Đại tá
ĐỖ ĐỨC DƯƠNG
Sinh năm: 1945
Quê quán: Hà Đông, thành phố Hà Nội
Thường trú: Nhà số 3, ngách 31, Ngõ 69B, đường Hoàng Văn Thái, Quận Thanh Xuân, Hà Nội
Điện Thoại: 043. 5659.286 - 098 8671599
Nguyên Kỹ sư từ Bộ GTVT chuyển vào Quân đội
Nguyên trợ lý phòng Công trình Cục Tham mưu Công binh
Nguyên Trưởng phòng Xây dựng cơ bản, Trưởng phòng Kỹ thuật Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn - Binh đoàn 12
CÓ MỘT CƠ QUAN CỤC THAM MƯU CÔNG BINH NHƯ THẾ!
Đầu Xuân Canh Dần, mấy anh em chúng tôi, trợ lý Cục TMCB BTL 559 thời chống Mỹ có dịp găp nhau tại nhà anh Nguyễn Văn Nền ở Như Quỳnh, Hưng Yên, nhân anh từ thành phố Vũng Tàu về quê ăn Tết.
Là đồng đội nhiều năm sống chết có nhau trên chiến trường, lâu lắm mới có dịp gặp nhau nên câu chuyện tưởng không thể dứt được.
- "Tôi may mắn hơn các anh, sau năm 1976 là thư ký của thủ trưởng Phạm Văn Diêu cho đến ngày Cụ về nghỉ hưu. Tôi nhớ hồi đó "Cụ" có kéo cả anh Châu sang Tổng cục Dầu khí nữa nhưng nghe nói anh không chịu sang, Nguyễn Văn Nền mở đầu câu chuyện.
Anh Châu phản ứng:
- "Đâu có, thế ra mình mắc oan từ đó đến nay! Được làm viêc với cụ Diêu còn gì bằng! Với công việc thì nhiệt tình, quyết đoán, với cấp dưới thì thương yêu, đùm bọc, cởi mở.
Anh Đỗ Đức Định bổ sung:
- Anh Châu còn nhớ không, mùa khô năm 1969, mấy anh em mình cùng vào tuyên trước với Cụ trên một xe con Gatz "đít vuông", một xe Gatz 63 chở khí tài đi hộ tống do Lê Kim Thơ phu trách qua Diễn Châu, Cụ bảo vào nhà anh thăm ông già.
- Ôi sao quên được! Mình ngủ gà ngủ gật, Cụ hỏi, mắt nhắm mắt mở, không nhận định được lối rẽ từ đường số 1 vào làng mình ở đầu xã. Đành đi qua một đoạn, rẽ vào cuối xã nhưng xe lại không qua được kênh Nhà Lê vì cầu đã bị đánh sập. Nhìn đồng hồ đã 3 giờ sáng. Đành mượn nhà ở làng cuối xã cho đoàn nghỉ, mình nhờ chiếc xe đạp, vác qua chiếc cầu tre bắc tạm cho người đi bộ về nhà. Chưa đến nhà thì pháo bờ biển câu qua làng. Mình hốt hoảng quay trở lại xem làng dưới có việc gì không... Cụ mà có sao thì mình ân hận suốt đời mà. Rồi mình bị Cụ mắng cho về cái việc quay trở lại đó!
Anh Phạm Trần Hồng mới từ Nam Định lên sáng nay bổ sung:
- "Hay mắng khi chưa vừa lòng, thường kèm theo chùm từ "dở ẹec" nhưng lại là thương trợ lý. Một chuyện tôi còn nhớ cái đêm anh Nguyễn Ngọc Biên hy sinh vì bom từ trường, Cụ đến từng hầm báo tín dữ. Đến nay vẫn như còn nghe tiếng ủng bước hối hả quen thuộc của Cụ. Cả cơ quan Cục đêm hôm đó thức dậy bồi hồi. Cô Liên, cô Đoàn sụt sùi, thương nhớ. Anh Biên đang dạy các cô bài hát Đèo Long - Sông Bạc anh mới sáng tác.
Từ năm 1965-1966 cụ Nguyễn Văn Nhạn làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh 559 phụ trách Công binh. Lúc đó cụ Phạm Văn Diêu, cụ Nguyễn Nam Hải là Trưởng, Phó phòng Công binh còn gọi là Phòng Thiết kế Thi công. Bộ ba phối hợp làm việc với nhau quá nhịp nhàng ăn ý một thời khi đường 128 mới mở đường 129 mới cải tạo và đường 20 mới bắt đầu thi công. Có lẽ một trong các yếu tố chủ yếu tác động chính là cả ba Cụ đều là con người làm kỹ thuật, hai học thời Tây và một học thời Tàu.
Tôi, Đỗ Đức Dương bổ sung: "Còn nhớ có một hôm anh Phan Văn Kiến, chính trị viên đội Khảo sát được gọi lên nghe cụ Diêu "quạt" về cái tội chỉ huy mà để lính đẵn cả cây gỗ to chặt cả cây bống báng, cây đóoc như thế là "vừa làm trống trải lộ bí mật cho ta vừa phá hoại rừng của Bạn".
Tết năm 1967, Cục phó Nguyễn Nam Hải vào điều động hai tổ Nguyễn Tiến Duy và Đoàn Văn Đạt sang Binh trạm 42, lúc này đang khảo sát đường 22, đóng quân tại Bản Kăng, tỉnh Sa La Van. Đang nghe ca nhạc đầu xuân Đinh Mùi năm đó, công vụ Hoàng Văn Thắng xin đi săn cải thiện. Nửa tiếng sau, anh trở về hể hả báo tin: "Một nai mẹ gục tại chỗ, còn chú nai con bị thương chạy vào cánh rừng".
Cục phó cau mày: "lần sau không được như vậy, chỉ được bắn một con thôi, Thắng nhé!"
Thời đó chẳng ai giáo dục cấm phá rừng đầu nguồn gây lũ lụt, cấm săn bắn thú rừng hoang dã gìn giữ môi trường thiên nhiên, nhưng trong ý thức sao nghiêm ngặt như vậy!
Cụ Hoàng Đình Luyến từ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 229 về đảm nhiệm Trưởng phòng Công trình, sau đó ít lâu nhận nhiệm vụ Cục phó; cụ Lê Văn Phan, Phó phòng thay. Tết năm 1969, Trưởng phòng Hoàng Đình Luyến cùng anh em tổ chức cái Tết "tinh thần" có một không hai thời đó, Cụ nói ở chiến trường vật chất hiếm, bánh chưng thịt mỡ dưa hành chắc gì đã có! Cả phòng nhất trí làm tập san "Tết Đinh Mùi trên đỉnh Trường Sơn theo sáng kiến của Trưởng phòng. Không "bổ nhiệm" chức vụ Tổng biên tập, không có chế bản, không in ấn. Các trợ lý đều tự biên tập bài của mình, xin pơ luya của Nguyễn Thị Đoàn, nhân viên văn thư, và tự "chế bản". Trợ lý vượt sông Nguyễn Trọng Thoại cao tuổi nhất có bài thơ "gặp em trên đỉnh Trường Sơn" khá tình cảm, Trưởng phòng có bức tranh với bút danh "Lư Yên" còn Trần Trọng Thảo trang trí bìa, dán gáy. Có đến vài chục bài thơ, văn, có người viết đến 3 bài. Tuy nhiên số lượng xuất bản chỉ một tập.
Sáng mồng một Tết, trước cửa các hầm chữ A của Phòng Công trình đều có cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa mai vàng được cắt rất khéo bằng giấy nhuộm nhiều màu sắc. Chính trị hiệp lý viên Lê Hữu Khuyên thấy như đã đảo lộn trật tự hàng ngày ông đang quản lý, tần ngần lẩm nhẩm buông một câu giọng đặc xứ Thanh: "Rứa đó, "hấn" đều Tạch Tạch Sè2 (2) cả ấy mà!", cả phòng bấm bụng không dám cười to.
Cụ Nguyễn Văn Kỷ giao chức Trưởng phòng Bảo đảm giao thông cho cụ Đinh Hào, cụ Cấn Hoàng Dụ, cụ Phan Công Khang để đảm nhiệm Cục phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Cục. Cụ Kỷ dáng cao lớn có giọng cười rất vang. Cụ thương anh em, thương nhất Phạm Thái Chi, một kỹ sư cầu khá giỏi dang năng động, nhưng hoàn cảnh gia đình eo le hạn chế sự phát triển của bản thân.
Về những năm sau còn có các thủ trưởng vốn là chỉ huy các trung đoàn, các binh trạm được bổ nhiệm Cục phó Tham mưu Công binh.
Cục phó Lê Trung Ngôn, nói năng nhẹ nhàng, điềm đạm, mang vẻ một vị giáo sư hơn là người tướng trận mạc. Tuy nhiên trong chiến dịch Đường Chín - Nam Lào năm 1971, cụ lại xông pha, chỉ huy hợp đồng giữa các đơn vị công binh chiến trường, bộ binh xe vận tải rất có hiệu quả. Cục trưởng Phạm Văn Diêu phân công thật rất hợp lý: Cục phó Lê Trung Ngôn phụ trách tác chiến và huấn luyện.
Cụ Bùi Quốc Ủy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 bộ binh chuyển binh chủng từ năm 1965, chỉ huy Binh trạm 7 (sau là BT 42) sát chiến trường Trị Thiên khét tiếng ác liệt. Cụ chỉ huy quân chiến đấu tại chỗ đánh thắng "kỵ binh bay", bắn rơi hàng mấy chục trực thăng đổ bộ bộ binh xuống Động Cồn Tiên, A Sầu, A Lưới trong những năm 1966, 1967... để những năm sau đó đường B45 vượt chỉ tiêu vận tải vào chiến trường Trị - Thiên - Huế và cho Khu 5 lúc đó còn rất gian khổ.
Cụ Nguyễn Thúc Yêm từ Trung đoàn 10 Công binh được cử đi công tác tháp tùng Chính uỷ Bộ Tư lệnh, hy sinh cùng ngày, cùng giờ với Chính uỷ Đặng Tính tại cao nguyên Bô Lô Ven. Dáng thư sinh, trắng trẻo, quê Đức Thọ Hà Tĩnh, mới nhận nhiệm vụ chỉ vài ngày nhưng đã nắm đầy đủ công việc phục vụ cho chuyến đi định mệnh đó.
Tại Quảng Xá, xã Hiền Ninh nơi đóng quân, tháng 3 năm đó, cán bộ chiến sỹ Cục Tham mưu Công binh, cả nhân dân địa phương bùi ngùi xúc động thương tiếc các liệt sỹ. Chúng tôi - những trợ lý thời đó, những cựu chiến binh Công binh 559 Trường Sơn nay đã trên dưới 70 tuổi không thể quên được người Cục phó mới bổ nhiệm đầy năng lực, nhiều hứa hẹn đã phải đi xa khi đất nước còn chưa thống nhất.
Cụ Phan Quang Tiệp được bổ nhiệm Cục trưởng thay cụ Pham Văn Diêu về Bộ nhận nhiệm vụ mới, giai đoạn xây dựng cơ bản đường 14 Đông Trường Sơn xuyên Việt. Đây là một nhiệm vụ rất mới mẻ, phải giải quyết nhiều khâu từ khảo sát thiết kế, khí tài vật tư, cán bộ kỹ thuật, tổ chức chỉ huy. Thực sự đây là một chiến dịch cầu đường rất lớn, một đại công trường trải dài ngót ngàn ki lô mét trên một địa bàn rừng núi mới ngớt tiếng bom đạn, còn sát nách đối phương, không ít khó khăn phức tạp. Cụ Tiệp hội đủ tiêu chuẩn của người cán bộ chỉ huy: điềm tĩnh, quyết đoán, phục tùng cấp trên nhưng lại rất tôn trọng ý kiến cấp dưới.
Các Cục phó Dương Đình Tạ, Trần Đình Cầu, Trần Danh Hòa, Tô Đa Mạn, Đỗ Xuân Diễn một thời giúp Cục trưởng Phan Quang Tiệp chỉ huy thi công đường 14 xây dựng Cơ bản và đảm bảo giao thông các tuyến đường cho các chiến dịch giải phóng Tây Nguyên 10/3, chiến dịch giải phòng Huế 25/3, Đà Nẵng 29/3... chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn thắng.
Cục phó Dương Đình Tạ say mê với cây cầu treo dây văng hiện đại nhất Đông Nam Á thời điểm đó, được thi công tại Đăkrông trên tuyến đường 14 lúc đó. Các cộng tác viên trường Đại học Xây dựng, giáo sư Lê Văn Thưởng, Nguyễn Như Khải, Lê Đình Tâm là chuyên gia kỹ thuật; kỹ sư Nguyễn Trọng Thoại, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 509 đảm nhiệm xây dựng công trình hiện đại nay. Trước đó Cụ đã cùng kỹ sư Mai Tây Lộ biệt phái từ Bộ Giao thông vận tải các trợ lý Mai Văn Tâm, Phạm Thái Chi chỉ đạo thiết kế và thi công cầu treo Bản Đông và Bến Tất trên các trục đường xây dựng cơ bản.
Ít khi thấy Cục phó Tô Đa Mạn ở cơ quan, Cụ thường xuyên có mặt tại hiện trường nơi có dàn Komatsu của các Trung đoàn 6 do Trung đoàn trưởng Đinh Toàn chỉ huy, Trung đoàn 529, Trung đoàn 217 hoạt động trên đoạn đường đang mở từ Đăkrông, A Cho, Tà Rụt, qua Pê Ke, Ka Tia vào tận Trao đến Bến Giàng... hoặc nơi Trung đoàn 515 của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thăng, người chỉ huy năng động sâu sát những năm làm đường kín 24 nay đang thi công mặt đường thảm nhập nhựa, một công việc hoàn toàn mới mẻ có yêu cầu kỹ thuật hiện đại.
Sang tháng 3 năm 1975, khi Tây Nguyên được giải phóng, các Cục phó Dương Đình Tạ, Đỗ Xuân Diễn, Trần Đình Cầu, Trần Danh Hoà có các kỹ sư các phòng thiết kế, thi công, vật tư: Nguyễn Vĩnh, Hoàng Thung, Nguyễn Văn Khải, Huỳnh Bá Sâm, Trần Văn Nguyên... giúp việc rong ruổi trên đường thiên lý - con đường số 1, chỉ đạo kỹ thuật, điều phối vật tư để đơn vị vượt sông do đồng Nguyễn Hữu Soát chỉ huy bắc cầu phao Thạch Hãn; Vũ Như Thường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 chỉ huy khôi phục hàng chục cây cầu trên đường số 1 đã bị địch phá hoại trong khi rút chạy để ngăn bước truy kích của quân ta. Đồng chí Trịnh Thanh Liêm, một cán bộ khí tài rất năng động đã cho đơn vị tìm kiếm khí tài vượt sông trong các kho công binh của địch, mầy mò gia công tại chỗ nhanh chóng bắc cầu nối tuyến, động viên các trung đoàn bảo đảm giao thông để nhiều quân đoàn; sư đoàn bộ binh, pháo binh, xe tăng của ta 55 ngày đêm liên tục hành quân cơ giới thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Chỉ huy Tham mưu Công binh trong 10 năm thời chiến tranh thực sự đã gắn bó với nhau, động viên các phòng, các ban trong cơ quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, cả 10 năm không có một trợ lý, một nhân viên thoái thác bỏ nhiệm vụ dù phải làm việc trong điều kiện hết sức gian khổ, ác liệt Bác Hồ, Đảng đã ta có tầm nhìn sâu rộng đã đào tạo đươc những cán bộ cho dù họ ở tầng lớp nào cũng đều quyết tâm, chung lòng đóng góp sức mình cho công cuộc giải phóng dân tộc. Họ đã là những tâm gương sáng chói cho thế hệ các trợ lý của mình phấn đấu trưởng thành.
Đến nay, trong hàng ngũ trợ lý thời đó đã có vài chục đồng chí là sỹ quan cao cấp của quân đội. Đồng chí Đặng Phúc trở thành Tư lệnh, Phạm Thọ làm Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh, đồng chí Đặng Hương, Trần Văn Phúc la Phó Tư lệnh, Phó Tổng Giám đốc Binh đoàn 12 - Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn.
Nhiều đồng chí chuyên ngành thành cán bộ cấp cục, vụ, chánh, phó tổng giám đốc các tổng công ty, giám đốc, phó giám đốc các sở thuộc Bộ Giao thông vận tải.
Thế hệ trợ lý, cán bộ nhân viên thời đó tự hào đã một thời công tác, chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn dưới sự chỉ huy, dìu dắt của một tập thể lãnh đạo sáng tạo, tài năng, đức độ - sống, công tác và chiến đấu vì nhiệm vụ cao cả được giao, thực sự thương yêu cấp dưới hết mình...góp phần rất quan trọng cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của bộ đội Trường Sơn anh hùng.
Có một cơ quan Cục Tham mưu Công binh thuộc Bộ Tư lệnh 559 - Trường Sơn thời chống Mỹ như thế!