Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:15:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức công binh Trường Sơn  (Đọc 21967 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #60 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:37:26 pm »

Mờ sáng, lại cơm đùm, cơm vắt, tiếp tục chặng đường thứ hai. Vẫn là công việc nghiên cứu, đối chiếu địa hình, chấm từng chặng đường hành quân lên bản đồ. Nhích dần từng tí, từng tí một. Đường mòn rậm rạp, đôi chỗ còn dấu vết nhưng phải phát hoặc cứ vạch lá, xô ào mà đi. Khổ nhất là gặp đám cây gai, áo quần, khăn mũ cứ bị níu giật lại. Những bụi lách, cỏ gianh sắc lẹm, sơ ý một chút là đứt tay chảy máu hoặc bị cứa vào cổ buốt lạnh, gai cả người.


Xế trưa thì đến một thung lũng nhỏ. Bắt gặp dấu vết của một bãi đóng quân. Rất nhiều hố cá nhân đã bị phủ lấp, vỏ hộp han gỉ vất ngổn ngang. Hố bom và mảnh đạn dọc đường đi. Châu Văn Mười bảo đây là địa bàn ém quân của Sư đoàn ông Nguyễn Chơn ngày trước!


Khoảng 4 giờ chiều thì gặp con suối. Mé bờ suối là một cái lán sơ sài, không còn mái lợp, chắc là của dân đi rừng.Lúc này cả ba đã thấm mệt nên quyết định nghỉ lại. Tôi đau khớp chân đã đành, anh Liêm cũng khó mà đi tiếp bới từ trưa đã phải cởi bỏ quần dài để đi cho dễ vì không chịu được cọ xát vào đùi.


Đặt ba lô, cởi bỏ hết những gì vướng víu trên người, nghỉ một lát rồi cả ba bắt tay vào công việc. Tôi và Châu Văn Mười lo cơm nước, anh Liêm chuẩn bị chỗ nằm. Lán là cái khung lều có sẵn, chỉ sửa lại và che ni lông. Còn chỗ nằm là lá chuối rừng xếp thật dày, vừa chống ẩm, vừa dễ chống vắt.


Ăn cơm xong cũng vừa 6 giờ. Giờ này ở trong rừng đã âm âm tối. Cả nhóm chia nhau đi lấy thêm củi, chất đầy bếp mà đốt, vừa ấm, vừa sáng, lại nóng đất, vắt không vào. Tất cả đều từ kinh nghiệm đi rừng mà có. Không biết làm gì, cả ba đi nằm sớm. Anh Liêm mang được cái đài Trung Quốc, bắt sóng yếu nhưng cũng có còn hơn không.


Chuyện tào lao một lát rồi lần lượt lịm dần lúc nào không biết. 3 giờ sáng tôi tỉnh dậy. Cái đài hết chương trình nhưng ngủ quên không tắt, cứ lạo xạo, lạo xạo. Bầu trời đầy sao. Gió nhẹ nhưng cũng đủ gây cảm giác rờn rợn khi nghĩ đến một cành mục không may rơi trúng lán! Ngủ rừng sợ nhất là nằm dưới cành khô. Rồi lại nghĩ nhỡ có con hổ nào đó đi ăn đêm.... Bất chợt tôi lại nhớ đến chuyến đi bộ trên đất Lào cách đây 22 năm.


Hồi ấy, vào tháng 4 năm 1983, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ đi thị sát để lập dự án xây dựng cho nước bạn Lào tuyến đường ô tô từ Phôn Xa Vẳn đến Khăm Cớt, nối quốc lộ 7 với quốc lộ 8. Tôi phụ trách đoạn đầu. Theo lịch trình phải đi bộ theo tuyến đường ôtô cũ trong vùng rừng hẻo lánh từ Xiêng Khoảng đến Tha Thôm dài 110 ki lô mét. Đoàn gồm 7 người: Tôi, anh Phạm Văn Đăng - thủy văn, anh Võ Thắng - địa chất và anh Cao Đình Hòa - khảo sát kiêm phiên dịch. Tỉnh đội Xiêng Khoảng cử hai sĩ quan cấp úy, súng đạn đầy đủ làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn và một người Lào dẫn đường. Hồi ấy, bên Lào, phỉ hoạt động rất mạnh, thoắt ẩn thoắt hiện, phỉ lẫn vào dân, ban đêm muốn đi ngoài phải mang cả súng ngắn và không dám bật đèn pin. Ngày thứ nhất đi được hơn 20 ki lô mét thì hạ trại giữa rừng. Bếp được đặt ngay trên đoạn rãnh dọc, đấy được coi là sáng kiến của Cao Đình Hòa. Nhưng khi cơm vừa cạn thì bất ngờ gặp cơn mưa rào, nước ào qua rãnh, bếp tắt ngấm, phải che áo mưa để đốt lửa. Đêm ấy, thay vì hai sĩ quan Lào thay nhau canh gác, bảo vệ như nhiệm vụ được giao thì họ lại ngủ "khì" từ chập tối. Thế là bộ đội Việt Nam đành phải chia nhau gác thay vậy. Đến ngày thứ 3, chân anh Đăng bị phồng rát, chống gậy lê từng bước. Tôi bảo cứ nằm lại bản, tuần sau đoàn quay ra sẽ đón nhưng anh Đăng không dám ở một mình, phải lẽo đẽo đi theo.


Hôm nay thì đến lượt tôi đau khớp. Tôi đi bộ nhiều nhưng chưa từng đau như thế này bao giờ.

Đến 5 giờ sáng thì khua nhau dậy. 6h30 lên đường. Đây là chặng cuối, địa hình còn khó khăn gấp bội. Gần trưa thì tới chân đèo. Bắt đầu từ đây đường dốc ngược. Anh Liêm trèo lên cây cao quan sát, xác định được yên ngựa đèo 880. Thế là tập trung phát, mở lối lên. Trời nắng ong ong. Rừng im phăng phắc, không một ngọn gió. Cái nóng mới oi ả làm sao. 12h trưa thì tới đỉnh đèo. Đây là ranh giới 2 tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. Từ đây nhìn xuống chỉ thấy nhấp nhô bạt ngàn rừng núi. Dãy núi cao lờ mờ xa xa phía Tây kia lả biên giới Việt - Lào. Còn đám bãi bằng trước mặt, như Châu Văn Mười nói là nơi trú quân của Sư đoàn Nguyễn Chơn... Nhìn đoạn đường đi qua mà sợ. Nhìn đoạn đường phía trước còn sợ hơn. Tôi tranh thủ ghi vải kiểu ảnh, nơi mà cả đời người chỉ đến được một lần, đánh dấu đỉnh đèo và hướng tuyến lên bản đồ. Xong, lại tiếp tục hành quân.


Sườn phía Đông dốc ngang hun hút. Lúc này, khớp gối phải của tôi đau nhói tưởng không thể đi tiếp, có thể do thay đổi tư thế từ leo lên sang leo xuống. Chiếc gậy mòn vẹt đầu, mỗi lần trượt chân, cả người lao dúi dụi. Loay hoay mãi mới chọn được tư thế đi dễ chịu: tôi ngồi xuống, nghiêng người thả từng bước, theo kiểu sâu đo. Chậm nhưng chắc và đỡ đau. Khi đang lên dốc thì thở cả bằng tai, cứ nghĩ là xuống dốc sẽ đỡ...


Đi mãi rồi cũng xuống được chân đèo, triền núi thoải hơn và gặp ngay con suối A-Ro. Những tảng đá to trơn lỳ chồng gối lên nhau, chứng tỏ mùa lũ ở đây nước đổ ầm ào. Đây là một nhánh thượng nguồn sông Hương. Dòng sông Hương hiền hoà và thơ mộng được tiếp nước từ những dòng thác hung dữ thế này đây.


5 giờ chiều, trời mưa tầm tã, cũng là lúc quãng đường còn lại dễ đi hơn, lác đác đã gặp dân đi nương rẫy. Chập tối thì về đến đội 9 của Nông trường Nam Đông. Vừa hỏi thăm tìm được vào nhà ông Trưởng thôn, chưa kịp rửa chân tay thì nghe nói, cách đây 2 ki lô mét có chiếc xe con của bộ đội đang chờ, thế là chúng tôi chào gia đình đi luôn. Ra đến nơi thì đúng là xe anh Đăng chờ sẵn. Lúc này là 8 giờ tối ngày 05 tháng 7 năm 1997. Bây giờ mới biết, để đưa được xe vào đây, anh Đăng đã bị dân quân chặn hỏi nhiều chặng. Chả là những ngày này các địa phương đang bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. An ninh nghiêm ngặt lắm, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Lấy thế là quân đội, anh Đăng tìm vào nhà đồng chí Chủ tịch xã xin được ở nhờ cho yên tâm.


Sáng hôm sau, chúng tôi chia tay Châu Văn Mười tại ngã ba La Sơn trên quốc lộ 1A. Cảm ơn người thanh niên Kà Tu tốt bụng! Tôi bắt xe cho anh vào Đà Nẵng, để lên Hiên và sau đó sẽ lủi thủi cuốc bộ về nhà. Nghĩ đến quãng đường anh quay về mà thấy ái ngại.


Nghĩ đến những bản làng mà chúng tôi đã đi qua, mới thấy dân mình, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã chịu nhiều hy sinh mất mát, một lòng đi theo cách mạng. Vậy mà hơn 20 năm sau ngày miền Nam giải phóng, cuộc sống của đồng bào tuy đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn vất vả quá! Giá như có được con đường cho đồng bào đỡ khổ!


Thế là sau 10 ngày vất vả, chúng tôi đã thị sát xong ba phương án tuyến. Ngày 20 tháng 7 năm 1997, tư vấn Trường Sơn báo cáo với Bộ Giao thông vận tải về kết quả thị sát ba phương án tuyến không đi chung hầm Hải Vân, với kết luận: ý tưởng mở con đường thứ hai nối huyện Nam Đông của Thừa Thiên - Huế với huyện Hiên của Quảng Nam về phía tây Hải Vân là phù hợp với lợi ích quốc phòng. Tuy nhiên, do địa hình hêt sức khó khăn, không nên xây dựng tuyến xa lộ Bắc - Nam qua đây, trước mắt chỉ nên nâng cấp tuyến đường cũ qua Bạch Mã, đèo Mũi Trâu để hỗ trợ cho tuyến phía Đông qua khu vực hầm Hải Vân.


Sau này, anh Hà Đình Cẩn - Tổng Giám đốc Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh (nay đã nghỉ hưu) nghe loáng thoáng ở đâu câu chuyện về chuyến đi thị sát của chúng tôi, ngỡ ba con người: chị Chi hội trưởng phụ nữ xã, dũng sỹ diệt máy bay Mỹ và người dẫn đường cho chúng tôi đi tìm tuyến là một, nên đã điện thoại cho tôi, nhờ liên lạc tìm lại nhân vật đó để anh chắp nối cho Đài truyền hình Việt Nam thực hiện cầu truyền hình trưc tiếp trong dịp Tết Ất Dậu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #61 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:40:18 pm »

DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH KHẢO SÁT TRƯỜNG SƠN
TRÊN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

Đại tá Phạm Ngọc Vũ


Công ty Tư vấn và khảo sát thiết kế - xây dựng, Bộ Quốc phòng, còn có tên gọi là Viện Khảo sát thiết kế - Binh đoàn 12, tiền thân là lực lượng khảo sát thiết kế đường Trường Sơn năm xưa, được thành lập ngày 25 tháng 11 năm 1965.

Tuy là đơn vị quân đội, nhưng do có bề dày truyền thống, có lực lượng đông đảo, lại quen thuộc địa hình rừng núi nên khi Đảng và Nhà nước có chủ trương xây dựng đường Hồ Chí Minh, lực lượng này đã nhanh chóng lọt vào tầm mắt của Lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải để rồi sau này trở thành một trong những tư vấn thiết kế chủ chốt. Cũng từ đây, xuất hiện cái tên Tư vấn Trường Sơn.


Tôi thuộc số ít những người có mặt đầu tiên đi mở đường Trường Sơn thời kỳ đánh Mỹ, nay lại được tham gia xây dựng đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa.

Sinh 1944, học Trung cấp Giao thông đường bộ khoá 13 (1961-1964). Ra trường đúng vào thời kỳ đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc. Ngày 01 tháng 8 năm 1964 gia nhập Quân đội. Tháng 6 năm 1965 tham gia khóa đào tạo sĩ quan Công binh tại Bắc Ninh. Mười năm tiếp sau (1966-1976) phục vụ chiến đấu trên tuyến đường 20 Quyết Thắng - một cửa khẩu ở phía tây Quảng Bình. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi chuyển về công tác tại Viện Khảo sát thiết kế - Binh đoàn 12. Năm 1978 được quân đội cử đi học Đại học Giao thông vận tải, lớp chuyên tu khoá 18 (1978-1981). Ra trường về đơn vị cũ.


Với đường Hồ Chí Minh, tôi được giao chủ trì thực hiện Dự án 3 xa lộ Bắc - Nam đoạn Vĩnh Khê - Thạnh Mỹ, Dự án 10, tức toàn bộ nhánh tây Khe Gát - Khe Sanh - Thạnh Mỹ và một số đoạn khác. Tôi có nhiều duyên nợ với đường Hồ Chí Minh, đặc biệt là với đoạn A Đớt - A Tép.


Trong 500 ki lô mét nhánh tây đường Hồ Chí Minh thì đoạn A Đớt - A Tép là đoạn khó khăn và quyết định nhất. Tại đây đã hội tụ đầy đủ tính khắc nghiệt của thời tiết và hiểm trở về địa hình của đông và tây Trường Sơn, của nam và bắc Hải Vân. Và một lần nữa, tư vấn Trường Sơn được Bộ Giao thông vận tải tín nhiệm giao thực hiện.


Ngày 17 tháng 6 năm 1999, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải giao cho Tư vấn Trường Sơn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi phương án sử dụng hầm trên đoạn A Đớt - A Tép. Ngày 11 tháng 7 năm 1999, tôi cùng anh Phan Bá Liêm và tổ khảo sát do anh Nguyễn Duy Hiên phụ trách lên đường vào A Lưới. Ngày 13 tháng 7 năm 1999, chúng tôi được hai người dân địa phương dẫn đường, bắt đầu trèo đèo lội suối đi tìm vị trí đặt hầm.


Rừng rậm, đường trơn, dốc đựng, cả đoàn gần chục người theo hàng dọc vừa đi vừa phát cây mở lối. Người đi trước phát vài cành định hướng để lách, người đi sau tiếp tục phát thêm. Đến người sau cùng đi qua đã thành lối đi rộng rãi. Đây sẽ là đường mòn để đội quân tiếp tế lương thực, thực phẩm đi lại sau này. Một vùng rừng nguyên sinh còn đầy dấu tích bom đạn của một thời chiến tranh ác liệt.


Đến ngày thứ hai thì chúng tôi chọn được vị trí đặt hầm, đó là một sống núi có độ cao hơn 900 mét so với mặt nước biển. Tôi cùng anh Liêm cân nhắc phóng một cánh tuyến không chế trên đỉnh hầm. Tổ khảo sát chia đôi, đo về hai phía. Sườn hai bên dốc và trơn khủng khiếp, phải căng dây rừng bám chặt mà leo. Những con vắt từ dưới đất ngo ngoe như một cần ăng-ten dò tìm hướng có hơi người, bám vào giầy, vào quần áo, bắt không kịp. Những con vắt xanh từ cành lá câu vào người từ lúc nào, bậu đầy cổ, chui vào lưng lành lanh, rờn rợn. Sau này, các chuyên gia của trường Đại học Xây dựng vào thực địa, khi nghe kỹ sư Nguyễn Tuấn Anh giới thiệu về ý tưởng thiết kế, các anh đã ghi nhận và đánh giá cao tuyến hầm đã chọn. Lần đó khi leo dốc, thấy Tuân bị ngất, tưởng phải khiêng về. Còn thầy Tâm, tuổi cao, sợ ngã nên phải chấp nhận cho buộc dây song ngang bụng để 3 người hỗ trợ kéo từ vị trí cửa hầm lên.


Chúng tôi đặt tên là hầm A Roàng 1 bởi đây thuộc xã A Roàng của huyện A Lưới. Sau này, tìm thêm một hầm nữa cách đó hơn 7 ki lô mét, đặt tên A Roàng 2.

Việc thông tuyến, xác định vị trí hầm và so sánh chọn phương án tuyến cho đoạn A Đớt - A Tép là nhiệm vụ trọng tâm của nhánh Tây lúc đó, được Lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải đặc phái viên Chính phủ Đồng Sỹ Nguyên và Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh rất quan tâm, theo dõi, chỉ đạo hàng ngày. Ngày 20 tháng 8 năm 1999, khi nhận được báo cáo ban đầu là vị trí hầm A Roàng đã được xác định, các đồng chí lãnh đạo Bộ, đặc biệt là Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn và Thứ trưởng Phạm Quang Tuyến rất phấn khởi. Chiều 23 tháng 8 năm 1999, đặc phái viên Chính phủ Đồng Sỹ Nguyên điện thoại gọi anh Văn Thái Bình - Giám đốc, và tôi đến nhà riêng để nghe báo cáo chi tiết.


Bây giờ, khi đi trên con đường này, qua hai cái hầm ẩn hiện dưới vòm cây, ai cũng có thể nói rằng, cái hầm A Roàng đương nhiên là phải nằm ở đấy, phải thiết kế như thế... Con đường phải vòng vèo uốn lượn như thế... cứ như nó đã được định sẵn từ thời xa xưa vậy. Nhưng mấy ai biết, để có được "như thế", những người lính Trường Sơn đã phải gian nan vất vả như thế nào.


Một đoạn đường gần 50 ki lô mét, không dân cư, không đường mòn. Thời tiết khắc nghiệt sáng nắng chiều mưa. Địa hình thì khó khăn đến mức không bút nào tả nổi. Một lính khảo sát đi trước, hai người dân gùi thồ đi sau. Một cân gạo cõng được lên đây, giá đội gấp 2, 3 lần.


Bao nhiêu chuyện buồn vui, mất mát... cũng đã diễn ra trên đoạn đường này: hai đồng chí khảo sát lạc rừng, ca đội tỏa đi tìm, mãi không thấy. Rồi đột nhiên cả hai lại lò dò tìm về. Một đêm trời nổi gió, mấy cành khô trên đầu gẫy răng rắc rơi trúng lán. Mọi người bừng tỉnh dậy, loạn xạ trong đêm. Một dàn máy vi tính tan tành, thế mà người chỉ bị xây xát. Thương nhất là anh Liêm, đi khảo sát mấy tháng trong rừng ở nhà mẹ mất. Đường xa cách trở, liên lạc khó khăn, khi nhận được tin buồn thì mẹ anh đã về nơi yên nghỉ. Đơnvị cử người từ Hà Nội vào Nghệ An đưa tiễn cụ, còn anh đành cam phận là đứa con bất hiếu. Mãi đến khi thông tuyến, anh mới về, lên mộ thắp nén nhang cho mẹ.


Bao giờ cũng vậy, sau gian nan vất vả là niềm vui và hanh phúc. Thì ra cuộc đời vẫn công bằng với những người biết hy sinh chịu đựng. Đó là lúc hai đại cánh quân khảo sát, một từ A Đớt vào, một từ A Tép ra, gặp nhau ở lưng đèo lộng gió. Hai cánh quân gặp nhau, nghĩa là hai cánh tuyến khớp nhau. Thử hình dung, giữa đại ngàn Trường Sơn, hai cánh quân lầm lũi phát cây mở lối, mò mẫm nhích dần từng bước theo hướng tuyến đã vạch trên bản đồ, để rồi gặp nhau, khớp nhau một cách chính xác. Đấy thực sự là hạnh phúc lớn lao nhất của người khảo sát. Cũng như sau này, khi được tin lưỡi ben của hai chiếc máy húc cũng từ hai hướng của đại công trường thi công, trong ra và ngoài vào, đã chạm nhau giữa đỉnh Trường Sơn, thì cả hội trường giao ban của Bộ Giao thông vận tải đồng loạt vang lên tràng vỗ tay kéo dài. Niềm vui đến dâng trào nước mắt, mặc dù biết rằng điều đó sẽ phải đến.


Thế là đoạn A Đớt - A Tép đã được khai thông, có đoạn mới chỉ vừa đủ cho bánh xe con. Bộ Giao thông vân tải tổ chức ngay đoàn xe đi kiểm tra thông tuyến. Anh Phạm Quang Tuyến - Thứ trưởng thường trực dẫn đầu, đi từ Hiên ra. Hơn chục chiếc xe con nối đuôi nhau bò lên con đường hẹp và ngoằn ngoèo còn nguyên màu đất đỏ. Xe của Tư vấn Trường Sơn có anh Văn Thái Bình và tôi. Đến A Tép dừng lại, anh Tuyến vẫy tôi lên xe đầu ngồi cùng anh để vừa đi đường vừa giới thiệu tuyến. Tôi thuộc tuyến và giới thiệu vanh vách là nhờ được đi với anh em khảo sát và nghiên cứu rất kỹ khi kiểm trahồ sơ thiết kế. Ngồi trên xe mà lòng bồi hồi xúc động, nhớ đến ngày xưa, ngày 19 tháng 5 năm 1966, ba chiếc xe Gatz đầu tiên chạy thử trên đường 20 Quyết Thắng - một trục ngang trong hệ thống đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh năm xưa. Hồi đó, trong chiến tranh, con đường 20 Quyết Thắng dài 123 ki lô mét, từ Phong Nha đến Lùm Pùm được mở thông chủ yếu bằng thủ công và bộc phá chỉ trong vòng 4 tháng. Bây giờ mở đường Hồ Chí Minh, chúng ta có lực lượng thi công hùng hậu, với dàn xe máy hiện đại vào bậc nhất.


Chuyến đi kiểm tra thông tuyến thành công tốt đẹp. Từ lãnh đạo Bộ đến các lực lượng tham gia xây dựng tuyến đường, ai cũng mừng vui khôn xiết. Nghĩ đến một ngày không xa nữa, con đường Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn huyền thoại được nối thông từ Bắc vào Nam mà lòng tràn đầy quyết tâm và hạnh phúc.


Về sau, tôi còn tham gia trong nhiều chuyến đi, với chức danh là tư vấn thiết kế, khi con đường vào giai đoạn hoàn tất. Có lần theo đoàn của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi đứng trên hầm, quan sát con đường, ông cứ tấm tắc: Đã quá! Đã quá!

Sau này, mỗi lần gặp lại, nhắc đến chuyện cũ, anh Phạm Quang Tuyến vẫn thường nói với chúng tôi: "Cái đúng đắn nhất của Bộ Giao thông vận tải là đã giao cho Tư vấn Trường Sơn khảo sát đoạn A Đớt - A Tép. Đây là đoạn quyết định thành bại của tuyến phía Tây. Chỉ có quân đội mới đủ dũng cảm, quyết tâm và chịu được gian khổ.


Anh Hà Đình Cẩn - Giám đốc Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh cũng có suy nghĩ tương tự. Đó là những nhận xét chân thành của một cán bộ lão thành tâm huyết với Ngành. Chính nhờ sự tin tưởng, sự quan tâm và những tình cảm đó mà tư vấn Trường Sơn đã trưởng thành. Thương hiệu của Tư vấn Trường Sơn được xây dựng và khẳng định, gắn liền với những năm tháng xây dựng đường Hồ Chí Minh.


Rồi đây, mọi chuyện sẽ qua đi. Có người đã bắt đầu quên quá khứ. Cũng phải thôi, bởi cuộc sống hiện tại bộn bề có bao điều cần phải nhớ. Mười năm sau. Năm mươi năm sau. Rồi một trăm năm sau nữa... Nơi đây chỉ để lại một con đường vắt qua đỉnh núi. Trên bản đồ Việt Nam, người ta thấy nó ngoằn ngoèo lân sâu vào nội địa mà không biết tại làm sao? Khi đó hầm A Roàng có thể được mở thêm một làn nữa. Tuyến đường có thể được cải tạo nâng cấp hiện đại như những con đường ta đã gặp ở Trung Quốc, ở các nước Nam Á... Cũng có thể nơi đây sẽ mọc lên nhiều cụm dân cư thấp thoáng ven rừng, những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn du khách... Tất cả, tất cả những cái đó đều là hiện thực. Chỉ có Dấu chân của người lính khảo sát Trường Sơn là đi vào lịch sử.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #62 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:42:47 pm »

Kỹ sư
NGUYỄN LỘC


Sinh năm:   1934
Quê quán:   Đức Hòa, Đức Thọ, Hà Tĩnh
Thường trú: P.406 - K1, Thành Công, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 04. 35632562
Nguyên CBKT Viện Thiết kế GTVT
Nguyên CBKT công trường biên phòng Lệ Thuỷ, Quảng Bình (đường 16)
Nguyên Trưởng ban chỉ huy Công trường 71A Tân Kỳ


HIỆN THỰC MỘT GIẤC MƠ!


Đó là những năm của thập kỷ 60, thế kỷ trước, cả nước sục sôi, miền Bắc rùng rùng chuyển động theo nhịp đập trái tim miền Nam. Các đồng nghiệp miền Nam tập kết ra Bắc lần lượt được gọi về. Hai từ "Đi B" nửa bí mật, nửa công khai, thiêng liêng và trân trọng!


Rồi những cán bộ kỹ thuật ở cơ quan tôi, Viện Thiết kế Giao thông 278 Hàng Bột cũng được gọi đến, nối tiếp nhau rời nhiệm sở, ngày hôm sau đã mất hút, không còn gặp, chỉ để lại những lời tán tụng trong các câu chuyện thời sự nóng bỏng diễn ra thường nhật ở cơ quan, ở khu tập thể, rất lãng mạn, đã đi vào giấc mơ của ai đó về hình ảnh một con đường Trường Sơn chập chùng, trùng điệp đang thẳng tiến vào Nam. Họ: Nguyễn Tiến Duy, Nguyễn Vĩnh, Trần Văn Cư, Đinh Kiện, Hồ Sỹ Dậu... đã đi rồi, còn mình bao giờ mới đến lượt?


Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.


Câu thơ đầy tự hào có sức lay động, giục giã, tự hào nhưng lại khiến chúng tôi có chút chạnh lòng, ghen tỵ!

Nhưng rồi cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ đã thực sự lan rộng ra miền Bắc. Những con đường hứng chịu trước tiên, ngành Giao thông trở nên bận rộn, nếp sống và làm việc hoàn toàn thay đổi.

Tôi đang ở phía Bắc phụ trách thiết kế cải tạo, mở rộng ga Đồng Đăng để đáp ứng việc tiếp nhận hàng hoá viện trợ thì được gọi về đi làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông đường sắt tuyến Hà Nội - Vinh. Thoạt đầu chỉ mới ra quân hai nhóm khảo sát thiết kế. Vừa mới ngày hôm trước được Bộ trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ, thì mấy ngày sau đã gặp thứ trưởng đến duyệt tại chỗ phương án cứu chữa cầu Hoàng Mai rồi! Tình thế rất khẩn trương. Các lực lượng ngành Giao thông vận tải dồn dập đổ vào tuyến phía Nam. Nếu không có tiếng gầm rú của máy bay Mỹ thì chẳng khác gì ngày hội, luôn gặp các đồng nghiệp đi vào, vẻ vội vã và lo âu.

Trong bài thơ đầu tiên hồi đó, tôi đã viết:
   Giữa đổ nát tan hoang bề bộn
   Những con tàu chẳng lỡ hẹn với miền Nam
   Và đêm đêm, hàng vẫn chuyển vào trong.


Rồi cuộc kháng chiến chuyển sang bước ngoặt mới. Địch phải ném bom hạn chế. Đơn vị tôi cùng một số đơn vị khác được giao nhiệm vụ mở Công trường 71. Đơn vị tôi mang tên Công trường 71A thi công 60 ki lô mét đầu tiên từ Tân Kỳ - Sông Rộ (Nghệ An), tiếp theo là hai Công trường 71B, 71C xuyên qua vùng tây Hà Tĩnh vào Quảng Bình.


Ý nghĩa chiến lược của công trình được quán triệt bằng cách dẫn lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại ý: Từ Bắc vào Nam, hiện chỉ duy nhất có đường 1A như là một đường du lịch. Đây mới là đường quân sự, kinh tế, phải làm ngay.

Mọi lực lượng được gấp rút huy động và triển khai như một mệnh lệnh chiến đấu. Chỉ hơn một năm, công trường tôi đã thực hiện được một khối lượng khá lớn phần nên đường từ Tân Kỳ đi Tri Lễ (Nghệ An). Nhưng tình thế biến chuyển quá mau lẹ. Cả 3 công trường đều phải đình hoãn để nhận nhiệm vụ cấp bách hơn, trọng đại hơn. Lực lượng lao động và xe máy hầu hết được điều động biệt phái, còn lại bộ máy công trường và một ít lao động, được đưa vào Đồng Hới ém quân chờ ngày nối lại đường sắt Bắc Nam.


Yên bình trở lại! Có biết bao cuộc hội ngộ. Với tôi, những cuộc hội ngộ với các bạn ở Trường Sơn ra là ấn tượng nhất, bởi hai câu thơ của Tố Hữu bấy lâu đã gieo vào lòng tôi một nỗi niềm khắc khoải:

   Trường Sơn đông nắng, tây mưa
   Ai chưa đến đó như chưa rõ mình!


Trên đường ra Bắc, mỗi bạn trong một trạng thái khác nhau. Tôi vô tình như một kẻ được cắt cử đón đợi họ ở tuyến lửa miền Trung, nơi cũng vừa dứt tiếng bom và tiếng gầm rú của máy bay Mỹ. Khi thì dưới tán cây xơ xác bụi bặm bên hố bom, khi thì cạnh một quán nước vừa mọc lên bên vệ đường, khi trên một chuyến tàu, hoặc một chuyến phà ì ạch giữa đêm khuya. Gặp Hoàng Văn Đại ở Diễn Châu, trên đường ra Bắc người còn vương "bụi trường chinh", gặp Nguyễn Tiến Duy ở 278 Hàng Bột, đang đợi nhận lại công tác, còn tạm nghỉ ở ngay phòng làm việc, gặp Cù Xuân Hoài tại Khe Nét trên đường 15, gặp Đinh Kiện với chức danh Phó ban Kiến thiết đường sắt Vinh... Tôi vồ vập, háo hức, lắng nghe và nhập tâm tất cả những gì họ kể về Trường Sơn, vơi dần đi những tiếc nuối để thăng hoa niềm tự hào về những cống hiến của "lính" giao thông trong sự nghiệp vĩ đại của dân tộc, đến hôm nay đang lắng đọng, trầm tích và hoá thạch.


Mấy năm trước, có dịp cùng tham gia biên tập cuốn "Ký ức Khoá 6" của anh em đồng môn Khoá 6 trường Cao đắng Giao thông Công chính Việt Bắc, được hiểu thêm ít nhiều về đường Trường Sơn qua bài viết của đồng hương Trần Xuân Tiếu, đồng môn Nguyễn Văn Phụng, Cù Xuân Hoài...


Nhưng, chỉ có cuộc hội ngộ tuy muộn hơn, nhưng lại kéo dài mãi tới nay với những câu chuyện luôn luôn mới chính lại là với Hoàng Ngọc Châu.

Theo dòng tâm sự, Châu minh họa trên bản đồ, tấm bản đồ khung kính treo trân trọng trên tường nhà:

- Đây! Đoạn đầu của con đường mang tên số 16 trên hệ thống chằng chịt của tuyến đường Trường Sơn, đoạn Thạch Bàn - Bang - Vít Thù Lù - Làng Ho mà 36 anh em đồng môn Khoá 6 chúng ta được Bộ điều động vào giúp Ty Giao thông Quảng Bình khảo sát, thiết kế và chỉ đạo thi công năm 1959. Còn đoạn Tân Kỳ - Rộ mà công trường cậu thi công hồi đó,lại chính là địa danh đã từng được coi như điểm đầu trục dọc phía Đông của hệ thống đường Trường Sơn đấy!

- À ra thế!... Rõ rồi. Ccảm ơn Châu đã hiện thực cho mình một giấc mơ!

Bây giờ, cứ đến ngày kỷ niệm về đường Trường Sơn hàng năm, cho dù tuổi đã cao, nhưng tôi không thể bỏ sót một chi tiết nào trong những buổi truyền hình đặc biệt về con đường huyền thoại này vì trong đó có các bạn đồng môn, đồng niên, đồng nghiệp của tôi, và còn chứa đựng cả giấc mơ đẹp một thời của chính mình nữa.

Tháng 5 năm 2009.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #63 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:50:48 pm »

Đại tá
ĐỖ ĐỨC DƯƠNG

Sinh năm:   1945
Quê quán:   Hà Đông, thành phố Hà Nội
Thường trú: Nhà số 3, ngách 31, Ngõ 69B, đường Hoàng Văn Thái, Quận Thanh Xuân, Hà Nội
Điện Thoại: 043. 5659.286 - 098   8671599
Nguyên Kỹ sư từ Bộ GTVT chuyển vào Quân đội
Nguyên trợ lý phòng Công trình Cục Tham mưu Công binh
Nguyên Trưởng phòng Xây dựng cơ bản, Trưởng phòng Kỹ thuật Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn - Binh đoàn 12


CÓ MỘT CƠ QUAN CỤC THAM MƯU CÔNG BINH NHƯ THẾ!


Đầu Xuân Canh Dần, mấy anh em chúng tôi, trợ lý Cục TMCB BTL 559 thời chống Mỹ có dịp găp nhau tại nhà anh Nguyễn Văn Nền ở Như Quỳnh, Hưng Yên, nhân anh từ thành phố Vũng Tàu về quê ăn Tết.

Là đồng đội nhiều năm sống chết có nhau trên chiến trường, lâu lắm mới có dịp gặp nhau nên câu chuyện tưởng không thể dứt được.

- "Tôi may mắn hơn các anh, sau năm 1976 là thư ký của thủ trưởng Phạm Văn Diêu cho đến ngày Cụ về nghỉ hưu. Tôi nhớ hồi đó "Cụ" có kéo cả anh Châu sang Tổng cục Dầu khí nữa nhưng nghe nói anh không chịu sang, Nguyễn Văn Nền mở đầu câu chuyện.

Anh Châu phản ứng:

- "Đâu có, thế ra mình mắc oan từ đó đến nay! Được làm viêc với cụ Diêu còn gì bằng! Với công việc thì nhiệt tình, quyết đoán, với cấp dưới thì thương yêu, đùm bọc, cởi mở.

Anh Đỗ Đức Định bổ sung:

- Anh Châu còn nhớ không, mùa khô năm 1969, mấy anh em mình cùng vào tuyên trước với Cụ trên một xe con Gatz "đít vuông", một xe Gatz 63 chở khí tài đi hộ tống do Lê Kim Thơ phu trách qua Diễn Châu, Cụ bảo vào nhà anh thăm ông già.

- Ôi sao quên được! Mình ngủ gà ngủ gật, Cụ hỏi, mắt nhắm mắt mở, không nhận định được lối rẽ từ đường số 1 vào làng mình ở đầu xã. Đành đi qua một đoạn, rẽ vào cuối xã nhưng xe lại không qua được kênh Nhà Lê vì cầu đã bị đánh sập. Nhìn đồng hồ đã 3 giờ sáng. Đành mượn nhà ở làng cuối xã cho đoàn nghỉ, mình nhờ chiếc xe đạp, vác qua chiếc cầu tre bắc tạm cho người đi bộ về nhà. Chưa đến nhà thì pháo bờ biển câu qua làng. Mình hốt hoảng quay trở lại xem làng dưới có việc gì không... Cụ mà có sao thì mình ân hận suốt đời mà. Rồi mình bị Cụ mắng cho về cái việc quay trở lại đó!

Anh Phạm Trần Hồng mới từ Nam Định lên sáng nay bổ sung:

- "Hay mắng khi chưa vừa lòng, thường kèm theo chùm từ "dở ẹec" nhưng lại là thương trợ lý. Một chuyện tôi còn nhớ cái đêm anh Nguyễn Ngọc Biên hy sinh vì bom từ trường, Cụ đến từng hầm báo tín dữ. Đến nay vẫn như còn nghe tiếng ủng bước hối hả quen thuộc của Cụ. Cả cơ quan Cục đêm hôm đó thức dậy bồi hồi. Cô Liên, cô Đoàn sụt sùi, thương nhớ. Anh Biên đang dạy các cô bài hát Đèo Long - Sông Bạc anh mới sáng tác.


Từ năm 1965-1966 cụ Nguyễn Văn Nhạn làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 559 phụ trách Công binh. Lúc đó cụ Phạm Văn Diêu, cụ Nguyễn Nam Hải là Trưởng, Phó phòng Công binh còn gọi là Phòng Thiết kế Thi công. Bộ ba phối hợp làm việc với nhau quá nhịp nhàng ăn ý một thời khi đường 128 mới mở đường 129 mới cải tạo và đường 20 mới bắt đầu thi công. Có lẽ một trong các yếu tố chủ yếu tác động chính là cả ba Cụ đều là con người làm kỹ thuật, hai học thời Tây và một học thời Tàu.


Tôi, Đỗ Đức Dương bổ sung: "Còn nhớ có một hôm anh Phan Văn Kiến, chính trị viên đội Khảo sát được gọi lên nghe cụ Diêu "quạt" về cái tội chỉ huy mà để lính đẵn cả cây gỗ to chặt cả cây bống báng, cây đóoc như thế là "vừa làm trống trải lộ bí mật cho ta vừa phá hoại rừng của Bạn".


Tết năm 1967, Cục phó Nguyễn Nam Hải vào điều động hai tổ Nguyễn Tiến Duy và Đoàn Văn Đạt sang Binh trạm 42, lúc này đang khảo sát đường 22, đóng quân tại Bản Kăng, tỉnh Sa La Van. Đang nghe ca nhạc đầu xuân Đinh Mùi năm đó, công vụ Hoàng Văn Thắng xin đi săn cải thiện. Nửa tiếng sau, anh trở về hể hả báo tin: "Một nai mẹ gục tại chỗ, còn chú nai con bị thương chạy vào cánh rừng".

Cục phó cau mày: "lần sau không được như vậy, chỉ được bắn một con thôi, Thắng nhé!"

Thời đó chẳng ai giáo dục cấm phá rừng đầu nguồn gây lũ lụt, cấm săn bắn thú rừng hoang dã gìn giữ môi trường thiên nhiên, nhưng trong ý thức sao nghiêm ngặt như vậy!

Cụ Hoàng Đình Luyến từ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 229 về đảm nhiệm Trưởng phòng Công trình, sau đó ít lâu nhận nhiệm vụ Cục phó; cụ Lê Văn Phan, Phó phòng thay. Tết năm 1969, Trưởng phòng Hoàng Đình Luyến cùng anh em tổ chức cái Tết "tinh thần" có một không hai thời đó, Cụ nói ở chiến trường vật chất hiếm, bánh chưng thịt mỡ dưa hành chắc gì đã có! Cả phòng nhất trí làm tập san "Tết Đinh Mùi trên đỉnh Trường Sơn theo sáng kiến của Trưởng phòng. Không "bổ nhiệm" chức vụ Tổng biên tập, không có chế bản, không in ấn. Các trợ lý đều tự biên tập bài của mình, xin pơ luya của Nguyễn Thị Đoàn, nhân viên văn thư, và tự "chế bản". Trợ lý vượt sông Nguyễn Trọng Thoại cao tuổi nhất có bài thơ "gặp em trên đỉnh Trường Sơn" khá tình cảm, Trưởng phòng có bức tranh với bút danh "Lư Yên" còn Trần Trọng Thảo trang trí bìa, dán gáy. Có đến vài chục bài thơ, văn, có người viết đến 3 bài. Tuy nhiên số lượng xuất bản chỉ một tập.


Sáng mồng một Tết, trước cửa các hầm chữ A của Phòng Công trình đều có cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa mai vàng được cắt rất khéo bằng giấy nhuộm nhiều màu sắc. Chính trị hiệp lý viên Lê Hữu Khuyên thấy như đã đảo lộn trật tự hàng ngày ông đang quản lý, tần ngần lẩm nhẩm buông một câu giọng đặc xứ Thanh: "Rứa đó, "hấn" đều Tạch Tạch Sè2 (2) cả ấy mà!", cả phòng bấm bụng không dám cười to.


Cụ Nguyễn Văn Kỷ giao chức Trưởng phòng Bảo đảm giao thông cho cụ Đinh Hào, cụ Cấn Hoàng Dụ, cụ Phan Công Khang để đảm nhiệm Cục phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Cục. Cụ Kỷ dáng cao lớn có giọng cười rất vang. Cụ thương anh em, thương nhất Phạm Thái Chi, một kỹ sư cầu khá giỏi dang năng động, nhưng hoàn cảnh gia đình eo le hạn chế sự phát triển của bản thân.


Về những năm sau còn có các thủ trưởng vốn là chỉ huy các trung đoàn, các binh trạm được bổ nhiệm Cục phó Tham mưu Công binh.

Cục phó Lê Trung Ngôn, nói năng nhẹ nhàng, điềm đạm, mang vẻ một vị giáo sư hơn là người tướng trận mạc. Tuy nhiên trong chiến dịch Đường Chín - Nam Lào năm 1971, cụ lại xông pha, chỉ huy hợp đồng giữa các đơn vị công binh chiến trường, bộ binh xe vận tải rất có hiệu quả. Cục trưởng Phạm Văn Diêu phân công thật rất hợp lý: Cục phó Lê Trung Ngôn phụ trách tác chiến và huấn luyện.


Cụ Bùi Quốc Ủy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 bộ binh chuyển binh chủng từ năm 1965, chỉ huy Binh trạm 7 (sau là BT 42) sát chiến trường Trị Thiên khét tiếng ác liệt. Cụ chỉ huy quân chiến đấu tại chỗ đánh thắng "kỵ binh bay", bắn rơi hàng mấy chục trực thăng đổ bộ bộ binh xuống Động Cồn Tiên, A Sầu, A Lưới trong những năm 1966, 1967... để những năm sau đó đường B45 vượt chỉ tiêu vận tải vào chiến trường Trị - Thiên - Huế và cho Khu 5 lúc đó còn rất gian khổ.


Cụ Nguyễn Thúc Yêm từ Trung đoàn 10 Công binh được cử đi công tác tháp tùng Chính uỷ Bộ Tư lệnh, hy sinh cùng ngày, cùng giờ với Chính uỷ Đặng Tính tại cao nguyên Bô Lô Ven. Dáng thư sinh, trắng trẻo, quê Đức Thọ Hà Tĩnh, mới nhận nhiệm vụ chỉ vài ngày nhưng đã nắm đầy đủ công việc phục vụ cho chuyến đi định mệnh đó.


Tại Quảng Xá, xã Hiền Ninh nơi đóng quân, tháng 3 năm đó, cán bộ chiến sỹ Cục Tham mưu Công binh, cả nhân dân địa phương bùi ngùi xúc động thương tiếc các liệt sỹ. Chúng tôi - những trợ lý thời đó, những cựu chiến binh Công binh 559 Trường Sơn nay đã trên dưới 70 tuổi không thể quên được người Cục phó mới bổ nhiệm đầy năng lực, nhiều hứa hẹn đã phải đi xa khi đất nước còn chưa thống nhất.


Cụ Phan Quang Tiệp được bổ nhiệm Cục trưởng thay cụ Pham Văn Diêu về Bộ nhận nhiệm vụ mới, giai đoạn xây dựng cơ bản đường 14 Đông Trường Sơn xuyên Việt. Đây là một nhiệm vụ rất mới mẻ, phải giải quyết nhiều khâu từ khảo sát thiết kế, khí tài vật tư, cán bộ kỹ thuật, tổ chức chỉ huy. Thực sự đây là một chiến dịch cầu đường rất lớn, một đại công trường trải dài ngót ngàn ki lô mét trên một địa bàn rừng núi mới ngớt tiếng bom đạn, còn sát nách đối phương, không ít khó khăn phức tạp. Cụ Tiệp hội đủ tiêu chuẩn của người cán bộ chỉ huy: điềm tĩnh, quyết đoán, phục tùng cấp trên nhưng lại rất tôn trọng ý kiến cấp dưới.


Các Cục phó Dương Đình Tạ, Trần Đình Cầu, Trần Danh Hòa, Tô Đa Mạn, Đỗ Xuân Diễn một thời giúp Cục trưởng Phan Quang Tiệp chỉ huy thi công đường 14 xây dựng Cơ bản và đảm bảo giao thông các tuyến đường cho các chiến dịch giải phóng Tây Nguyên 10/3, chiến dịch giải phòng Huế 25/3, Đà Nẵng 29/3... chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn thắng.


Cục phó Dương Đình Tạ say mê với cây cầu treo dây văng hiện đại nhất Đông Nam Á thời điểm đó, được thi công tại Đăkrông trên tuyến đường 14 lúc đó. Các cộng tác viên trường Đại học Xây dựng, giáo sư Lê Văn Thưởng, Nguyễn Như Khải, Lê Đình Tâm là chuyên gia kỹ thuật; kỹ sư Nguyễn Trọng Thoại, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 509 đảm nhiệm xây dựng công trình hiện đại nay. Trước đó Cụ đã cùng kỹ sư Mai Tây Lộ biệt phái từ Bộ Giao thông vận tải các trợ lý Mai Văn Tâm, Phạm Thái Chi chỉ đạo thiết kế và thi công cầu treo Bản Đông và Bến Tất trên các trục đường xây dựng cơ bản.


Ít khi thấy Cục phó Tô Đa Mạn ở cơ quan, Cụ thường xuyên có mặt tại hiện trường nơi có dàn Komatsu của các Trung đoàn 6 do Trung đoàn trưởng Đinh Toàn chỉ huy, Trung đoàn 529, Trung đoàn 217 hoạt động trên đoạn đường đang mở từ Đăkrông, A Cho, Tà Rụt, qua Pê Ke, Ka Tia vào tận Trao đến Bến Giàng... hoặc nơi Trung đoàn 515 của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thăng, người chỉ huy năng động sâu sát những năm làm đường kín 24 nay đang thi công mặt đường thảm nhập nhựa, một công việc hoàn toàn mới mẻ có yêu cầu kỹ thuật hiện đại.


Sang tháng 3 năm 1975, khi Tây Nguyên được giải phóng, các Cục phó Dương Đình Tạ, Đỗ Xuân Diễn, Trần Đình Cầu, Trần Danh Hoà có các kỹ sư các phòng thiết kế, thi công, vật tư: Nguyễn Vĩnh, Hoàng Thung, Nguyễn Văn Khải, Huỳnh Bá Sâm, Trần Văn Nguyên... giúp việc rong ruổi trên đường thiên lý - con đường số 1, chỉ đạo kỹ thuật, điều phối vật tư để đơn vị vượt sông do đồng Nguyễn Hữu Soát chỉ huy bắc cầu phao Thạch Hãn; Vũ Như Thường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 chỉ huy khôi phục hàng chục cây cầu trên đường số 1 đã bị địch phá hoại trong khi rút chạy để ngăn bước truy kích của quân ta. Đồng chí Trịnh Thanh Liêm, một cán bộ khí tài rất năng động đã cho đơn vị tìm kiếm khí tài vượt sông trong các kho công binh của địch, mầy mò gia công tại chỗ nhanh chóng bắc cầu nối tuyến, động viên các trung đoàn bảo đảm giao thông để nhiều quân đoàn; sư đoàn bộ binh, pháo binh, xe tăng của ta 55 ngày đêm liên tục hành quân cơ giới thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn.


Chỉ huy Tham mưu Công binh trong 10 năm thời chiến tranh thực sự đã gắn bó với nhau, động viên các phòng, các ban trong cơ quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, cả 10 năm không có một trợ lý, một nhân viên thoái thác bỏ nhiệm vụ dù phải làm việc trong điều kiện hết sức gian khổ, ác liệt Bác Hồ, Đảng đã ta có tầm nhìn sâu rộng đã đào tạo đươc những cán bộ cho dù họ ở tầng lớp nào cũng đều quyết tâm, chung lòng đóng góp sức mình cho công cuộc giải phóng dân tộc. Họ đã là những tâm gương sáng chói cho thế hệ các trợ lý của mình phấn đấu trưởng thành.


Đến nay, trong hàng ngũ trợ lý thời đó đã có vài chục đồng chí là sỹ quan cao cấp của quân đội. Đồng chí Đặng Phúc trở thành Tư lệnh, Phạm Thọ làm Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh, đồng chí Đặng Hương, Trần Văn Phúc la Phó Tư lệnh, Phó Tổng Giám đốc Binh đoàn 12 - Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn.


Nhiều đồng chí chuyên ngành thành cán bộ cấp cục, vụ, chánh, phó tổng giám đốc các tổng công ty, giám đốc, phó giám đốc các sở thuộc Bộ Giao thông vận tải.

Thế hệ trợ lý, cán bộ nhân viên thời đó tự hào đã một thời công tác, chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn dưới sự chỉ huy, dìu dắt của một tập thể lãnh đạo sáng tạo, tài năng, đức độ - sống, công tác và chiến đấu vì nhiệm vụ cao cả được giao, thực sự thương yêu cấp dưới hết mình...góp phần rất quan trọng cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của bộ đội Trường Sơn anh hùng.


Có một cơ quan Cục Tham mưu Công binh thuộc Bộ Tư lệnh 559 - Trường Sơn thời chống Mỹ như thế!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #64 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:52:23 pm »

Chỉ huy Cục Tham mưu Công binh 559 thời kỳ 1965-1976


- Đại tá Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 559 phụ trách Công binh - sinh năm 1921.

- Đại tá Phạm Văn Diêu, Cục trưởng, Phó chủ nhiệm Tổng cục XDKT, PCN Tổng cục Dầu khí.

- Thiếu tướng Phan Quang Tiệp, Cục trưởng, Tư lệnh Binh đoàn 12.

- Công trình sư Nguyễn Nam Hải, Phó Cục trưởng, Thứ trưởng Bộ GTVT.

- Thiếu tướng Lê Trung Ngôn, Phó Cục trưởng, Tư lệnh Binh đoàn 11.

- Đại tá Hoàng Đình Luyến, Phó Cục trưởng, Viện trưởng Viện Thiết kế Bộ Quốc phòng.

- Đại tá Nguyễn Văn Kỷ, Phó Cục trưởng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 473.

- Trung tá liệt sỹ Nguyễn Thúc Yêm, Phó Cục trưởng.

- Đại tá Bùi Quốc Ủy, Phó Cục trưởng Cục TMCB.

- Đại tá Dương Đình Tạ, Phó Cục trưởng TMCB, Cục trưởng Cục cầu đường Tổng Cục XDKT.

- Đại tá Trần Đình Cầu, Phó Cục trưởng, Sư đoàn trưởng 334, Binh đoàn 12.

- Thiếu tướng Tô Đa Mạn, Phó Cục trưởng, Phó Tư lệnh Binh đoàn 12, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (sinh năm 1930).

- Thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn, Phó Cục trưởng, Tư lệnh Binh đoàn 12, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (sinh năm 1932).

- Đại tá Trần Danh Hoà, Phó Cục trưởng (sinh năm 1930).

- Trung tá Đinh Hào, Trưởng phòng Bảo đảm Giao thông.

- Đại tá Cấn Hoàng Dụ, trưởng phòng Đảm bảo giao thông, Tham mưu phó Binh đoàn 12 (mất năm 2010).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #65 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:52:51 pm »

Kính gửi mẹ Trường Sơn

KS. Phi Đình Tuấn


   Các con gian khổ, đói cơm, thiếu muối...
   Mẹ nghèo Trường Sơn cho cây rừng bao la che chỏ, cho nguồn thực phẩm tới vô cùng, để đàn con đi đánh Mỹ...

   Quá lâu, con không về thăm Mẹ
   Nhớ xưa, những tháng năm dài,
   Chiếntranh chống Mỹ
   Được Mẹ Nghèo đùm bọc chở che
   Nuôi chúng con bằng nắm rau rừng
   Củ sắn, lá me, con cá, con cua
   Từ bao la lòng Mẹ.
   Cả đàn con khi đó còn rất trẻ
   Mẹ nuôi con đâu kể đến tháng ngày
   Bọn độc ác, dập vùi, bắn phá rừng cây
   Chúng xé rách tan áo Mẹ
   Mẹ lại vá khâu... lại âm thầm đùm bọc...
   Tình Mẹ ấm êm đã dạy chúng con
   Làm nên Chiến thắng...
   Đường Hồ Chí Minh gọn trong lòng Mẹ
   Đường Hồ Chí Minh, con đường bất tử
   Mẹ và Đường
   Lại ngọt ngào viết nên dòng lịch sử
   Mãi mãi cho ngàn đời
   Con ơn mãi Mẹ Trường Sơn ơi!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #66 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:53:30 pm »

Bên tượng đài liệt sĩ Trường Sơn

Trần Y Vinh

   Tôi xin gửi tâm tôi vào cõi lặng
   Đứng suy tư bên nấm mộ Anh nằm
   Tôi gom góp ánh trăng vàng rụng xuống
   Phủ Hồn Người ấm mãi mãi ngàn năm.


Hội ngộ

Trần Y Vinh

   Mỗi năm đồng đội tôi ở Trường Sơn có một ngày hội ngộ.

   Rừng Trường Sơn trẻ mãi
   Lính Trường Sơn đã già
   Những mái đầu trắng xoá
   Hội tụ từ bao la.
   Chạm ly nào đồng đội
   Bốn phương tụ về đây
   Thương các Anh nằm lại
   Dưới mảnh đất cao dày.
   Chạm ly nào cáấc Bác,
   Tuổi già vẫn hăng say
   Đời cho ta gặp lại
   Xin một lần ngất ngây
   Chạm lỵ!
   Nào!
   Chạm ly....
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #67 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2025, 07:59:52 pm »

Một thời chiêm bao

Trần Y Vinh

   Vô tình nhặt mảnh kính trong
   Tráng gương thế kỷ soi chung cho đời
   Qua gương rõ mặt, rõ người
   Bạc đầu suy nghĩmột thời đạn bom.
   Guồng quay, méo đã hoá tròn
   Cười ra nước mắt, hãy còn thơngâỵ
   Nhớ khi tay nối vòng tay
   Thương người lính cũ dạn dày đạn bom
   Bao nhiêu năm tháng Trường Sơn
   Gót chân sỏi đá chẳng sờn lòng trai
   Gió mùa đông bắc thổi dài
   Khói bom, mảnh đạn đau thời chiến tranh
   Đất thanh bình, nước thanh bình
   Phố cao, nhà rộng, thênh thênh mặc người
   Ngắm gương thếkỷmà coi,
   Nghiêng nghiêng bỗng thấy... một - thời - chiêm - bao.


Viếng nghĩa trang Trường Sơn

Trần Y Vinh

   Những năm tháng Trường Sơn
   Mưa ngàn và gió núi
   Tôi làm sao nhớ nổi
   Bao cơn sốt đi qua
   Bao núi đèo đã vượt
   Bao trận đánh diễn ra
   Nhưng đã qua trong tôi
   Là rất nhiều đồng đội
   Vì Tổ quốc nằm lại
   Trên cánh rừng không tên
   Nghe lời ru của gió
   Ngọt ngào và dịu êm
   Nghe ùng oàng súng nổ
   Suối ngày đêm trong miền
   Hôm nay trở lại đây
   Vẫn các Anh nằm đó
   Hoa trên mồ cứ nở
   Hương ngạt ngào bay bay.
   Nghiêng mình trước mộ Anh
   Thắp nén hương khấn vái
   Khói bay lên trời xanh
   Trọn vòng tay nhân ái
   Trong tôi còn giữ mãi
   Trường Sơn - Trường Sơn xanh.

Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn, tháng 4 năm 2004.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #68 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2025, 08:00:37 pm »

Nhớ các anh

Trần Y Vinh

   Tôi trở lại Trường Sơn
   Ba mươi năm xa cách
   Vẫn rậm rì lau lách
   Văng vẳng tiếng từ quy
   Bước chân trên đại lộ
   Ngỡ mình đang trong mơ
   Thương các Anh nằm lại
   Dưới đất lạnh sương mờ
   Nghe lòng đất thổn thức
   Văng vẳng tiếng ầu ơ
   Rưng rưng hái bông hoa
   Cắm lên mồ Anh đó
   Linh hồn Anh thấu tỏ
   Tình đồng đội năm xưa
   Có biết đến bao giờ
   Gặp lại Anh lần nữa?
   Anh nhé!
   Không bao giờ
   Không bao giờ
   Tôi quên!

Quảng Trị tháng 3 năm 2005


Trước tượng đài Đồng Lộc

Trần Y Vinh

   Thắp hương đứng trước tượng đài
   Bùi ngùi nhớ lại một thời xa xưa
   Mười em gái trẻ măng tơ
   Cơm chiều để đó đếm chờ bom rơi
   Khói bom trùm xuống ngọn đồi
   Các em ngã xuống tuổi đời còn xanh
   Bức thư gửi mẹ chưa thành
   Còn nhòe nét mực, vẫn xanh tóc người
   Bốn mươi năm ấy đã trôi
   Các em ở lại không rời Ngã ba
   Mộ em nắng trải thành hoa
   Thoảng hương bồ kết vỡ òa giọt sương
   Tượng đài dựng giữa quê hương
   Ngàn thông vi vút rưng rưng lên trời.

Tháng 7 năm 2008
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #69 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2025, 08:03:26 pm »

Đại tá
PHẠM HẢI

Sinh năm:   1934
Quê quán:   Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định
Thường trú: Nhà 49, ngõ 408, đường Ngô Gia Tự, Quận Long Biên, TP. Hà Nội
Điện thoại: 04.36522765
Nguyên Đại uý, Phó phòng Thiết kế, Cục TMCB, BTL 559
Nguyên Sư đoàn phó Tham mưu trưởng Sư đoàn 472, Binh đoàn 12


Mừng rỡ

Tôi rất xúc động, sau một thời gian khỏi bệnh được đồng đội Cục Tham mưu Công binh đến thăm nhà.

   Ngày vui được buổi đẹp trời
   Hôm nay bầu bạn ghé chơi chan hòa
   Gợi bao kỷ niệm đã qua
   Nhớ người và cảnh đậm đà thân thương.
   Nhớ ngày bám trụ chiến trường
   Mùa mưa đói rét tìm đường... kiếm măng
   Rau tàu bay... cũng sạch quang
   Ta đi kiếm sắn... để tăng khẩu phần
   Vàng Khoai bom địch lấn dần1 (Bản Vàng Khoai cạnh đường 128A, gần đường số 9 phía Lào)
   Cụ Diêu2 (Thượng tá Cục trưởng Phạm Văn Diêu) thương lính thấy cần ngăn đi
   Nhớ ngày địch đánh Na Hi
   Khói bom mù mịt đen xì cơ quan
   Quai bom gần đó văng sang
   Anh em vỡ lẽ địch đang soi tìm
   Ta còn nấn ná ở thêm
   Bê năm hai (B52) địch cũng tìm đến nơi
   Trút bom bốn đợt liên hồi
   Chết nhiều, đợtcuối ta hơi bất ngờ
   Ta sơ tán đến Na Bo
   Để anh Phúc lại chẫm lo việc nhà
   Nhớ ngày địch đánh nống ra
   Ta đi công tác xông pha trên đường
   Người đi người ở kiên cường
   Cho xe vượt tuyến, chiến trường thắng to.

Ngày 18 tháng 6 năm 2004.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM