Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 51274 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #130 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2025, 08:25:30 pm »

Sau khi chuyển tổ chức từ Tiền phương Bộ Quốc phòng sang thành Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia ít lâu, tôi nhớ khoảng cuối năm 1981 đầu năm 1982, đồng chí Lê Khả Phiêu đang là Tư lệnh Mặt trận 979 được điều về làm Chủ nhiệm Chính trị Cơ quan Chính trị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Trước đó nữa, anh là Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 9. Tôi nghe nói, anh sắp sửa được phong quân hàm Thiếu tướng.


Trước đây, tôi chưa quen anh Phiêu nhưng biết anh tại Hội nghị tổng kết Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh cuối năm 1968 tại Câu lạc bộ Quân đội Hà Nội do Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chủ trì. Khi đó, anh là Trung tá, Chính ủy Trung đoàn 9 Sư đoàn 304. Sư đoàn 304 là sư đoàn đã quần nhau với bọn thủy quân lục chiến và sư đoàn kỵ binh bay, lực lượng thuộc loại tinh nhuệ nhất của Mỹ trong một thời gian khá dài. Tháng 5 năm 1968, Sư đoàn 308 cũng nhận được mệnh lệnh tham gia chiến đấu phối hợp với đợt 2 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 toàn miền Nam cùng với Sư đoàn 304 và các lực lượng địa phương đánh địch từ trước ở chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Còn tôi, lúc đó là Trung tá, Chính ủy Trung đoàn 88 Sư đoàn 308.


Khi anh lên nhận nhiệm vụ thì ngay liền sau đó thêm hai đồng chí nữa cũng được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị. Đó là Đại tá Lưu Hồng Nghị, Chính ủy Sư đoàn 9 Quân đoàn 4 lên phụ trách về công tác tổ chức, Thượng tá Phạm Đình Thức phụ trách công tác tuyên truyền đặc biệt (tức là địch vận) và là Bí thư Đảng ủy Cơ quan, phụ trách công tác nội bộ. Tôi rất mừng vì Cơ quan Chính trị được kiện toàn khá mạnh. Vì vậy, tôi có thể tập trung sức vào ba việc chính đang làm là công tác tư tưởng, văn hóa, công tác vận động quân chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở và quan hệ với chuyên gia các ngành của ta và với bạn. Phải nói rằng, suốt từ đầu năm 1979 đến lúc đó, công việc bận đến nỗi không mấy khi tôi được ngủ trước 12 giờ đêm. Những tưởng là từ đó sẽ nhàn nhã đôi chút, nhưng với công tác ngày càng phát triển, ngày càng phải đi sâu hơn đối với cả lực lượng của ta và của bạn nên bận vẫn hoàn bận. Tôi lại thường được bổ sung vào thành phần đoàn công tác tới các đơn vị khi có Thủ trưởng của Bộ Tư lệnh dẫn đầu.


Một buổi, tôi thấy anh Lê Khả Phiêu triệu tập gấp cả ba phó chủ nhiệm ra phòng họp cơ quan. Vừa nhìn thấy anh, tôi chắc có việc gì gấp rất quan trọng, nhưng không thấy có đồng chí phụ trách Văn phòng của cơ quan. Anh cho biết tình hình bạn ở tỉnh Xiêm Riệp đang rất nghiêm trọng. Có thông tin của ta phát hiện bọn địch chui vào hoạt động phá hoại đảng bộ và các cơ quan của bạn. Bộ Tư lệnh 479 do đồng chí Tám Hoa (Nguyễn Xuân Ôn) là Phó Tư lệnh Chính trị đã cho đình chỉ hoạt động, bộ đội ta canh gác không cho ra khỏi nhà một số phần tử chống đối cách mạng, tình hình rất rối ren, coi như đảng bộ và các cơquan ở tình, huyện và cả nhiều xã bị tê liệt, một số ít các đồng chí của bạn được cho là tốt, rất hoang mang...


Tôi xin nói thêm là địa bàn Mặt trận 479 gồm hai tỉnh Xiêm Riệp và Batambang được coi như là khu vực nóng bỏng nhất ở Campuchia. Tàn quân của các đầu sư đoàn địch hoạt động rất mạnh. Tình hình Xiêm Riệp diễn ra như vậy khi đồng chí Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Tư lệnh Quân tình nguyện kiêm Tổng đoàn trưởng chuyên gia Campuchia đi Liên Xô chữa mắt. Đồng chí Phó Tư lệnh Chính trị Lê Hai bị ốm chuẩn bị đi viện.


Việc đánh giá tình hình địch ở bên Xiêm Riệp và chủ trương rà soát ở đó được tiến hành bí mật. Rất nhiều chuyên gia các ngành có cả ủy viên Trung ương Đảng phụ trách, các cơ quan của Bộ Tư lệnh, kể cả cơ quan chính trị cũng không hề hay biết.

Trước khi trao đổi vấn đề này, tôi đề nghị có nên để đồng chí phụ trách Văn phòng dự, cho ý kiến và viết biên bản cuộc họp không? Ý tôi là muốn khẳng định về trách nhiệm đối với ý kiến của mỗi người và của các đồng chí lãnh đạo Cơ quan Chính trị, tránh những rắc rối sau này, có thể vì tôi nghĩ rằng từ khi tôi công tác ở đây đã có một số vụ xảy ra trong quan hệ với bạn, gây hậu quả xấu và một số đồng chí đã bị kỷ luật. Anh Phiêu nói rằng không cần thiết và nhắc mọi người phát biểu ý kiến. Ở đây, tôi và anh Thức là người công tác ngay từ đầu khi có Tiền phương Bộ cho đến nay, nhưng phạm vi nắm tình hình và quan hệ với bạn của tôi rộng hơn anh Thức, nên tôi có trách nhiệm nói về tình hình và ý kiến của tôi trước để các đồng chí khác dễ phát biểu.


Tôi cho các anh biết là cách đây không lâu có cuộc họp của Bộ Tư lệnh với các đồng chí tư lệnh và tư lệnh phó chính trị của các mặt trận và các đồng chí phụ trách của các đầu mối. Trong cuộc họp đó có một nội dung mà hội nghị phải bàn là xét trao cờ thi đua. Cơ quan Chính trị phải báo cáo gọn tình hình thi đua nói chung và từng nơi cho hội nghị. Lúc đó anh Lê Khả Phiêu chưa về nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm Chính trị nên tôi phải làm việc này. Theo báo cáo thi đua của các nơi và những gì mà chúng tôi nắm được thì có hai nơi cần cân nhắc là Mặt trận 479 và Mặt trận 579 là hai nơi nóng bỏng trong việc truy quét tàn quân Pôn Pốt và cũng là nơi thực hiện có hiệu quả nhất nhiệm vụ giúp bạn để bạn phấn đấu tự đảm nhiệm được nhiệm vụ cũng có nhiều tiến bộ. Riêng Mặt trận 479, cỏ nơi như huyện Puốc địch hoạt động nhiều, Sư đoàn 317 của ta đã rút về nước, nhưng huyện đã huy động được hàng nghìn nhân dân ủng hộ và cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích truy quét địch, hiệu suất diệt địch còn hơn cả tiểu đoàn của ta dừng chân ở huyện. Các đồng chí của Mặt trận 579 cũng thấy như vậy, đề nghị xin rút và trao cờ cho Mặt trận 479. Như vậy theo tôi:

1-Cho rằng địch đã chui vào cơ quan của bạn phá hoại, lũng đoạn thì tình và huyện không thể vận động được quần chúng tốt như thế và hiệu suất diệt địch cao như thế. Vì vậy, tôi khẳng định đó là một nhận định sai dẫn đến một đánh giá sai và dẫn đến việc xử lý sai.

2-Cứ để anh Lê Hai có điều kiện chữa bệnh.

3-Báo cáo với đồng chí H., Ý kiến đánh giá của Cơ quan Chính trị và ngay lập tức đình chỉ việc bắt bớ và tìm cách ổn định tình hình.

4-Báo cáo gấp về Tổng cục Chính trị xin chỉ thị và đề nghị giúp đỡ.


Các đồng chí khác không có ý kiến gì thêm và anh Lê Khả Phiêu cũng nhất trí. Sau đó, anh Phiêu đi trao đổi ngay với đồng chí H. và viết điện khẩn báo cáo về Tổng cục Chính trị.

Tôi thấy trong cả thời gian làm việc ở Campuchia cho đến lúc ấy, dù công tác có nhiều lúc gian khổ, vất vả có khi cũng khá nguy hiểm nhưng chưa bao giờ tôi thấy căng thẳng như vậy.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #131 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2025, 08:27:20 pm »

Được vài hôm thì tôi được biết, sau khi nhận được điện thoại anh Phiêu gửi về nước, Thủ trưởng Tổng cục báo cáo việc này với đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Thọ cũng gọi gấp đồng chí Lê Đức Anh đang điều trị ở Liên Xô về nước.

Cuộc họp Ban Cán sự Đảng của Quân tình nguyện diễn ra ngay sau khi đồng chí Lê Đức Anh về tới Phnôm Pênh. Riêng với Mặt trận 479, đồng chí Tám Hòa, Phó Tư lệnh Chính trị được mời tới dự. Tôi cũng được gọi có mặt dự để phục vụ hội nghị.

Không khí buổi họp nặng nề, nhưng không có những lời lẽ gay gắt. Sau khi đồng chí Tám Hòa báo cáo, nhiều đồng chí trong Ban Cán sự Đảng phát biểu và đồng tình với việc đánh giá tình hình sai. Đồng chí Lê Đức Anh có một kết luận,phân tích khá dài và sâu sắc về việc này. Đồng thời, đồng chí nêu yêu cầu và những biện pháp sửa sai để ổn định tình hình. Dựa vào phát biểu của đồng chí Bí thư Ban Cán sự, tôi viết theo thể biên bản cả hội nghị và đưa đồng chí thông qua. Đồng chí Bí thư không bổ sung gì thêm, chỉ nói: "Nếu viết là nghị quyết thì tốt hơn" và giao nhiệm vụ cho tôi phổ biến văn bản của Ban Cán sự cho Cơ quan Chính trị Mặt trận 479 để thông báo cho cán bộ. Tôi điện lên cho đồng chí Ba Bao, Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị Mặt trận 479 về Phnôm Pênh gấp.


Khi làm việc với đồng chí Ba Bao, tôi có ý định tìm hiểu chi tiết hơn về tình hình của Mặt trận 479 lúc này, nhưng đồng chí không nói gì thêm. Tôi nhắc đồng chí khẩn trương phổ biến cho cán bộ, nhất là cán bộ của cơ quan trực thuộc Bộ Tư lệnh để quán triệt chủ trương và biện pháp sửa sai của Ban Cán sự theo chỉ thị của đồng chí Lê Đức Anh.


Chỉ hai hôm, sau ngày làm việc với đồng chí Ba Bao, tôi lại được đồng chí Lê Đức Anh giao cho nhiệm vụ cùng với 1 đồng chí của Đoàn chuyên gia Đảng đi Xiêm Riệp để giúp đỡ và theo dõi việc sửa sai của Mặt trận 479. Đi với tôi là đồng chí Phi Hùng, có lẽ chỉ hơn tôi vài tuổi. Nghe nói trước đây khi Đảng Cộng sản Đông Dương chưa tách thành 3 đảng, đồng chí là bí thư một chi bộ ở Xiêm Riệp, sau đó về làm ở Văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia thời kỳ đồng chí Sơn Ngọc Minh làm Tổng Bí thư.


Việc đầu tiên là chúng tôi đến chỗ đồng chí Tám Hòa để báo cáo về công việc của mình. Đến đó, tôi lại gặp thêm Thiếu tướng Sáu Hưng, Tư lệnh phó Quân khu 7 vừa được điều về Mặt trận 479 thay đồng chí Tư Thanh. Trong thời gian đợi đồng chí Tám Hòa triển khai các công việc với anh em trong cơ quan để hiểu thêm tình hình, đồng chí Sáu Hưng rất vui vẻ, có thời gian rỗi nên cùng đi với chúng tôi gặp các đồng chí cán bộ ở các cơ quan chính trị. Tôi đến gặp đồng chí Ba Bao hỏi về việc triển khai phổ biến văn bản của Ban Cán sự Đảng thì việc đó chưa làm theo ý đồng chí Tám Hòa.


Tôi đề nghị cho gặp đồng chí Tỉnh đội phó của bạn đang ở trụ sở Tỉnh đội. Tôi gặp một con người mới ngoài ba mươi tuổi mà trông già xọm như một người ngoài năm mươi, ủ rũ, thảng thốt như người mất hồn. Tôi và đồng chí cán bộ ở cơ quan chưa kịp hỏi gì thì đồng chí ấy đã mếu máo nói bằng tiếng Việt chưa thạo:

-Không biết bộ phận mình sẽ như thế nào.

Biết đồng chí đang rất hoang mang và xúc động, tôi chỉ nói một câu ngắn để trấn an đồng chí ấy:

-Đồng chí cứ yên tâm không sợ gì cả, không ai có thể động đến đồng chí nữa.

Tuy nhiên, tôi vẫn thấy có vẻ đồng chí ấy không tin lắm với câu trấn an đó.

Anh Tám Hòa cho chúng tôi biết là sáng hôm sau sẽ tiến hành việc đầu tiên trong sửa sai là gặp gỡ các cán bộ chủ chốt của bạn bị bắt giam, xin lỗi các đồng chí đó và yêu cầu họ cùng cộng tác trong việc sửa sai. Tiếp sau sẽ triệu tập một cuộc họprộng rãi cán bộ các ngành trong tỉnh của bạn để anh Tám Hòa nói chuyện và xin lỗi. Anh nói, anh mời tôi và anh Phi Hùng đến dự cuộc họp đó.


Tôi có cảm giác là không khí căng thẳng và ngột ngạt có phần đã giảm bớt.

Cuộc họp thứ nhất diễn ra trong một căn phòng nhỏ. Tôi thấy khoảng hơn một chục cán bộ bạn là những người mới được phóng thích từ trại giam. Anh Sáu Hưng và anh Tám Hòa chủ trì cuộc họp. Trước khi bắt đầu cuộc họp, tôi hỏi mới được biết trong số đó có một đồng chí Tỉnh ủy viên phụ trách tuyên huấn của bạn, một đồng chí trong ủy ban tỉnh và Chia Xô Phát, Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Puốc ma tôi đã biết khi Sư đoàn 317 rút quân về nước.


Anh Tám Hòa, với giọng nói nhỏ nhẹ, ôn tồn và chân thành nhận những sai lầm trong đánh giá tình hình và việc làm của lãnh đạo, chỉ huy Mặt trận 479, xin lỗi anh em về những sai làm của mình và đề nghị anh em phát biểu ý kiến.

Người phát biểu đầu tiên là Chia Xô Phát, tuổi khoảng 25 26, trước đây là học sinh đã tốt nghiệp tú tài. Anh mở đầu bằng câu: "Mẹ tôi là người Việt Nam, gia đình tôi có 9 người bị Pôn Pốt giết...".

Nói đến đây anh quá xúc động, khóc nức nở và không nói tiếp được nữa, không khí trong phòng chìm hẳn xuống xúc động. Tôi rót cho anh một chén nước đưa anh uống để trấn tĩnh lại. Sau một hớp nước, anh nói tiếp. Bằng một giọng nói Việt Nam rất chuẩn và khúc triết đến không ngờ mà lần trước gặp anh tôi không hề biết. Anh nói, anh còn sống sót là khi bị bọn Pôn Pốt bắt đi tập trung lao động và giấu được tung tích của mình. Khi Quân tình nguyện Việt Nam và các đơn vị cách mạng Campuchia đánh đến Xiêm Riệp, bọn Pôn Pốt bỏ chạy. Lợi dụng tình hình đó, anh và nhiều người trốn thoát và ngay lập tức đi theo cách mạng và trưởng thành, làm Bí thư và Chủ tịch huyện Puốc. Khi Sư đoàn 317 rút về Việt Nam năm 1982, anh và các cán bộ trong huyện ra sức củng cố, xây dựng lực lượng và vận động nhân dân truy quét tàn quân Pôn Pốt có kết quả tốt. Trong việc phối hợp với tiểu đoàn đứng chân ở huyện của Việt Nam, có việc ý kiến anh khác với các cán bộ tiểu đoàn vì anh hiểu tình hình nhiều hơn các đồng chí Việt Nam, nên có những ý kiến anh đề nghị không được tiếp nhận mà còn nghi ngờ, không tin anh. Trong đợt vừa qua, anh bị bắt giam mà anh không hiểu vì lý do gì... Người phát biểu tiếp sau là đồng chí lớn tuổi nhất là cán bộ của Ủy ban tỉnh với một thái độ rất vui vẻ, phấn khởi cũng nói rằng "mình bị bắt không biết vì lý do gì". Nhưng đồng chí ấy tin rằng thể nào mình cũng được minh oan và đã đúng như thế. Đồng chí luôn luôn tin rằng cách mạng rất sáng suốt và hứa sẽ tiếp tục tích cực công tác. Nói chung, có nhiều ý kiến tỏ ra phấn khởi khi được trả lại tự do và hứa sẽ làm việc tốt hơn.


Tôi để ý thấy người Tỉnh ủy viên phụ trách tuyên huấn của Tỉnh ủy nét mặt trầm xuống và không nói gì. Trông anh ta có vẻ là một trí thức, tuổi chạc ngoài 30, ăn mặc chải chuốt, nước da trắng trẻo, mặt vẫn đượm buồn, lúc nghỉ giải lao cũng không nói chuyện với ai. Tôi lại gần anh ta chủ động làm quen, nét mặt anh ta tươi lên một chút, có vẻ lịch sự tiếp nhận đối thoại. Tôi nói bằng tiếng Việt như tâm sự với anh ta: "Trong một cuộc cách mạng lớn, có lúc cũng không tránh khỏi được sai lầm. Cách mạng Việt Nam cũng có lúc như thế. Nhưng quan trọng là phải phát hiện được sai lầm và tích cực sửa chữa. Tôi nghĩ rằng cách mạng Campuchia cũng có thể có sai lầm như thế". Anh ta lắng nghe nhưng không nói gì, nét mặt vẫn rất buồn. Cuộc họp kết thúc với lời phát biểu ngắn gọn của anh Tám Hòa, cổ vũ anh em tiếp tục công tác tốt và báo anh em vài hôm nữa sẽ có cuộc họp rộng rãi cán bộ các ngành trong toàn tỉnh.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #132 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2025, 08:30:17 pm »

Tôi trở về nhà khách của Bộ Tư lệnh 479, đối diện với trụ sở Bộ Tư lệnh, chỉ cách một con đường nhỏ rộng hơn một chục mét và đợi dự cuộc họp thứ hai. Trước khi cuộc họp diễn ra, vào lúc 9 giờ sáng, đồng chí Chia Xim đã có buổi làm việc với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh 719 về vấn đề Xiêm Riệp.


Cuộc họp lần hai gồm các thành phần rộng rãi hơn, là đại diện cán bộ các ngành của tỉnh diễn ra ở một hội trường lớn có đến vài ba trăm người dự trong một không khí cởi mở và nhẹ nhõm hơn. Anh Tám Hòa là diễn giả chính ngày hôm đó. Nội dung anh phát biểu, ý chính vẫn là nội dung của cuộc họp hẹp lần trước, được kết thúc bằng những tràng vỗ tay và nét mặt hồ hởi của mọi người.


Việc sửa sai mở đầu như vậy, theo tôi là đạt kết quả tốt. Tiểp xúc với anh em ở Cơ quan Chính trị Mặt trận 479, tôi thấy mọi người cũng phấn khởi, thở phào nhẹ nhõm.

Tôi viết một bức điện báo cáo tóm tắt với đồng chí Lê Đức Anh về kết quả đầu tiên của việc sửa sai và thái độ phấn khởi nói chung của cán bộ bạn, đưa cho anh Tám Hòa xem qua và nhờ chuyển về Phnôm Pênh giúp.

Là một quân nhân đã từng gắn bó với những người cách mạng và nhân dân Campuchia trong cuộc đấu tranh đập tan bọn diệt chủng, tôi nhớ lại những kỷ niệm đã cùng ngồi ăn với ông Chia Xim1(Khi tôi viết đến đây cũng là lúc định kết thúc những câu chuyện về ông Chia Xim... thì cách đây hơn hai giờ ngày hôm nay (9.6.2015), lúc hơn 6 giờ sáng, tôi được tin qua vô tuyến truyền hình Việt Nam ông đã qua đời ở tuổi 83, khi còn đương nhiệm Chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Campuchia) một bữa cơm đạm bạc sau Hội nghị thanh niên toàn Campuchia cuối năm 1979 và vài lần nghe ông nói chuyện. Một con người tướng mạo phúc hậu, điềm đạm, nói chuyện ôn tồn, sâu sắc, và quan trọng hơn, đó là một con người đã vì nghĩa lớn, gạt ra những ấm ức cá nhân, trở thành một nhà lãnh đạo xuất sắc của nhân dân Campuchia, góp phần quan trọng xây dựng tình hữu nghị Campuchia - Việt Nam và được nhiều người kính trọng.


Sau những sự việc trên, ở Tổng cục Chính trị quan tâm hơn tới nhiệm vụ quốc tế đối với Lào, Campuchia. Cùng với đó,trước những đòi hỏi mới trong việc xây dựng lực lượng chủ lực của bạn, cần phải có nhiều chuyên gia ta giúp đỡ nhằm đáp ứng sự phát triển khá nhanh của quân đội bạn.


Đầu tiên là đồng chí Nguyễn Nam Khánh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị sang Campuchia làm việc một ngày với Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh 719. Hôm đó tôi đi vắng nên đồng chí làm việc với đồng chí Phạm Đình Thức, có lẽ là để chuẩn bị cho đồng chí Chu Huy Mân sang để khảo sát tình hình ở Campuchia.


Ít hôm sau thì đồng chí Chu Huy Mân sang và làm việc với một đoàn chuyên gia cấp tỉnh trong một buổi. Tôi được đồng chí Lê Đức Anh cử đi cùng dẫn đồng chí Chu Huy Mân đến gặp đồng chí Trưởng đoàn chuyên gia ta ở Cô Công nhưng còn đang ở Cơ quan của Mặt trận 979 chỉ cách Phnôm Pênh khoảng hơn 30 kilômét. Đồng chí chỉ hỏi hoạt động của Đoàn chuyên gia cấp tỉnh và hỏi về tiểu đoàn đứng chân ở huyện. Nghe báo cáo khoảng hai giờ đồng hồ thì đồng chí trở lại Phnôm Pênh rồi về Việt Nam. Đồng chí Lê Đức Anh có hỏi tôi là anh Chu Huy Mân có phát biểu gì không, nhất là đối với tiểu đoàn đứng chân ở huyện. Tôi báo cáo với đồng chí là đồng chí Chu Huy Mân chỉ nghe chứ không thấy phát biểu gì.


Ít lâu sau, một đồng chí cán bộ của Tạp chí Quân đội nhân dân đem một tài liệu chủ đề là "Công tác chuyên gia giúp bạn ở Campuchia" của đồng chí Chu Huy Mân và yêu cầu góp ý kiến.

Tôi cũng ít chú ý đến tài liệu này xem nó có ảnh hưởng tới chuyên gia ta ở Campuchia như thế nào. Ai cũng biết rằng, đồng chí Chu Huy Mân đã từng có thời kỳ là người đứng đầu phụ trách đoàn chuyên gia ở Lào và viết tài liệu này với ý định giúp cho các chuyên gia ta ở Campuchia những kinh nghiệm của mình đã trải qua. Đó là nét mới thứ nhất trong thời gian này.


Nét mới thứ hai của thời gian này là tình hình về mọi mặt ở Campuchia phát triển đi lên khá nhanh, trong đó có sự phát triển rất đáng khích lệ của lực lượng vũ trang bạn. Tình hình đó đòi hỏi công tác chuyên gia các mặt giúp bạn phải đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng theo yêu cầu phát triển của bạn, đặc biệt là về mặt xây dựng thực lực quân sự cho bạn cả về quân sự và chính trị.


Vì vậy ta cần có sự thay đổi. Trước hết là người phụ trách. Đồng chí Nguyễn Trọng Hợp, Đoàn trưởng Đoàn 478, vốn là một cán bộ chính trị đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp bạn, được chuyển về nước và được bổ nhiệm trọng trách Cục trưởng Cục Cán bộ thuộc Bộ Quốc phòng1 (Tại thời điểm này có hai Cục Cán bộ, một thuộc Bộ Quốc phòng và một thuộc Tổng cục Chính trị). Thay cho đồng chí Nguyễn Trọng Hợp là đồng chí Mai Xuân Tần, Cục phó Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu, vốn là một cán bộ quân sự có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và xây dựng bộ đội chủ lực, kiêm chuyên gia. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bạn lúc đó là đồng chí Bu Thoong.


Công tác của tôi trong thời gian này tuy có thêm hai phó Chủ nhiệm nữa để giúp đồng chí Chủ nhiệm Lê Khả Phiêu, nhưng vẫn khá bận rộn với những việc đã được phân công. Một việc lớn cần phải làm theo ý kiến của đồng chí Lê Đức Anh với đồng chí Lê Hai trước khi đồng chí đi Liên Xô chữa mắt là ở nhà nên tổ chức sơ kết việc giúp bạn vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở. Đó là một công việc chính của tôi giúp Bộ Tư lệnh ngoài toàn bộ nội dung công tác tuyên huấn về văn hóa và tư tưởng. Tôi có một thuận lợi trong khi phụ trách việc này là đã có chút ít kinh nghiệm trong thời kỳ hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám và khoảng ba năm từ năm 1947 đến năm 1950 làm Chính trị viên huyện đội, sau đó tham gia Huyện ủy Kim Bảng, Hà Nam; biệt phái làm Bí thư Đảng Đoàn thanh niên, Bí thư Chi bộ Cán bộ dân vận của huyện, đã cùng anh chị em lăn lộn làm công tác quần chúng, kể cả lúc bình thường cũng như nhiều lần địch càn quét ở địa phương. Vì vậy, khi được phân công làm công tác này tôi cũng đã có chút ít vốn liếng thực tế trong công tác vận động cách mạng, không đến nỗi bỡ ngỡ, không biết gì. Anh Lê Hai bàn với tôi triệu tập cán bộ chuyên trách về việc này ở các đầu mối và làm theo phương thức: Để các nơi báo cáo ở hội nghị và cùng anh chuẩn bị bài kết luận. Cách làm này cũng có điểm hay vì nếu làm tốt sẽ rất sinh động và sát thực tế. Cách làm này đồng chí Lê Đức Anh thường làm, tôi cũng có dự vài lần, thấy anh phát hiện những vấn đề mới, khái quát và chỉ thị, hướng dẫn những việc cần phải làm rất sinh động, sắc sảo. Nhưng tôi thấy cũng rất khó và thời gian để chuẩn bị thường rất gấp, khó có thể có chất lượng, nên tôi đề nghị với anh Lê Hai cần nghiên cứu kỹtình hình thực tế đã nắm được, đề xuất những vấn đề mới và viết thành văn bản để anh em dựa vào đó phát biểu. Từ những ý kiến hội nghị bổ sung, ta sẽ kết luận, chỉnh lý lại thành tài liệu chính thức cho các đơn vị. Việc này là trách nhiệm của tôi phải chuẩn bị văn bản dự thảo cho anh trước khi tiến hành hội nghị và được anh đồng ý ngay.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #133 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2025, 08:31:43 pm »

Sau vài ngày chuẩn bị, văn bản dự thảo khoảng 30 trang đánh máy, tôi đưa anh thông qua, anh hoàn toàn đồng ý. Hội nghị gồm các phó tư lệnh chính trị các mặt trận, các đầu mối là trợ lý giúp việc, được tổ chức ngay sau đó. Sau khi anh Lê Hai thay mặt Bộ Tư lệnh báo cáo, các đại biểu tham gia Hội nghị về cơ bản nhất trí với những đánh giá và đề xuất vấn đề cần tiếp tục thực hiện trong thời gian tới. Anh Lê Hai và tôi đều vui mừng thấy Hội nghị đạt kết quả tốt vì thấy nội dung tài liệu sơ kết sát với thực tế và được các đơn vị thừa nhận.


Riêng tôi, chỉ một tuần sau, tôi nhận một tài liệu in ti pô bỏ túi của Mặt trận 779 của Phó Tư lệnh Chính trị là anh Ba Cung (tức là anh Phùng Đình Ấm), sau này là Thiếu tướng được phong cùng đợt với tôi, gửi cho. Anh nói là anh đã lấy tài liệu tại Hội nghị này làm nội dung tập huấn cho cán bộ chuyên trách và cán bộ chỉ huy của các tiểu đoàn đứng chân ở huyện. Anh Ba Cung là một cán bộ Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia từ năm 1946, đã có hồi phải đi tu làm chú tiểu ở một ngôi chùa ở Đông Bắc Campuchia, rất giỏi và hiểu rất sâu về Campuchia. Tôi rất phấn khởi, coi đó là một phần thưởng rất quý đối với mình nên đã biên tập tài liệu đó giúp Bộ Tư lệnh, và cảm ơn những năm tháng đầu tiên hoạt động ở địa phương trước đây đã cho mình một số vốn thực tế rất quý.


Ở những phần trên tôi đã nói kỹ về nghị quyết đầu tiên của Ban Cán sự Đảng 719 vào khoảng giữa năm 1982 khi nói về ba mục tiêu chiến lược, các biện pháp chiến lược. Đặc biệt là khi nói về các lực lượng có ý nghĩa chiến lược về mặt quân sự như tiểu đoàn của ta đứng chân ở huyện, các đại đội hai chức năng và lực lượng dân quân du kích của bạn. Theo tôi, đó là sự vận dụng rất sáng tạo những kinh nghiệm của ta về xây dựng và sử dụng ba thứ quân chủ lực, địa phương và dân quân du kích trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Sự vận dụng những kinh nghiệm đó hoàn toàn phù hợp với tình hình Campuchia, không rập khuôn máy móc và có hiệu quả thực tế.


Ngày 12 tháng 5 năm 1983, Bộ Chính trị bạn ra Nghị quyết số 39 cũng đề cập tới 3 mục tiêu chiến lược theo vai trò, khả năng và hoàn cảnh của bạn.

Ba tháng sau, ngày 14 tháng 5 năm 1983, Bộ Chính trị Đảng ta ra Nghị quyết số 11/NQ-TƯ về "Trách nhiệm giúp bạn mạnh lên tự đảm đương cuộc đấu tranh với địch trong những năm tới".

Việc xác định 3 mục tiêu chiến lược từ Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng 719 đến Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng ta, đó là một sự nhất trí rất cao trong tư tưởng và hành động giữa bạn và ta, giữa trên và dưới, tạo nên một sức mạnh to lớn để đi tới chiến thắng.


Đặc biệt, ở đây tôi nhận thức được có một điểm mới, một chuyển biến về chất sẽ tạo nên bước ngoặt trong cuộc đấu tranh để xóa bỏ hoàn toàn bọn Pôn Pốt. Đó là nội dung cụ thể của mục tiêu 1 trong nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng ta là "'Tiếp tục làm cho địch suy tàn đến múc không thể gượng dậy được, không thể bám trụ được trong nội địa Campuchia".


Tất nhiên, để thể hiện được điểm mới, tạo nên bước ngoặt này, ta và bạn phải có những hoạt động quân sự rất mạnh mẽ, rất có hiệu quả mới đạt được.

Nhớ lại ngày 7 tháng 1 năm 1979, Phnôm Pênh được giải phóng. Bọn Pôn Pốt tháo chạy, chủ yếu lên phía biên giới giáp Thái Lan, một bộ phận tan rã trong dân. Với bộ phận chạy lên biên giới Thái Lan, chúng thực hiện âm mưu xây dựng các hậu cứ là chỗ đứng cho các cơ quan trung ương, hệ thống hậu cần, kho tàng, bệnh viện, hậu cứ của các sư đoàn, các khu huấn luyện... Các hậu cứ này ở sâu trong đất Thái Lan từ 2 đến 10 kilômét, hòng xây dựng những căn cứ địa vững chắc, đồng thời làm chỗ dựa cho bọn tàn quân mà chúng cố gắng tập hợp, củng cố lại để hoạt động trong nội địa. Về mặt chính trị, đến cuối năm 1981, bọn Pôn Pốt cùng bọn Moulinaka (Mouvement de libezation nationale du Kampuchia do phái Sihanouh lãnh đạo) cùng với bọn Xrâyca (Khơme tự do, do Son San lãnh đạo) thành lập "Chính phủ liên hiệp ba phái". Lực lượng quân sự mạnh nhất của chúng vẫn là bọn Pôn Pốt. Tuy nhiên, với sự câu kết này, chúng cũng gây được ít nhiều ảnh hưởng chính trị về đối nội cũng như đối ngoại.


Để thực hiện được một đòn "nốc ao" làm cho địch không thể gượng dậy được phải phá tan được sào huyệt của địch. Vì vậy, cần huy động một lực lượng đủ mạnh của ta và bạn nhằm thực hiện yêu cầu này.

Trong bối cảnh chung như vậy, không những Quân tình nguyện cần tăng cường lực lượng mà Đoàn chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ Quốc phòng của bạn cũng cần được tăng cường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng quân sự của bạn. Tháng 4 năm 1984, với sự giúp đỡ của Quân đoàn 4 và Đoàn 478, Sư đoàn 196 của bạn đã được thành lập. Và trận ra quân đầu tiên của sư đoàn gần như độc lập tác chiến. Sư đoàn bạn đã giành được thắng lợi giòn giã tại Tà Sanh, khu vực mỏ kim cương và đá quý giáp biên giới Thái Lan, diệt bọn địch bảo vệ và phá tan hơn 40 máy đào đất của địch. Khi sư đoàn trưởng của bạn báo cáo về trận đánh trên sa bàn, Đại tướng Lê Trọng Tấn có tham dự, đã khen ngợi bạn đánh rất giỏi.


Vào khoảng thời gian đó, tôi được các đồng chí trong Bộ Tư lệnh 719 báo cáo cho biết sẽ điều động tôi về Đoàn 478 làm Phó Đoàn trưởng về Chính trị để giúp đồng chí Đoàn trưởng Mai Xuân Tần thực hiện nhiệm vụ giúp bạn ngày càng nặng nề hơn.

Khi được tin này tôi có suy nghĩ và báo cáo với đồng chí Lê Hai ý kiến của mình. Tôi cho rằng để giúp bạn tốt hơn, nên bố trí đồng chí Lê Khả Phiêu sang đó vì đồng chí Phiêu đã qua cấp sư đoàn, quân đoàn và đã là Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 9. Với những chức vụ đã kinh qua như vậy, đồng chí Phiêu với kinh nghiệm của mình sẽ giúp bạn có hiệu quả hơn, phù hợp hơn đối với bạn. Đó là những suý nghĩ rất chân thành của tôi, nhưng ý kiến đó không được chấp nhận, tôi đành phải chấp hành lệnh điều động sang Đoàn 478 với cương vị là Phó Đoàn trưởng Chính trị.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #134 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2025, 11:33:18 am »

Được làm việc với đồng chí Mai Xuân Tần, với tôi cũng có nhiều thuận lợi. Tôi biết đồng chí Mai Xuân Tần từ hồi còn ở Sư đoàn 308. Tôi thường đi theo Tiểu đoàn 80 khi đồng chí còn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80, nên đồng chí cũng biết rõ tôi. Tôi còn nhớ hôm Tiểu đoàn 80 đánh trận Đồi Chò - Núi Quyết trong trận Chân Mộng - Trạm Thản, một trận vận động phục kích nổi tiếng của Trung đoàn 36 - Trung đoàn Bắc Bắc. Trong trận đó, khi là phái viên đi theo tiểu đoàn, mệt quá tôi ngủ thiếp đi đến 8 giờ sáng hôm sau. Trận đánh diễn ra suốt đêm, tôi ngủ gục không biết trời đất gì nữa. Tỉnh dậy trời nắng chói chang, thấy cách chỗ tôi một đồng chí hy sinh, quần áo dính đầy khói đạn, thì đồng chí Tần ở hầm chỉ huy trên sườn đồi gần đấy phát hiện thấy tôi gọi lên vào hầm chỉ huy cùng đồng chí và đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn. Tôi nhớ mãi kỷ niệm đó. Bây giờ gặp nhau cùng làm nhiệm vụ quốc tế, gặp anh tôi rất vui. Anh hơn tôi bốn tuổi, đã tốt nghiệp tú tài toán học, làm việc rất có kế hoạch nên tôi sẽ học tập ở anh nhiều. Còn anh đối xử với tôi cũng rất thân tình như hồi còn trẻ ở Đại đoàn 308.


Trong thời gian chờ đợi quyết định chính thức của Bộ, tôi vẫn làm việc ở Cơ quan Chính trị 719. Mãi đến tháng 10 năm 1984, tôi mới nhận được quyết định của Bộ điều động sang Đoàn 478 và được Ban Cán sự Đảng 719 chỉ định là Phó Bí thư Đảng ủy Đoàn. Tôi được phân công giúp anh Mai Xuân Tần về công tác nội bộ Đoàn vì lúc đó số lượng chuyên gia giúp Bộ Quốc phòng bạn cộng với số anh chị em phục vụ đã lên tới hơn 2.000 người, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp và trung cấp.


Trong thời gian đầu làm việc với anh Tần có một tình huống mà tôi rất băn khoăn trong một thời gian dài. Đó là một câu chuyện khá phức tạp của bộ đội bạn. Có một đơn vị bạn được phân công đóng chốt ở biên giới giáp với Thái Lan trong điều kiện về tiếp tế rất khó khăn, thời tiết rất khắc nghiệt, lại ở vùng sốt rét, cuộc sống của đơn vị rất căng thẳng và gian khổ. Do bị những phần tử xấu kích động, đơn vị đã tự động bỏ vị trí về sâu trong nội địa và có dấu hiệu phản chiến, cấp trên của bạn chỉ thị cho họ quay lại nhưng đơn vị đó không chấp hành. Bạn định tước vũ khí của họ nhưng họ không chịu và không cho bất kỳ ai vào khu vực của đơn vị nếu không cho họ về nhà. Bạn cầu cứu Quân tình nguyện can thiệp. Tuy chỉ là một đơn vị khoảng một tiểu đoàn không đầy đủ quân số, nhưng hành động của họ nếu không kịp thời giải quyết sẽ lan rộng và có một ảnh hưởng rất xấu cho tinh thần của bộ đội bạn. Bộ Tư lệnh giao cho hai nơi giúp bạn giải quyết việc này là Quân đoàn 4 và Đoàn 478. Anh Mai Xuân Tần có hội ý với tôi và định cử tôi lên giúp bạn giải quyết. Nhưng tôi chỉ phụ trách công tác nội bộ của Đoàn, không có tư cách gì để góp ý kiến với bạn. Tôi trình bày ý kiến đó với anh Tần vì vậy anh cũng không ép tôi phải làm, mặc dù trong đầu tôi cũng có phương án sơ bộ để giải quyết là sư sãi và hội phụ nữ của bạn cử người vào đơn vị đó thuyết phục họ trả lại vũ khí, không phải dùng đến vũ lực của bộ đội bạn và Quân tình nguyện giải quyết, tránh đổ máu. Nhưng tôi không muốn nói ra, ngại rằng nói thì dễ nhưng làm mới khó. Cuối cùng vụ việc này cũng được giải quyết, nhưng phải dùng vũ lực của cả ta và bạn. Tuy việc đó hoàn toàn không phải là phận sự của tôi, nhưng tôi cứ băn khoăn mãi vì không giúp gì được cho anh Tần, cho bạn trong việc này, và tự thấy mình có thiếu sót không mạnh dạn, chân thành góp ý kiến với anh Tần.


Trở lại việc đồng chí Đoàn Khuê được Bộ Chính trị điều sang Campuchia, tôi chỉ hiểu đơn giản là đồng chí thay đồng chí H. sau vụ Xiêm Riệp, chứ hoàn toàn chưa hiểu được việc có liên quan đến việc thực hiện những yêu cầu mới cao hơn trong mục tiêu chiến lược số 1 "... làm cho địch suy tàn đến mức không thể gượng dậy được, không thể bám trụ được trong nội địa Campuchia".


Khoảng cuối tháng 12 năm 1984, dù đang ở Đoàn 478, tôi được chỉ thị theo đồng chí Đoàn Khuê đi lên Mặt trận 579 ở Xtung Treng công tác. Ở Cơ quan Chính trị 579 được vài hôm thì tôi được báo đến dự họp bàn về kế hoạch tác chiến của Mặt trận. Tôi ngạc nhiên khi thấy chủ trì cuộc họp lại là đồng chí Nguyễn Chơn, Tư lệnh Quân khu 5, đồng chí Đoàn Khuê cũng có mặt. Tôi chắc đây là một trận đánh rất quan trọng. Đồng chí Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 là Trương Hồng Anh còn rất trẻ, trình bày kế hoạch tác chiến trong cuộc họp cán bộ từ cấp trung đoàn, tiểu đoàn và cán bộ các đơn vị trực thuộc và phối hợp trong trận đánh vào một căn cứ của bọn địch sát biên giới, có một phần ở đất Thái Lan thuộc tỉnh Prêt Vihia. Sau một hồi thảo luận trao đổi ý kiến, đồng chí Nguyên Chơn, Tư lệnh Quân khu 5 góp ý kiến chỉ đạo và thông qua kế hoạch (mãi sau này tôi mới biết Sư đoàn trưởng Trương Hồng Anh mới 34 tuổi, là một Sư đoàn trưởng trẻ rất có triển vọng và là con rể anh Trần Giang - Thiếu tướng, bạn chiến đấu của tôi trước đây hồi cùng ở trong Trung đoàn 36 - Trung đoàn Bắc Bắc thuộc Sư đoàn 308).


Sau đó mấy hôm, tôi được biết trận đánh của Sư đoàn 2 đã giành thắng lợi lớn khi tiêu diệt được khá nhiều địch, thu nhiều vũ khí và quan trọng hơn là phá tan được một căn cứ khá lớn của địch ở biên giới cả phần ở trên đất Thái Lan. Nhưng cũng biết một tin buồn là Sư đoàn trưởng Trương Hồng Anh sau thắng lợi của trận đánh, trên đường lui quân, chiếc xe tăng chỉ huy có anh ở trên đó bị trúng mìn và anh đã hy sinh. Vẫn biết rằng trong chiến đấu khó tránh khỏi, nhưng tôi cảm thấy cái giá phải trả cho thắng lợi của trận này là quá lớn. Mãi về sau này tôi vẫn không quên được hình ảnh của một Sư đoàn trưởng rất trẻ, rất tự tin và mạch lạc khi trình bày kế hoạch tác chiến hôm ấy.


Dần dần sau này tôi mới được biết đó là một trận đánh nằm trong kế hoạch của chiến dịch Đông - Xuân 1984 - 1985, đánh tất cả bọn địch trên tuyến biên giới, của tất cả các lực lượng địch từ Pôn Pốt là lực lượng mạnh nhất, đến cả bọn Xrâyca và Moulinaka, đánh vào sào huyệt chính ở Caomêlai, một khu vực rất hiểm trở ở biên giới Batambang - Thái Lan.


Trong hơn 3 tháng tiến hành chiến dịch, ta và bạn đã phá tan toàn bộ căn cứ chiến lược quan trọng của địch ở tuyến biên giới mà bọn chúng, đặc biệt là bọn Pôn Pốt đã đổ công xây dựng trên 5 năm để làm chỗ dựa, làm căn cứ để tiến công vào nội địa và củng cố xây dựng lực lượng lâu dài. Tôi cũng được biết thêm là các tư lệnh quân khu phía Nam của ta (các quân khu 5, 7 và 9) đều tham gia chỉ đạo trực tiếp các trận đánh của các mặt trận trực thuộc ở Campuchia. Nhiều sư đoàn chủ lực của các quân khu, của Quân đoàn 4 đã trở về nước, được điều động sang để tăng cường cho chiến dịch đánh vào các căn cứ trọng yếu của địch. Các đơn vị chủ lực của bạn cũng đã cùng ta tích cực tham gia chiến dịch.


Tôi hiểu thêm được rằng, việc đồng chí Đoàn Khuê được điều động sang Campuchia có liên quan trực tiếp đến chiến dịch này để thực hiện "yêu cầu đánh cho địch không thể gượng dậy được". Và theo tôi, một trong những yếu tố giành được thắng lợi một phần rất quan trọng là giữ được bí mật chung. Tôi có cảm giác rằng, đơn vị nào nhận nhiệm vụ ở đâu chỉ biết ở đó mà không hiểu hết được ý đồ chung của chiến dịch.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #135 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2025, 11:35:50 am »

Theo cuốn "Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Campuchia (1978 - 1984)" thì trong chiến dịch này ta và bạn đánh 260 trận, trong đó 14 trận cấp sư đoàn, 20 trận cấp trung đoàn, 90 trận cấp tiểu đoàn, bằng sức mạnh binh chủng hợp thành. Ta đã phá tan 8 căn cứ của bọn Pôn Pốt ở biên giới giáp Thái Lan mà chúng đã xây dựng suốt hơn 5 năm từ năm 1979 đến năm 1985; 7 căn cứ của bọn Xrâyca (bọn Khơme tự do của Son San); 1 căn cứ được bảo vệ bởi các đơn vị mạnh của bọn Pôn Pốt, Xrâyca, Moulinaka và nhiều căn cứ lẫn trong nội địa...


Trong chiến dịch này, ta và bạn đã phá tan toàn bộ căn cứ chiến lược quan trọng của địch, đánh trúng bọn đầu sỏ phản động, xây dựng được thế trận làm chủ lực của ta trên toàn tuyến biên giới, mở ra một cục diện mới ở chiến trường Campuchia.

Theo tôi, sau đòn tiến công lớn này của ta, do mất chỗ dựa là các căn cứ lớn ở biên giới, địch phải bị động chuyển hướng chiến lược, cố gắng phục hồi lực lượng, đưa các lực lượng còn lại vào nội địa ngoan cố chống phá. Tuy nhiên, tinh thần của chúng sa sút rất rõ, cường độ hoạt động giảm đi nhiều. Quân lính địch ra hàng nhiều hơn, trong đó có cả tên sư đoàn phó được cử vào Phnôm Pênh hoạt động.


Tôi nghĩ rằng, trong cuộc chiến ta cùng bạn đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia, có hai thời điểm nổi bật đáng ghi nhớ nhất:

Một là, cuộc phản công chiến lược như vũ bão của bộ đội ta cùng những đơn vị đầu tiên của bạn bắt đầu từ ngày 23 tháng 12 năm 1978 đến ngày Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng (7.1.1979) và sau đó tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn của Campuchia cũng lần lượt được giải phóng (17.1.1979). Toàn bộ bộ máy chính quyền diệt chủng của bọn Pôn Pốt đã bị đập tan từ trung ương đến cơ sở.


Hai là, những đòn liên tiếp của bộ đội ta và bộ đội bạn trong hơn 3 tháng của chiến dịch cuối năm 1984 đầu năm 1985 đã lần lượt phá tan hệ thống các căn cứ của địch ở biên giới Campuchia - Thái Lan làm cho "hậu phương", bàn đạp của chúng bị phá nát. Sau thất bại này, sức mạnh của địch sụt giảm, xuống dốc nhanh chóng không thể gượng dậy được nữa, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chúng, buộc chúng phải thay đổi chiến lược một cách bị động là đưa bọn tàn quân vào nội địa hòng phục hồi lại lực lượng chống phá cách mạng Campuchia.


Khi chuyển từ Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện sang Đoàn chuyên gia 478 được ít lâu, ngày 9 tháng 9 năm 1985, tôi nhận được quyết định của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa nhân dân Campuchia tặng thưởng Huân chương Bảo vệ tổ quốc hạng Nhất do Chủ tịch Hêng Xomrin ký. Đó là đợt trao tặng huân chương đầu tiên của nhà nước Campuchia tặng cho một số chuyên gia và được đích thân Chủ tịch Hêng Xomrin gắn sau vài ngày có quyết định. Tôi tự hào được nhận phần thưởng cao quý đó không những đó là đợt khen thưởng đầu tiên của bạn đối với chuyên gia quân sự ta mà huân chương đó là một huân chương cao quý, chỉ đứng hàng thứ hai sau Huân chương Ăngco là huân chương cao nhất của bạn. Tôi hài lòng với cái tên Huân chương Bảo vệ Tổ quốc của bạn tặng cho cán bộ ta làm nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp bạn, nhưng cũng chính là "Bảo vệ Tổ quốc mình", tôi tự nghĩ như thế.


Vài tháng sau, theo Quyết định số 389/CT ngày 21 tháng 12 năm 1985 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, tôi được thăng quân hàm từ Đại tá lên Thiếu tướng.

Song, sau những sự kiện lớn rất phấn khởi như thắng lợi của ta và bạn phá tan được các căn cứ của địch trên tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan của chiến dịch 1984 - 1985, đồng thời với sự suy tàn, đi xuống của địch và niềm vui cá nhân được bạn khen thưởng và được phong quân hàm cấp tướng thì tình hình hậu phương, gia đình tôi gặp không ít khó khăn, buồn phiền.


Trong khoảng thời gian này, tôi thường phải đi lại từ Phnôm Pênh về Hà Nội để dự các cuộc họp do Tổng cục Chính trị tổ chức, nên có điều kiện biết rõ hơn về tình hình gia đình,phát hiện những vấn đề mình phải có ý kiến giải quyết, thu xếp để yên tâm công tác.


Chuyện làm tôi lo lắng và buồn phiền nhất là đứa con trai thứ 5 của tôi đang tại ngũ thì đột nhiên bị bệnh tâm thần. Cháu là Đinh Cao Năng, đang là học sinh năm cuối của bậc phổ thông trung học, chớm tuổi theo Luật Nghĩa vụ quân sự thì nhập ngũ. Lúc Năng đi bộ đội tôi không có ở nhà. Ít lâu sau tôi nhận được thư của Năng là đang ở Trung đoàn pháo binh cơ giới nòng dài thuộc Sư đoàn 3 Quân đoàn 14 đang đóng quân tại Đồng Mỏ (Lạng Sơn) và đơn vị đang trong tình huống sẵn sàng chiến đấu vì lúc đó chiến tranh biên giới phía Bắc vẫn đang tiếp diễn. Trong thư, Năng hứa hẹn sẽ phấn đấu tốt. Tôi mừng là con mình sớm được rèn luyện trong một môi trường tốt. Song, tôi cũng hơi băn khoăn vì tôi biết, từ nhỏ Năng là một đứa trẻ thông minh, lanh lợi, nhưng thần kinh yếu dễ bị xúc động so với những đứa con khác. Trong lá thư thứ 2 và thứ 3, sau hơn một năm ở bộ đội, tôi đã thấy nó nói đến những chuyện tiêu cực ở đơn vị, tuy không nói cụ thể, và hứa hẹn mạnh mẽ hơn, theo gương Paven Coócxaghin, nhân vật trong tác phẩm "Thép đã tôi thế đấy" của Nicôlai Ôxtơrốpxki và hứa sẽ không bao giờ đào ngũ. Là một cán bộ chính trị trưởng thành từ cơ sở lên, đã chiến đấu từ chiến sĩ đến cấp trung đoàn, tiếp xúc nhiều và hiểu rất rõ lớp thanh niên, tội đã cảm thấy có gì đó bất ổn, có gì đó đang giằng xé trong tâm hồn, tư tưởng của con mình. Dù rất bận, tôi cũng vội viết thư động viên Năng tiếp tục vượt qua gian khổ và nếu thấy có gì tiêu cực trong đơn vị thì trong sinh hoạt dân chủ ở đại đội nên góp ý với tinh thần thật chân thành và xây dựng.


Nhưng chỉ ít lâu sau, tôi nhận được thư của anh trai Năng, đang là một cán bộ kỹ thuật về ra đa máy bay chiến đấu MiG-21, công tác tại sân bay Kép, Bắc Giang viết thư cho biết, Năng bị tâm thần, nhảy tàu hỏa tại Đồng Mỏ xuống ga Kép vào đơn vị anh. Thấy em mình ở trạng thái không bình thường, anh nó phải xin phép đơn vị dẫn em về nhà. Thư còn cho biết thêm là đơn vị cũng có điện về địa phương nói là Năng "đào ngũ", và anh nó tỏ thái độ rất bất bình về chuyện này. Nhận được tin, tôi sửng sốt và rất buồn. Nhân có dịp công tác về Hà Nội, tôi xin phép các đồng chí ở Bộ Tư lệnh được về nhà ít hôm để giúp gia đình giải quyết việc bất hạnh này.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #136 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2025, 11:37:35 am »

Về nhà, tôi xót xa vô cùng khi thấy Năng từ một học sinh mạnh khỏe, hóm hỉnh nay ghẻ lở, đờ đẫn, nhếch nhác, tuy không hung hãn phá phách gì nhưng cũng không nói năng, chuyện trò gì với bố. Được Cơ quan Tổng cục Chính trị giúp đỡ và giới thiệu, tôi động viên Năng cùng đi với tôi lên đơn vị của nó với mục đích tìm hiểu nguyên nhân và cách giải quyết việc của Năng. Ngồi trên chiếc xe con, tôi tìm cách hỏi chuyện Năng về đơn vị của nó, nhưng chỉ nhận được những câu trả lời hờ hững, không rõ. Tôi đến Trung đoàn vào lúc chiều, gặp Phó Trung đoàn trưởng về Chính trị hỏi cho rõ chuyện Năng mắc bệnh, anh cũng chỉ nói chung chung, không giúp được gì thêm và đề nghị tôi xuống nghỉ đêm ở tiểu đoàn vì đã chuẩn bị chu đáo ở đó.


Sáng hôm sau, hai bố con tôi xuống đại đội của Năng thì được đồng chí Phó Đại đội trưởng về Chính trị ân cần tiếp đón. Đối với Năng, anh cũng vẫn hỏi han và Năng cũng nói chuyện với anh bình thường. Qua đó, tôi hiểu rằng đối với người cán bộ chính trị ở đại đội này, quan hệ đối với anh em vẫn bình thường nếu không muốn nói là có vẻ tốt. Tôi hỏi đồng chí Phó Đại đội trưởng về Chính trị đồng chí đại đội trưởng đi đâu thì anh trả lời là đi công tác. Lựa lúc Năng lủi thủi ngồi một mình ở ngoài hiên, tôi hỏi đồng chí Phó Đại đội trưởng về Chính trị về trường hợp mắc bệnh của Năng.


Anh kể với tôi chuyện đó như sau: Một buổi tối, đơn vị tổ chức họp mặt toàn đại đội liên hoan tiễn một số ít anh em chiến sĩ của đơn vị đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự được giải ngũ, để sáng hôm sau anh em ra quân. Trong số đó, Năng có một anh bạn thân lớn tuổi hơn Năng, quê Hà Nội, hai cậu tâm sự với nhau. Đêm hôm đó Năng được phân công gác từ lúc đó đến giờ đi ngủ. Năng đứng gác suốt từ lúc đó mà không gọi chiến sĩ gác tiếp sau, và một mình gác suốt đêm đến sáng hôm sau, đến hôm sau cũng diễn ra tình hình như vậy. Một ngày sau, Năng được đơn vị phân công kiếm củi ở trong rừng cho đại đội. Gần đến trưa, Phó Đại đội trưởng về Chính trị ngạc nhiên thấy Năng gánh một gánh củi nhỏ chạy rất nhanh về đơn vị, đằng sau có một người đàn ông trung niên đuổi theo. Anh thấy Năng vừa chạy vừa la to: "Rèn luyện đây, rèn luyện đây!" và gọi tên anh "Anh ơi cứu em với!". Hỏi ra mới biết người đuổi theo là ông hàng phở ở gần đơn vị. Năng vào ăn và sau khi trả tiền, thấy gánh củi để gần, liền bốc lên vai chạy về đơn vị. Phó Đại đội trưởng về Chính trị thấy gì đó không bình thường, định tìm cách tâm sự và theo dõi tiếp. Nhưng đêm đó có đội văn công đến biểu diễn, cả đại đội đi xem. Anh chưa kịp làm gì với Năng thì sáng hôm sau, Năng tìm cách lên xe ô tô của đội văn công đi ra ga Đồng Mỏ. Từ đó Năng đã trốn lên toa than để về Hà Nội và xuống ga Kép vào đơn vị không quân ở gần sân bay để gặp anh trai. Tôi hỏi Phó Đại đội. trưởng về Chính trị vì sao lại có điện của đơn vị báo về quê tôi là Năng đào ngũ: Anh trả lời là thấy Năng bỏ đơn vị đi, anh chỉ báo cáo lên trên như thể, còn đơn vị điện như thế nào anh không biết.


Lúc đó, tôi nghĩ ràng có lẽ tôi chỉ có thể biết được từng đó thôi. Tôi tin ở người Phó Đại đội trưởng về Chính trị đã nói với tôi một phần sự thật vì có những chi tiết phù hợp với tính cách của Năng mà tôi đã biết. Nhưng có những lý do sâu xa đẩy tới tình hình Năng có những hành động biểu hiện sự rối loạn về tâm thần thì tôi chưa hình dung nổi. Suốt buổi hôm ấy vẫn không thấy Đại đội trưởng về.


Trước khi trở về Hà Nội, tôi dẫn Năng lên Trung đoàn gặp Phó Trung đoàn trưởng về Chính trị xin phép cho Năng về khám bệnh ở Viện Quân y 103, vì nghe nói ở đó có khoa tâm thần có kinh nghiệm điều trị. Đồng chí ấy đồng ý và nói như để làm tôi yên lòng và hy vọng: "Khi cháu lành bệnh, thủ trưởng (ý nói tôi) có đồng ý để cho Năng đi học một lớp sĩ quan không?". Tôi chỉ ầm ừ cho qua chuyện và cáo từ ra về. Thật ra, trong thâm tâm tôi không tin tưởng con mình được chữa khỏi bệnh vì tôi được biết có nhiều trường hợp tương tự không thể chữa khỏi.


Tuy nhiên, với tình thương và trách nhiệm đối với con mình, tôi tự xác định cho mình phải tìm mọi cách để chữa bệnh cho con và cố gắng làm giảm nhẹ gánh nặng cho mẹ nó. Tôi tìm đến Bộ Thương binh, Xã hội (lúc đó đồng chí Thượng tướng Song Hào nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã được điều sang làm Bộ trưởng) để mong có được sự tư vấn có ích. Tôi xin gặp đồng chí Hiếu, nguyên là Cục trưởng Cục Chính sách cũng được điều sang và bổ nhiệm làm Thứ trưởng. Vốn quen biết vì khi anh còn ở Tổng cục, phòng làm việc của anh ở cùng một tầng, bên cạnh phòng làm việc của tôi và chúng tôi đã cùng đi công tác với nhau vài lần. Anh ân cần tiếp tôi và sau khi nghe tôi trình bày, anh giới thiệu cho tôi đến một bác sĩ là chuyên gia thuộc bộ môn chuyên về các thương bệnh binh tâm thần để đồng chí đó góp ý. Tôi hỏi tiếp anh là Bộ có cơ sở điều trị cho thương bệnh binh tâm thần không và có thể gửi đến đó được không? Anh rất chân tình nói với tôi rằng nếu nó không phá phách gì thì nên để gia đình chăm sóc chứ không nên "đầy đọa" nó vì đến đó rất khổ, cơ sở vật chất của ta rất thiếu thốn, nghèo nàn, ở đó toàn bệnh nhân nặng cả. Tôi trao đổi với đồng chí bác sĩ chuyên gia kia chỉ nhận được một lời khuyên: "Anh không nên nhọc công tìm nguyên nhân làm gì vì y học thế giới đối với bệnh nhân tâm thần, tỷ lệ không rõ nguyên nhân là rất lớn, không thể biết được".


Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng phải có một cú sốc rất mạnh, mà bây giờ thuật ngữ y học gọi là "sang chấn" thì mới dẫn đến bệnh được. Khi đưa Năng về Viện Quân y 103 kiểm tra thì được biết Năng bị bệnh tâm thần phân liệt, điều trị ở đó ít lâu cũng không chuyển biến gì. Gia đình tìm mọi cách đưa đến các cơ sở khác, nghe ở đâu chữa tốt cũng đưa đến, kể cả Đông y,nhưng cũng không có tiến triển. Đồng chí Sư đoàn trưởng, Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn 308 là bạn cũ của tôi biết chuyện, rất thông cảm và chủ động nhận đưa Năng về đơn vị chăm sóc giúp đỡ vì cũng đang nhận nuôi con đồng chí Trần Lương (nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nay đang công tác ở miền Nam) cũng bị bệnh tâm thần đang ở đó. Nhưng cuối cùng cũng không có kết quả gì.


Ít lâu sau, một lần khi về Hà Nội công tác, tôi được biết đơn vị cũ của Năng là Trung đoàn pháo binh cơ giới thuộc Sư đoàn 3, Quân đoàn 14 có quyết định cho Năng giải ngũ kèm theo hơn 10 kilôgam gạo bằng tem phiếu.


Năng được mẹ và anh chị em chăm sóc khá chu đáo với một tình thương sâu sắc. Việc đó kéo dài hơn 25 năm. Khi tôi về hưu thì chủ yếu tôi và mẹ nó chăm sóc, nhưng cũng không xuể. Từ khi bị bệnh về nhà, Năng đã bỏ nhà đi ba lần, lâu nhất đến ba đến bốn tháng. Mỗi lần như thế, gia đình rất vất vả nhất là anh chị em phải đi tìm kiếm. Cả gia đình, họ hàng rất thương Năng có người đề xuất ý kiến nên lấy vợ cho nó may ra khỏi, nhưng phần lớn trong gia đình thấy không ổn, không nên trút gánh nặng, làm khổ người khác. Hàng xóm cũng rất thông cảm vì thấy nó hiền lành, không phá phách gì ngoài việc lẩn thẩn và mất khả năng lao động, đôi khi chỉ phát khùng đối với người, trong gia đình thôi. Vì thương nó, để nuôi dưỡng tình thương đó và tránh sự bực bội do bệnh tình của nó gây ra, mọi người động viên nhau rằng "nó gánh tội cho cả nhà đấy!".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #137 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2025, 11:39:10 am »

Nhưng rồi nỗi đau vẫn đến với gia đình. Buổi tối ngày 10 tháng 9 năm 2007 (27 tháng 9 năm Đinh Hợi) nhà bị mất điện,mẹ nó gọi về ăn cơm nhưng hơi nặng lời một chút thì Năng bỏ đi. Chỉ sau vài phút không thấy Năng về, anh chị em nó chia nhau các ngả tìm suốt đêm và những ngày sau đó nhưng không thấy.


Tự nhiên tôi linh cảm thấy điều xấu nhất sẽ xảy ra, vì gần đây sức khỏe của Năng rất kém. Trước đây mỗi buổi sáng, thỉnh thoảng, tự tay tôi chuẩn bị cho Năng ăn, khi tôi hỏi Năng còn khen ngon, nhưng bây giờ thì ăn uống uể oải, thần sắc ủ dột, ít nói, đôi khi than vãn một mình về sức khỏe như một người tỉnh táo bình thường. Lúc đó, Năng đã bước sang tuổi 45 (sinh ngày 23 tháng 3 năm 1963). Rất nhiều lần gia đình nghe tin ở đâu có người bị tâm thần đều tìm đến nhưng vô vọng. Từ đó, cùng với bệnh tật tuổi già, mẹ nó vì nhớ thương con, sức khỏe bắt đầu suy sụp; có lúc nằm khóc một mình gọi tên con và luôn đòi anh em nó phải đi tìm dù chẳng biết ở đâu. Những lúc như vậy, tôi rất xót xa, vừa thương con, vừa thương vợ, nhưng vẫn cố phải giữ bình tĩnh để khỏi ảnh hưởng tới không khí trong gia đình, làm buồn thêm những đứa con khác. Nhà tôi bệnh tình ngày càng nặng thêm, trước khi mất khoảng gần hai năm, tâm thần rối loạn và ra đi vào một buổi sáng ngày 23 tháng 5 năm 2009 (29 tháng 4 âm lịch) sau hơn 60 năm làm người bạn đời chung thủy của tôi. Còn Năng, đứa con bất hạnh của vợ chồng tôi, khi tôi viết những dòng này đã biệt tích hơn tám năm rồi. Gia đình lấy ngày Năng bỏ nhà đi là ngày giỗ Năng, coi như người đã mất.


Trong quãng thời gian này, ngoài nỗi buồn về chuyện gia đình, về bệnh tình và chuyện Năng bỏ đi biệt tích, đời sống của gia đình tôi cũng có nhiều khó khăn. Tình hình kinh tế của đất nước lúc đó cực kỳ khó khăn, tôi nghĩ rằng không chỉ riêng gia đình tôi, mà rất nhiều gia đình, đặc biệt là các gia đình bộ đội đều trong một tình trạng thiếu thốn chung như vậy.


Trước đây, ở quê Hợp tác xã Quyết Thành được thành lập từ 1954 sau khi giải phóng miền Bắc sản xuất đồ gốm mà vợ tôi là một xã viên. Được một đồng chí bộ đội phục viên về làm chủ nhiệm, từ một làng nghề truyền thống ra đời cách đây hàng trăm năm trước, nhưng bị giặc phá sạch để xây đồn sát đó, mỗi xã viên chỉ góp 15 đồng vốn ban đầu, đã trở thành một hợp tác xã làm ăn giỏi, có doanh thu khá nhất trong số các hợp tác xã thủ công nghiệp của tỉnh. Đời sống của các gia đình xã viên được cải thiện rất nhanh, là một thôn có đời sống cao nhất ở huyện. Thế mà bây giờ làm ăn trầy trật, sa sút, những người thợ giỏi nhất bỏ làng đi làm ở nơi khác. Vợ tôi cũng đã đến tuổi "nghỉ hưu", phải chạy chợ, buôn bán vặt kiếm thêm thu nhập, có lúc phải đi bán nước vối dạo cho dân công thủy lợi ở quê để kiếm them tiền nuôi mấy con nhỏ ăn học. Sau hơn 40 năm với nghề gốm và hơn 30 năm gắn bó với hợp tác xã, lúc nghỉ việc vợ tôi được quản trị tặng một kỷ niệm chương của hợp tác xã to bằng đồng xu, ngoài ra không có gì khác. Có dịp về nhà tôi không khỏi xúc động và khâm phục thấy dân làng mình quá khổ, tuy ít nhiều có kêu ca nhưng vẫn một lòng tin Đảng, tự lực vượt qua khó khăn để sống.


Với tôi lúc đó đã hưởng lương đại tá, và cuối năm 1985 đã hưởng lương tướng, thông cảm với hoàn cảnh chung của những người lao động và rất thương vợ con mình, nên tôi tự xác định là mình phải hết sức tiết kiệm để dành tiền giúp đỡ gia đình. Nhưng thật ra, đồng lương của cán bộ cao cấp lúc đó còn rất eo hẹp, việc dành dụm để giúp đỡ một gia đình đông con như vợ chồng tôi cũng không thể có một đời sống khá được. Tôi có những kỷ niệm nhỏ không thể quên. Có lần, tôi và một đồng chí lái xe trẻ, từ Phnôm Pênh đi Đà Lạt để tôi giới thiệu tình hình và chủ trương của ta ở Campuchia cho các học viên ở Học viện Quân sự Đà Lạt. Dọc đường phải cho xe nghỉ để nguội máy, hai chú cháu vào một quán giải khát, tôi gọi hai cốc cà phê đá cho tôi và cháu uống cho tỉnh táo. Khi làm xong nhiệm vụ, từ Đà Lạt trở về, đến lúc phải cho xe nghỉ, ở một dãy quán ăn và giải khát ở dọc đường, cháu chủ động nói với tôi: "Hôm nay cháu mời chú ăn cơm hàng với cháu". Tôi nghĩ, có lẽ cháu được nghe các bạn khác ở tổ lái xe thường đi công tác với tôi nói chuyện về sự tiết kiệm của tôi, nên rất chân thành và thân mật mời tôi. Tôi cười hỏi cháu: "Đời sống của gia đình bố mẹ cậu ở quê có khá không, cậu có dành được tiền để giúp đỡ không, ở nông thôn bây giờ đời sống khó khăn lắm!" Cháu đáp: "Cũng tàm tạm, chú ạ! Cháu không phải giúp đỡ gì".


Nó nói vậy, nhưng tôi thấy bọn trẻ thường vô tâm lắm, cũng như mình lúc trẻ thường ít chú ý đến những khó khăn của bố mẹ. Vì vậy, tôi để cháu gọi món ăn và cơm, nhưng tôi trả tiền. Tôi có một điểm yếu là dễ xúc động, có nhiều lần trong những bữa liên hoan sang trọng, đã không nghĩ gì thì thôi, nhưng nghĩ đến cảnh gia đình khó khăn, thiếu thốn là ăn không còn thấy ngon nữa, nhất là khi thấy thức ăn quá thừa thãi, nước mắt cứ muốn trào ra, phải cố kiềm chề để khỏi ảnh hưởng tới người khác. Bởi vì có một chuyện nhỏ nhưng đến mấy chục năm sau tôi vẫn không thể quên được, một lần về thăm nhà, vợ tôi làm một bữa nem rán cho cả nhà. Khi ăn cơm, thằng anh học lớp 6 khen:

- Cơm hôm nay ngon quá!

Lập tức, đứa con gái 7 tuổi học lớp 2 nói luôn:

-Gớm! Hôm nay bố không về, đừng có hòng...

Tôi nghe, miệng thì cười mà khóe mắt thấy ướt. Tôi biết rất rõ, tuy đông con nhưng vợ tôi chăm sóc sức khỏe, ăn uống cho con thì không thể chê vào đâu được. Ăn uống đạm bạc nhưng phải no, đủ, ốm đau có thuốc thang chu đáo, nên đứa nào cũng hồng hào, kháu khỉnh. Còn mình thì ăn uống thế nào cũng xong. Tóm lại là, mọi khả năng tài chính của vợ chồng dồn vào việc nuôi các con ăn học, cực nhọc khó kể xiết.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #138 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2025, 11:41:10 am »

Còn nơi ăn chốn ở của gia đình trong khoảng thời gian đó cũng khó khăn không kém. Ở quê nhà, đất thì rộng nhưng tềnh toàng, ngoài mấy cái giường phản ọp ẹp để ngủ thì đồ dùng trong nhà hầu như không có gì, bàn ghế cũng chẳng có. Ở Hà Nội, dãy nhà cấp 4 xây dựng để chia cho cán bộ cao cấp không có vợ ở Hà Nội mỗi người một phòng ở số 32 phố Lý Nam Đế bây giờ phải nhường chỗ cho gia đình một thủ trưởng mới về và vài phòng dành cho Ban Thanh niên Quân đội. Những cán bộ cao cấp đang ở đó được điều đi các nơi khác. Riêng tôi được chia một phòng khoảng 18 mét vuông trong dãy nhà cấp 4 ở số 8 Lý Nam Đế, đằng sau Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân. Dãy nhà này trước đây là kho vũ khí, đạn dược thuộc Tổng cục Chính trị. Năm 1978, cấp trên thấy để đó rất nguy hiểm, không an toàn cho cả khu nhà xung quanh nên quyết định chuyển đi. Nhưng không may, hôm chuyển đi do một số cháu nữ chiến sĩ trong Cục quản lý chuyển đạn dược ra xe, dẫm quả đạn bị nổ, gây thương vong cho nhiều cháu và người đi đường. Dãy nhà kho đó được sửa qua loa lại để chia cho một số gia đình anh em ở Tổng cục Chính trị mỗi người một phòng. Tôi được chia một phòng ở đầu hồi và khi tôi công tác ở Campuchia, thì vợ chồng Đức, con trai thứ hai của tôi đến ở đó và chúng đã có một con nhỏ, cùng bà cụ ngoại đến trông con cho chúng đi làm. Mỗi khi tôi từ Campuchia về Hà Nội công tác cũng ở trong phòng đó, rồi vợ con ở quê lên thăm cũng ở luôn đó. Có khi căn phòng 18 mét vuông đó có tới 6, 7 người cùng ăn ngủ. Một lần vì trong nhà quá chật chội, tôi phải đưa một chiếc giường cá nhân ra hiên ngủ để sớm hôm sau kịp lên sân bay Nội Bài bay sang Phnôm Pênh. Tôi được biết tin, chỉ vài giờ sau khi tôi đi, trần nhà chỗ tôi nằm đổ ụp xuống gãy thang giường, cả nhà và mọi người trong dãy nhà đều mừng cho tôi thoát chết, chuyện này xảy ra khi tôi đã được phong Thiếu tướng. Còn vợ chồng Phong, con cả tôi, cả hai đều là giảng viên đại học. Chồng là giảng viên tiếng Đức ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, vợ là giảng viên của Trường Đại học Tổng họp Hà Nội, đã có một con gái, được phân một gian nhà lợp tranh ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, to hơn cái lều vịt một chút, nên cũng không thể ở nhờ được.


Tôi kể những khó khăn, vất vả, thiếu thốn của gia đình thời kỳ đó một cách chi tiết như vậy, không phải để oán thán, mà chỉ hy vọng rằng khi con cháu mình đọc những dòng hồi ký này, thấy rõ ông cha mình đã trải qua những khó khăn của cuộc sống gia đình thế nào, và đó chỉ là một phần nhỏ của những khó khăn phải vượt qua để phấn đấu thực hiện một lý tưởng, một hoài bão cách mạng cao cả nhằm giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước, xây dựng một xã hội hạnh phúc hơn cho con cháu mình. Tôi cho đó là những khó khăn khó tránh khỏi, mà còn vì tôi cũng được chứng kiến rất nhiều hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của nhiều đồng chí mình, nhất là các đồng chí ở khu vực nông thôn, đã hy sinh rất nhiều cho sự nghiệp cách mạng mà mình đã tự nguyện cống hiến cả cuộc đời cho mục đích cao cả đó. Và tôi nghĩ đó cũng là lòng tự trọng của nhưng người chiến sĩ chân chính, không thể vì những khó khăn thiếu thốn, thiệt thòi nhất thời mà than vãn, nản chí. Cuối cùng, đó là sự trân trọng học tập những tấm gương biểu thị lòng biết ơn đối với những đồng đội, đồng chí mình đã hy sinh cả tính mạng của mình cho đất nước, cho sự nghiệp cách mạng cao cả, cho cuộc sống hạnh phúc, tươi đẹp của các thế hệ mai sau mà bản thân những anh hùng liệt sĩ đó không hề được hưởng.


Tuy nhiên, tôi cũng thấy trong thực tế cuộc sống, không ít những người lãnh đạo, chỉ huy do vô cảm, quan liêu hoặc nhũng định kiến sai lầm khác mà thiếu trách nhiệm, không quan tâm phát hiện và cảm thông những khó khăn, bức thiết về đời sống, về tình cảm của cấp dưới, mà nếu như có trách nhiệm, có sự nhạy cảm và hơn hết là có lòng nhân ái thì đã chủ động có những biện pháp để giảm bớt những khó khăn, những bức xúc không đáng có của cấp dưới, của đồng đội và đồng chí mình.


Còn đối với những trường hợp cá biệt, cán bộ đã thoái hóa, biến chất không từ một thủ đoạn xấu xa, độc ác nào để thu vén cho cá nhân, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân cách cấp dưới cần phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm.


Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi tình hình khó khăn chung của đất nước, gia đình có những khó khăn trong cuộc sống, thậm chí có chuyện buồn, nhưng tôi tự xác định phải phấn đấu vượt qua để tập trung vào nhiệm vụ. Tuy nhiên, cùng với hoàn cảnh riêng, trong khoảng thời gian từ 1982, có những sự kiện lớn liên quan đến nhiệm vụ, đòi hỏi phải tập trung tâm sức vào làm như tham gia khắc phục sai lầm của vụ Xiêm Riệp, việc tiến hành công tác chính trị trong các đợt rút quân, việc chuyển công tác từ Cơ quan Chính trị 719 sang môi trường công tác mới ở Đoàn 478..., tôi cảm thấy, sức khỏe của mình giảm sút rất rõ. Ở tuổi 56, 57, có lúc tôi có cảm giác, không biết mình có thể vượt qua được tuổi 60? Có một phần, tôi nghĩ đến ảnh hưởng của di truyền từ đời ông nội, đến chú, bác ruột và bố tôi thường mất ở tuổi ngoài 30, 40, 50. Người thọ nhất là bố tôi cũng chỉ sống được 56 tuổi. Có lúc nghĩ mình chẳng sống được bao lâu nữa, tôi đã viết một lá thư cho Đức, con trai thứ hai của tôi đang công tác ở Hà Nội (vì con cả đang có nhiệm vụ phiên dịch cho lớp cán bộ của thanh niên học tại Cộng hòa dân chủ Đức). Trong thư, tôi nêu một số nội dung có tính chất di chúc cho con cái về những việc lớn của gia đình, tuy không nói ra tình hình sức khỏe của mình.


Trong tình hình sức khỏe như vậy, khoảng nửa cuối năm 1986 diễn ra một loạt sự kiện lớn, với mức độ khác nhau mà tôi phải tham gia:

Khoảng cuối tháng 6 năm 1986, tôi có việc phải về Hà Nội họp. Lúc này, sau sự cố sập trần tại trước phòng của tôi ở số 8 Lý Nam Đế, cấp trên thu xếp chuyển gia đình được lên ở số 3 Ông Ích Khiêm trong một căn hộ khoảng 30 mét vuông vẫn do cặp vợ chồng Đức - Châu ở. Vợ tôi ở quê dẫn thằng con bị tâm thần lên bàn chuyện định tiếp tục chạy chữa cho nó. Nhưng đêm hôm đó, nó đã cạy cửa lúc mọi người đang ngủ say và đi mất. Sáng hôm sau mọi người chia nhau đi tìm vẫn không thấy. Mặc dù sức khỏe yếu, tôi vẫn thẫn thờ đi bộ ở các phố xung quanh hy vọng tìm được nó, nhưng cũng như các lần trước không có kết quả gì. Trong lúc trong lòng đang buồn bực thì được tin Tổng Bí thư Lê Duẩn tạ thế ngày 10 tháng 7 năm 1986 và được thông báo đến Trạm 66 tham gia đoàn cán bộ dự lễ viếng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #139 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2025, 11:43:29 am »

Trở lại với nhiệm vụ của tôi ở Campuchia, sự phát triển lớn mạnh về lực lượng quân sự của cách mạng Campuchia và sự trưởng thành trong chiến đấu và công tác thời điểm này là khá nhanh. Sự lớn mạnh đó diễn ra khá đều ở cả 3 thứ quân: Chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Trong sự phát triển đó, việc xây dựng lực lượng chủ lực của bạn có sự cố gắng rất lớn của ta và bạn. Với sự giúp đỡ của Quân đoàn 4 Quân tình nguyện, Sư đoàn 196 đầu tiên của bạn được thành lập vào tháng 4 năm 1984.


Trong tình hình đó, lực lượng chuyên gia của Đoàn 478 cũng được tăng cường để giúp Bộ Quốc phòng bạn chỉ đạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xây dựng và chiến đấu.


Sau khi Thiếu tướng Mai Xuân Tần, Cục phó Cục Tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu vốn trưởng thành trong chiến đấu ở nhiều đơn vị chủ lực của ta được bổ nhiệm làm Đoàn trưởng, cấp phó giúp việc cho đồng chí Mai Xuân Tần có thêm 3 người: Đồng chí Đặng Thiết, nguyên là Cục trưởng Cục Dân quân của Bộ Tổng Tham mưu, vừa được phong quân hàm Thiếu tướng. Đại tá Nguyễn Đóa, một cán bộ trưởng thành từ bộ đội chủ lực của ta giúp đồng chí Tần về mặt quân sự và tôi được chuyển từ Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh 719 sang phụ trách Phó Đoàn trưởng về Chính trị và được quyết định là Phó Bí thư Đảng ủy Đoàn, phụ trách công tác nội bộ.


Về mặt nhân sự, việc tăng người ở bộ phận chỉ huy để quán xuyến, đi sâu vào các lĩnh vực công tác là cần thiết. Nhưng theo tôi, vấn đề quan trọng bậc nhất là tổ chức và cách làm việc hợp lý thì mới nâng cao được hiệu quả trong công tác giúp bạn.


Về phía chuyên gia, ta vốn có kinh nghiệm trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, ta cũng đã từng nhận viện trợ của các nước anh em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và các tổ chức tiến bộ phi chính phủ ở các nước, nhằm tiếp thu kinh nghiệm của bạn bè và sử dụng sự giúp đỡ về vật chất (vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật...) một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm hoàn cảnh và điều kiện của mình. Được sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Ban Cán sự Đảng và Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện ta đã làm tốt việc này. Việc tiến hành giúp đỡ bạn phải được tiến hành rất cụ thể, tỷ mỷ, song theo tôi nghĩ cách giúp của Đoàn 478 là phải được tiến hành từng bước, đồng bộ để bạn thực hiện có hiệu quả thực tế. Phải nắm vững việc bồi dưỡng con người (cả chuyên gia ta và cán bộ bạn). Muốn làm việc gì phải bồi dưỡng, tập huấn cho chuyên gia, thống nhất nội dung, cách làm. Sau đó phải tập huấn bồi dưỡng kỹ cho cán bộ bạn. Trong vấn đề này, vai trò của Trường 481 là rất quan trọng. Tất cả mọi chuyên gia của ta đến giúp bạn đều được tập huấn những vấn đề chung nhất mà mọi chuyên gia các ngành đều phải nắm vững. Vì vậy, một đồng chí thiếu tướng đã từng làm Đoàn trưởng Đoàn 478 được điều động làm Hiệu trưởng và một bộ máy làm việc gồm phần lớn giáo viên có khả năng đã từng chiến đấu và công tác tại Campuchia. Đồng thời, các quân chủng, binh chủng kỹ thuật khi cử chuyên gia giúp bạn cũng phằi bồi dưỡng những nội dung cần giúp.


Về phía bạn, ta cũng phải giúp bạn tập huấn bồi dưỡng cho cán bộ các ngành của bạn, trong số đó có một số người ở từng ngành đã được học ở các trường của Quân đội ta, chuyên gia các ngành của Đoàn 478 cũng cần thống nhất nội dung và cách làm việc với số anh em này. Trong khi phụ trách công tác nội bộ, tôi thường chú ý đến một vấn đề rất quan trọng là quan hệ giữa chuyên gia ta với cán bộ bạn. Về phía chuyên gia ta, tôi thấy anh em có một tinh thần làm việc rất tận tình, thông cảm với khó khăn, thiếu thốn của bạn, nhất là lúc ban đầu, không nề hà bất cứ một việc gì, kể cả việc dọn dẹp vệ sinh, thu xếp cơ quan làm việc khiến nhiều cán bộ bạn rất cảm động trước tinh thần đó. Bên cạnh những ưu điểm rất cơ bản trên, việc cần phải luôn luôn chú ý khắc phục trong một số ít chuyên gia ta là những biểu hiện của tư tưởng nước lớn hoặc "ban ơn". Có một số đồng chí trong khi làm việc với cán bộ bạn, thường áp đặt, muốn làm theo ý mình, trong khi đó thì cán bộ bạn lại "nể chuyên gia, có ý kiến khác cũng dè dặt, không thẳng thắn nói ra; trái lại cán bộ bạn có ý kiến trái chiều, phản biện thì chuyên gia ta lại có ấn tượng không tốt, cho là thiếu tích cực... Hoặc trong cán bộ bạn cũng có người ỷ lại, dựa dẫm vào chuyên gia, rơi vào tình trạng chuyên gia làm thay, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cán bộ bạn. Những biểu hiện trên được quan tâm nhắc nhở nên quan hệ giữa chuyên gia ta với cán bộ bạn nói chung là rất tốt, đoàn kết, thân ái, tôn trọng nhau, không có vụ việc nào mất đoàn kết nghiêm trọng xảy ra. Tôi cho rằng, đó là một thành công lớn trong việc xây dựng tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa chuyên gia ta với cán bộ bạn.


Đối với Đoàn 478, một đơn vị gồm chuyên gia các ngành và cán bộ, nhân viên phục vụ quân số luôn luôn biến động, nhất là chuyên gia vì làm việc luân phiên có thời hạn, thường là trên dưới 2.000 người (ngoài một số chuyên gia chủ chốt phải làm việc lâu dài). Vì vậy, công tác đảng, công tác chính trị đối với cán bộ rất phức tạp. Ngoài đối tượng chính là chuyên gia, công tác đảng, công tác chính trị nắm vững nhiệm vụ trung tâm là phải lãnh đạo, bảo đảm thật tốt quan hệ đoàn kết ta - bạn nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giúp bạn, thì những công việc cụ thể về nội bộ trong Đoàn cần quan tâm như công tác chính trị, tư tưởng, đời sống vật chất, tinh thần của anh chị em, chính sách, chế độ đối với từng loại... mặc dù Đoàn có biên chế Cơ quan Chính trị, Văn phòng, Cơ quan Hậu cần (nhưng trừ hậu cần phải có đủ người để phục vụ), còn Cơ quan Chính trị và Văn phòng, mỗi nơi chỉ có vài cán bộ nên công việc rất bận rộn. Nhiều lúc, tôi cảm thấy khó quán xuyến được hết. Đó chỉ là những công việc rất cụ thể, rất thiết thực nhưng lại có ý nghĩa lớn, tác động đến tâm tư tình cảm, đến tinh thần công tác của mọi người. Đảng bộ của Đoàn có nhiều chi bộ. Vai trò của chi bộ trong việc giải quyết những vấn đề nội bộ như trên là rất quan trọng, và trong thực tế cũng phát huy rất tốt. Song, có những việc chi bộ không đủ thẩm quyền hoặc chưa biết cách giải quyết phản ánh và đề nghị cấp trên giúp đỡ.


Tôi nhớ, có những việc tự mình phải suy nghĩ và trực tiếp bắt tay vào làm mới có thể đạt kết quả. Ví dụ, có trường hợp trước đây khi tôi chưa về công tác tại Đoàn, một đồng chí đại tá có quê ở một tỉnh thuộc Quân khu 4, làm chuyên gia cho bạn bị bệnh nặng phải đưa về nước điều trị. Nhưng vì bệnh quá nặng, đồng chí không qua khỏi và mất tại quê nhà. Theo chế độ thì cán bộ, chiến sĩ chiến đấu hoặc bị bệnh hy sinh trên chiến trường Campuchia thì được công nhận là liệt sĩ, nhưng trường hợp đồng chí này lại mất ở Việt Nam nên không được hưởng chế độ liệt sĩ. Khi được biết chuyện này, tôi thấy không hợp lý. Tôi liền làm một công văn đề nghị Cục Chính trị Quân khu 4 xét công nhận đồng chí là liệt sĩ để gia đình được hưởng đúng chính sách của Nhà nước vì đồng chí bị bệnh nặng khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia thì chết ở Campuchia hay ở Việt Nam đều đáng được công nhận. Tôi cử đồng chí Phó Văn phòng của Đoàn, trực tiếp đem công văn đến Cục Chính trị Quân khu và trình bày thêm. Quân khu 4 rất hoan nghênh cách giải quyết có tình, có lý của Đoàn và quyết định công nhận chế độ liệt sĩ cho đồng chí đại tá này.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM