Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:48:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: T  (Đọc 41047 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #310 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:05:18 pm »


        TRINH SÁT RAĐA, trinh sát điện tử dùng khí tài rada để xác định tọa độ, các tham số chuyển động, tính chất hoạt động của máy bay, tên lửa, tàu chiến,... trận địa pháo, trận địa tên lửa, căn cứ hải quân, tâm nổ hạt nhân trên không, trên mặt đất, mặt nước trong mọi điểu kiện thời tiết, ngày đêm. TSR xuất hiện từ những năm 40 của tk 20, phát triển nhanh trong CTTG-II, sau đó phát triển theo hướng tăng cự li phát hiện, khả năng cơ động, chống nhiễu, tự động hóa quá trình phát hiện và thông báo mục tiêu. Ở VN, TSR phòng không xuất hiện 1.3.1959. Trong KCCM (1954-75), đã bảo đảm tác chiến cho Quân chủng phòng không - không quân, các lực lượng phòng không nhân dân và phòng không khác.

        TRINH SÁT TÀU NGẨM, trinh sát quân sự đối với môi trương biển bằng các lực lượng chống ngầm nhằm phát hiện, bám sát các hoạt động của tàu ngầm đối phương hoặc kịp thời công kích tiêu diệt chúng.

        TRINH SÁT TẬP KÍCH, trinh sát quân lự dùng hành động tiến công để bắt tù binh, cướp tài liệu, mẫu vật... Yêu cầu TSTK: triệt để lợi dụng địa hình địa vật, sơ hở của địch,... bí mật áp sát đối tượng, hình thành thế bao vây chia cắt, nắm chắc thời cơ có lợi, bất ngờ đánh bắt tù binh... nhanh chóng rút quân an toàn. Khi TSTK thường sử dụng phân đội trinh sát dược trang bị vũ khí, phương tiện chuyên dùng; vận dụng cách đánh bí mật là chủ yếu, khi thật cần thiết mới nổ súng. Muốn TSTK đạt hiệu quả cao, thường tổ chức lực lượng thành các tổ: đánh bắt tù binh; tổ xung lực - yểm trợ và tổ hỏa lực. Ngoài ra, căn cứ vào tình hình cụ thể có thể tổ chức thêm các tổ: ngăn chặn, phối hợp nghi binh, dự bị.

        TRINH SÁT THỦY ÂM, trinh sát điện tủ dùng các khí tài thủy âm để phát hiện các mục tiêu trên và dưới mặt nước bằng cách thu, ghi, phân tích dao động thủy âm phát ra hoặc phản hồi từ tàu thủy, thủy lôi và những mục tiêu khác. Nguồn thông tin để thu thập và xử lí là các trường âm thanh sơ cấp của mục tiêu (tiếng động chân vịt, động cơ tàu...), tín hiệu của khí tài thủy âm tích cực (trạm liên lạc thủy âm, rađa thủy âm, máy thủy định vị, thiết bị nhận dạng, điều khiển vũ khí...). Các khí tài thủy âm thu và phân tích tham số những tín hiệu đó, xác minh vị trí, kiểu loại và tính chất hoạt động của mục tiêu.

        TRINH SÁT THỰC ĐỊA, trinh sát quân sự bằng cách nghiên cứu tận mắt tình hình địch, địa hình ngay tại khu vực hoạt động; được tiến hành khi chuẩn bị tác chiến, chuyển quân, bố trí bộ đội, chọn địa điểm bố trí SCH, chuẩn bị diễn tập... Mục đích TSTĐ giúp người chỉ huy hạ quyết tâm hoặc xác minh quyết tâm đã hạ trên bản đồ. TSTĐ do người chỉ huy đích thân tiến hành cùng với người phó chỉ huy (tham mưu trưởng), người chỉ huy các đơn vị trực thuộc, phối thuộc, chi viện, chủ nhiệm các binh chủng, bộ đội chuyên môn, các ngành nghiệp vụ, các sĩ quan tham mưu. Khi không đủ thời gian, người chỉ huy có thể tiến hành TSTĐ trên hướng chủ yếu, còn trên các hướng khác giao cho những người phó chỉ huy đảm nhiệm. Trước khi tiến hành TSTĐ. cơ quan tham mưu phải lập kế hoạch trinh sát; gồm: mục đích, nhiệm vụ, thành phần đi TSTĐ, đường hành quân và phương tiện đi lại, các điểm dừng để làm việc, những vấn đề chủ yếu phải giải quyết ở từng điểm, phân chia thời gian cho từng việc, thời gian bắt đầu và kết thúc, công tác bảo đảm.

        TRINH SÁT TlỂM NHẬP, trinh sát quân sự được tiến hành bằng cách triệt để lợi dụng các yếu tố địa hình, địa vật, thời tiết,... kết hợp vận dụng nhuần nhuyễn kĩ thuật, chiến thuật chuyên ngành để bí mật tiếp cận, luồn lách vào mục tiêu quy định nhằm điều tra, thu thập tin tức theo yêu cầu nhiệm vụ. Các thủ đoạn trinh sát chủ yếu: quan sát, cải trang, tiếp cận, điều tra...

        TRINH SÁT TÌNH HÌNH ĐỊCH, trinh sát quân sự để nắm tình hình địch, cung cấp cho cơ quan tham mưu và người chỉ huy  chuẩn bị hạ quyết tâm và xử trí tình huống tác chiến. Nhiệm vụ TSTHĐ: xác đinh phiên hiệu đơn vị, biên chế trang bị, bố trí lực lượng, ý đồ hành động, đặc điểm tác chiến, bố trí trận địa, hệ thống hỏa lực, cấu trúc công sự, bố trí chướng ngại vật, bảo đảm hậu cần kĩ thuật, đặc điểm và trình độ sĩ quan chỉ huy, tinh thần, bản lĩnh chiến đấu của binh lính địch... TSTHĐ được tiến hành trước, trong và sau chiến đấu theo yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến. TSTHĐ do lực lượng trinh sát và bộ đội các đơn vị tác chiến thực hiện.

        TRINH SÁT TÌNH HÌNH XÃ HỘI, trinh sát quân sự được tiến hành để nắm tình hình xã hội trong khu vực đang thực hành tác chiến hoặc chuẩn bị thực hành tác chiến phục vụ cho lãnh đạo và chỉ huy tác chiến. Nhiệm vụ TSTHXH: điều tra, xác minh tình hình dân cư, phong tục tập quân, đặc điểm dân tộc, đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa trong khu vực tác chiến. Các thủ đoạn TSTHXH: quan sát, phỏng văn, điều tra, sưu tầm tài liệu...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #311 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:07:07 pm »


        TRINH SÁT VI TRÙNG, trinh sát quân y nhằm xác định địch sử dụng vũ khí vi trùng, phương tiện và phương pháp sử dụng, loại vi trùng gây bệnh, phạm vi các vùng nhiễm (vùng truyền lan), mức độ và thời hạn nguy hiểm trong các khu vực nhiễm. TSVT do lực lượng chuyên môn của quân y và bộ đội hóa học tiến hành.

        TRINH SÁT VIÊN, cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện nghiệp vụ quân báo - trinh sát; được biên chế chuyên trách hoặc kiêm nhiệm trong các đơn vị của quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn thuộc ba thứ quân. TSV có nhiệm vụ trực tiếp điểu tra, thu thập tin tức về địch, địa hình, thời tiết và những tình hình có liên quan để phục vụ cho chỉ huy và mọi hành động tác chiến của bộ đội.

        TRINH SÁT VÔ TUYẾN ĐIỆN, trinh sát điện tử dùng phương tiện vô tuyến điện để tìm hiểu ý đồ, thành phần và bố trí lực lượng của đối phương. TSVTĐ do lực lượng chuyên trách được trang bị máy thu, máy định vị vô tuyến diện để thu, phân tích tổng hợp tin và định vị các máy vô tuyến điện đối phương. TSVTĐ có thể tiến hành ở mặt đất, trên biển, trên không và trên vũ trụ. Khả năng TSVTĐ phụ thuộc vào tính năng máy thu, máy định vị vô tuyến điện, kĩ năng sử dụng máy và vị trí đặt máy của đối phương, điều kiện truyền lan sóng điện từ... TSVTĐ xuất hiện từ CTTG-I; ở VN, từ KCCP và sử dụng rộng rãi trong KCCM.

        TRINH SÁT VÔ TUYẾN TRUYỂN HÌNH, trinh sát điện tử dùng phương tiện vô tuyến truyền hình để năm tình hình đối phương; dược tiến hành bằng camera phát vô tuyến truyền hình đặt trên phương tiện vũ trụ, máy bay, xe cơ giới, tàu biển và có thể mang xách hoặc đặt ngay tại trận địa. TSVTTH xuất hiện từ đầu những năm 60 của tk 20 và ngay càng phát triển, hoàn thiện. Đặc biệt TSVTTH từ vũ trụ có thể thu các số liệu địa - vật lí, khí tượng toàn cầu và các số liệu khắc.

        TRINH SÁT VŨ TRANG, trinh sát quân sự dùng hành động chiến đấu để xác minh bố trí lực lượng, trận địa. hệ thống hỏa lực, chướng ngại,... của đối phương. Gồm: trinh sát bằng trận chiến đấu, trinh sát hỏa lực, phục kích, bắt tù binh... Trinh sát hỏa lực là dựa vào tập kích hỏa lực buộc đối phương bắn trả làm bộc lộ hệ thống hỏa lực, từ đó xác minh bố trí binh lực hỏa lực của đối phương. TSVT có thể được tiến hành trong hậu phương địch (bắt tù binh, lấy tài liệu...). TSVT dược vận dụng cả trong trận chiến đấu và cả trong chiến dịch. TSVT xuất hiện trước công nguyên, trong CTTG- II được sử dụng rộng rãi và đến nay vẫn được coi trọng. Ở VN, trong KCCP và KCCM, TSVT đã được vận dụng có hiệu quả. Vd: 27.12.1950, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 đã dùng hỏa lực của 18 khẩu trung liên, xác định đúng vị trí bố trí của 1 tiểu đoàn quân Pháp ở Xuân Trạch (bắc Vĩnh Yên), đảm bảo cho bố đội tiến công tiêu diệt gọn tiểu đoàn này.

        TRINH SÁT VŨ TRỤ, trinh sát quân sự bằng cách dùng phương tiện vũ trụ để thu thập, khai thác tin tức về đối phương và chiến trường. TSVT có thể trong một thời gian ngắn kiểm soát vùng đất, vùng biển, vùng trời rộng lớn, cung cấp tin tức với độ chính xác cao. Nội dung chính của TSVT là: chụp ảnh tổng thể và chi tiết, trinh sát tổng hợp, phát hiện sớm việc phóng tên lừa, kiểm soát các vụ nổ hạt nhân... Trong chiến tranh Vùng Vịnh (17.1-28.2.1991) Mĩ đã sử dụng nhiều loại vệ tinh cùng với các phương tiện trinh sát khác đặt trên mặt đất, trên biển để tiến hành trinh sát tình hình các mặt của Irắc, theo dõi các hoạt động trên chiến trường...

        TRÌNH ĐỘ SẴN SÀNG ĐỘNG VIÊN, mức độ dạt được về kết quả chuẩn bị động viên của địa phương, đơn vị QĐ, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế có nhiệm vụ động viên theo định mức sẵn sàng động viên. Gồm: (đã) sẵn sàng động viên, sẵn sàng dộng viên hạn chế, chưa sẵn sàng động viên.

        TRỊNH ĐÌNH CỬU (1906-90), người đứng đầu BCHTƯ lâm thời ĐCS VN (2-7.1930). Quê xã Định Công, h. Thanh Trì, tp Hà Nội; tham gia CM 1926; đv ĐCS VN (1930). Năm 1927 bí mật sang TQ, gia nhập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), dự lóp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. 3.1929 tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở VN (tại số 5D phô' Hàm Long, tp Hà Nội); 6.1929 tham gia sáng lập Đông Dương cộng sản đảng. 2.1930 cùng Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu cho Đông Dương cộng sản đảng) dự hội nghị thành lập DCS VN tại Hương Cảng (TQ); về nước dược cử đứng đầu BCHTƯ lâm thời của DCS VN. Đầu 1931 bị thực dân Pháp bắt và đày ra Còn Đảo. 1936 được trả tự do, tiếp tục hoạt động CM. Sau CM tháng Tám (1945), xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kì, được .cử giữ chức chính trị ủy viên Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (1947). Cuối 1954 phó giám đốc Trưòng đảng Nguyễn Ái Quốc. 1960 nghỉ công tác, tiếp tục nghiên cứu lí luận và lịch sử Đảng. Huân chương: Hồ Chí Minh.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #312 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:08:09 pm »


        TRỊNH KHẢ (Lê Khả; 7-1451), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, đại thần nhà Hậu Lê. Quê Kim Bôi, h. Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Vĩnh Hoà, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Sau khi cha bị quân Minh giết, ж theo Lê Lợi khởi nghĩa. 1416 dự hội thề Lũng Nhãi. 1419 làm sứ giả của nghĩa quân, sang Lào nhờ giúp đỡ binh lương, được vua Lào ủng hộ. Trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh ( 1418- 27), tham gia chỉ huy đánh thắng quân Minh trong các trận: Ninh Kiều (Chương Mĩ, Hà Tây), cầu Xa Lộc và thành Tam Giang (Phong Châu, Phú Thọ); cùng Phạm Văn Xảo chỉ huy đánh bại quân Mộc Thạnh ở Lãnh Cầu và Đan Xá (gần ải Lê Hoa, Hà Giang), diệt hơn 10.000, bắt sống hơn 1.000 quân Minh. Sau giải phóng, coi việc quân ở kinh đô: 1433 kiêm coi việc quân thuộc đạo Hải Tây (từ Thanh Hóa đến Quảng Nam); sau làm tổng quản Lạng Sơn. 1446 cùng Lê Thụ đem quân đánh bại quân Chiêm Thành vào quấy phà vùng đất phía nam, được thăng bình chương quân quốc trọng sự, thượng trụ quốc, mang họ vua. 1451 bị nghi oan và bị giết. 1484 được Lê Thánh Tông minh oan, truy phong thiếu phó, tước Liệt Quốc Công. Hiện có miếu thờ ở quê.

        TRỊNH KIỂM (1502-70), danh tướng, đại thần dưới ba đời vua thời Lê Trung Hưng (Trang Tông, Trung Tông và Anh Tông). Quê Sóc Sơn, Vĩnh Phước (nay thuộc h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Có tài mưu lược, lập nhiéu chiến công, được Hưng Quốc Công Nguyền Kim trọng dụng, cho làm rê, được vua phong đại tướng quân, tước Dực Quận Công. 1543 đánh dẹp Trịnh Công Năng. 1545 được phong thái sư, tước Lượng Quốc Công, nắm giữ toàn bộ binh quyền. 1546-57 dẹp yên các vùng từ Thanh Hóa đến Quảng Ngãi và đánh thắng hai cuộc tiến công lớn của quân Mạc vào Thanh Hóa do Mạc Kính Điển chỉ huy. 1556 lập Lê Duy Bang kế vị Trung Tông (gọi là Anh Tông). 1557-64 đem quân ra các trấn ngoài Bắc. đánh đâu thắng đấy, song không chiếm được Thăng Long do nhà Mạc chiếm giữ (xt nội chiến Lê - Mạc. 1527-92). Năm 1569 được vua phong thượng tướng, Thái Quốc Công, tôn làm thượng phụ. Được truy phong Thái Vương.

        TRINIĐAT VÀ TÔBAGÔ (Cộng hòa Triniđat và Tôbagô: A. Republic of Trinidad and Tobago), quốc gia ở cháu Mĩ Latinh, trong vùng biển Caribê. Dt 5.130km2; ds 1,1 triệu người (2003); chủ yếu người da màu. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hổi, Ân Độ giáo. Thủ đô: Pot ôp Xpên. Chính thể cộng hoà, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thú tướng đứng đầu. Lãnh thổ gồm 2 dảo lớn Triniđat (4.8(X)km2), Tôbagô (300km2) và 5 đảo nhỏ khác (tổng diện tích khoảng 30km2) ở nam quần đảo Ăngti. Địa hình bằng phẳng, thấp. Núi ở phía bắc đảo Triniđat, đỉnh cao nhất 940m, đông bắc đảo Tôbagô có núi, đỉnh cao nhất 576m. Khí hậu cận xích đạo. Rừng nhiệt đới. Kinh tế phát triển so với các nưóe ở vùng Caribê. Trữ lượng dầu mỏ và khí tụ nhiên lớn. Khai thác dầu mỏ và hóa dầu là hai ngành chính của nền kinh tế. Du lịch quốc tế phát triển, thu nhiều ngoại tệ. Săn bay quốc tế: Piarơcô; cảng biển: Xpên. GDP 8,842 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 6.750 USD. Thành viên LHQ ( 18.9.1962), Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mĩ, Cộng đồng Caribê, Khối liên hiệp Anh. LLVT: lực lượng thường trực 2.700 người (lục quản 2.000, hải quân 700). Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 46 súng cối, 14 pháo phản lực, ìo tàu tuần tiễu, 7 máy bay các loại. Ngân sách quốc phòng 67 triệu USD (2002).


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #313 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:10:31 pm »


        TRỌNG ĐIỂM, khu vực địa hình tương đối hẹp nhưng giữ vai trò quan trọng hoặc có ảnh hưởng quyết định đối với các hoạt động QS, nơi địch thường tập trung nỗ lực đánh phá, ngăn chặn các hoạt động của ta. TĐ thường là đầu mối giao thông quan trọng, đoạn đường, đèo độc dạo, bến vượt (ngầm), sân bay, bên cảng... Trong KCCM, trên đường Hồ Chí Minh có hàng trăm TĐ bị địch đánh phá, ngăn chặn cơ động, vận chuyển của ta; điển hình là TĐ ATP (cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Pulanhich).

        TRỌNG LIÊN, súng máy cỡ lớn chủ yếu dùng diệt mục tiêu trên không, trên mặt đất, mật nước có bọc giáp mỏng. Cỡ nòng 9-14,5mm, khối lượng 28-47,5kg, tốc độ bắn lí thuyết 550-1.000 phát/ phút, tốc độ bắn thực tế 70-150 phát/ phút, tầm bắn hiệu quả đến 2.000m. TL có thể lắp đặt trên xe tăng, xe thiết giáp, tàu thuyền, máy bay nhờ các giá chuyên dụng. Các loại TL hiện sử dụng phổ biến là: ĐSK-M 12,7mm, KPV 14,5mm (LX), M-85 12/7mm (Mĩ).



        TRỌNG PHÁO (pháo cỡ lớn, pháo hạng nặng), gọi chung các loại pháo có uy lực lớn, thường có cỡ nòng từ 130mm trở lên.

        TRỌNG TẢI của tàu (sức chở), khối lượng hàng hóa tính bằng tấn mà một tàu có thể chở được đến giới hạn quy định theo thiết kế; một đặc tính quan trọng của tàu vận tải. Có: TT toàn phần Mtp (bằng hiệu giữa lượng giãn nước chở đẩy và lượng giãn nước không tải) và TT có ích (TT tinh là khối lượng hàng hóa, hành khách cùng với hành lí mà tàu chuyên chở). Ngoài ra, đối với các tàu vận tải còn xác định TT đăng kí tính theo thể tích (mét/khối) hoặc tấn đăng kí (1 tấn bằng 2,83m2); TT đăng kí tinh VNT là thể tích tất cả các khoang tàu dùng để chuyên chở hàng hóa và hành khách; TT đăng kí thô (toàn phần) VBR là thể tích tất cả các khoang tàu. Quan hệ gần đúng giữa TT đăng kí, TT toàn phần và lượng giãn nước đầy tải M được xác định theo hệ thức:


   
        TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC, vấn để chủ yếu, quan trọng nhất giữ vai trò chi phối sự phát triển của từng giai đoạn chiến lược, đòi hỏi tập trung chỉ đạo để tạo chuyển biến chiến lược. TTCL thường thay đổi, phát triển trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược. Xác định đúng và nắm vững TTCL là nội dung quan trọng nhất của nghệ thuật chỉ đạo chiến lược.

        TRỢ LÍ, 1) chức danh của người trực tiếp giúp việc người chỉ huy từ cấp tiểu đoàn và tương đương trở lên, trong một lĩnh vực chuyên môn (tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật...); 2) chức danh của người đảm nhiệm một lĩnh vực chuyên môn trong cơ quan QS. Cơ quan tham mưu có TL: tác chiến, huấn luyện, điều lệnh, quân lực...; cơ quan chính trị có TL: cán bộ, tuyên huấn, chính sách...; cơ quan hậu cần có TL: quân nhu, quân trang, doanh trại, xăng xe... Chức trách nhiệm vụ của TL được quy định trong tiêu chuẩn chức danh cán bộ QĐ.

        TRÚ QUÂN, bố trí bộ đội ở ngoài doanh trại trong thời gian ngắn tại khu vực tập kết, nơi nghỉ lâu trong hành quân... TQ được thực hiện theo quyết định của người chỉ huy cấp trên. Khu vực TQ phải bảo đảm bố trí lực lượng bí mật, phân tán. thuận tiện cho bộ đội nghỉ ngơi, nhanh chóng tập trung cơ động khi cần và điều kiện vệ sinh phòng dịch. Trước khi bộ đội vào khu vực TQ, phải tiến hành trinh sát (xác định khu vực bố trí của từng đơn vị, cơ quan,... đường vào nguồn nước, tình hình nhân dân và những vấn đề cần thiết khác). Khi vào khu vực TQ, phải có kế hoạch sẵn sàng đối phó với quân địch (tổ chức phòng không, phòng tránh vũ khí hủy diệt lớn, tuần tra canh gác, ngụy trang và các biện pháp khác).

        TRỤ, trang bị che đỡ phần đầu, cổ của chiến binh, được làm bằng chất liệu bền chắc để tránh sát thương do vũ khí lạnh {cung, nỏ, mâu, kích, đao...). T thường là dây leo bện tết, làm bằng da thú hoặc kim loại. T thường ghép liền với giáp thành giáp trụ. Đến thời cận đại, T phát triển thành mũ sắt chống đạn.


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #314 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:11:35 pm »


        TRỤ BẾN. hình thức chiến thuật bảo đảm vượt sông trong đó bộ đội công binh bám ở bến vượt trong thời gian dài để đảm bảo cho lực lượng vượt sông hoặc ứng cứu bảo đảm giao thông tạm thời khi địch đánh hỏng cầu. Nơi TB thường là các trọng điểm thường xuyên bị đánh phá ác liệt trên các tuyến đường cơ động, vận chuyển chiến lược, khó mở được đường, bến vòng tránh do địa hình phức tạp nhưng có điều kiện để tổ chức trú ẩn cho bộ đội, cất giấu phương tiện vượt sông, đàm bảo cho bộ đội hoạt động lâu dài. Tùy thuộc vào yêu cầu cơ động, vận chuyển, lực lượng TB thường từ 1 trung đội đến 1 đại đội được trang bị khí tài vượt sông tự hành hoặc vượt sông cơ giới. Ở VN, trong KCCM bộ đội công binh đã TB ở nhiều trọng điểm trên các trục đường vận chuyển chiến lược ở miền Bắc và tuyến đường Trường Sơn như: Bến Thủy, Xuân Sơn, Long Đại, Linh Cảm, ngầm Ta Lê...

        TRỤC PHÁT XÍT, liên minh QS - chính trị giữa ba nước phát xít Đức - Ý - Nhật trong CTTG-II. Thành lập 27.9.1940 trên cơ sở hiệp ước Beclin nhằm mở rộng LTTG-II và phân chia khu vực ảnh hường: Nhật ở châu Á, Đức và Ý ở châu Âu. Do thắng lợi của Đồng minh chống phát xít, kế hoạch xâm lược để phân chia lại thế giới của TPX bị phá sản. TPX bất đầu tan vỡ khi chế độ Mutxôlini ở Ý sụp đổ 25.7.1943 và đầu hàng 3.9.1943, chính phủ mới ở Ý tuyên chiến với Đức 13.9.1943 và tan rã hoàn toàn sau khi Đức và Nhật buộc phải đầu hàng vô điều kiện trong CTTG-II (9.1945). Cg phe trục.

        TRUMAN (A. Harry S. Truman: 1884-1972), tổng thống Mĩ thứ 33 (1945-53), người hạ lệnh ném bom nguyên tử xuống Hirôsima và Nagaxaki cuối CTTG-II; thuộc ĐDC Mĩ. Sinh ở Lama, bang Mixuơri (Mĩ). 1922 hoạt động chính trị, thượng nghị sĩ (1935-45), chủ nhiệm ủy ban của thượng nghị viện đầu tư cho các chương trình quốc phòng. 3-4.1945 phó tổng thống. 4.1945 Rudơven chết, lên làm tổng thống, về đối nội, đàn áp ĐCS và phong trào đấu tranh của công nhân, sinh viên và những người da màu. Về đối ngoại, là một trong những người khởi xướng chiến tranh lạnh, học thuyết Truman, thuyết Đôminô, thành lập NATO..., ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương, cung cấp viện trợ kinh tế, QS cho Pháp, thuyết phục quốc hội Mĩ dành quỹ cho cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương nhằm ngăn chặn “sự bành trướng” của CNCS, coi cuộc KCCP của nhân dân VN là sự “đe dọa” của cộng sản đối với phương Tây và Mĩ. 1950 điều quân xâm lược Triều Tiên (x. chiến tranh Triều Tiên, 1950-53).

        TRUNG BỘ, phần lãnh thổ miền Trung VN từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. 1834 triều Nguyễn chia vùng này (trừ phủ Thừa Thiên và kinh thành Huế) thành bốn khu vực nhỏ là Bắc Trực (Quảng Bình, Quảng Trị), Nam Trực (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Hữu Kì (cg Hữu Trực hay Hữu Trực Kì, từ Hà Tĩnh đến Thanh Hóa) và Tả Kì (cg Tả Trực hay Tả Trực Kì, từ Bình Định đến Bình Thuận). Theo hiệp ước Quý Mùi (25.8.1883), từ Bắc Trực đến Tả Kì (trừ Bình Thuận) gộp lại thành Trung Kì và hưởng quy chế tự trị. Hiệp ước Giáp Thân (6.6.1884) trả các tỉnh Hữu Trực cũ và Bình Thuận về Trung Kì. Từ 1887 trở thành một xứ thuộc địa trong Liên hiệp Đông Dương (Đông Dương thuộc Pháp). 3.1945 thống sứ Nhật Nisimura đổi Trung Kì thành TB.

        TRUNG ĐOÀN, binh đội chiến thuật cơ bản, liền trên tiểu đoàn. Thường gồm 3 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc, nằm trong biên chế sư đoàn, bộ chỉ huy quân sự tỉnh hoặc dược tổ chức độc lập trong quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyển môn... để tác chiến và thực hiện nhiệm vụ khác. Có TĐ chiến đấu (TĐ bộ binh, TĐ bộ binh cơ giới, TĐ xe tăng, TĐ pháo binh, TĐ đặc công, TĐ không quân, TĐ hải quân đánh bộ...), TĐ bảo đảm hoặc phục vụ (TĐ công binh, TĐ thông tin, TĐ hóa học, TĐ vận tải...). Trong QĐND VN, TĐ được quy định về tổ chức lần đầu tiên theo sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946, biên chế chi tiết (TĐ bộ binh) theo sắc lệnh 71-SL ngày 22.5.1946 của chủ tịch nước VN DCCH và các văn bản tiếp sau của BQP, BTTM.

        TRUNG ĐOÀN 1 (Sư đoàn 2, Quân khu 5), trung đoàn bộ binh chủ lực; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1972, 1976 và 1979). Thành lập 20.11.1963, trực thuộc Quân khu 5. Tiền thân là “Công trường I - kiêm tỉnh đội Quảng Nam” ra đời 11.1962; tháng 10.1965 thuộc biên chế Sư đoàn 2. Liên tục chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc, nổi bật là: trận Kì Sanh mùa Thu 1964, trận đầu đánh bại chiến thuật thiết xa vận trên chiến trường đồng bằng Khu 5; Xuân 1965 tiêu diệt cứ điểm Việt An, phá vỡ phòng tuyến Sông Khang; Hè 1965 phối hợp với LLVT tinh Quảng Ngãi mở chiến dịch Ba Gia, trận đầu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy, giải phóng 27 xã và 20 vạn dán, với chiến thắng nảy trung đoàn được mang danh hiệu “Trung đoàn Ba Gia”. 18.8.1965 đánh bại 8.000 lính thủy đánh bộ Mĩ ở Vạn Tường, trận thắng Mĩ đầu tiên của bộ đội chủ lực miền Nam. Tham gia tổng tiến công Mậu Thân (1968) ở t. Quảng Ngãi, t. Quảng Nam; chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1970-71); chiến dịch bắc Tây Nguyên (1972); chiến dịch Huế - Đà Nẵng (1975), giải phóng tp Đà Nẵng, chiến đấu ở mật trận biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia (1978-88). Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Phạm Duy Minh và Nguyễn Đình Trọng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #315 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:12:32 pm »


        TRUNG ĐOÀN 1 (Sư đoàn 330, Quân khu 9), trung đoàn bộ binh chủ lực; đơn vị ba lẩn Ah LLVT (1973, 1975 và 1989). Thành lập 23.9.1963 tại căn cứ u Minh (t. Cà Mau), mang tên Trung đoàn U Minh, tiền thân là Tiểu đoàn U Minh 1; tháng 9.1976 thuộc biên chế Sư đoàn 330 gồm 3 tiểu đoàn bộ binh (309, 307 và 303). Trong KCCM chiến đấu trên địa bàn các tỉnh: Cà Mau, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long lập nhiều chiến công xuất sắc. Nổi bật là trận Chà Là (9.1963) diệt hàng trăm địch, bắn rơi hàng chục máy bay trực thăng, góp phần đánh bại chiến thuật trực thăng vận của Mĩ. 1968 đã 3 lần thọc sâu vào tx Cần Thơ, đánh sân bay Lộ Tẻ, phá 29 máy bay, diệt hàng trăm phi công, diệt gọn 3 tiểu đoàn (1 tiểu đoàn Mĩ), 1 chi đoàn xe bọc thép. 11.1969 phối hợp với h. An Biên (t. Kiên Giang) loại khỏi chiến đấu 4 tiểu đoàn, 1 SCH trung đoàn, bắn chìm, bắn cháy 5 tàu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. 1970-72 diệt 7.000, bắt 212 địch. Xuân 1975 diệt 11 chi khu, 112 dồn, bốt. 6.1975 từ đảo Phú Quốc cùng với hải quân, không quân giải phóng Đảo Ông, Đảo Bà. 1977-78 đánh địch ở biên giới Tây Nam. 1979-89 làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, tham gia giải phóng Phnôm Pênh. Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Nguyền Thành Kính (Ba Kính) và Trần Minh Đức (Tư Đức).

        TRUNG ĐOÀN 7, trung đoàn công binh công trình của QĐND VN; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1970, 1979 và 2003). Thành lập theo quyết định số 203/QĐ-QP 12.11.1965 của BQP với tên gọi Công trường 7, chính thức tổ chức 13.12.1965 tại Hà Nội, quân số 2.773 người; chuyển thành TĐ7 10.1967. Trực thuộc BTL công binh (12.1965-3.1968), Đoàn 559 (1968-71), Mặt trận Tây Nguyên (1972-3.1975), Quân đoàn 3 (từ 3.1975). Tham gia bảo đảm công binh và trực tiếp chiến đấu trong các chiến dịch: Đường 9 - Khe Sanh (1968), bắc Tây Nguyên (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào (1965-67), Campuchia (1979). Trung đoàn trường và chính ủy đầu tiên: Lê Văn Sương, Bùi Khắc Doãn.

        TRUNG ĐOÀN 26, trung đoàn thông tin tổng hợp thuộc Quân chủng phòng không - không quân, đơn vị Ah LLVTND (1978). Thành lập 3.7.1965, tiền thân là Tiểu đoàn thông tin 92 (Cục không quân) và Tiểu đoàn thông tin 26 (BTL phòng không). Từ 10.1999 hợp nhất với Trung đoàn thông tin 252 thành Lữ đoàn thông tin 26. Trong KCCM, thu và phát hàng chục triệu bức điện cơ yếu, chỉ huy, tình báo rađa...; bảo đảm thông tin thường xuyên thông suốt từ SCH quân chủng đến: cơ quan cấp trên, binh chủng, quân chủng, cơ quan, đơn vị... với gần 700 đầu mối; phục vụ bộ đội phòng không - không quân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mĩ ở miền Bác VN; tham gia chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972). Trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972), có nhiều sáng kiến và biện pháp khắc phục nhiễu, bảo đảm thông tin cho các đơn vị tên lửa phòng không, không quân tiêm kích bắn rơi nhiều máy bay Mĩ. Huân chương: 3 Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Trần Phiên, Nguyễn Văn Thâm. Cg Đoàn Sóng Điện.

        TRUNG ĐOÀN 40, trung đoàn pháo binh chủ lực đầu tiên của Mật trận Tây Nguyên; đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 5.2.1967. Tháng 10.1967, TĐ40 tách đôi, một nửa chi viện cho chiến trường Nam Bộ, một nứa ở lại B3 gọi là TĐ40. Tháng 6.1968 trung đoàn có 10 tiểu đoàn và 4 đại đội trực thuộc. 8.1968 tách thành: Trung đoàn 40A, Trung đoàn 40B. Đầu 1974 trở thành trung đoàn pháo binh cơ giới của binh đoàn chủ lực cơ động. Trong KCCM, 1967-75 chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên; đánh 2.814 trận (trận đầu tập kích căn cứ Sùng Thiện, 1967), tiêu diệt 11.380 địch, phá hủy, phá hỏng 532 khẩu pháo, 28 súng cối, 4 đại liên, 576 xe (có 104 xe tăng, xe bọc thép), 227 kho (đạn, xăng dầu, hàng hóa), bắn rơi, phá hủy 562 máy bay, phá sập 344 lô cốt, hầm ngầm, thu 103 xe, 22 pháo và trên 12.000 viên đạn pháo các loại cùng nhiều phương tiện chiến tranh. Huân chương: 2 Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất. 139 lượt đơn vị, 251 cá nhân dược thưởng huân chương các loại, 1 tiểu đoàn được thưởng huân chương Quân công hạng ba. Trung đoàn trưởng đầu tiên: Nguyễn Đức Giá.

        TRUNG ĐOÀN 48(A), trung đoàn bộ binh thuộc biên chế Sư đoàn 320, đơn vị hai lần Ah LLVTND (1975 và 1979). Thành lập 27.2.1947 (phiên hiệu ban đầu là Trung đoàn 80), gồm các đơn vị Vệ quốc đoàn và tự vệ chiến đấu ở các cửa ô của Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Trực thuộc Liên khu 3 (1947-50), Sư đoàn 320 (từ 1951). Trong KCCP, chiến đấu bảo vệ thủ đô Hà Nội, được BQP - Tổng chỉ huy tặng danh hiệu "Trung đoàn Thăng Long”; hoạt động chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Trong KCCM, tham gia chiến đấu ở mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), chiến trường Tây Nguyên (1972- 74), chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Sau 1975, chiến đấu ở mặt trận biên giới Tây Nam (1978) và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (1979). TĐ48(A) đánh nhiều trận, lập nhiều thành tích. Trung đoàn trưởng và chính trị viên đầu tiên: Phùng ThếTài, Trương Công cẩn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #316 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:13:48 pm »


        TRƯNG ĐOÀN 102 X. TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ

        TRUNG ĐOÀN 113, trung đoàn đặc công trực thuộc Bộ chỉ huy Miền; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1975, 1979 và 2000). Thành lập 3.6.1972 tại Biên Hoà. Trong KCCM, hoạt động tác chiến trên địa bàn Biên Hoà, Long Bình. Đã đánh 32 trận vào các căn cứ, hậu cứ của đối phương. 4.1975 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh góp phần giải phóng Sài Gòn. Từ 2.1976 thuộc BTL Binh chủng đặc công. 1978-79 chiến đấu tại mặt trận biên giới Tây Nam. 7.1991 đổi tên thành Đoàn đặc công 113. Có 4 tiểu đoàn, 1 đại đội và 8 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công (1 hạng nhất, 3 hạng ba), Chiến công (2 hạng nhất, 2 hạng nhì, 6 hạng ba). Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Thanh Tùng, Mai Văn Thoạn.

        TRUNG ĐOÀN 134, trung đoàn thông tin hữu tuyến điện thuộc Binh chủng thông tin liên lạc, đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 8.8.1966. Tiền thân là Tiểu đoàn thông tin 134 (tiểu đoàn chuyên trách bảo vệ và khai thác hệ thống thông tin hữu tuyến điện đường dài), thành lập 15.8.1954, thuộc Cục thông tin liên lạc, phát triển thành Lữ đoàn thông tin 134 (2.1.1985); đổi thành TĐ134 (29.10.1990). TĐ134 gồm 6 đại đội thông tin, 1 trung đội thông tin cơ động và các bộ phận phục vụ. Trong KCCM, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc hữu tuyến điện đường dài (đường trục dây trần) từ BQP (BTTM) đến các đơn vị trên chiến trường... Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Đoàn Đình Đạm, Phạm Ngọc Thăng.

        TRUNG ĐOÀN 174, trung đoàn bộ binh chủ lực nổi tiếng của QĐND VN; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1976 và 1979). Thành lập 19.8.1949 tại Đức Long (h. Hòa An, t. Cao Bằng) trên cơ sở hợp nhất lực lượng Tiểu đoàn 73 Trung đoàn 74 (Cao Bằng), Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 72 (Bắc Cạn), Tiểu đoàn 386 Trung đoàn 28 (Lạng Sơn), quân số gần 5.000 người. Trực thuộc Bộ tổng tư lệnh (1949-51), Sư đoàn 316 (5.1951-66), Mặt trận Tây Nguyên (1967-68), Sư đoàn 5 (1968-89)... TĐ174 lập chiến công đầu diệt 97 xe QS (có 1 đại đội xe tăng) và 1 tiểu đoàn quân Pháp trong trận phục kích tại đoạn đèo Bông Lau - Lũng Phầy trên QL 4 (3.9.1949). Cuối 1949 đánh dẹp và truy kích quân Tưởng tới Nam Ninh (TQ), được nhân dân t. Quảng Tây (TQ) tặng bức trướng “Chiến thắng quân Tưởng”. Sau đó, tham gia các chiến dịch: Biên Giới, Trung Du. Đường 18, Tây Bắc, Điện Biên Phủ (trong KCCP); tổng tiến công Xuân Mậu Thân; phản công giải phóng đông bắc Campuchia, Nguyễn Huệ, tổng tiến công Xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) (trong KCCM). Sau 1975, TĐ174 chiến đấu tại mặt trận biên giới Tây Nam (1977-78), tham gia giải phóng nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng Pôn Pốt và làm nhiệm vụ quốc tế ở nước này (1979-89). Cg Trung đoàn Cao -  Bắc - Lạng. Ngày truyền thống 19.8.1949. Trung đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Đặng Văn Việt, Chu Huy Mân.

        TRUNG ĐOÀN 202, trung đoàn xe tăng đầu tiên của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1989). Thành lập 5.10.1959, trực thuộc Bộ tổng tư lệnh. 6.1965-10.1973 thuộc Binh chủng Thiết giáp, từ 10.1973 thuộc Quân đoàn 1. Chuyển thành trung đoàn bộ binh cơ giới (18.11.1971), Lữ đoàn tăng 202 (25.10.1973), Trung đoàn tăng 202 (31.5.1991). Tham gia các chiến dịch: Đường 9 - Khe Sanh (1968), Mường Sủi (Lào, 1969), Cánh Đồng Chum (Lào, 1970), Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972) và chiến dịch Hồ Chí Minh... Cùng đơn vị bạn đánh chiếm BTTM QĐ Sài Gòn (30.4.1975). Ngày truyền thống 5.10.1959. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Đào Huy Vũ, Đặng Quang Long.

        TRUNG ĐOÀN 230. trung đoàn pháo phòng không 57mm dầu tiên của Quân chủng phòng không - không quân thuộc Sư đoàn phòng không 367; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 22.6.1958, thuộc biên chế: BTL phòng không (6.1958- 10.1963); Quân chủng phòng không - không quân (10.1963- 2.1965); BTL Quân khu 4 (2.1965-6.1966); Sư đoàn phòng không 367 (6.1966-3.1979 và 8.1991); Sư đoàn phòng không 377 (3-10.Ĩ979); Sư đoàn phòng không 369 (10.1979- 8.1991). Trong KCCM, chiên đấu trên 17 tỉnh, thành phố miền Bắc, tham gia ba chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971); Trị Thiên (1972); Hồ Chí Minh (1975). Bắn rơi 152 máy bay (gồm 17 kiểu loại, có chiếc thứ 3.000 bị bắn rơi trên miền Bắc. 39 chiếc rơi tại chỗ). 1 tiểu đoàn, 1 đại đội, 1 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng ba. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Ninh Hữu Trác, Lê Hùng Tâm. Cg Đoàn Thống Nhất.

        TRUNG ĐOÀN 236, trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của QĐND VN thuộc Sư đoàn 361, đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 7.1.1965, đổi thành Lữ đoàn tên lửa phòng không 236 (4.1982-91). Thuộc biên chế: Quân chủng phòng không - không quân (1.1965-6.1966); BTL binh chủng tên lửa (3.1967-2.1968). Sư đoàn phòng không 361 (6.1966-3.1967, tháng 2.1968- cuối 1971 và từ 3.1973), Sư đoàn phòng không 365 (cuối 1971 - cuối 1972), Sư đoàn phòng không 367 (cuối 1972-3.1973). Trong KCCM, chiến đấu ở miền Bắc và tỉnh Quàng Trị. Đánh hơn 600 trận, bắn rơi 169 máy bay, gồm 20 kiểu loại (có 9 chiếc B-52 và F-111A); 100 chiếc rơi tại chỗ. 24.7.1965 ở Hà Tây đánh thắng trận đầu, bắn rơi cả tốp 3 F-4 (có chiếc thứ 400 bị bắn rơi trên miền Bắc). 7.3.1966 ở Nghệ An bằng 1 quả tên lửa bắn rơi 2 máy bay trinh sát RF-101; ngày 12.8.1967 ở Hà Nội lần đầu đánh bằng phương pháp ba điểm, bắn rơi tại chỗ RF-4C. Ngày 13.4.1972 tại Ái Sơn bắn rơi B-52. Có 2 tiểu đoàn, 4 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công và nhiều Chiến công. Trung đoàn trường, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Quang Tuyến, Phạm Đăng Ty. Cg Đoàn Sông Đà.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #317 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:14:40 pm »


        TRUNG ĐOÀN 238, trung đoàn tên lửa phòng không tầm trung thuộc Sư đoàn 363; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lập 22.4.1965, thuộc biên chế: Quân chủng phòng không -  không quân (4.1965-7.1966, 5.1968-2.1969), BTL Quân khu 4 (7.1966-5.1968), Sư đoàn phòng không 367 (2.1969- 8.1971), Sư đoàn phòng không 363 (từ 8.1971). Trong KCCM, đánh gần 300 trận, bắn rơi 157 máy bay, gồm 16 kiểu, loại (có 9 B-52), 55 chiếc rơi tại chỗ. 20.9.1965 tại Bắc Giang đánh thắng trận đầu bắn rơi 2 F-105. Ngày 5.10.1965 tại La Khê, Quảng Ninh đánh 2 trận, bắn rơi 4 A-4. Ngày 17.9.1967 tại Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh bắn rơi 2 B-52 (những chiếc B-52 đầu tiên do tên lửa phòng không VN bắn rơi). 6.8.1972 tại Hải Phòng bắn rơi tại chỗ chiếc A-7 (chiếc thứ 3.800 bị bắn rơi trên miền Bắc). Chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972) bắn rơi 3 B-52. Có 1 tiểu đoàn, 2 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: 2 Quân công và nhiều Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Văn Hội, Lê Sĩ Bích. Cg Đoàn Hạ Long.

        TRUNG ĐOÀN 257, trung đoàn tên lửa phòng không tầm trung thuộc Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1985). Thành lập 13.11.1965, trực thuộc Quân chủng phòng không - không quân (11.1965-3.1967). Binh chủng tên lửa (3.1967-2.1968), Sư đoàn phòng không 363 (1.1976-10.1979), Sư đoàn phòng không 369 (10.1979-10.1991), Sư đoàn phòng không 361 (2.1968-1.1976; từ 10.1991). Trong KCCM, chiến đấu ở miền Bắc, đánh 450 trận, bán rơi 74 máy bay Mĩ, gồm 8 kiểu, loại, có 11 B-52 (6 B-52 rơi tại chỗ). Đặc biệt 7.8.1966 tại Việt Yên, t. Bắc Giang bắn rơi tại chỗ F-105 (chiếc thứ 1.300 bị bắn rơi trên miền Bắc); 17.9.1967 tại Hiệp Hoà, t. Bắc Giang, bắn rơi máy bay trinh sát RF-4C (chiếc thứ 2.300 bị bắn rơi trên miền Bắc); 19.12.1972 tại Chèm, Hà Nội bắn rơi tại chỗ B-52; ngày 26.12.1972 tại Hà Nội 3 tiểu đoàn của trung đoàn bắn rơi tại chỗ 3 B-52, có 1 tiểu đoàn Ah LLVT- ND. Huân chương: Quân công, Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Hoàng Hoa Nam, Hàn Nghị. Cg Đoàn Cờ Đỏ.

        TRUNG ĐOÀN 261, trung đoàn tên lửa phòng không tầm trung thuộc Sư đoàn 367; đơn vị Ah LLVTND (1978). Thành lập 30.5.1966, thuộc biên chế: Quân chủng phòng không -  không quân (5.1966-4.1968), Sư đoàn 365 (4.1965-7.1968; 3.1969-9.1970), Sư đoàn 361 (7.1968-3.1969; 9.1970- 6.1986), Sư đoàn 367 (từ 7.1986). Trong KCCM, chiến đấu ở miền Bắc, đánh 183 trận, bắn rơi 55 máy bay Mĩ (21 chiếc rơi tại chỗ). 2.1.1969 tại Bắc Ninh đánh thắng trận đầu bắn rơi máy bay trinh sát không người lái J-147; ngày 27.6.1972 tại Hà Nội bắn rơi máy bay F-4 là chiếc thứ 3.700 bị bắn rơi trên miền Bắc. Trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (12.1972) bắn rơi 12 máy bay B-52 (có 8 rơi tại chỗ). Đêm 18.12.1972 bấn rơi tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên ở Hà Nội, là chiếc thứ 4.100 bị bắn rơi trên miền Bắc, là trung đoàn tên lửa phòng không bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay B-52 của bộ đội tên lửa phòng không VN. Một cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: Quân công hạng ba, 2 Chiến công. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Đỗ Thế Nhân, Lăng Khánh Văn. Cg Đoàn Thành Loa.

        TRUNG ĐOÀN 273, trung đoàn tăng thuộc Quân đoàn 3; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1976 và 1979). Thành lập 3.2.1973 tại bắc Kon Tum trên cơ sở hợp nhất Tiểu đoàn tăng 297 (Trung đoàn tăng 203) với Tiểu đoàn tăng 177 (Trung đoàn tăng 202) và Tiểu đoàn tăng 3 (Trung đoàn tăng 201); được biên chế thành 3 tiểu đoàn tăng 1, 2, 3. Đã chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, tham gia chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), dẫn đầu đội hình đột kích từ nhiều hướng, cùng lực lượng chiến dịch tiêu diệt SCH Sư đoàn 23, làm tan rã các trung đoàn 45, 53 QĐ Sài Gòn, giải phóng tx Buôn Ma Thuột (10-11.3.1975): tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975); một trong những đơn vị đầu tiên đánh chiếm BTTM QĐ Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất (30.4.1975). Sau 1975 chiến đấu ở mặt trận biên giới Tây Nam (1978) và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia; phát triển thành Lữ đoàn tăng 273 (9.1975); đổi thành TĐ273 (5.1991). Ngày truyền thống 3.2.1973. Trung đoàn trường và chính ủy đầu tiên: Lê Ngọ, Mai Xuân Giá.

        TRUNG ĐOÀN 280. trung đoàn pháo phòng không thuộc Sư đoàn 361; đơn vị Ah LLVTND (1969). Thành lập 25.4.1959; thuộc biên chế: Quân chủng phòng không - không quân (9.1959-2.1965), BTL Quân khu 4 (2.1965-cuối 1967), Tổng cục tiền phương (cuối 1967-4.1968), Sư đoàn phòng không 367 (4-11.1968 và 5.1969-5.1978), BTL 500 (11.1968-5.1969), Sư đoàn phòng không 361 (từ 5.1978). Trong KCCM, bắn rơi 307 máy bay Mĩ. 5.8.1964 (tại Vinh, Nghệ An) bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay Mĩ đầu tiên trên miền Bắc (A-4). Đánh bộ binh địch diệt 200 lính ngụy trong chiến dịch Trị Thiên (1972). Bám sát đội hình bộ binh, dùng pháo phòng không bắn thẳng, diệt nhiều hỏa điểm địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Có 1 tiểu đoàn, 2 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: 1 Quân công, 1 Chiến công. Quyền trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Lê Huy Vinh, Hoàng Văn Ngữ. Cg Đoàn Hồng Lĩnh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #318 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:16:04 pm »


        TRUNG ĐOÀN 291, trung đoàn rađa cảnh giới, dẫn đường thuộc Sư đoàn phòng không 365, trung đoàn rađa đầu tiên của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1976). Thành lặp 21.3.1958, tiền thân là Trung đoàn đối không cần vụ 260 (3.1958-9.1960). Trung đoàn rađa tình báo 300 (9.1960-5.1961), TĐ291 (từ 5.1961). Thuộc biên chế: BTL phòng không (3.1958-10.1963), Quân chủng phòng không - không quân (10.1963-3.1967), BTL binh chủng rađa (3.1967-1.1979), Sư đoàn 365 (từ 1.1979). Trong KCCM, triển khai đội hình trên nhiều tỉnh, thành phố miền Bắc, phát hiện kịp thời hàng chục vạn tốp máy bay địch, thông báo chính xác tình báo rađa phục vụ phòng tránh và đánh trả, dẫn đường cho không quân đánh máy bay và tàu chiến địch. 1.3.1959 phát sóng quản lí vùng trời quốc gia. 3.3.1959 phát hiện chiếc máy bay đầu tiên (C-47) xâm phạm vùng trời miền Bắc. 5.8.1964 phát hiện địch từ xa bảo đảm tình báo rađa cho bộ đội phòng không đánh thắng; 3-4.4.1965 dùng rađa 402 dẫn đường cho không quân ta đánh thắng trận đầu ở Hàm Rồng, Thanh Hóa. Trong chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (18-29.12.1972) phát hiện B-52 từ xa bảo đảm tình báo cho bộ đội tên lửa và dẫn đường cho không quân bắn rơi nhiều B-52. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến công hạng nhất. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Lương Hữu Sắt. Lê Đình Truy. Cg Đoàn Ba Bể.

        TRUNG ĐOÀN 921, trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên của QĐND VN, thuộc Sư đoàn 371; đơn vị Ah LLVTND (1969). Thành lập 3.2.1964, theo quyết định 18/QĐ của BQP. trang bị MiG-17. Tháng 7.1965 chuyển sang sử dụng MiG- 21. Trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ (1965-68) đã xuất kích 1.877 lần chiếc, gặp 221 lần tốp máy bay địch, nổ súng 177 lần, bắn rơi 105 máy bay các loại của không quân Mĩ (41 F-105, 4 F-8, 2 A-6A, 1 F-102, 1 A-4, 19 máy bay không người lái, 3 F-4C, 3 F-101, 2 RB- 66, 1 AD-5, 1 RF-4C và một số loại máy bay khác). 1969-71 cơ động vào chiến trường Quân khu 4, tham gia bảo vệ tuyến giao thông vận tải chiến lược. Từ 2.1972 đến 1.1973, đã góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ 2 của Mĩ. Có 3 đơn vị hai lần Ah LLVTND và 13 cá nhân Ah LLVTND. Ngày truyền thống 3.2.1964. Trung đoàn trưởng đầu tiên: Đào Đình Luyện.

        TRUNG ĐOÀN 923, trung đoàn không quân tiêm kích thuộc Sư đoàn 372; đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 4.8.1965, được trang bị máy bay MiG-17, gồm 2 đại đội với 17 phi công và các thành phần bảo đảm bay. Trong chiến tranh phá hoại của Mĩ ở Bắc VN, từ 4.3.1966 đến 11.1969, TĐ923 đã xuất kích gần 2.000 lần chiếc, đánh 92 trận, bắn rơi 93 máy bay Mĩ các loại. Từ 11.1969, cơ động trên chiến trường Quân khu 4, biên đội Lê Xuân Dị - Nguyễn Văn Bảy bắn cháy tàu khu trục Mĩ trên vùng biển tỉnh Quảng Bình (19.4.1972). TĐ923 đã cơ động trên nhiều sân bay, bắn rơi 14 máy bay Mĩ. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Biên đội Quyết Thắng tập kích vào sán bay Tân Sơn Nhất bằng máy bay A-37, phá hủy 24 máy bay, góp phần làm sụp đổ chế độ Sài Gòn. Từ 1979, TĐ923 được trang bị máy bay tiêm kích bom Su-22. Có: Đại đội 4 (3 lần), Đại đội 2 (2 lần) và 10 cá nhân Ah LLVTND. Huân chương: 12 Quân công, 145 Chiến công, 93 huy hiệu Bác Hồ. Trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Phúc Trạch, Nguyễn Ngọc Phiếu.

        TRƯNG ĐOÀN BA GIA nh TRUNG ĐOÀN 1 Sư đoàn 2

        TRUNG ĐOÀN BỘ BINH CƠ GIỚI, trung đoàn được trang bị xe chiến đấu bộ binh (xe thiết giáp) và xe tăng (pháo tự hành); thường được biên chế 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, 1 tiểu đoàn tăng (pháo tự hành), đại đội pháo phòng không, các phân đội trực thuộc: trinh sát, thông tin, công binh, sửa chữa, vận tải, quân y và một số phân đội bảo đảm khác. Thuộc biên chế của sư đoàn bộ binh cơ giới hoặc được tổ chức độc lập trực thuộc quân đoàn, quân khu... TĐBBCG hoạt động tác chiến trong đội hình cấp trên hoặc độc lập.

        TRUNG ĐOÀN CAO - BẮC - LẠNG nh TRUNG ĐOÀN 174

        TRUNG ĐOÀN CÔNG BINH, trung đoàn thuộc công binh chủ lực, biên chế trong quân khu. quân đoàn, quân chủng và binh chủng công binh; gồm từ 3 đến 4 tiểu đoàn công binh được chuyên môn hóa, có trang bị cơ giới và một số đại đội chuyên môn khác để thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm công binh ương tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng ở quy mô chiến dịch, chiến lược hoặc chuyên trách xây dựng các công trình quốc phòng có quy mô lớn. Thường có TĐCB hỗn hợp trực thuộc quân đoàn, quân khu, quân chủng và TĐCB chuyên trách trực thuộc Binh chủng công binh và có thể tổ chức lâm thời ở quân khu.

        TRUNG ĐOÀN ĐẶC CÔNG, đơn vị chiến thuật lốn nhất của đặc công, trực thuộc Bộ. quân khu, mặt trận. TĐĐC gồm một số liên đội, phân đội trực thuộc và cơ quan; có nhiệm vụ cơ động tác chiến trên các chiến trường, tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng binh chủng ở quy mô chiến dịch, chiến lược. Thường tác chiến bằng hình thức trận chiến đấu của các phân đội đánh vào các mục tiêu trong hậu phương và phía sau đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) của đối phương.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #319 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2019, 04:17:18 pm »


        TRUNG ĐOÀN HẢI QUÂN, trung đoàn thuộc biên chế của vùng hải quân hoặc trực thuộc BTL hải quân, làm nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm chiến đấu của hải quân, có thể hành động độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Tổ chức thường gồm 3 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc. Có TĐHQ chiến đấu (tên lửa bờ, bảo vệ đảo...), TĐHQ bảo đảm phục vụ (công binh, thông tin...).

        TRUNG ĐOÀN HÓA HOC, trung đoàn bảo đảm chiến đấu trực thuộc Binh chủng hóa học. Thường gồm: chỉ huy và các cơ quan trung đoàn, 3-4 tiểu đoàn hóa học và một số đại đội trực thuộc; các tiểu đoàn hóa học được tổ chức theo chuyên ngành: tiểu đoàn trinh sát, tiểu đoàn tiêu tẩy, tiểu đoàn khói lửa hoặc tiểu đoàn hỗn hợp. Có nhiệm vụ: bảo đảm hóa học trên các hướng tác chiến của Bộ; khắc phục sự cố hóa chất độc, phóng xạ và làm nhiệm vụ khác (chiến đấu bằng vũ khí lửa. ngụy trang bảo vệ các mục tiêu quan trọng bằng màn khói...). TĐHH đầu tiên của QĐNDVN là TĐHH 86, thành lập theo quyết định số 284/QĐ-QP ngày 31.12.1977. trên cơ sở ba tiểu đoàn hóa học (901, 902 và 903).

        TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân, được trang bị máy bay tiêm kích, có tốc độ lớn, khả năng cơ động cao, hỏa lực mạnh; gồm: 2-3 phi đội, tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần kĩ thuật, tiểu đoàn thông tin - rađa. TĐKQTK có nhiệm vụ: sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trên một hướng được phân công; phối hợp với các lực lượng phòng không khác bảo vệ vùng trời, vùng biển, tiêu diệt các khí cụ bay, đánh chặn các cuộc tiến công đường không của địch; bay tuần tiễu, bay trinh sát, bay bảo vệ hộ tống cho cường kích, vận tải, bay chiến đấu hiệp đồng quân chủng, binh chủng, bảo vệ đội hình hành quân; làm nhiệm vụ cường kích đánh mục tiêu mặt đất, mặt nước. Có thể cơ động chiến đấu trên nhiều sân bay.

        TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH - BOM, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân, được trang bị máy bay tiêm kích - bom, có khả năng cơ động chiến đấu cao, hỏa lực mạnh, sức công phá lớn, tầm bay xa. Gồm: 2-3 phi đội (mỗi phi đội có 2 hoặc 3 trung đội, mỗi trung đội có 2 hoặc 3 biên đội), tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần kĩ thuật, tiểu đoàn thông tin - rađa và cơ quan trung đoàn, đóng quân trên một sân bay chính, có thể cơ động trên nhiều sân bay khác. TĐKQTK-B chủ yếu làm nhiệm vụ cường kích và có khả năng làm nhiệm vụ tiêm kích phòng không, chiến đấu hiệp đồng chi viện chiến trường, tập kích vào hậu phương địch, đánh phá các mục tiêu QS, có thể tác chiến trên các địa hình vùng núi, vùng đồng bằng, vùng biển và hải đảo, trong mọi điều kiện khí tượng, ngày, đêm.

        TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN TRỰC THĂNG, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân hoặc độc lập, được trang bị các loại máy bay trực thăng QS, có khả năng cơ động cao; gồm: 2-3 phi đội, tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần kĩ thuật, đại đội (tiểu đoàn) thông tin - rađa và cơ quan trung đoàn; đóng quân trên 1 sân bay chính, có thể cơ động trên nhiều sân bay khác. TĐKQTT có nhiệm vụ: trực tiếp chiến đấu, yểm trợ, chi viện hỏa lực cho bộ binh trong chiến đấu hiệp đồng, đánh tiền duyên, tập kích vào đội hình địch; bay đổ quân tập kích, thả dù, trinh sát, quan sát, tìm cứu, chỉ thị mục tiêu; bay tải thương, cứu hộ, chuyển tiếp thông tin (chỉ huy trên không hoặc tổng đài điện thoại trên không); bay chuyên cơ, bay dịch vụ.

        TRUNG ĐOÀN KHÔNG QUÂN VẬN TẢI, trung đoàn thuộc biên chế của sư đoàn không quân hoặc độc lập, được trang bị một hoặc nhiều loại máy bay vận tái QS trọng tải lớn, tầm bay xa; gồm: 2-3 phi đội, tiểu đoàn bảo đảm kĩ thuật hàng không, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tiểu đoàn (hoặc đại đội) thông tin - rađa và cơ quan trung đoàn. Nhiệm vụ chủ yếu: vận chuyển người, vũ khí trang bị, hàng hóa hoặc bay ném bom, trinh sát, chụp ảnh, quan sát, tìm cứu, tiếp tế, thả dù, thả hàng, chuyển tiếp thông tin (SCH cơ động trên không), bay chuyên cơ vừa trực tiếp chiến đấu vừa phục vụ chiến đấu.

        TRUNG ĐOÀN PHÁO BINH, trung đoàn thuộc lực lượng pháo binh dự bị chiến lược và một số quân đoàn, sư đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới), thường gồm 3 tiểu đoàn pháo và các phân đội chỉ huy, bảo đảm. Tùy theo nhiệm vụ và đặc điểm chiến trường, TĐPB có thể được trang bị một loại pháo hoặc hỗn hợp. Trong tác chiến, TĐPB làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực  trực tiếp hoặc chi viện chung cho bộ đội binh chủng hợp thành. TĐPB đầu tiên của QĐND VN là Trung đoàn 95, thành lập 9.1950, gồm 3 tiểu đoàn sơn pháo 75mm (21 khẩu), nay là Lữ đoàn pháo binh 675.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM