Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #300 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 03:52:59 pm » |
|
TRẬN VỤ QUANG (26.10.1894), trận phục kích của nghĩa quân Phan Đình Phùng chống lại cuộc tiến công của quân Pháp vào căn cứ Vụ Quang (Hà Tĩnh), trong khởi nghĩa Hương Khê (1885-95). Biết trước âm mưu của địch, Phan Đình Phùng tổ chức trận địa phục kích trên sông Vụ Quang bằng cách đắp kè ngăn nước phía thượng nguồn để tạo áp lực dòng chảy lớn và thả nhiều khúc gỗ to, kết hợp với phục binh hai bên bờ. Khi quân Pháp vượt đến giữa sông, nghĩa quân phá kè cho nước chảy xiết kéo theo những khúc gỗ chặt sẵn lao vào đội hình dịch. Bị đánh bất ngờ, do nước cuốn, gỗ đâm và hỏa lực trên bờ bắn xuống, hàng trăm quân Pháp (có 3 sĩ quan) bị diệt. Trận đánh độc đáo dùng sức nước đánh giặc, có tác dụng cổ vũ nghĩa quân và nhân dân Trung Kì đánh Pháp.
TRẬN XA CÁT - MINH HÒA (9.7.1966), trận phục kích của Trung đoàn bộ binh 2 (Sư đoàn 9), được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 16) và 1 đại đội hỏa lực ĐKZ, chạn đánh quân Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 1 hành quân giải tỏa đường 13, tại khu vực Xa Cát, ngã tư Giao Liên (xã Minh Hoà, q. An Lộc, t. Bình Long, nay thuộc h. Bình Long, t. Bình Phước). Sáng 9.7 quân Mĩ triển khai lực lượng hành quân gồm 52 xe tăng, xe bọc thép và 1 tiểu đoàn bộ binh, có máy bay, pháo binh yểm trợ. 10 giờ 12 phút đội hình chủ yếu của địch lọt vào trận địa, ta đồng loạt nổ súng, kết hợp các lực lượng chặn đầu, khóa đuôi và tập trung đánh chính diện, bao vây chia cắt, cơ động đánh địch trên suốt đoạn đường 2,5km. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ta diệt và làm bị thương hơn 100 địch, phá hủy 35 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 6 máy bay... Trong TXC-MH ta bị thương vong lớn, chủ yếu do tổ chức rút lui chưa tốt. Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm tác chiến với lực lượng bộ binh cơ giới Mĩ.
TRẬN XÃ A9 (13-16.12.1965), trận chống càn của du kích xã A9 trong vành đai diệt Mĩ An Khê (t. Gia Lai), đánh 1 tiểu đoàn quân Mĩ đổ bộ đường không. Lực lượng ta gồm 1 trung đội du kích cơ động của xã và du kích các thôn 1, 2, 4 và 6 (khoảng 38 người). 8 giờ ngày 13.12, sau 3 ngày dùng máy bay bán phá, địch bất ngờ đổ quân đánh chiếm các điểm cao A, B; sau đó trong các ngày 14 và 15.12 tiếp tục đổ quân chiếm các điểm cao C, D, E. Dựa vào các ổ chiến đấu bí mật, ta tổ chức đánh địch tại các bãi đổ quân, đồng thời bố trí lực lượng thành các tổ nhỏ, cơ động bám đánh liên tục, dùng chông, mìn, cạm bẫy, kết hợp phục kích, tập kích, bẻ gãy các đợt tiến công, gây cho địch nhiều thiệt hại. Sáng 16.12 địch huy động máy bay trực thăng truy lùng quân ta, kết hợp pháo binh đánh phá ác liệt nhưng không kết quả, đến 13 giờ buộc phải rút quân. Sau 4 ngày chiến đấu ta diệt và làm bị thương 120 địch, bắn rơi 2 máy bay, bảo vệ an toàn lực lượng, góp phần phát triển cách đánh du kích chống địch đổ bộ đường không trong KCCM.
TRẬN XÃ ĐỐC (27.3.1971), trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 409 (bộ đội chủ lực Quân khu 5) vào căn cứ Xã Đốc (h. Trà Mi, t. Quảng Nam) do Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Lữ đoàn 196, Sư đoàn bộ binh 1 của Mĩ đóng giữ. Đêm 26.3 Tiểu đoàn 409 tổ chức lực lượng thành 4 mũi, bí mật đột nhập căn cứ; 0 giờ 45 phút ngày 27.3 đồng loạt nổ súng đánh chiếm SCH, trung tâm thông tin, trận địa pháo, khu nhà ở, kho xăng dầu. Bằng cách đánh táo bạo, bất ngờ, luồn sâu, chia cắt khiến địch không kịp đối phó, sau 35 phút chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, loại khỏi chiến đấu hơn 350 địch, phá hủy 24 khẩu pháo và cối (có 4 pháo 105mm),... Trận đánh tiêu diệt gọn một đơn vị quân Mĩ trên chiến trường Khu 5, buộc địch phải rút bỏ căn cứ.
TRẬN XALAMIN (27.9.480tcn), trận hải chiến diễn ra ở gần đảo Xalamin, trong vịnh Xarônic (tây Aten, thủ đô Hi Lạp), giữa hạm đội Hi Lạp (350-380 tàu) và hạm đội Ba Tư (trên 1.000 tàu), trong chiến tranh Hi Lạp - Ba Tư (500-449tcn). Mặc dù số lượng tàu kém hơn đối phương, hạm đội Hi Lạp đã giành được thắng lợi quyết định. Quân Hi Lạp chủ trương rút khỏi Aten để đánh bại quân Ba Tư trên biển bàng cách nghi binh rút chạy, kéo hạm đội Ba Tư vào eo biển nhỏ hẹp giữa đảo và lục địa, lợi dụng lợi thế địa hình để tiêu diệt số lớn tàu đối phương. Hạm đội Hi Lạp sử dụng các tàu nhẹ và cơ động, áp dụng có hiệu quả cách đánh đâm vào tàu đối phương và đánh áp mạn. Ba Tư bị mất 200 tàu, Hi Lạp: 40 tàu. Thắng lợi của TX đã làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho Hi Lạp.
TRẬN XANH MIÊN (12-15.9.1918), trận tiến công của quân Mĩ với sự phối hợp của quân Pháp đánh quân Đức trong giai đoạn cuối CTTG-I ở khu vực tp Xanh Miên (thuộc Mơdơ. đông bắc Pháp). Với ưu thế lực lượng hơn gấp đôi đối phương, phía Mĩ - Pháp (17 sư đoàn) định tiến công hợp điểm rồi bao vây tiêu diệt quân Đức (7 sư đoàn), nhưng do trinh sát và chỉ huy không tốt, nên để đối phương rút chủ lực sang hướng khác từ bốn ngày trước. Đối với quân Mĩ, đây là trận đánh lớn nhất kể từ thời nội chiến ở Mĩ (1861-65).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #301 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 03:54:08 pm » |
|
TRẬN XARICAMIT (22.12.1914-18.1.1915), trận tiến công dầu tiên của quân Thổ Nhĩ Kì vào quân Nga ở gần vùng Xaricamit (Thổ Nhĩ Kì) sau khi Thổ Nhĩ Kì tham chiến (29.10.1914) về phía Đức trong CTTG-1. Tập đoàn quân Capca của Nga (72 tiểu đoàn) đã chặn được cuộc tiến công của Tập đoàn quân 3 Thổ Nhĩ Kì (87 tiểu đoàn) trên vùng núi Capca rồi chuyển sang phản công, hợp vây và bắt làm tù binh hầu hết quân chủ lực của Thổ Nhĩ Kì. Số quân Thổ Nhĩ Kì còn lại (chừng 18.000) phải rút về Ecdêrum. Trận tuyến Nga - Thổ Nhĩ Kì trên vùng núi Capca được đẩy lùi về phía nam. Nga chiếm được gần hết phần núi Capca của Thổ Nhĩ Kì.
TRẬN XENLAC nh TRẬN HAXTINH (14.10.1066)
TRẬN XÍCH BÍCH (208), trận quyết chiến của 5 vạn quân liên quân Tôn Quyền - Lưu Bị đánh bại 50 vạn quân Tào Tháo, quyết định cục diện chia ba TQ ở cuối thời Đông Hán. Sau khi thống nhất phương Bắc (về cơ bản) Tào Tháo đưa quân xuống phía Nam muốn diệt Lưu Biểu trước, rồi theo sông Trường Giang đánh Tôn Quyền (Đông Ngô) để thống nhất thiên hạ. Trong khi đó, Tôn Quyền liên minh với Lưu Bị cùng chống Tào Tháo. Năm 208 Tào Tháo đến Xích Bích (nay thuộc Hồ Bắc) lập thủy trại ở bờ bắc sông. Do là người phương Bắc không quen chịu sóng nước và khí hậu, sức chiến đấu suy giảm, lại mắc mưu của liên quân, dùng xích sắt kết thuyền lại với nhau nên khó cơ động, quân Tào Tháo bị liên quân sử dụng hỏa công đốt cháy toàn bộ chiến thuyền, làm chết cháy và chết chìm quá nửa, buộc phải rút chạy. Liên quân thừa thắng truy kích, đuổi tàn quân Tào Tháo lên miền Bắc. Sau trận này hình thành thế chân vạc Ngụy, Ngô, Thục ở TQ. Trận nổi tiếng về lấy ít thắng nhiều; liên quân biết phát huy sở trường của thủy quân, khéo dùng hỏa công, biết tận dụng điều kiện thiên thời, địa lợi để đánh thắng.
TRẬN XIỂNG KHỌ (2.11.1949), trận tập kích của Tiểu đoàn bộ 910 (Trung đoàn 148) bộ đội chủ lực Liên khu 10 và một đơn vị QĐ Lào Itxala đánh cứ điểm Xiềng Khọ (nay thuộc h. Sông Mã, t. Sơn La) trên phòng tuyến Sông Mã của Pháp. Bằng cách đánh bất ngờ, bộ đội Việt - Lào nhanh chóng làm chủ cứ điểm, diệt 1 đại đội địch (bắt 35), buộc địch ở 9 cứ điểm khác trong khu vực phải rút chạy. Chiến thắng Xiềng Khọ góp phần phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Mã, đoạn Mường Lầu - Sốp Hao (dài hàng trăm kilômét), mở thông biên giới Việt - Lào, tạo điều kiện cho các đội vũ trang tuyên truyền mở rộng hoạt động gây dựng cơ sở. làm tan rã chính quyền địch ở vùng Bắc Lào.
TRẬN XOM (1.7-18.11.1916), trận tiến công của liên quân Anh - Pháp đánh quân Đức đang phòng ngự tại khu vực Sông Xom (Bắc Pháp) trong CTTG-1. Tuy có ưu thế lực lượng nhưng quân Anh - Pháp không phá được tuyến phòng ngự trận địa của quân Đức, chỉ tiến được khoảng 14km. Tổn thất của cả hai bên là hơn 1.300.000 người. Thất bại của quân Anh - Pháp chứng tỏ không thể chọc thủng phòng ngự trận địa bằng cách đột phá trên một đoạn chính diện hẹp. Trong TX, lán đầu tiên trong lịch sử chiến tranh (15.9.1916) xe tăng đã được sử dụng (32 chiếc của Anh). Tuy không giành thắng lợi, TX góp phần giảm bớt sức ép của quân Đức ở trận Vecđoong (21.2-18.12.1916).
TRẬN XÓM CHÙA (29-30.11.1968), trận chống càn của du kích xã An Nhơn Tây (h. Củ Chi, tp Sài Gòn - Gia Định, nay là tp Hồ Chí Minh) đánh 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đội thiết giáp quân Mĩ càn quét tại khu vực xóm Chùa. Sáng 29.11 dịch có máy bay, pháo binh yểm trợ, dùng xe tăng, xe bọc thép và xe ủi mờ đường cho bộ binh tiến công, nhằm triệt phá căn cứ của cơ quan lãnh đạo kháng chiến Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng du kích có 46 người, dựa vào hệ thống công sự. địa đạo và các ổ chiến đấu liên hoàn, tích cực bám đánh, diệt xe tăng và xe bọc thép, đồng thời tiến hành nghi binh nhử địch vào các trận địa chông mìn để tiều diệt. Kết quả sau 2 ngày chiến đấu, ta diệt và làm bị thương hơn 100 địch, phá hủy 9 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, thu 56 súng các loại, buộc địch phải rút quân, bảo vệ an toàn căn cứ và lực lượng ta.
TRẬN XÓM ĐÁ - ĐỔNG XUÂN (28.4.1972), trận tập kích của Tiểu đoàn 460 bộ đội địa phương tỉnh Khánh Hòa vào khu vực xóm Đá và ấp Đồng Xuân (xã Ninh Thượng, h. Ninh Hoà, t. Khánh Hoà), do Đại đội bảo an 216 QĐ Sài Gòn đóng giữ. Lực lượng địch tập trung phần lớn ở ấp Đồng Xuân gồm SCH và 2 trung đội, ở xóm Đá có 1 trung đội bảo an, ngoài ra ở ấp Tân Lâm còn 1 trung đội dân vệ. Ta bí mật áp sát mục tiêu, khắc phục vật cản, 4 giờ 45 phút nổ súng đến 6 giờ 30 phút diệt toàn bộ địch ở ấp Đồng Xuân (hướng chủ yếu), tiếp đó hình thành ba mũi vận động tiến công vào xóm Đá, dồn số địch sống sót về khu vực ruộng nước ở nam xóm Đá để bộ phận đón lõng tiêu diệt. Sau gần 3 giờ chiến đấu. ta làm chủ trận địa, diệt gọn đại đội địch (diệt 95, bắt 3), phá hủy 2 xe QS, thu 26 súng các loại... Là trận đầu đơn vị vận dụng thành công chiến thuật tập kích sau đó chuyển sang vận động tiến công địch ban ngày, góp phần đẩy mạnh phong trào du kích ở địa phương trong KCCM.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #302 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 03:55:10 pm » |
|
TRẬN XÓM MỚI - LIÊU TRÌ (14.7.1966), trận phục kích của 1 đại đội (thiếu) thuộc Xưởng 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam phối hợp với trung đội bộ đội địa phương huyện Thăng Bình (V15) và du kích các xã Bình Giang, Bình Dương, đánh Đại đội bảo an 745 và 2 trung đội biệt kích QĐ Sài Gòn tại xã Bình Nguyên (h. Thăng Bình. t. Quảng Nam). Ta tổ chức lực lượng thành 6 bộ phận, bố trí trận địa phục kích ở hai bên QL 1 (cách đường 100-500m), đoạn xóm Mới đi Liêu Trì (dài 600-700m). Sáng 14.7 địch dùng Đại đội bảo an 745 tuần tra QL 1, đồng thời đưa 2 trung đội biệt kích càn quét vào xã Bình Phục (phía sau trận địa ta), phối hợp lùng bắt dân ra sửa đường. Khoảng 7 giờ 25 phút khi Đại đội bảo an 745 lọt vào trận địa, ta nhanh chóng vận động tiếp cận, tập trung lực lượng diệt gọn, tiếp đó triển khai đánh 2 trung đội biệt kích địch rút chạy. Sau 30 phút chiến đấu, ta diệt, bắt và làm bị thương hơn 100 địch (có 17 lính biệt kích), thu 39 súng các loại. Trận đánh đạt hiệu suất cao, phối hợp chiến đấu tốt giữa bộ đội và du kích địa phương, góp phần đẩy mạnh hoạt động tác chiến tập trung của ta ở vùng sau lưng địch.
TRẬN XUÂN SƠN - TẦM BÓ (11.4.1966), trận vận động tiến công của một bộ phận Sư đoàn bộ binh 5 QGP miền Đông Nam Bộ đánh trả cuộc càn quét của Lữ đoàn dù 173 và Lữ đoàn bộ binh 1 Mĩ, có một số tiểu đoàn quân Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nam Triều Tiên phối hợp tại khu vực Xuân Sơn - Tầm Bó (h. Xuyên Mộc, t. Bà Rịa, nay thuộc xã Xuân Sơn, h. Châu Đức, t. Bà Rịa - Vũng Tàu). Trận đánh diễn ra chiều 11.4 khi quân địch càn từ Xuân Sơn về Tầm Bó. Bằng cách đánh gần, bao vây chia cắt, tiến công liên tục... QGP đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mĩ, thu nhiều súng (có 4 đại liên, 41 trung liên).
TRẬN XUYÊN THANH (26.1.1967), trận vận động phục kích của Tiểu đoàn 1 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà được bộ đội và du kích huyện Duy Xuyên phối hợp đánh tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ ở xã Xuyên Thanh (nay là xã Duy Thành, h. Duy Xuyên, t. Quảng Nam). Ta dùng bộ phận nhỏ ngăn chặn địch từ căn cứ An Hòa càn quét sang Gò Nổi (h. Điện Bàn), bộ phận còn lại bí mật tới xã Xuyên Thanh phục kích. Sáng 26.1 quân Mĩ đi càn về lọt vào trận địa; ta bất ngờ chặn đánh gây cho địch nhiều thiệt hại, sau đó để lại 1 đại đội bí mật ém quân trong làng, chờ đến gần tối tiếp tục tập kích vào số quân còn lại khi địch chủ quan chuẩn bị rút lui. Lần đầu tiên trên chiến trường Khu 5, bộ đội và du kích địa phương đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn quân Mĩ.
TRẬN XƯƠNG GIANG (9.1427), trận tiến công của nghĩa quân Lam Sơn diệt quân Minh (TQ) ở thành Xương Giang (nay thuộc Bắc Giang), trong giai đoạn phản công của khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418- 27). Thành do đô đốc Lí Nhậm cùng các tướng Kim Dận, Cố Phúc... chỉ huy với khoảng 2.000 quân, có thành cao, hào sâu, súng thần cơ cỡ lớn và nhiều lương thực dự trữ; là vị trí phòng ngự trọng yếu của quân Minh bảo vệ trục đường huyết mạch từ Quảng Táy (TQ) sang Đông Quan (nay là Hà Nội). Thực hiện chủ trương vây thành diệt viện, từ cuối 1426 một cánh quân Lam Sơn do Lê Sát, Lê Thụ chỉ huy, tổ chức vây thành, giao chiến hơn 30 trận, đồng thời Nguyễn Trãi cũng nhiều lần gửi thư dụ hàng, cảnh cáo, nhưng quân Minh vẫn cố giữ thành để chờ viện binh. 8.1427 bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định điều thêm lực lượng tiếp ứng do Trần Nguyên Hãn chỉ huy, quyết tâm hạ thành trước khi viện binh địch kéo sang. Sau khi dùng pháo đặt trên các ụ đất cao khống chế địch, đồng thời đào đường ngầm đột phá vào thành, đêm 28.9 nghĩa quân tổ chức tổng công kích từ bốn mặt, sau gần một giờ chiến đấu chiếm được thành, các tướng Minh cùng kế buộc phải tự vẫn. TXG đánh dấu bước trưởng thành của nghĩa quân về chiến thuật công thành, kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho bộ chỉ huy nghĩa quân thực hiện thành công kế hoạch diệt viện trong trận Chi Lăng - Xương Giang (8.10-3.11.1427).
TRẬN XƯỞNG THỦ BIÊN (21-23.7.1951), trận chống càn của các chiến sĩ quân giới xưởng Thủ Biên (Thủ Dầu Một - Biên Hòa nay thuộc t. Đồng Nai) ở Chiến khu Đ thời kì KCCP. 6.1951 Pháp huy động khoảng 3.000 quân mở cuộc càn lớn vào Chiến khu Đ, 21.7 sử dụng một cánh quân đánh vào xưởng Thủ Biên nhằm triệt phá căn cứ hậu cần và chế tạo vũ khí của ta. Lực lượng bảo vệ xưởng có 4 chiến sĩ, dựa vào vành đai mìn bố trí sẵn (gồm 3 lớp với hơn 400 quả mìn do xưởng sản xuất), kiên cường bám trụ, phối hợp với các lực lượng trong căn cứ đánh trả quyết liệt, sau 3 ngày chiến đấu diệt và làm bị thương khoảng 300 địch, góp phần đánh bại cuộc càn quét, bảo vệ xưởng an toàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #303 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 03:56:20 pm » |
|
TRẬN YÊN LÃNG (5.2.1892), trận tập kích của khoảng 300 nghĩa quân Đốc Ngữ diệt quân Phấp và lính khố đỏ tại dồn Yên Lãng (nay thuộc h. Thanh Sơn, t. Phú Thọ). Lợi dụng lúc binh lính địch đang ăn tối, có nhiều sơ hở, nghĩa quân bí mật đột nhập từ bốn hướng, giết lính gác và nhanh chóng làm chủ các vị trí. Không kịp kháng cự, đồn trưởng và phần lớn binh lính, sĩ quan trong đồn bị diệt ngay tại bàn ăn. Sau khi đốt cháy đồn và thu nhiều vũ khí trang bị, nghĩa quân rút về căn cứ an toàn. Chớp đúng thời cơ, bí mật bất ngờ là yếu tố tạo nên thắng lợi nhanh gọn của TYL.
TRẬN YÊN LƯƠNG - PHÚ LAM (29-30.10.1948), trận chống càn của du kích xã Quyết Thắng (nay là xã Phú Lương, h. Lạc Sơn, t. Hòa Bình) đánh quân Pháp càn quét các thôn Yên Lương, Phú Lảm. Lực lượng ta có 28 du kích, được tăng cường 7 bộ đội tỉnh, trang bị 25 súng và hàng trăm mìn, lựu đạn... 10 giờ ngày 29.10, địch đưa 1 trung đội vào do thám, bị ta phục kích diệt 1 sĩ quan chỉ huy và 2 lính. Sáng 30.10 dịch huy động 1 tiểu đoàn (thiếu) chia hai cánh tiến công, bị ta phục kích, tập kích, kết hợp nghi binh, dùng chông, mìn, bẫy đá, rượu độc,... đánh thiệt hại nặng, buộc địch phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 200 địch, góp phần làm thất bại âm mưu càn quét, lạp “xứ Mường tự trị” của dịch.
TRẬN YÊN NHÂN (17-18.10.1953), trận chống càn của du kích xã Tiền Phong (h. Mê Linh, t. Vĩnh Phúc) và bộ đội địa phương huyện, đánh 1 tiểu đoàn quân Pháp và 1 đại đội quân ngụy có 8 xe tăng yểm trợ càn quét tại thôn Yên Nhân. Lực lượng ta gồm du kích thôn Yên Nhân (56 người), bộ đội huyện (14 người) và du kích các thôn Trung Hậu, Do Nhân cùng phối hợp chiến đấu. Sáng 17.10 địch có pháo binh yểm trợ, chia ba cánh tiến công, bị ta chặn đánh quyết liệt gây thiệt hại nặng. Địch chiếm được xóm cổng Chùa và một phần xóm cổng Cầu nhưng không dám chốt lại, phải rút ra đóng tại chùa Yên Nhân, thôn Trung Hậu và đường 23. Lợi dụng sơ hở, 3 giờ ngày 18.10, ta bất ngờ tập kích vào SCH, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn sau khi dùng máy bay đánh phá ác liệt thôn Yên Nhân. Kết quả ta diệt và làm bị thương 131 địch, bắn cháy 2 xe tăng và 1 máy bay, góp phấn bảo vệ vùng giải phóng và đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở địa phương.
TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI, trạng thái xã hội phát triển ổn định, có kỉ cương, trong đó mọi công dân được sống an toàn, quyền lợi cá nhân được bảo vệ trên cơ sở hệ thống quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội đã xác định. Nội dung đảm bảo TTATXH: dấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; giữ gìn trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông; bảo vệ môi trường... Giữ gìn TTATXH là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, trong đó công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, phối hợp với các LLVTND và các lực lượng khác thực hiện theo chức năng, quyền hạn.
TRÊN ĐE DƯỚI BÚA, thủ đoạn tác chiến tiến công của QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn trong chiến tranh xám lược Nam VN (1954-75). Dùng một lực lượng đủ mạnh bí mật chiếm giữ địa hình có lợi sau vị trí bố trí của đối phương, đồng thời dùng lực lượng chủ yếu tiến công từ chính diện dồn ép đối phương vào khu vực đã bị chặn phía sau để tiêu diệt.
TRÍ TUỆ NHÂN TẠO, gọi chung các thiết bị tự động có khả năng suy luận và giải quyết vấn đề tương tự như các quá trình xảy ra trong bộ não con người. Những nghiên cứu khởi đầu về TTNT được tiến hành từ cuối những năm 50 tk 20. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, khoa học về TTNT ngày càng phát triển mạnh mẽ với nhiều ứng dụng đa dạng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Ba hướng tiếp cận trí thông minh trong TTNT: dựa trên hệ thống kí hiệu (symbolism) theo đó trí thông minh có thể biểu diễn qua một hệ thống kí hiệu; dựa trên việc mô phỏng hoạt động của mạng nơron trong não người (connectionism); kết hợp hai hướng trên thành các hệ lai (hibrid systems).
TRIỂN KHAI ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU, tổng thể các hoạt động bố trí lực lượng của phân đội, binh đội, binh đoàn thành đội hỉnh chiến đấu trên thực địa (trên biển và trên không). TKĐHCĐ của bộ đội binh chủng hợp thành có thể tiến hành từ đội hình trước chiến đấu, đội hình hành quân...
TRIỂN KHAI LỰC LƯỢNG CHIẾN DỊCH, tổng thể các hoạt động tổ chức cơ động và bố trí lực lượng, hình thành bố trí chiến dịch để đánh địch theo ý định tác chiến. Yêu cầu TKLLCD: chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian, đúng vị trí, sẵn sàng chiến đấu cao; giữ bí mật ý định chiến dịch và bảo đảm an toàn. Để đạt được các yêu cầu trên phải có kế hoạch chu đáo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, chỉ huy sâu sát và nhạy bén.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #304 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 03:57:20 pm » |
|
TRlỀU TIÊN* (Chosun, A. Korea), đất nước trên bán đảo Triều Tiên ở Đông Bắc Á, từ 1948 bị chia cắt bời vĩ tuyến 38 thành hai quốc gia riêng biệt; CHDC nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) ở phía bắc và Đại Hàn dân quốc (Hàn Quốc) ở phía nam. Dt 219.806 km2; ds 69,5 triệu người (2001). Địa hình phần lớn là núi. Phía bắc là dãy núi Bắc Triều Tiên, đỉnh cao nhất 2.750m, phía đông là dãy Đông Triều Tiên. Nam và tây nam có các dãy Nam Triều Tiên. Đồng bằng chiếm 25% lãnh thổ. Nhà nước phong kiến tập quyền hình thành trên bán đảo TT từ tk 10. Tk 13-14 lệ thuộc Mông cổ. Cuối tk 16 bị Nhật xâm chiếm. 1876 Nhật buộc TT kí các hiệp định bất bình đẳng, 1905 biến TT thành lãnh thổ bảo hộ, 1910 thành thuộc địa của Nhật. 1945 QĐ LX giải phóng TI khỏi ách thống trị của Nhật. Theo thỏa thuận giữa các nước đồng minh, TT tạm thời bị chia thành hai miền dưới sự quản lí của LX (bắc vĩ tuyến 38) và Mĩ (nam vĩ tuyến 38). Tháng 12.1945 hội nghị các bộ trưởng ngoại giao LX, Mĩ, Anh ở Maxcơva quyết định khôi phục TT thành một nước độc lập dân chủ, nhưng Mĩ đã không thực hiện nghị quyết này. 5.1948 miền Nam tổ chức bầu cử riêng rẽ, 15.8.1948 thành lập Đại Hàn dân quốc (Hàn Quốc). 8.1948 các lực lượng tiến bộ ở cả hai miền Nam, Bắc TT tổ chức bầu cử Hội nghị nhân dân tối cao, 9.9.1948 tuyên bố thành lập nước CH DC nhân dân Triều Tiên. Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-53) để lại hậu quả nặng nề cho cả hai miền TT. Sau nhiều năm ở trạng thái đối địch, những năm gần đây quan hệ giữa hai miền TT dần dần được cải thiện, phát triển theo hướng tăng cường hợp tác, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước. TRlỂU TIÊN** (Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên; Chosun Inmin Minchuchuyi Kunghuaguk, A. Democratic People’S Republic of Korea), quốc gia ở bắc bán đảo Triều Tiên, bắc vĩ tuyến 38. Dt 120.538km2; ds 22,47 triệu người (2003); 99% người Triều Tiên. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Triều Tiên. Tôn giáo: đạo Phật, đạo Saman. Thủ đô: Bình Nhưỡng. Chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân. Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan lập pháp duy nhất: Hội nghị nhân dân tối cao (quốc hội). Chủ tịch ủy ban thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao đồng thời đại diện nhà nước về phương diện ngoại giao. Cơ quan lãnh đạo quân sự tối cao: Hội đồng quốc phòng, đứng đầu là người lãnh đạo tối cao. Cơ quan hành pháp: Chính vụ viện UBND trung ương (nội các chính phủ) do thủ tướng đứng đầu. Trên 75% lãnh thổ là núi, đông bắc có núi lửa Pêchtu cao 2.750m. Bờ biển cao, vách đứng, ít bị chia cắt. Khí hậu ôn đới, ẩm. Nước công nông nghiệp. Các ngành công nghiệp chính: khai thác mỏ. luyện kim, chế tạo máy, điện năng, hóa chất, dệt... Sản phẩm nông nghiệp chính: gạo, ngô, lúa mì, bông, lanh, thuốc lá, rau quả...; chăn nuôi gia súc, đánh cá. GDP 16,752 tỉ USD (2000), bình quân đầu người 839 USD. Thành viên LHQ (17.9.1991). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 31.5.1950. LLVT: lực lượng thường trực 1.082.000 (lục quân 950.000, hải quân 46.000, không quân 86.000), lực lượng dự bị 4.700.000. Tuyển quân theo lệnh động viên. Trang bị: 3.500 xe tăng chủ lực, 560 xe tăng hạng nhẹ, 2.500 xe thiết giáp chở quân, 3.500 pháo mặt đất xe kéo, 4.400 pháo tự hành, 2.500 pháo phản lực, 7.500 súng cối, 30 tên lửa chiến dịch, 24 tên lửa hành trình, 30 tên lửa Scut, 11.000 pháo phòng không. 10.000 tên lửa phòng không, 26 tàu ngầm, 3 tàu frigat, 6 tàu khu trục, 43 tàu tên lửa, 103 tàu phóng lôi, 158 tàu tuần tiễu, 23 tàu quét mìn, 10 tàu đổ bộ, 7 tàu hộ tống, 621 máy bay chiến đau (MiG-17, 19, 21, 23, 29, Su-7, Su-25), 300 máy bay vận tải quân sự, 306 máy bay trực thăng... Ngân sách quốc phòng 1,4 ti USD (2002). 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #305 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 03:59:02 pm » |
|
TRIỆU QUANG PHỤC (Triệu Việt Vương; 7-571), danh tướng của Lí Bí, người kế tục thắng lợi cuộc kháng chiến chống nhà Lương (TQ). Quê Chu Diên (nay thuộc tp Hà Nội). 541 cùng cha là thái phó Triệu Túc theo Lí Bí đánh quân Lương, được phong tả tướng quân. 546 được Lí Bí ủy quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến. 548 Lí Bí mất, TQP tự xưng là Triệu Việt Vương, lập căn cứ ở Đầm Dạ Trạch (cg Dạ Trạch Vương), ban ngày giữ kín lực lượng, ban đêm kéo thuyền ra đánh úp trại giặc. 550 nhân lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, TQP đánh bại quân Lương, giết tướng chỉ huy Dương Sàn, giải phóng đất nước, về đóng đô ở Long Biên (Hà Nội). 557 bị Lí Phật Tử đem quân đánh ở Thái Bình nhằm khôi phục nhà Lí. Không thắng nổi, Lí Phật Tử xin giảng hòa, rồi lập thông gia. TQP nể tình Lí Nam Đế, chia đôi nước, lấy bãi Quân Thần (vùng Thượng Cát, Hạ Cát, thuộc h. Từ Liêm, Hà Nội) làm ranh giới, để Lí Phật Tử đóng đô ở ô Diên (thuộc Đại Mỗ, h. Từ Liêm, Hà Nội). Năm 571 Lí Phật Tử đánh úp Long Biên, TQP không chống nổi, phải rút chạy và nhảy xuống biển Đại Nha (nay là Cửa Liêu, Sông Đáy, thuộc h. Nghĩa Hưng, t. Nam Định) tự vẫn. Hiện còn đền thờ ở làng Độc Bộ, t. Nam Định. TRIỆU THỊ TRINH nh BÀ TRIỆU TRIỆU TIẾN XUÂN (S. 1947), Ah LLVTND (1971). Dân tộc Dao, quê xã Đại Xuân, h. Na Hang, t. Tuyên Quang; nhập ngũ 1966; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là hạ sĩ, pháo thủ số 1, Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 204, BTL pháo binh. 1967-68 chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Trong trận tập kích vị trí Hạ Thôn (6.3.1968), TTX vừa làm pháo thủ số 1 vừa làm pháo thủ số 3, khi được lệnh bắn gấp, đã nạp liên tục 34 quả đạn pháo 130mm. Trong trận tập kích hỏa lực căn cứ Đông Hà (20.6.1968), một mình tự thao tác pháo 130mm, bắn 4 quả đạn trúng mục tiêu góp phần cùng đại đội diệt hàng trăm địch, phá hỏng 8 khẩu pháo, bắn cháy 7 máy bay, 12 kho đạn và xăng dầu của địch. Huân chương: Chiến công hạng ba. TRIỆU VĂN BÁO (1932-94), Ah LLVTND (1956). Dân tộc Tày, quê xã Chí Viễn, h. Trùng Khánh, t. Cao Băng; nhập ngũ 1950, đại tá (1982); đv ĐCS VN (1954); khi tuyên dương Ah là đại đội phó thông tin, Sư đoàn 316. Trong KCCP, chiến sĩ thõng tin Đại đoàn 316, tham gia chiến đấu nhiều trận, luôn khắc phục khó khăn đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, nêu gương cho đơn vị học tập. Trận diệt đồn Larive (Phù Lỗ, 6.12.1951), làm tổ trường thông tin. nhận được lệnh tiến công của tiểu đoàn, TVB đã chủ động phát lệnh cho đại đội nổ súng (khi đại đội trường hi sinh), ba lần nối đường dây bị pháo bán đứt; TVB đã dùng tay giữ chặt hai đầu dây, bào đảm liên lạc thông suốt. Trận Cầu Ngà (Bắc Ninh. 1952), khi liên lạc qua đường dây bị gián đoạn, TVB 7 lần chạy bộ chuyển lệnh dưới làn đạn pháo, bảo đảm liên lạc thông suốt giữa tiểu đoàn và đại đội. Trận Vận Tải (Hải Dương), 2 trung đội vào sát đồn địch thì bị lộ, địch bắn ra ác liệt, TVB đeo máy trên lưng, bò qua đầm lầy đưa máy vào trước, mở đường cho lực lượng phía sau vào nổ súng kịp thời diệt đồn địch. Huân chương: Quàn công hạng ba, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì)...  TRIỆU VIỆT VƯƠNG X. TRIỆU QUANG PHỤC TRINH SÁT X. TRINH SÁT QUÂN SỰ TRINH SÁT CHỤP ẢNH HÀNG KHÔNG, trinh sát quang học dùng khí tài đặt trên khí cụ bay chụp ảnh tình hình địch, địa hình rồi đoán đọc phim ảnh để thu được tình báo. TSCAHK có ưu điểm: khách quan, chi tiết, nhiều tư liệu, chính xác; có khả năng trinh sát cả vùng lãnh thổ rộng lớn và nhận được một lượng thông tin lớn trong một thời gian ngắn; có khả năng phát hiện các mục tiêu kích thước nhỏ và những thay đổi nhỏ trên địa hình trong thời gian giữa hai lần bay chụp. Dùng ảnh hàng không có thể phát hiện được nhiều vật không được biểu thị trên bản đồ, nhưng lại dễ nhận ra trên thực địa (như hố bom, công sự lẻ...).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #306 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:00:27 pm » |
|
TRINH SÁT ẢNH VŨ TRỤ, trinh sát quân sự dùng các phương tiện kĩ thuật chụp ảnh đặt trên các khí cụ bay vũ trụ (tàu vũ trụ, vệ tinh nhân tạo...). Hình ảnh được truyền trực tiếp về căn cứ để phân tích đánh giá (ảnh quét, ảnh vô tuyến, ảnh rađa), hoặc được đưa về mặt đất để in tráng sau đó giải đoán để tìm các thông tin cần thiết (ảnh quang học). Đối với các cường quốc QS, TSAVT là phương pháp không thể thay thế trong việc kiểm soát các vụ nổ hạt nhân, theo dõi hoạt động của tên lửa đạn đạo, trinh sát các mục tiêu QS của đối phương...
TRINH SÁT ÁNH SÁNG MỜ, trinh sát quang học dùng khí tài khuếch đại ánh sáng mờ (trăng, sao) hoặc dùng người có khả năng nhìn đêm. Kết quả trinh sát được chuyển phát qua ảnh, vô tuyến truyền hình. TSASM phụ thuộc chủ yếu vào độ phản quang, độ tương phản của mục tiêu, điều kiện địa hình, thời tiết, tính năng và trình độ sử dụng khí tài. Từ đầu tk 20, TSASM xuất hiện và ngày càng phát triển, hoàn thiện. Trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), Mĩ đã tiến hành TSASM bằng các khí tài MPAK, AN/PVS-2, AN/TVS-2, AN/TVS-4...
TRINH SÁT ÂM THANH, trinh sát điện từ dùng thiết bị đo âm, phát hiện tiếng động dựa vào hiện tượng truyển âm trong khí quyển. Ở pháo binh, dùng TSÂT để xác định vị trí, số lượng pháo, cối, giàn hỏa tiễn của đối phương đang bắn, nhưng không quan sát được. Xác định vị trí vũ khí pháo binh được tiến hành bằng phương pháp giao hội. TSÂT không phụ thuộc tầm nhìn (mây, mù, mưa...), có thể tiến hành bất cứ lúc nào trong ngày, đém. TSÂT xuất hiện vào đầu tk 20. Trong CTTG-II được vận dụng rộng rãi và ngày càng phát triển trong một số quân chủng, binh chủng. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã tiến hành TSÂT bằng các phương tiện phát hiện tiếng động như tiếng người nói, tiếng xe cơ giới chạy (các loại cây nhiệt đới ACCUBOY, MINISID, PSID...) để xác định vị trí bố trí và hành quân của LLVTND VN.
TRINH SÁT BẰNG TRẬN CHIẾN ĐẤU, thủ đoạn trinh sát do các phân đội bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng, phân đội trinh sát tiến hành bằng hành động tiến công khi các phương pháp trinh sát khác ít có hiệu quả.
TRINH SÁT BIÊN PHÒNG, trinh sát quân sự sử dụng lực lượng trinh sát biên phòng và các thủ đoạn nghiệp vụ biên phòng để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc phục vụ cho việc truy tố trước pháp luật, góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh ở khu vực biên giới, vùng biển, đảo. Phương thức hoạt động của TSBP: trinh sát điệp báo, trinh sát phản gián, trinh sát đặc nhiệm, trinh sát vô tuyến điện, trinh sát quân báo và hoạt động điều tra hình sự. Ngoài ra theo yêu cầu nhiệm vụ TSBP còn hoạt động với một số phương thức khác như: trinh sát quân báo, điều tra xét hỏi.
TRINH SÁT BỘ ĐỘI BINH CHỦNG HỢP THÀNH, trinh sát quân sự do các phân đội trinh sát (bộ binh, cơ giới, xe tăng, đổ bộ đường không...) thuộc các liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội, binh chủng hợp thành tiến hành. Thường dùng các biện pháp: trinh sát sục sạo, trinh sát vũ trang, trinh sát luồn sâu, hỏi tin nhân dân, bắt tù binh... Để tiến hành TSBĐBCHT phải tổ chức: đài (vọng) quan sát, đội trinh sát tuần tiễu, toán trinh sát tuần tiễu độc lập, toán trinh sát cảnh giới chiến đấu, toán trinh sát luồn sâu, toán trinh sát tiềm nhập điều ưa vị trí, toán trinh sát địch hậu, toán trinh sát cơ động, toán trinh sát bắt tù binh, toán trinh sát đặc nhiệm, toán trinh sát sĩ quan... Phạm vi trinh sát phụ thuộc phạm vi tác chiến của liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội binh chủng hợp thành.
TRINH SÁT CẢI TRANG, trinh sát quân sự tiến hành bằng thay đổi cách ăn mặc và dáng điệu giả thành người dân, binh lính, sĩ quan địch,... cho phù hợp với địa bàn, địa hình, địa vật để tiếp cận, xâm nhập vào mục tiêu.
TRINH SÁT CHIẾN DỊCH, trinh sát quân sự phục vụ cho việc chuẩn bị và thực hành chiến dịch; có quan hệ chặt chẽ với trinh sát chiến lược và trinh sát chiến thuật. Nhiệm vụ của TSCD: thu thập tình hình đối phương, địa hình toàn bộ khu vực chiến dịch và địa hình, địa phương cổ liên quan. Phạm vi TSCD phụ thuộc vào tính chất, quy mô, nhiệm vụ chiến dịch, tình hình đối phương, quyết tâm chiến dịch và chỉ lệnh trinh sát của cấp trên.
TRINH SÁT CHIẾN LƯỢC, trinh sát quân sự phục vụ cho kế hoạch chiến lược, kế hoạch sử dụng LLVT trong chiến tranh và các chiến dịch chiến lược; có quan hệ chặt chẽ với trinh sát chiến dịch và trinh sát chiến thuật. Nhiệm vụ của TSCL: điều tra tình hình chính trị, QS, LLVT, tiềm lực QS, kinh tế quốc phòng, tình hình chính trị - xã hội, khả năng động viên, chiến trường... TSCL do cơ quan tham mưu chiến lược tổ chức và chỉ đạo; được thực hiện bằng điệp báo chiến lược, trinh sát vô tuyến điện, trinh sát đặc nhiệm, trinh sát đường không...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #307 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:01:52 pm » |
|
TRINH SÁT CHIẾN THUẬT, trinh sát quân sự phục vụ cho việc chuẩn bị và thực hành trận chiến đấu; có quan hệ chặt chẽ với trinh sát chiến dịch và trinh sát chiến lược. Nhiệm vụ TSCT: thu thập, nghiên cứu về lực lượng, khả năng chiến đấu, ý định và hành động của đối phương; phát hiên và xác định vị trí các phương tiện hỏa lực, vô tuyến điện tử, SCH của đối phương; tính chất địa hình, chướng ngại tự nhiên, các địa vật, số lượng và tình trạng đường sá, hệ thống công trình, vật cản... Phạm vi TSCT phụ thuộc vào tính chất và quy mô trận chiến đấu, khu vực bố trí lực lượng, phương tiện của đối phương liên quan đến trận chiến đấu, tính chất của địa hình, chỉ lệnh trinh sát của cấp trên...
TRINH SÁT CÔNG BINH, trinh sát quân sự để bảo dám công binh (địa hình, khí hậu, thời tiết, thủy văn, tình hình nhân lực, vật lực tại chỗ có thể huy động, tình hình công trình và hành động của công binh địch). TSCB do các cơ quan và đơn vị công binh tiến hành độc lập hoặc trong đội hình trinh sát của bộ đội binh chủng hợp thành.
TRINH SÁT CỦA NGƯỜI CHỈ HUY, trinh sát quân sự do người chỉ huy trực tiếp tiến hành nhằm kết luận tình hình địch, địa hình, thời tiết và các yếu tố liên quan khác phục vụ cho công tác chỉ huy tác chiến. TSC.NCH thường tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị và trong quá trình tác chiến. Một dạng của TSCNCH là trinh sát thực địa.
TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM, trinh sát quân sự tiến hành nhằm điều ưa và phá hoại các tiềm lực QS, kinh tế, chính trị của đối phương. Nhiệm vụ chủ yếu của TSĐN: khai thác tin tức tình báo về các mục tiêu chính trị, kinh tế, QS của đối phương; phá hủy (tiêu diệt) các mục tiêu quan trọng; xây dựng và giúp đỡ quần chúng tổ chức các đội quân ngầm (biệt động, biệt kích); tổ chức các hoạt động lật đổ, phá hoại, gây rối; tiến hành trừng phạt các lực lượng đối địch. TSĐN do người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp chiến lược hoặc chiến dịch tổ chức và chỉ đạo tiến hành bằng lực lượng trinh sát đặc nhiệm. Trong thời chiến để TSĐN chủ yếu dùng các đơn vị trinh sát phá hoại, biệt kích, thám báo (vd: ở Mĩ gọi là đội đặc nhiệm. Anh gọi là đội trinh sát phá hoại, CHLB Đức gọi là phân đội trinh sát sâu). Ngoài ra, còn có các binh đội. phân đội đặc nhiệm của không quân và hải quân. Trước CTTG-II nhiệm vụ TSĐN do lực lượng tình báo gián điệp thực hiện. Trong CTTG-II Mĩ, Anh, các nước thuộc khối phát xít và một số nước khác đã xây dựng lực lượng TSĐN. Sau CTTG-II Mĩ và một số nước khác tiến hành TSĐN trên quy mô lớn.
TRINH SÁT ĐỊA HÌNH, trinh sát quân sự về địa hình trong khu vực sẽ hoạt động tác chiến; dáng đất, chất đất, thảm thực vật, chướng ngại nước, hệ thống cầu đường, điểm dân cư, công trình thủy lợi... và những yếu tố khác của địa hình ảnh hưởng đến hoạt động tác chiến của bộ đội.
TRINH SÁT ĐỊCH HẬU, trinh sát quân sự bằng cách phái lực lượng trinh sát vào sâu khu vực địch chiếm đóng để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng như: điều ưa vũ khí hạt nhân, điều tra lực lượng dự bị của địch, các mục tiêu quan trọng,... do người chỉ huy từ binh đoàn trở lên quyết định. Thủ đoạn trinh sát chủ yếu: quan sát, điều tra, bắt tù binh, cải trang...
TRINH SÁT ĐIỆN TỬ, trinh sát quân .sự dùng phương tiện điện tử được tiến hành từ mặt đất, trên không, trên vũ trụ, trên và dưới mặt nước. TSĐT gồm: trinh sát vô tuyến điện, trinh sát vô tuyến truyền hình, trinh sát nhiệt vô tuyến điện, trinh sát rada, trinh sát âm thanh, trinh sát thủy âm. TSĐT xuất hiện từ CTTG-I, phát triển nhanh trong CTTG-II, ngày càng hoàn thiện theo hướng tự động hóa và được sử dụng rộng rãi trong QĐ nhiều nước (nhất là trong tác chiến điện tử). ở VN, trong KCCM. TSĐT được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả.
TRINH SÁT ĐƯỜNG BIỂN, trinh sát quân sự tiến hành ở mặt biển, dưới nước và vùng trời trên biển bằng tàu thuyền, máy bay và các phương tiện trinh sát khác để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ tác chiến và những nhiệm vụ bảo đảm khác trên biển. TSĐB thường do lực lượng hải quân tổ chức và thực hiện.
TRINH SÁT ĐƯỜNG KHÔNG, trinh sát quân sự bằng các chuyến bay để phục vụ cho nhiều mục đích QS khác nhau. Có: trinh sát bằng mắt và trinh sát bằng các thiết bị kĩ thuật chuyên dùng (điện tử, chụp ảnh, truyền hình) trên máy bay; trinh sát chiến thuật, trinh sát chiến dịch, trinh sát chiến lược.
TRINH SÁT HẬU CẦN, trinh sát quân sự nhằm nghiên cứu, khảo sát tại chỗ những điều kiện thực tế có liên quan đến công tác hậu cần trên một địa bàn hoặc một khu vực nhất định. Nội dung của TSHC gồm: khảo sát địa hình, mạng đường giao thông, nghiên cứu điều kiện khí hậu, thời tiết, thúy văn... để xác định các khu vực dự kiến triển khai lực lượng hậu cần khảo sát môi trường sống, tình hình vệ sinh dịch tễ khu vực; nghiên cứu khả năng động viên tại chỗ lực lượng hậu cần để phục vụ nhiệm vụ tác chiến; những điểm dự kiến địch đánh phá và khả năng khắc phục tại chỗ... TSHC do người chỉ huy hậu cần và cơ quan tham mưu hậu cần tổ chức, cơ quan (cán bộ, nhân viên) các ngành hậu cần trực tiếp thực hiện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #308 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:03:00 pm » |
|
TRINH SÁT HÓA HỌC - PHÓNG XẠ, trinh sát quân sự bằng các khí tài trinh sát chuyên dụng, cung cấp các yếu tố cần thiết về hóa học, phóng xạ cho cơ quan tham mưu và người chỉ huy để xử trí các tình huống hóa học, phóng xạ. Có TSHH-PX trên không, mặt đất và nước. TSHH-PX ở mặt đất, có: trinh sát đường cơ động (hành quân, đường vòng, vượt khu vực nhiẻm...); trinh sát các khu vực (dự kiến bố trí quân, triển khai lực lượng, khu vực bị tập kích vũ khí hủy diệt lớn và khu vực trên hướng truyền lan của đám mây nhiễm độc, nhiễm xạ...): trinh sát lương thực, thực phẩm bị nhiễm... TSHH-PX chủ yếu do phân đội TSHH-PX đảm nhiệm.
TRINH SÁT HỒNG NGOẠI, trinh sát quang học dùng khí tài hồng ngoại đế xác định tọa độ, tự động bám sát, theo dõi mọi hoạt động và chụp ảnh toàn cảnh mục tiêu, chụp ảnh địa hình và dẫn phương tiện sát thương đến mục tiêu. TSHN có loại chủ động và bị động. TSHN chủ động là dùng khí tài chiếu tia hồng ngoại vào mục tiêu để trinh sát mục tiêu. TSHN bị động là dùng khí tài thu bức xạ nhiệt của mục tiêu để trinh sát mục tiêu. TSHN xuất hiện từ CTTG-II. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã tiến hành TSHN bằng các khí tài AAD-4, A AS-14, AAS-18, AAS-24...
TRINH SÁT KHÍ TƯỢNG MẬT ĐẤT của pháo binh, quan sát và đo các yếu tố khí tượng ở khu vực xác định để đảm bảo khí tượng cho các phân đội pháo binh; bộ phận của công tác bảo đảm tác chiến của pháo binh. TSKTMĐ có thể bằng khí tài chuyên dùng (bộ đồ khí tượng) hoặc bằng mắt và ước đoán. TSKTMĐ bằng khí tài có thể xác định chính xác các yếu tố khí tượng mặt đất như: nhiệt độ, áp suất khí quyển, tốc độ gió, hướng gió...; TSKTMĐ bằng mắt và ước đoán phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của trinh sát viên.
TRINH SÁT KHÍ TƯỢNG - THỦY VĂN, trinh sát quân sự bằng mắt hoặc khí tài nhằm khai thác tin tức về các thành phần khí tượng - thủy văn và tình hình các vùng nước (biển, sông, hồ...) trong một thời gian ở một khu vực nhất định để đảm bảo khí tượng - thủy văn cho hoạt động của bộ đội. Được tiến hành để xác định vùng mây, mưa, hiện tượng giông bão, tốc độ gió, hướng di chuyển của chúng và các hiện tượng thời tiết ảnh hưởng đến hoạt động của bộ đội. Theo phương tiện thu nhận số liệu, TSKT-TV được chia ra: TSKT-TV bằng rađa, vệ tinh, máy bay, tàu thủy và TSKT-TV chuyên môn (do các phân đội trinh sát khí tượng - thủy văn tiến hành).
TRINH SÁT KĨ THUẬT, 1) trinh sát quân sự phục vụ cho công tác kĩ thuật trong hoạt động tác chiến. TSKT bao gồm: xác định vị trí, số lượng, nguyên nhân, mức độ hư hòng vũ khí, trang bị kĩ thuật; tình hình hoạt động của các phân đội bảo đảm kĩ thuật; điều kiện và khả năng tiến hành các hoạt động sửa chữa, cứu kéo; khả năng huy động các nguồn lực, phương tiện, vật tư kĩ thuật tại chỗ; đề xuất các biện pháp xử trí; 2) nh trinh sát kĩ thuật vô tuyến điện.
TRINH SÁT KĨ THUẬT VÔ TUYÊN ĐIỆN, trinh sát vô tuyến điện để thu thập tin tức về các phương tiện vô tuyến điện tử của đối phương. Có nhiệm vụ phát hiện kiểu loại, công dụng, nội dung tín hiệu và vị trí của phương tiện điện tử của đối phương. Việc phát hiện kiểu loại và công dụng của chúng được tiến hành theo tham số tín hiệu do chúng phát ra, còn vị trí của chúng được xác định bằng phương pháp giao hội và bằng các phương pháp khác. TSKTVTĐ gồm: trinh sát tín hiệu thông tin vô tuyến điện (vô tuyến điện thoại, vô tuyến điện báo) và những tín hiệu không thuộc thông tin vô tuyến điện (tín hiệu nhiễu vô tuyến điện, tín hiệu rađa, tín hiệu điều khiển tên lửa, dẫn đường máy bay...). TSKTVTĐ có ưu điểm: cự li trinh sát xa, phạm vi rộng, thu tình báo tương đối kịp thời, chính xác, an toàn, địch khó phát hiện, tiến hành liên tục trong thời bình, thời chiến. Nhưng dễ bị nhiễu, bị lừa (điện báo giả) và bị hạn chế bởi điều kiện truyền lan sóng vô tuyến điện, mmi TSKTVTĐ xuất hiện từ CTTG-I, lúc đầu mới chi là trinh sát thông tin vô tuyến điện; sau khi xuất hiện vũ khí có điều khiển HMBI và rađa, đã có thêm trinh sát tín hiệu không thuộc thông tin vô tuyến điện. Trong CTTG-II, TSKTVTĐ không ngùng phát triển và sau đó ngày càng được hoàn thiện theo hướng tự động hóa. Trong QĐ một số nước đã có bộ đội TSKTVTĐ chuyên môn. Trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), Mĩ đã dùng các phương tiện TSKTVTĐ đặt trên các phương tiện bay.
TRINH SÁT LADE, trinh sát quang học dùng khí tài lade để thu thập tin tức về đối phương. TSL có thể phát hiện, phân biệt, xác định tọa độ mục tiêu (đo cự li), chi thị mục tiêu, chụp ảnh và truyền hình ở cự li xa với tốc độ cao. Trên thế giới, TSL xuất hiện từ những năm 50 của tk 20 và ngày càng phát triển, hoàn thiện. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã tiến hành TSL bằng các khí tài: AN/AVD.2, AN/AVD.3, AN/ASQ.127.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #309 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:03:59 pm » |
|
TRINH SÁT LUỒN SÂU, trinh sát quân sư được tiến hành trong khu vực của địch hoặc vùng địch tạm chiếm, bằng cách bí mật vượt hoặc vòng qua các khoảng cách, chỗ sơ hở trong đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) của địch, nhằm thu thập tình hình địch, địa hình, địa phương... và thực hiện một số nhiệm vụ trinh sát quan trọng. TSLS thường được tổ chức, trang bị tinh gọn và được giao khu vực hoạt động, nhiệm vụ (mục tiêu) trinh sát cụ thể. TSLS thường vận dụng các thủ đoạn trinh sát: quan sát, cải trang, tiềm nhập, chụp ảnh; tập kích, phục kích bắt tù binh, đoạt tài liệu...
TRINH SÁT PHÁO BINH, tổng thể các hoạt động thu thập tin tức về địch, địa hình, thời tiết để đảm bảo cho nhiệm vụ hỏa lực và cơ động của pháo binh trong tác chiến; bộ phận của trinh sát bộ đội binh chủng hợp thành. Nhiệm vụ của TSPB là: phát hiện trận địa hỏa lực (pháo binh, súng cối và các phương tiện hỏa lực khác), xe tăng (xe bọc thép), các SCH, các phương tiện tác chiến điện tử và những đối tượng (mục tiêu) quan trọng khác của địch trên trận địa, ở khu vực tập kết hay đang hành quân; các cứ điểm (cụm cứ điểm), hệ thống công trình phòng ngự, vật cản; tiến hành đo đạc, xác định tọa độ các mục tiêu dự kiến tiến hành hỏa lực pháo binh; trinh sát địa hình, trinh sát khí tượng - thủy văn trong khu vực tác chiến; theo dõi diễn biến tác chiến (địch, ta); phục vụ bắn và sửa bắn, nắm kết quả bắn của pháo binh. TSPB do người chỉ huy và cơ quan tham mưu pháo binh tổ chức. Các phân đội TSPB tiến hành trinh sát bằng khí tài quang học, quang - điện tử, rađa, đo âm thanh và bằng giác quan..., sử dụng các thủ đoạn, phương pháp trinh sát thích hợp. Yêu cầu của TSPB: liên tục, tích cực, có mục đích, kịp thời, tin cậy và chính xác.
TRINH SÁT PHỤC KÍCH, trinh sát quân sự dùng hành động tiến công của phân đội trinh sát để bắt tù binh, thu tài liệu, vũ khí, mẫu vật,... của đối phương. Yêu cầu của TSPK: thông thạo địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động của đối phương, chọn nơi buộc chúng phải đi qua để phục kích. TSPK có thể tiến hành bằng cách bố trí lực lượng chờ sẵn (cg trinh sát phục kích tại chỗ) hoặc lực lượng trinh sát từ một khoảng cách nhất định cơ động đến (cg trinh sát vận động phục kích). TSPK thường vận dụng cách đánh bí mật bằng trang bị chuyên dùng là chủ yếu, khi thật cần thiết mới nổ súng. Muốn TSPK thắng lợi phải có lực lượng chặn đầu, khóa đuôi và lực lượng đánh chủ yếu, bất ngờ đồng loạt xung phong bao vây, chia cắt để đánh bắt địch.
TRINH SÁT QUANG HỌC, trinh sát quân sự dùng khí tài quang học, quang điện tử để trinh sát đối phương. TSQH bao gồm: trinh sát ảnh hàng không, trinh sát ảnh vũ trụ, trinh sát lade, trinh sát hồng ngoại, trinh sát ánh sáng mờ và trinh sát bằng khí tài quang học thông dụng khác. TSQH còn có thể xác định kết quả bắn, ném bom, phóng tên lửa. TSQH có thể tiến hành trên bộ, trên mặt nước, trên không và trên vũ trụ. TSQH phụ thuộc vào điều kiộn thời tiết, thời gian (ngày, đêm) và khả năng ngụy trang của đối phương, điều kiện địa hình trong khu vực tiến hành trinh sát. TSQH xuất hiện vào cuối tk 16 đầu tk 17, ngày càng phát triển và hoàn thiện. Trong KCCM (1954-75), ở VN đã tiến hành TSQH bằng ống nhòm các loại, kính nhìn ngầm, kính kinh vĩ, máy đo xa lade, các khí tài khuếch đại ánh sáng mờ.
TRINH SÁT QUÂN SỰ, loại bảo đảm tác chiến, gồm tổng thể các hoạt động nhằm thu thập, nghiên cứu các tin tức và tài liệu về địch và chiến trường (thực tế hoặc dự kiến), do người chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp tổ chức, chỉ đạo và tiến hành. Theo quy mô, có: trinh sát chiến lược, trinh sát chiến dịch và trinh sát chiến thuộc, theo nhiệm vụ, có: trinh sát tình hình địch, trinh sát tình hình xã hội, trinh sát địa hình..., theo lực lượng và phương tiện, có: điệp báo, trinh sát điện tử, trinh sát đặc nhiệm, quân báo nhân dân, trinh sát bộ đội binh chủng hợp thành, trinh sát của các binh chủng (bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ...); theo môi trường tác chiến, có: trinh sát mặt đất, trinh sát đường không, trinh sát đường biển. Các thủ đoạn TSQS: quan sát, sục sạo, tiềm nhập, luồn sâu, phục kích, tập kích, bằng trận chiến đấu, cải trang, định hướng vô tuyến, thu nghe vô tuyến điện, hữu tuyến điện, chụp ảnh, quay phim, hỏi tin nhân dân, hỏi cung tù - hàng binh, đoạt tài liệu, nghiên cứu tài liệu... Yêu cầu cơ bản của TSQS: liên tục, tích cực, kịp thời, chính xác.
TRINH SÁT QUÂN Y, trinh sát quân sự nhằm điều tra, thu thập tình hình có liên quan đến bảo đảm quân y giúp người chỉ huy có cơ sở để tổ chức đảm bảo quân y trong tác chiến. Nhiệm vụ chủ yếu của TSQY là điều tra: tình hình vệ sinh, các bệnh dịch, điều kiện có liên quan đến tổ chức cứu chữa vận chuyển thương binh, bệnh binh và bố trí triển khai các tuyến quân y; tình hình y tế nhân dân, hậu cần tại chỗ; tình hình vệ sinh, các bệnh dịch quân y trong QĐ địch. TSQY có các loại: trinh sát chiến thuật quân y, trinh sát vệ sinh dịch tễ, trinh sát vi trùng... Tổ chức TSQY là nhiệm vụ của tất cả các tuyến, các cấp quân y. TSQY cần được tiến hành theo một trình tự chật chẽ, bằng nhiều biện pháp trong đó trinh sát thực địa là biện pháp quan trọng, đáng tin cậy nhất.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|