đại lí Nhã Nam muốn lập công đầu, chỉ huy ba toán lính khố xanh và một số dân binh tiến công căn cứ Phồn Xương. Dựa vào chiến lũy, nghĩa quân với 200 tay súng tổ chức đánh trả quyết liệt, đẩy lui và diệt 20 địch. Sau thắng lợi, sáng 30.1 nghĩa quân rút khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng, làm thất bại kế hoạch đánh úp của quân Pháp.

        TRẬN PHU TĂNG (18-20.12.1971), trận tiến công của Trung đoàn bộ binh 165 (Sư đoàn 312) vào cứ điểm Phu Tâng (Phu Theng Neng) ở đồng nam Cánh Đồng Chum (Lào), trong đợt 1 chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (18.12.1971-6.4.1972). Cứ điểm được xây dựng trên 3 mỏm (cao 1.300-1.584m), có công sự vững chắc, hỏa lực mạnh, 3- 4 lớp rào kẽm gai xen kẽ mìn, do Tiểu đoàn BC 609 QĐ Thái Lan đóng giữ. Từ 4 giờ ngày 18.12 trung đoàn được tăng cường hỏa lực, triển khai trận địa bao vây, tiến hành mở cửa, bắn phá các mục tiêu vòng ngoài; 17 giờ 30 phút ngày 19 tổ chức tiến công trên ba hướng, sau 30 phút chiến đấu làm chủ các mỏm 1 và 2; trưa ngày 20 đánh tiếp mỏm 3, đến 14 giờ 30 phút chiếm toàn bộ cứ điểm. Kết quả diệt và bắt gần 500 địch, thu 150 súng các loại, góp phần cùng lực lượng chiến dịch phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, giải phóng Cánh Đổng Chum, tiến sâu vào Sảm Thông - Long Chẹng.

        TRẬN PHÙ LỖ (6.12.1951), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 249 (Trung đoàn 174, Sư đoàn 316) diệt đồn Larivê, một vị trí phòng ngự quan trọng của Pháp ở tiểu khu Phù Lỗ (t. Vĩnh Phúc, nay thuộc xã Phù Lỗ, h. Sóc Sơn, tp Hà Nội). Đồn Larivê được xây dựng kiên cố, gồm 1 lô cốt chính và 6 lô cốt vệ tinh, có nhiều lớp rào thép gai do 1 đại đội Âu - Phi và 1 trung đội quân ngụy đóng giữ. Tiểu đoàn 249 phải vượt qua 17km vành đai trắng và hệ thống đồn bốt địch để tiếp cận mục tiêu, 23 giờ 45 phút bắt đầu nổ súng. Các lô cốt vệ tinh lần lượt bị tiêu diệt, địch dồn vào cố thủ trong lô cốt chính. Tiểu đoàn dùng súng ĐKZ và bộc phá đánh vào cửa chính lô cốt, kết hợp với gọi hàng; sau hơn 3 giờ chiến đấu, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Thắng lợi của trận đầu diệt địch cố thủ trong công sự vững chắc nằm sâu trong vùng địch kiểm soát tạo điều kiện thuận lợi cho đợt hoạt động của Sư đoàn 316 phối hợp với mặt trận Hòa Bình; đánh dấu bước tiến của bộ đội chủ lực VN về cách đánh công kiên trong KCCP. Cg trận Larivê.

        TRẬN PHỦ THÔNG (25.7.1948), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 11 (Trung đoàn 308) được tăng cường 2 khẩu đội pháo 75mm, đánh đồn Phủ Thông (nay thuộc xã Phương Linh, h. Bạch Thông, t. Bắc Kạn), một vị trí tương đối kiên cố trong tiểu khu Bắc Kạn, do 1 đại đội thuộc Trung đoàn lê dương 3 của Pháp đóng giữ (khoảng 150 quân), mở đầu chiến dịch Đường 3 (25.7-12.8.1948). Lúc 18 giờ ngày 25.7, sau khi pháo bắn chuẩn bị, tiểu đoàn chia thành hai mũi, dùng thang, ván vượt rào, xung phong diệt các ụ súng, phát triển vào trung tâm, đánh chiếm gần hết các lô cốt và diệt phần lớn quân địch trong đồn. Khoảng 1 tiểu đội địch dựa vào hầm ngầm cố thủ chống cự quyết liệt. Trận đánh kéo dài đến 23 giờ, ta vẫn chưa làm chủ hoàn toàn trận địa, bị thương vong nhiều, phải lui quân. Trận đầu đánh cứ điểm bằng hiêp đồng bộ binh với pháo binh, để lại nhiều kinh nghiệm về cách đánh công kiên của bộ đội chủ lực trong KCCP.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #268 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:50:28 pm »


        TRẬN PHÚ AN 2 (6.2.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 4 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 304. Quân đoàn 2) được tăng cường hỏa lực (1 pháo ĐKZ 75mm, 1 cối 82mm, 2 súng máy phòng không 12,7mm), vào ấp Phú An 2 (vùng B Đại Lộc, t. Quảng Đà, nay thuộc t. Quảng Nam) do Tiểu đoàn bộ binh 3 (Trung đoàn 56, Sư đoàn 3) QĐ Sài Gòn đóng giữ. Từ 5 giờ 30 phút đến 10 giờ, tiểu đoàn sử dụng 2 đại đội (1, 3) mở 3 đợt tiến công trên hai hướng (bắc và tây nam), chiếm được một số vị trí nhưng bị địch dùng hỏa lực ngăn chặn và phản kích quyết liệt. 15 giờ tiểu đoàn đưa thêm lực lượng dự bị (Đại đội 2) mở đợt tiến công thứ 4, đến 15 giờ 30 phút làm chủ trận địa và tiến hành truy kích, đánh địch rút chạy. Kết quả diệt và bắt 93 địch, thu 47 súng các loại, giải phóng các ấp Phú An 1 và Phú An 2, góp phần vào thắng lợi chung của Sư đoàn 304 giải phóng vùng B Đại Lộc, tạo bàn đạp uy hiếp địch ở Đà Năng từ hướng tây nam.

        TRẬN PHÚ HỮU (13.11.1947), trận chống càn của Đại đội 10 thuộc Chi đội 6 Vệ quốc đoàn Gia Định (Chiến khu 7) cùng 2 tiểu đội du kích địa phương, chặn đánh 1 trung đoàn lính Âu - Phi (khoảng 1.500 quân) của Pháp tại khu vực xã Phú Hữu (tả ngạn sông Đồng Nai, h. Thủ Đức, t. Gia Định, nay là q. Thủ Đức, tp Hồ Chí Minh). Đêm 12 rạng 13.11, địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, dùng 3 tàu thủy và 5 ca nô đổ quân, chia thành bốn mũi bao vây, bất ngờ tiến công tiêu diệt lực lượng ta. Ta kịp thời chặn đánh và tập trung đột phá thoát vây an toàn, diệt 40 địch, thu 20 súng. Là trận phá vây điển hình ở chiến trường Nam Bộ trong những năm đầu KCCP, góp phần tiêu hao sinh lực địch, giữ gìn lực lượng ta chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

        TRẬN PHÚ LONG (17.5.1965), trận tập kích của Đại đội bộ binh 486 được tăng cường Đại đội hỏa lực 487 (Quân khu 6) đánh ấp chiến lược Phú Long (nay thuộc xã Hàm Nhơn, h. Hàm Thuận Bắc, t. Bình Thuận), do 4 trung đội dân vệ và phòng vệ dân sự QĐ Sài Gòn đóng giữ. 14 giờ 35 phút ta triển khai lực lượng thành nhiều mũi, hóa trang, bí mật đột nhập vào ấp bằng các phương tiện xe lam, xe đạp,... nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu, phối hợp với đội công tác địa phương truy bắt tề điệp, ác ôn, phát động nhân dân nổi dậy làm chủ. 15-17 giờ địch huy động 3 đại đội bảo an (443, 887 và 442) có xe bọc thép M113 yểm trợ, mở nhiều đợt phản kích, giải toả, bị ta chặn đánh, đẩy lùi. Kết quả diệt, bắt và làm bị thương hơn 100 địch, thu 90 súng các loại, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, làm tan rã hàng ngũ địch ở vùng giáp ranh.

        TRẬN PHÚ LỘC - ĐÀ NẴNG (25-29.3.1975), trận tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) đánh Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 và Liên đoàn bảo an 914 QĐ Sài Gòn phòng ngự lâm thời từ quận lị Phú Lộc (t Thừa Thiên, nay là Thừa Thiên -  Huế) đến tp Đà Nẵng, trong chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975). Lúc 16 giờ ngày 25.3, sau khi chiếm khu vực cửa Tư Hiền, ta tổ chức đội hình hành tiến đánh dọc theo QL 1, lần lượt vượt qua các vị trí Nước Ngọt, Thừa Lưu, Trung Kiên, Thổ Sơn, Phú Gia, đến 18 giờ ngày 27.3 làm chủ ga Lăng Cô và tổ chức đánh địch phản kích. 4 giờ ngày 29.3 tiến công diệt địch ở điểm cao 168, sau đó được tăng cường 1 đại đội xe tăng (6 chiếc) của Lữ đoàn 203, triển khai đánh chiếm đèo Hải Vân, khu Liên Chiểu rồi thọc sâu vào trung tám tp Đà Nẵng (lúc 11 giờ) và bán đảo Sơn Trà (13 giờ 30 phút). Sau 5 ngày chiến đấu ta diệt và bắt 2.427 địch, thu 685 xe (có 35 xe tăng), hàng trăm tàu thuyền cùng nhiều vũ khí, phương tiện QS, hoàn thành nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch, góp phần quan trọng giải phóng tp Đà Nẵng.

        TRẬN PHÚ SƠN (23.11.1967), trận phục kích của Tiểu đoàn 482 bộ đội địa phương t. Bình Thuận và Đại đội 1 (Tiểu đoàn 430 h. Hàm Thuận), phối hợp với Đại đội 3 (Tiểu đoàn 840 bộ đội chủ lực Quân khu 6) đánh quân Mĩ đổ bộ bằng máy bay trực thăng tại Phú Sơn (nay thuộc xã Hàm Phú, h. Hàm Thuận Bắc, t. Bình Thuận). Bằng cách nhử quân Mĩ vào trận địa chuẩn bị sẵn ở khu vực ruộng Sần (thôn Phú Sơn), bất ngờ nổ súng khi địch vừa chạm đất và đánh địch co cụm, từ 11 giờ 15 phút đến 19 giờ ta đánh 7 đợt địch đổ quân, bắn rơi 13 máy bay (8 rơi tại chỗ), diệt hơn 100 quân Mĩ thuộc Tiểu đoàn kị binh không vận 3 (Sư đoàn 101). TPS thắng lợi góp phần bẻ gãy chiến thuật trực thăng vận của địch trên chiến trường Bình Thuận.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #269 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 02:51:21 pm »


        TRẬN PHÚ THỌ HÒA (31.5.1954), trận tập kích của 12 chiến sĩ Đội đặc công 205 (Đặc khu Sài Gòn) đánh tổng kho Phú Thọ Hoà, kho dự trữ chiến lược lớn nhất của Pháp ở Đông Dương nằm trong Sở cao su Phú Hòa (đông bắc Chợ Lớn, nay thuộc q. Tân Bình, tp Hồ Chí Minh). Kho có diện tích khoảng 3km2, gồm 40 dãy nhà kho và hầm chứa bom, đạn, xăng dầu, được bảo vệ cẩn mật bằng 12 lớp rào thép gai xen kẽ bãi mìn, hệ thống đèn pha, lô cốt, chó bécgiẽ; bên trong có 1 đại đội Âu - Phi và bên ngoài có 2 tiểu đoàn lính ngụy thường xuyên tuần tra canh gác... Sau gần 2 năm điều tra tỉ mỉ, được sự giúp đỡ của cơ sở nội tuyến, đêm 31.5 các chiến sĩ đặc công chia thành 2 tổ, bí mật đột nhập vào kho. nhanh chóng đặt mìn vào các mục tiêu đã định rồi rút về căn cứ an toàn. Mìn nổ lúc quá nửa đêm, gây cháy nổ hai ngày liền, phá hủy hơn 9.000t bom đạn, hàng triệu lít xăng dầu, loại khỏi chiến đấu 1 đại đội địch. Trận đánh đạt hiệu quả cao, thể hiện cách đánh tiêu biểu của bộ đội đặc công VN, góp phần đẩy nhanh cuộc KCCP đến thắng lợi.



        TRẬN PHÚ XUÂN (6.1786), trận tiến công của nghĩa quân Tây Sơn diệt quân Trịnh ở thành Phú Xuân (Huế) trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Sau khi đánh tan quân xâm lược Xiêm và thế lực Nguyền Ánh ở Đàng Trong, Nguyễn Huệ được cử làm tiết chế cùng Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm thống lĩnh hai đạo quân thủy bộ theo hai đường tiến đánh thành Phú Xuân do Phạm Ngô Cầu, Hoàng Đình Thể và hàng vạn quân Trịnh trấn giữ; đồng thời, một đạo thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy vượt biển lên thẳng Sông Gianh để chặn viện binh và cô lập quân Trịnh ở Phú Xuân. Bằng cách dùng mưu gây chia rẽ nội bộ, làm suy yếu quân Trịnh, đêm 19.6 lợi dụng nước sông dâng cao, Nguyễn Huệ cho thuyền chiến áp sát chân thành bắn pháo dữ đội, kết hợp với bộ binh tiêu diệt cánh quân Hoàng Đình Thể ra giao chiến tại cầu Lạc Thu, sau đó, quân Tây Sơn phá cổng thành, đè bẹp sức kháng cự của quân Trịnh, buộc Phạm Ngô Cầu phải kéo cờ trắng, tự trói xin hàng. Thành Phú Xuân bị hạ khiến quân Trịnh từ Thuận Hóa (Quảng Trị, Thừa Thiên) tới Sông Gianh (t. Quảng Bình) tan vỡ nhanh chóng, tạo thời cơ thuận lợi cho Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lật đổ thế lực phong kiến họ Trịnh.

        TRẬN PHÚ YÊN (8.1775), trận tập kích của nghĩa quân Tây Sơn vào quân Nguyễn ở Phú Yên, trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Sau khi tạm hòa với quân Trịnh ở phía Bắc để tránh thế bị tiến công từ hai phía, Nguyễn Nhạc bắt đầu dồn sức diệt quân Nguyễn ở phía Nam, trước hết tập trung đánh Phú Yên do Tống Phúc Hiệp và 200.000 quân Nguyễn chiếm giữ. Nguyễn Nhạc dùng mưu vờ giảng hòa, lập hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên ngôi vua làm cho quân Nguyễn chủ quan, không chú ý phòng bị, rồi sai Nguyễn Huệ đem đại binh bất ngờ đánh úp, diệt phần lớn quân, tướng Nguyễn, buộc Tống Phúc Hiệp phải rút chạy khỏi Phú Yên. Sau đó, quân Nguyên từ Bình Khang, Khánh Hòa tới ứng cứu cũng bị đập tan. TPY là chiến thắng lớn đầu tiên của Nguyễn Huệ (khi đó 23 tuổi), đồng thời thể hiện tài mưu lược của bộ chỉ huy nghĩa quân, góp phần nhanh chóng lật đổ chế độ thống trị họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM