Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:16:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7869 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:42:33 pm »

- Tên sách: Những năm sóng gió cuộc đời
- Tác giả: Trần Hiến
- Nhà xuất bản: Công an nhân dân
- Năm xuất bản: 2003
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Nhà văn Lê Tri Kỷ khi viết dòng tựa cho một cuốn tiểu thuyết tình báo của mình: "Kính tặng những người đã chết không để lại tên, những người còn sống không muốn nêu tên", ông thấm thía lắm với số phận của những cán bộ cách mạng hoạt động trên mặt trận đặc biệt này.


Nhà xuất bản Công an Nhân dân nhận bản thảo hồi ký của nhà tình báo Trần Hiến từ tay của bạn bè đồng đội ông. Chúng tôi rất trân trọng nghĩa tình đồng chí của họ. Những cán bộ lão thành, vào sinh ra tử vì tổ quốc, bây giờ tuổi cao sức yếu vẫn dành dụm trí lực, tiền bạc vào một việc "Cố gắng không để thế hệ sau quên hoặc không biết những con người như Trần Hiến".


Trong quá trình biên tập sách chúng tôi rất cảm ơn sự giúp đỡ của Tổng cục II - Bộ Quốc phòng, Phòng Quân báo Quân khu 9 và Ban Liên lạc Tình nghĩa Quân báo Khu 8 và Phân liên khu Miền Tây Nam Bộ.

Tuy nhiên, các sự kiện xảy ra trong cuốn sách này đã gần nửa thế kỷ, sự nhớ của tác giả và đồng đội ông có thể có điểm chưa chính xác. Rất mong bạn đọc xa gần góp ý bổ sung.

Xin trân trọng giời thiệu cùng bạn đọc.

NHÀ XUẤT BẢN
CÔNG AN NHÂN DÂN
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2026, 03:00:03 pm »

LỜI GIỚI THIỆU


Trong lịch sử kháng chiến lâu dài của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20 - dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ - đánh thắng hai kẻ thù đế quốc hùng mạnh nhất, giữ vững nền độc lập thống nhất tổ quốc, đã xuất hiện không biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hữu danh và vô danh, những người đã làm rạng rỡ chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Phần lớn những chiến công của anh hùng liệt sĩ vô danh ngành Tình báo Quân sự và Điệp báo Công an Nhân dân dù có Tổ quốc với ngành chủ quản biết và ghi nhận. Ngoài ra, họ chấp nhận hy sinh tất cả, bởi vì trước khi nhận nhiệm vụ họ đều nhận thức rất rõ họ là người chiến sĩ vô danh trong trận chiến thầm lặng này.


Trong số chiến sĩ vô danh đó có anh Trần Hiến. Theo lời, anh kể trong hồi ký, anh sinh ra trong gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước ở tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông nội anh đã bị giặc Pháp giết hại trong phong trào nông dân biểu tình chống thuế ở Thừa Thiên - Huế năm 1908. Cha anh là một thầy giáo nghèo có khí tiết, nhưng chẳng may ông mất sớm vào năm 1927. Hơn mười tuổi anh đã mồ côi cha, và từ đó với vốn liếng mảnh bằng tiểu học, anh lăn lộn vào đời, làm đủ mọi nghề để kiếm sống cho bản thân và góp phần nuôi mẹ và  em sống ở vùng quê nghèo cơ cực. Với trí thông minh, tinh thần ham học hỏi và giàu nghị lực, anh đã tự học thêm tiếng Pháp để sau này trở thành sĩ quan phiên dịch cho cơ quan tình báo (2e bureau) quân đội viễn chinh Pháp đóng ở Cần Thơ, khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta năm 1945. Và cũng chính ở Cần Thơ, anh tham gia cách mạng: ngành tình báo hoạt động trong lòng địch, lập được nhiều thành tích xuất sắc, phục vụ đắc lực cho lãnh đạo quân sự Miền Tây Nam bộ, giành thế chủ động chiến trường gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề nghiêm trọng. Với thành tích đó, anh được Tỉnh ủy Cần Thơ kết nạp Đảng ngay trong lúc anh còn đang hoạt động trong hàng ngũ địch. Rất tiếc, do bị lộ từ cơ sở khác, anh thoát ra vùng giải phóng trong một tình thế hết sức hiểm nghèo, tính mạng như "ngàn cân treo sợi tóc" trước mũi súng kẻ thù.


Đọc "Những năm sóng gió cuộc đời" của anh Trần Hiến cũng như những ý kiến của đồng đội cũ nói về anh, tôi thật hết sức xúc động trước nhân cách một chiến sĩ tình báo trung thành tuyệt đối với lý tưởng cộng sản mà anh đã chọn cũng như trong quan hệ "đối nhân xử thế" với đồng chí đồng đội, với gia đình và nhân dân, kể cả số người trong hàng ngũ kẻ thù, trong những ngày kháng chiến gian khổ ở chiến trường Miền Tây Nam Bộ.


Anh Trần Hiến nay đã đi xa, nhưng những điều anh nghĩ, những việc anh làm, anh đã ghi lại trung thực trong hồi ký, thật là những bài học đáng để chúng ta suy gẫm về công tác của người tình báo hoạt động âm thầm trong lòng địch.

Là người hoạt động nhiều năm ở ngành tình báo - có lúc ở ngay trong hàng ngũ địch - tôi hết sức thông cảm những khó khăn nguy hiểm mà những chiến sĩ tình báo chúng ta phải vượt qua để giành chiến thắng có khi chỉ trong gang tấc, cũng như những hy sinh oanh liệt thầm lặng của họ, góp phần không nhỏ cho cuộc chiến thắng vĩ đại của dân tộc trong đại thắng mùa xuân lịch sử năm 1975. Họ không có tượng đồng bia đá, nhưng mãi mãi chiến công của họ Tổ quốc và dân tộc không bao giờ quên.


Với lòng kính trọng người chiến sĩ Tình báo đã quá cố, tôi xin viết mấy lời như thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh Trần Hiến và xin trân trọng giới thiệu quyển hồi ký này với bạn đọc.


Ngày 26 tháng 3 năm 2001
Thiếu tướng
NGUYỄN VĂN KHIÊM (Sáu Trí)
Nguyên Chỉ huy trưởng Đoàn J22,
đơn vị Anh hùng Lực lượng
Vũ trang Nhân dân
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2026, 03:01:58 pm »

Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2026, 03:07:42 pm »

CHƯƠNG 1
LÀNG KẺ LỪ - QUÊ TÔI


Thuận Hóa - xứ sở quê tôi - là miền đất cũ của "hai châu Ô, Lý vuông nghìn dặm. Một gái thuyền quyên dễ mấy mươi". Đã có được ghi vào lịch sử từ đầu thế kỷ thứ 16. Làng Niêm Phò của tôi hiện nay là hợp tác xã Quảng Thọ, thuộc xã Quảng Thanh, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Con người ở Thuận Hóa thì: "Đàn ông khá kiên cường, đàn bà hơi mềm mại; Trai thì trọng đức, tài, lương, gái thì quý nết đoan trang kiệm cần". Đó là một vùng đất "Địa linh nhân kiệt". Quê hương tôi, không phải là "chùm khế ngọt", ít nhất là lúc tôi sinh ra và lớn lên. Khắp 400 hộ dân của làng nằm bên bờ sông Bồ, rải rác dài 1 km. Ngoài 6 nhà thờ các họ Trần, Nguyễn, Lê, Mai, Võ, Nguyễn, chỉ có 3 ngôi nhà ngói: bà Bát Liên, bà Tư Tố, ông Cửu Nĩ là những người có máu mặt, có đất ruộng cho lãnh canh thu tô, còn lại toàn là nhà tranh vách đất cả. Để sinh sông, cứ ba năm một lần lại quận cấp chia đất công cho mỗi tráng đinh (con trai đến tuổi 18) mỗi người 1 sào để canh tác. Trừ năm, ba nhà trung nông có trâu có cày, hầu hết phần đất quận cấp cho nông dân, nông dân lại giao cho địa chủ để trừ nợ chồng chất năm này sang năm khác để lãnh canh ngay trên phần ruộng của mình được cấp, lại vay thêm nợ mới, chờ đến ngày gặt, đong lúa trả nợ, không trả đủ lại làm giấy vay nữa. Cuộc sống của bần cố nông không có gì là ngon ngọt, mặc dù đất ruộng làng tôi được phân loại là "thượng đẳng điền" lúc đóng thuế!


Nhà tôi nghèo không biết tự đời nào. Mẹ tôi lấy cha tôi vì thương anh học trò khó. Ngoại tôi chỉ có mẹ tôi là con một. Lúc lấy chồng, ngoại tôi cho mẹ tôi một miếng đất không đầy 10 thước thổ (khoảng 2/3 sào Bắc bộ). Trên mảnh đất nho nhỏ ấy cha tôi cất một mái nhà tranh, ban đầu cũng 3 gian hai chái, các năm sau không đủ tiền lợp nhà, thu gọn lại còn 3 gian. Quanh nhà, phía trước có một gốc khế chua, cây bưởi the và bụi tầm vông cạnh ngõ. Phía sau là giây mướp đắng, vài bụi chuối chát. Ngoài ra còn một gốc mai vàng và dăm bụi chè xanh mà mẹ tôi không ngừng chăm sóc nâng niu vì là sở thích của cha tôi. Hương vị không có gì là ngọt ngào, béo bở, màu sắc chẳng có gì rực rỡ, phô trương, nhưng tôi vẫn còn nhớ mãi, vì đó là hương vị quê hương.


Chảy ngang trước làng tôi có con sông Bồ, một nhánh của sông Hương, khiêm tốn góp phần đổ nước ra Ngã ba Đình, để dồn ra cửa Thuận An, phá Tam Giang, trước khi hòa vào biển cả. Nhờ vậy con sông Bồ nước ngọt quanh năm, vừa cung cấp nước uống, tắm giặt và tưới mát cho ruộng vườn, không cần đào giếng, khơi ao. Cha tôi thường hay lên nguồn đốn củi và kiếm thuốc, đã nói với tôi "Nước sông Bồ chẳng những ngọt mà còn trong lành; bởi vì tận nguồn có mọc cây Xương bồ (Thạch xương bồ là một vị thuốc quí).


Tôi chưa có dịp nào kiểm tra lại, nhưng vẫn tin chất nước sông Bồ là ngon lành thật. Vị ngọt của nước sông Bồ đã đọng lại trong người dân Kẻ Lừ, có lẽ suốt đời không quên được. Năm 1958, chuyện trò về quê hương, anh Vịnh tức Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tâm sự: "Sau nầy đánh xong giặc, mình chỉ muốn về nhà làm ruộng, không gì sướng bằng trưa nắng, cuốc đất xong, lau ráo mồ hôi, cùng nhau xuống Bến Chùa, leo cây dừa, nhảy xuống sông tắm một cái cho đã!" tình cảm quê hương lắng trong tim một vị danh tướng...


Trong bối cảnh lịch sử ấy, tôi sinh ra (nghe bà Bô Hán kể lại) ngày 12/11 năm Ất Mão (1915). Cha tôi là Trần Cảnh, một nhà nho ngheo, làm thầy giáo "dạy quốc ngữ" đầu tiên ở trường làng lúc bấy giờ gọi là Học xá (nằm ngay đầu cầu Thanh Hữu phía bắc hiện nay). Mẹ tôi là Nguyễn Thị Khuy, chị Hai tôi là Nguyễn Thị Cháu (gọi là Cháu chị), chị Ba tôi là Nguyễn Thị Don (gọi là Cháu em), em Út tôi là Nguyễn Thị Hợi. Ngoài ra, trên tôi còn có hai người anh đã chết lúc tôi còn bé. Tôi không biết tên, vì vậy, tôi là đứa con trai "thúi háy" duy nhất của gia đình, nên được nuông chiều nhiều nhất. Mẹ tôi, các chị tôi nhường nhịn cơm để tôi ăn. Tôi cũng đã biết điều đó lúc lên tám, lên mười và cảm nhận tình thương đó đến suốt đời. Năm 1979, nghỉ hưu, tôi về thăm quê, cha mẹ, chị Hai tôi không còn nữa. Chị Ba tôi còn sống, nhưng tuổi đã bảy mươi, vẫn thức suốt đêm và quạt muỗi cho tôi ngủ như hồi còn tấm bé. Cha tôi thường dạy tôi: "Gia bần tri hiếu tử" (Nhà nghèo mới biết con hiếu thảo). Nay tôi còn hiểu rộng ra: "Nhà nghèo mới biết rõ tình chị thương em, anh em ruột thịt càng yêu mến nhau hơn".


Từ tuổi thiếu nhi, bên cạnh tình thương gia đình, tình thương làng xóm cũng để lại trong lòng tôi nhiều tình cảm khó phai. Tôi nhớ năm 1928, cha tôi mất, mẹ tôi, chị tôi phải chạy từng loong gạo cuối cùng để cho cả hai gia đình cùng có cháo ăn đỡ đói. Cô É, người bà con bên ngoại cho mượn nồi để dành cho cả khoanh cơm hông trong nồi, và còn nhiều bà con khác cho củ nưa, củ khoai ăn qua bữa. Tình nghĩa xóm làng đã dạy cho tôi tình nghĩa đồng bào, "lá lành đùm lá rách" như một bài học về đạo lý ở đời. Dân Kẻ Lừ chúng tôi là tấm gương nhỏ phản chiếu lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam, từ Bắc chí Nam: Nghèo tiền tài nhưng vẫn giàu nhân nghĩa, vì vậy, rất nhạy cảm với phong trào cách mạng.


Một trong những phong trào Cách mạng của Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng gắn liền với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, là phong trào chống sưu cao, thuế nặng năm 1908 mà đỉnh cao là cuộc biểu tình của nông dân sáu huyện Thừa Thiên, kéo đến trước Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, ngày 9/3 âm lịch năm 1908. Bác Hồ lúc đó là cậu học sinh Nguyễn Tất Thành 18 tuổi, ở trường Quốc học, đứng lên phiên dịch yêu sách của nông dân cho viên Khâm sứ Pháp biết. Cuộc biểu tình của nông dân Thừa Thiên bị thực dân đàn áp dã man. Cậu học sinh Nguyễn Tất Thành bị đuổi ra khỏi trường. Ông nội tôi là Trần Tín, tham gia biểu tình đã mất tích từ ngày ấy... Tôi còn nhỏ, đến ngày tảo mộ cuối năm, không thấy mả ông nội, hỏi mẹ tôi, mẹ tôi kể: Ông nội chết từ lúc mẹ chưa sinh ra con. Ngày đó, có cậu ấm Mộng cỡi con ngựa tía về các làng rủ dân làng đi kêu giảm thuế. Dân làng mình cử ra hai người: Ông nội tôi và ông Trùm ở Xóm Đình. Hai người kéo nhau đi, nhưng lúc về chỉ còn có một ông Trùm. Cha tôi đi kiếm xác 3 ngày không gặp, từ đó lấy ngày 13/3 Âm lịch là ngày giỗ kỵ ông nội tôi. Mẹ tôi nói: "Dân làng có hẹn: Rủi ai chết thì dân làng lập miễu thờ. Nhưng có ai dám mô?". Tôi không dám hỏi cha tôi, vì cha tôi nghiêm nghị, hiền nhưng ít nói, từ khi bỏ dạy học trường công, cắt tóc ngắn, cắt móng tay, đi làm ruộng thì lầm lì suốt ngày, không nói, chỉ để dành buổi chiều dạy học cho trẻ em nghèo lối xóm biết thêm chữ quốc ngữ, dạy thêm chữ nho cho lớp học sinh lớn tuổi, bắt mạch hốt thuốc cho người nghèo không lấy tiền, gọi là cứu nhẤn Độ thế, để đức lại cho con cháu. Khi nào buồn chỉ biết mê bạn trong hội "Tư Văn" uống rượu làm thơ để tỏ chí hướng.


Ngày 9/3 Âm lịch, tức là ngày 10/4/1998 trở thành ngày giỗ ông nội tôi, mở đầu cho truyền thống yêu nước, thương nòi của gia đình tôi. Và, mong con cháu sau này ghi nhớ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2026, 03:09:15 pm »

Cha tôi mất sớm, lại ít nói về mình, nên tôi không hiểu lắm qua việc làm và quan hệ, giao thiệp hằng ngày, mẹ tôi kể lại tôi mới biết đôi chút.

Cha tôi sanh năm Ngọ (1876). Là học trò nghèo, thi nhiều lần không đỗ, trở về dạy học trường làng, lúc đầu dạy chữ nho, sau dạy chữ quốc ngữ cho con em nhà nghèo trong xã, và các nơi lân cận. Còn tôi mỗi lần đi học ở trường về, cha tôi bảo tôi cùng ngồi học chung với môn đệ của cha. Ông không dạy riêng cho tôi điều gì cả. Những câu ông giảng theo sách chữ nho, đến nay tôi còn nhớ. Giảng về sử, ông nhắc đi nhắc lại: "Tổ tiên ta là họ Hồng Bàng" (Hồng Bàng thị, tương truyền Thập bát thế, ghi xưng Hùng Vương). Để chống lại môn sử của Pháp dạy ta: "Nos ancêtres sont les Gaulois" (Tổ tiên chúng ta là người Gôloa). Giảng về động cơ học tập, ông nói: "Học dĩ phá ngu, học dĩ thành nhân chi mỹ" (Học để phá cái ngu, cái dốt, học để trở thành người tốt), để chống lại quan niệm hồi đó là học để ra làm quan, làm thầy thông, thầy ký. Nhưng in sâu nhất vào trong tâm trí tôi là cái đạo lý làm người, theo cha tôi là: "Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" hoặc "Phú quí bất dâm, bần tiện lạc, nam nhi đáo thử thị hào hùng" (Giàu sang không tham lam, nghèo khó không dời đổi, quyền thế không chịu khuất phục - Giàu sang không ham, nghèo khó vẫn vui, làm trai như thế mới anh hùng) và "Tri vị tri chi, bất tri vị bất tri" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết), "Quốc dĩ dân vi bổn, dân dĩ nông vi bổn" (nước lấy dân làm gốc, dân lấy nghề nông làm gốc). Chỉ bấy nhiêu cũng đủ làm định hướng cho cuộc đời tôi, luôn luôn thấy mình còn dốt, chưa tốt. Như mọi thầy đồ khác: Trong nhà có sẵn một nghiên mực tàu, mấy quản bút lông, một mẩu son (đá đỏ) để khuyên và phê học trò khi làm bài tốt, và một cái roi mây. Nhưng cái roi mây ấy nằm im trên kèo nhà, không bao giờ cha tôi dùng đến. Mỗi khi tôi không ngoan ông chỉ dí cái quạt giấy vào đầu mà tôi đã tìm đường lánh!


Kể ra từ những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, cha tôi là một ông đồ nho mà cắt tóc ngắn, biết chữ quốc ngữ, không được dạy trường công thì mở lớp dạy riêng cho con em nhà nghèo, lĩnh ruộng địa chủ về làm để kiếm sống, cũng được kể là một nhà nho tiến bộ, vì vậy, cha tôi được dân làng và học trò mến mộ, lúc cha tôi mất, nhà tranh vách đất, chật chội, nhưng học trò và bạn bè đến lễ viếng có đến hằng trăm. Tôi lạy mỏi rã rời cả gối để đáp lễ cả trường, từ thầy giáo đến học trò. Bạn tôi, anh Vịnh phải lạy thay cho tôi được nghỉ. Uy tín của cha tôi không phải do tiền tài và danh vọng mà có, chỉ nhờ đạo đức và cách sống có tình người: Một bài học cho con cháu sau nầy...


Nhưng người mà tôi yêu quí, thương nhớ nhứt vẫn là mẹ tôi. Mẹ tôi kém cha tôi 5 tuổi, sinh năm Hợi (1881). Ông ngoại tôi là Nguyễn Tánh, chỉ sinh được một mình mẹ tôi, nên chiều ý con gái gả con cho một học trò nghèo khó, không có miếng đất cắm dùi, cả nghĩa đen nghĩa bóng. Vì vậy, mẹ tôi phải làm một gánh hàng xáo mua chịu lúa về, xay giã, dần, sàng, gánh đi chợ bán lấy tấm cám nuôi chồng con. Hai chị lớn của tôi cũng phụ giúp mẹ tôi, tôi và người em gái tôi chỉ là người ăn không. Năm tôi lên 10 tuổi (1925) học lớp nhì (cours Moyen lère Année) trường quận, đã ý thức được cuộc sống khó khăn của gia đình. Vì vậy, mỗi lần đi học về, tôi vội vã chạy đến phụ giúp mẹ tôi xay lúa, giã gạo. Mẹ tôi đẽo cho tôi một cái chày vồ nhỏ, làm bằng gỗ cây gáo cho nhẹ vừa sức tôi. Mỗi lần xay lúa chị tôi chỉ đổ đầy một nửa cối xay thôi. Tôi phải ráng sức bước hai bước mới đẩy được cối, để quên mệt, tôi vừa xay lúa vừa ôn bài. Và, có lúc tập làm thơ. Luật làm thơ Đường, tôi đã thuộc lòng, nhờ cha tôi dạy. Mẹ tôi không biết chữ, nên không đọc sách làm thơ được. Nhưng mỗi lúc mẹ tôi ru em tôi, tôi vẫn nghe mẹ hát với giọng u buồn, thầm kín nhưng sâu lắng, nói lên tiếng nói của trái tim đôn hậu của mình. Ngoài bài hát ru con quen thuộc của Bình Trị Thiên:

   "À ơi! Ru con con ngủ cho muồi
   Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu"

   Mẹ tôi còn hát những câu khác, tôi còn nhớ kỹ cho đến nay:

   "À ơi! Chẳng tham ruộng cả ao liền
   Chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ!"
   Hoặc: "À ơi, ru con, con ngủ cho rồi
   Nước non chưa gánh mẹ ngồi ru con!"


   Mỗi khi có ông xẩm mù, xóc xách cặp sến, dò dẫm chống gậy đi ngang qua nhà. Mẹ tôi không bao giờ quên bảo tôi đem bỏ đồng xu vào tay ông và dẫn vào nói về cho cả nhà cùng nghe với đám đông trẻ em lối xóm. Một bài vè duy nhất mà khách nghe không bao giờ chán: bài vè Thất thủ kinh đô:

   "Kể từ khi ngày thất thủ kinh đô
   Thằng Tây qua giăng giây thép, họa địa đồ nước Nam!"

   Và còn nhận xét chua cay qua sự thất bại của phong trào Cần Vương:

   "Nước Nam có bốn anh hùng:
   Tường gian, Kim láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu!"

Những câu vè của ông xẩm mù, giọng hát của mẹ tôi, cộng với những câu giảng theo sách sử của cha tôi tuy không nhiều lắm, nhưng lại là những bài học luân lý đầu tiên bổ ích cho cả đời tôi về lòng yêu nước, thương dân, về chí: "Khinh tài, trọng nghĩa".

Tôi nhớ kỹ, Tết năm 1927, chiều 30, mụ Lê chuyên đi đòi nợ cho mụ Tư Tố đến nhà tôi. Trên bàn thờ chỉ có vài cây nhang lèo tèo và cây đèn (dầu hoa kỳ) leo lét, không bánh tét, không cỗ bàn, chỉ có vài bông vạn thọ cắm chung với cấy chuối con để trang trí. Chỉ ba đồng bạc nợ, mụ Lê đột nhiên nằm lăn trên sân réo chửi, đòi xiết bàn thờ. Mẹ tôi không nói gì, biểu tôi đem chiếc chiếu cũ tôi đang trải trên tấm phản ra cho mụ nằm. Tôi ngạc nhiên, mẹ tôi bảo "Cứ đem ra trải cho mụ nằm đi, mụ phải chửi to, nếu không chủ nợ sẽ không cho mụ tiền ăn Tết". Mụ Lê lặng lẽ lăn trên chiếu nằm im thin thít. Do thông cảm cảnh nghèo khổ của nhau (mụ Lê có đứa con tên Sâm, sau này cũng theo cách mạng). Mấy ngày Tết, trên bàn thờ chỉ có được khay bánh in do Bộ Hán đem cúng ông bà. Con gà mái nở với mấy cái trứng đang ấp vẫn nằm im trên ổ, cha tôi không cho đụng tới. Tôi hỏi, mẹ bảo: để mồng ba Tết làm cúng đưa ông bà luôn. Sáng mồng ba, tôi dậy sớm thắc thỏm chờ xem mổ gà. Trên bộ ván đẹp duy nhứt, ba người bạn thơ, rượu của cha tôi đã ngồi sẵn. Vẫn những người bạn thân thuộc trong làng cùng hội Tư Văn với cha tôi: Ông Bộ Hán (cha anh Vịnh, bạn tôi), ông Cửu Giêng (chết trước 1945) và bác Khóa Đạt.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2026, 03:17:10 pm »

Bác Khóa Đạt cũng biết làm thuốc Bắc như cha tôi. Mấy bác đang nói với nhau về cuốn "Nhật ký chìm tàu" của Nguyễn Ái Quốc. Tôi nghe nhưng không tin là có thật, vì nghe đọc câu thơ lục bát: "Nước Nga có chuyện lạ đời, biến người nô lệ thành người tự do". Tôi buột miệng hỏi họ: "Đã chìm tàu rồi mần răng còn có nhật ký được?". Bác Khóa giải thích: "Thì người ta cuộn nhật ký lại bỏ vào chai, đóng kín nút lại, thả trôi trên biển nên người ta nhặt". Tôi không hỏi nữa. Trên bàn còn mấy cuốn tân thử, loại sách chữ nho, in từ Hương Cảng, chữ nhỏ in giấy trắng tinh. Tôi biết một quyển. Ngoài bìa "Vạn pháp tinh lý", tên tác giả là "Mạnh Đức Tư Cưu" (Montesquieu). Dịch giả: "Lương Khải Siêu".


Con gà mái mổ, mây quả trứng được luộc lên, đem cúng, xé phay rồi dọn lên mâm và một chai rượu "ích thọ", cha tôi dành đến hôm nay mới khui uống.

Đang suy nghĩ, bỗng nghe cha tôi rung đùi ngâm bài thơ "Đầu xuân khai bút" của mình tựa đề "Tự thuật" để mọi người góp ý:

      Tự thuật
   Bốn mươi lăm tuổi gẫm hơn người
   Hơn kẻ ba mươi với bốn mười
   Hơn mặc áo dài thêm tốn vải
   Hơn năm cúng mẹ phí nhiều xôi
   Hơn điều lếu láo đông người ghét
   Hơn việc tầm phào lắm kẻ cười
   Các cụ hơn ta, ta chẳng biết
   Biết ta hơn được bấy nhiêu lời


Bác Khóa thấy tôi chăm chú nghe hỏi tôi có biết làm thơ không? Cha tôi trả lời thay tôi: "Hắn cũng biết làm thơ rồi đó". Rồi bảo tôi đọc bài thơ của tôi làm cho các bác nghe. Tôi cất cao giọng:

      Vịnh cái cối xay
   Con tạo vần xoay, tớ cứ xay
   Xay đi xay lại tháng qua ngày
   Lưng mòn, răng rụng thân nào quản
   Họng lỗ, tay chai, dạ chẳng sai
   Nghèo khó hết lòng cùng kẻ khổ
   Lợi danh mặc kệ mấy người say!
   Giàu sang ai đó, dừng ta hỏi
   Không tớ làm sao nở mặt mày?


Tôi đọc xong, bác Khóa tán thưởng: "Hay! thằng này có chí khí" rồi bác hỏi tôi ngày tháng năm sinh để chấm cho tôi 1 số "tử vi". Chấm xong, bác vỗ đùi "Quí tử". Thú thật hồi đó, tôi chưa tin vào tướng số, cho là thầy bói đoán mò. Nghe nói "Quí tử", tôi không biết là lời khen hay tiếng rủa, nên tôi đưa vai chỉ vào miếng vá hỏi lại: "Quí tử hay không, con không biết, nhưng bác coi lại chấm số đến chừng nào con mới có áo lành để mặc Tết hả bác?" Bác nhìn vào bản số rồi đáp gọn: "Đến 50 tuổi, mi tha hồ có áo mà mặc". Tôi ngẫm nghĩ: năm mươi tuổi, mà nay mới 12, chờ còn lâu lắm. A, có lẽ sau này mình sẽ là thợ may cũng nên! Sau này, tôi không làm thợ may, nhưng đến tuổi 50, nhờ Bác Hồ, tôi và cả con cháu tôi có áo lành để mặc, ngày thường cũng thế, kể chi ngày tết!


Bữa cơm đạm bạc cúng tiễn ông bà là ngày mồng ba Tết năm 1927, không ngờ lại là bữa tiệc cuối cùng của cha tôi, để chia tay bạn bè và gia đình. Tôi hôm mồng bốn Tết, nhân đi bốc thuốc cho người ốm, mụ Bát Tiên ở trong xóm, khi về nhà cha tôi đau liệt giường, và đến ngày mồng 9 Tết, đã thở hơi thở cuối cùng vào 9 giờ sáng. Cụ Tiểu Cao, vị Thủ chỉ của làng, lúc cha tôi ốm cho 2 củ sâm Cao Ly. Đến lúc cha tôi mất ông đến thăm và nói: "Con người như rứa mà chết đi, còn nhiều người đáng chết lại không chết". Tôi rất cảm kích biết cụ là một nhà Khoa bảng, có lòng yêu nước, đã từng tính theo Vua Hàm Nghi lên biên phòng, nhưng không được đi. Cha tôi mất gia đình tôi đã nghèo càng nghèo hơn, và khổ càng khổ hơn trước. Tất cả lại đè lên vai mẹ tôi và chị hai tôi. Ruộng lúa ngoài đồng đến kỳ gặt hái cũng không gặt được. Gia đình thiếu nợ, mụ Tư Tố cho người cắm vẽ quanh ruộng lúa cha tôi đã làm, không cho mẹ tôi đem về hạt nào để nuôi con.


Năm sau, tôi thi đỗ được mảnh bằng Tiểu học, rồi bỏ học luôn, mặc dù tôi được tiếng là học giỏi và ham học nhất nhì trong làng. Đó cũng là hoàn cảnh xã hội đã buộc tôi phải tìm phương kiếm sống, đánh bật tôi khỏi mảnh đất Kẻ Lừ, tuy không béo bở đối với tôi, nhưng vẫn vô vàn thương nhớ, vì là nơi chôn rau cắt rốn của tôi, và bao đời cha ông tôi. "Dù ta đi đâu cũng nhớ cái làng ta ở, cái chỗ ta sinh. Nhớ đò ngang dưới bến, nhớ trường học với ngôi đình!"


Một câu hát mà thầy tôi đã dạy cho cả lớp hát một bài ca không thể nào quên được.

Kẻ Lừ, cái tên tục của làng Niêm Phò, không rõ xuất xứ từ đâu. Theo cụ Tiểu Cao, ngày trước, quanh làng mọc đầy lau sậy, nên cụ đặt tên là Lô Giang. Nhưng nhiều người cho là ngày trước ngoài nghề làm ruộng còn làm nghề đan lờ, đan đó để đơm bắt cá đồng, từ "lờ" dần dần nói trại ra "lừ", biến thành thói quen lâu đời: "Làng Kẻ Lừ".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:10:27 pm »

CHƯƠNG 2
TÔI ĐI Ở


Cửa Tùng, một nơi nghỉ mát lý tưởng, hồi đó dành cho những vua chúa, quan Tây, quan ta. Lọt thỏm vào hàng chục biệt thự nghỉ mát của thực dân cất theo hai đường đất đỏ ở trên dãy đồi cao, những rặng phi lao xanh mát, chỉ có một chiếc nhà thừa lượng rộng rãi, lợp mái tranh mà thực dân Pháp đã cho cất từ đời Duy Tân để an trí nhà vua trẻ tuổi lúc bấy giờ, vẫn là nhà nghỉ mát cho Bảo Đại, và cách đó không xa, trên mỏm đồi nhìn xuống bãi biển, cái nhà bưu điện nền vuông, có hành lang 3 phía, cạnh sau, ngăn làm 3 phòng ở cho gia đình viên Chủ sự Bưu điện, ông công chức này tên Cáp, người cùng làng, là người chủ đầu tiên mướn tôi làm người giúp việc. Tôi là nhân công 15 tuổi, vị thành niên gọi là có học vấn, dễ sai bảo, mặt mũi sáng sủa, sức khỏe tốt, làm được bất cứ việc gì trong nhà, tiền công rẻ mạt: đúng là một người đầy tớ mà bất cứ ông chủ nào cũng mong ước. Dù là một người giúp việc cho ông Chủ sự Bưu điện, tôi vẫn tự hào là một thành viên trong gia đình cần thiết không ai thay thế được, nên vẫn làm ra vẻ ta đây với tôi tớ trong nhà, với các chú trạm đưa thơ của nhà bưu điện, cùng sống chung trong mấy gian nhà bếp.


Công việc hàng ngày cũng khá vất vả nhưng không nặng nhọc. Buổi sáng dậy trước 5 giờ, kéo 20 thùng nước ở cái giếng sâu 10m lên cho đầy bể cạn, quét dội cái cầu tiêu chung, lên mở 3 cái cửa vào phòng Bưu điện, quét phòng, ngồi trực điện tín (chưa có điện thoại) và ngồi gần ghi-sê (guichet) để bán tem, nhận điện tín, ngân phiếu, phát thư, báo chí và bưu kiện mỗi khi có người tới lãnh. Khách hàng phần đông là người Pháp, nhất là về mùa hè, nên tôi trở thành nhân viên phục vụ đắc lực cho ông Chủ sự, vì tôi đã học tiếng Pháp ở trường lại luôn luôn đem theo bên mình cuốn tự điển Gfuzier, phần thưởng lúc còn đi học, để tra cứu, có khi học thuộc lòng cho thỏa mãn tính hiếu học; Chiều ăn cơm xong, tôi dắt đứa con trai ông Chủ sự đi tắm biển, tối lại đốt đèn, dạy con ông chủ học chữ quốc ngữ. Đêm trải bao tải (dùng đựng bưu kiện) xuống nền nhà, làm đệm êm đánh một giấc đến sáng. Tiền lương được lãnh mỗi năm 5 đồng bạc Đông Dương với một bộ quần áo vải quyến (vải hồ trắng). Tôi cũng không một chút gì thắc mắc, ngược lại vẫn biết ơn nhà chủ biết trọng tôi, cho tôi ngồi ăn cùng mâm như người nhà. Cái tôi cho là sướng nhứt là được làm việc để có mà ăn, ăn khỏi trả tiền cơm, khỏi nhờ mẹ lo cho từng bữa như lúc còn ở nhà. Và mẹ tôi chắc cũng yên tâm về tôi không phải đi mò của, bắt ốc, hái rau, câu cá, ăn cơm bữa đói bữa no. Cái hạnh phúc của tuổi trẻ không cần tìm đâu xa lạ.


Ba năm sống trong gia đình ông Chủ Cáp (1930 - 1933), tôi đã vui vì đã trả ơn được cho chủ, một công chức tận tụy với chức vụ và gia đình. Có một lần ông suýt bị đổi đi Ban Mê Thuột nơi mà chỉ có những người công chức bị "phốt" (faute) mới chịu đày đi đến đó. Nhà Bưu điện, mỗi năm mới có 1 lần quan Thanh tra đến, viên Thanh tra này tên là Martini, người Pháp đảo Corse vốn nghiện thuốc phiện. Y đến làm việc 3 ngày, tất nhiên tôi phải giấu mặt vì không phải là người trong biên chế. May là sổ sách kế toán hàng ngày tôi đều cập nhật không chỗ nào chê được. Hắn đòi ông Cáp phải mua thuốc phiện tím loại nhứt làm quà cho hắn. Nhưng ông Cáp không tìm mua được. Hắn xét tủ sắt thấy có thừa 200 đồng và chiếc xuyến vàng đeo tay. Hắn lập biên bản, kiến nghị tịch thu và đổi ông Cáp đi Ban Mê Thuột. Tối, thấy mặt ông Cáp có vẻ buồn, tôi hỏi mới vỡ lẽ là trong biên bản gởi lên Tổng cục Bưu điện trung ương, bên cạnh cột nhận xét của viên Thanh tra, có một cột dành riêng cho lời khiếu nại của đương sự. Tôi thức suốt đêm đó để điền vào cột khiếu nại bằng tiếng Phập: nêu rõ thái độ hách dịch của Martin với cấp dưới quyền, giải thích số tiền và nữ trang trong tủ sắt là của riêng tư gia đình ông Cáp, vì lẽ tất nhiên ở vùng hẻo lánh này không có chỗ nào an toàn hơn để giữ gìn cho tài sản khỏi bị mất trộm. Tháng sau, Tổng Cục Bưu điện gởi trả lại biên bản, chấp nhận lời khiếu nại của ông Cáp là hợp lý. Uy tín của người "giúp việc" lại được tăng thêm, nhưng tiền công vẫn không thay đổi. Ông Cáp bảo tôi cố gắng làm việc cho tốt đế đủ 18 tuổi ông sẽ cho vào biên chế nhà nước làm nhân viên phát thư (facteur) của ngành Bưu điện. Tôi ậm ừ cho xong chuyện nhưng lòng vẫn không ham, vì nhớ lại một câu ngày trước cha tôi nói lúc thấy tôi chăm chú học tiếng Pháp: "Học cho lắm rồi cũng làm đầy tớ cho hắn mà thôi" (từ "hắn" ám chỉ thực dân Pháp). Dù sao qua sự, việc khiếu nại có kết quả tốt, tôi vẫn phục cách làm việc có nề nếp, trọng lẽ công bằng của Tổng Cục bưu điện Đông Dương hồi đó và cho rằng đó là cái lý do tồn tại lâu dài của một cơ sở kinh doanh có tầm cỡ lớn.


Nhà Bưu điện Cửa Tùng ngoài 3 tháng hè ra, hầu như vắng khách, khách thường xuyên là ông Alfred, nhà hàng bán cơm tây, hai quan chức hải quan Pháp gọi là Tây Đoan. Một lính nhị thừa sai già người Pháp L. Cardière vừa làm Cha xứ họ Di Loan vừa là chủ nhiệm tờ báo "Amis du vieux Huế", các nữ tu dòng Mến Thánh giá cũng dưới quyền cai quản của ông ta. Ngoài ra, hằng tuần cũng có một người trung niên ở làng Xuân Mỵ, bên kia bờ sông Bến Hải, thường mặc áo dài đen, tay cầm cái ô đen đến để nhận một tập báo tiếng Pháp từ bên Pháp gởi về. Tôi đã quên mất tên người ấy.


Tôi thích đọc sách nhưng ở nơi nầy là một thi trấn nhỏ, không tìm đâu ra sách báo để đọc. Nhân một hôm, tập báo của ông khách làng Xuân Mỵ xổ băng, nhìn lại trong gói có 6 tờ Humanité (Nhân Đạo) và 1 tờ Humanité du dimanche (Nhân Đạo chủ nhật) từ tuần trước ở Pháp gởi sang. Tôi giở một tờ ra đọc thấy tin tức bên Pháp cũng hay, nên say sưa với tờ báo, quên đàng trước có ông khách đang nhìn vào. Ngẩng đầu lên thấy ông khách áo đen đang mỉm cười, tôi vội vàng xin lỗi, xếp vội đống báo lấy giây buộc lại trao cho khách, ông khách cười nói nhỏ nhẹ: "Chú em cứ coi đi, hễ báo về thì chú em cứ việc xé băng ra mà đọc. Đọc xong, để lại đó, khi nào anh tới nhận chú em đưa cũng được". Từ đó tôi được dịp tha hồ đọc báo Nhân Đạo, chữ nào không biết, giở cuốn tự điển Gruzier ra tra nghĩa. Mục đích là để biết tin tức bên Pháp và đồng thời trau dồi thêm Pháp văn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:11:28 pm »

Trong những năm 30, báo "Nhân Đạo chủ nhật" của Đảng Cộng sản Pháp đều có phát hành phụ trương nhỏ kèm theo, các phụ trương đó in theo cỡ sách nhỏ, để dành lại, có thể đóng thành sách tuyên truyền bỏ túi. Tôi nhớ rõ có quyển: "La classe et la lutte des classes" (Giai cấp và giai cấp đấu tranh), tập "1" "ABC du communisme" sau nầy đồng chí Hải Triều dịch là chủ nghĩa Cộng sản sơ giải và một sách khác nữa, ví dụ: "Manifeste du parti communiste" (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản) hay "La jeunesse d'avant garde" (Đoàn Thanh niên tiền phong) tên gọi đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp thời đó v.v... Vô hình trung tôi hiểu dần tuy chưa biết về chủ nghĩa Cộng sản, về các khái niệm đấu tranh giai cấp, phân hóa giai cấp, chủ nghĩa Tư bản lũng đoạn, chủ nghĩa thực dân qua sách báo tuyên truyền của Đảng Cộng sản Pháp, bắt đầu hiểu được ý nghĩa các phong trào binh biến Đô Lương, các vụ thực dân Pháp thông qua tên Tuần vũ Tôn Thất Hối khủng bố phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh mà chúng gọi là Cộng sản nổi dậy làm loạn, tất nhiên hiểu còn lắm điểm khá mơ hồ. Ví dụ: tôi hiểu các tầng lớp trung gian không riêng gì tiểu tư sản, mà ở một nước thuộc địa như nước ta, quan lại, tổng lý, thậm chí địa chủ cũng chỉ là tầng lớp trung gian vì họ đều là những kẻ "nằm trên đe dưới búa" mà thôi. Dù hiểu về giai cấp còn nông cạn, nhưng cũng nhờ đọc đi đọc lại nhiều lần nên ý thức dân tộc vốn có truyền thống trong gia đình nung nấu tuổi thanh niên khá sớm... Bọn Pháp ở Cửa Tùng có thói quen đặt mua bánh mì ở Huế, hằng ngày đều gởi theo con đường bưu phẩm ra Cửa Tùng. Hôm đó tờ giấy báo bọc 4 ổ bánh mì rách dọc đường, khi chú Thà phụ trạm mang về rơi đâu mất 1 chỉ còn 3. Hằng ngày tên Phó Đoan, tây lai tên là Jean đến nhà Bưu điện để lãnh bánh, thấy chú Thà đưa cho nó thiếu một ổ, nó tát chú Thà một cái và mắng to bằng tiếng Pháp: "sale race" (nòi giống dơ bẩn). Tôi đang ngồi soạn thơ từ bên trong bàn nghe vậy, liền bật dậy, chống hai tay nhảy qua bàn đứng sững trước mặt thằng Tây hỗn láo, đưa ngón tay điểm vào mặt nó: "Dis donc de quelle race est ta mère?" (này, mầy nói tao nghe, mẹ mầy là nòi giống gì?). Thấy mặt tôi khá giận dữ và thấy câu tôi hỏi sỗ sàng mà có lý, nó rút lui ngay mặc dù nó có đủ quyền lực của một Tây Đoan, gã có súng sáu đeo bên hông...


Ba năm sống ở Cửa Tùng đã giúp tôi lớn lên về thể xác và tinh thần. Tôi đã hiểu thế nào là kiếm sống, thế nào là thân phận tôi đòi, biết rõ mặt mũi từng thằng Tây, thường xuyên tiếp xúc với nó, thấy nó chẳng có gì là ghê gớm lắm, nhứt là về nhận thức. Tôi phải cảm ơn gia đình ông chủ Cáp vì cũng là người dân Kẻ Lừ như tôi. Một chân trời mới đã mở rộng ra: Cách mạng không phải chỉ đóng khung trong một nước. Cửa Tùng không phải chỉ giúp cho tôi nhìn thấy biển cả lần đầu tiên trên đời, mà còn giúp cho tôi thấy cả đại dương cách mạng mà tôi đang lặn hụp trên bãi cát trắng. Cảm ơn người thầy mặc áo dài mang chiếc ô đen mà tôi không còn nhớ tên, nhớ mặt. Lòng tốt con người không bao giờ mất. Trong đời tôi có biết bao người thầy mà tôi đã quên tên!


Đầu năm 1932, do lòng tốt của một người bà con trong họ nhưng ở khác làng nhân đến thăm gia đình tôi, thấy tôi đã lớn, và có sức khỏe tốt, nên giới thiệu cho tôi một chỗ làm mới: chủ là một nhà quyền quí (cháu nội Vĩnh quốc công Nguyễn Hữu Độ) gọi bà Thánh Cung (vợ của vua Đồng Khánh) bằng cô. Mỗi tháng được lãnh 3 đồng tiền công, một cục xà bông "mạc xây" 72 phần đầu, mỗi năm cũng được một bộ quần áo mới. Từ công năm: 5 đồng đến công tháng: 3 đồng kể ra cũng hấp dẫn với con nhà nghèo (hồi đó, lương công nhân lãnh 5 đồng/tháng) ăn cơm nhà chủ khỏi trả tiền. Thấy khá hấp dẫn, mẹ tôi đồng ý, hơn nữa không đi xa khỏi tỉnh nhà, chỉ ở làng Kim Long ngoại thành Huế thôi. Người chủ mới là một nhà quí tộc: ông hương Đồng, cháu đích tôn của quan Khâm sai đại thần kinh lược Bắc kỳ Nguyễn Hữu Độ, cha vợ của vua Đồng Khánh, thay mặt triều đình Huế bên cạnh Thống sứ Bắc Kỳ để cai trị xứ nầy theo định nghĩa là đất được bảo hộ, ngay tại giữa lòng Hà Nội để ra oai, tác phúc với nhân dân miền Bắc. Thực chất chỉ là bù nhìn do phủ Thống sứ giật giây.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:12:11 pm »

Năm 1932, khi tôi bước vào dinh cơ ở Kim Long có cái cổng đề mấy chữ lớn "Vĩnh quốc Công từ môn" thì tôi cũng đã biết rằng Nguyễn Hữu Độ cũng đã chết từ lâu. Cái vườn rộng mấy mẫu trồng cây ăn trái, cây kiểng xum xuê, chỉ là hương hỏa để lại cho Nguyễn Hữu Đồng, người cháu thừa tự của ông ta. Nguyễn Hữu Đồng dốt đặc cán mai vẫn được tập ấm tước "Hồng lô tự khanh" tức là quan "Tứ phẩm triều đình" (cỡ cấp phó Vụ trưởng bây giờ). Bà chủ là con một quan tri phủ, khác chồng ở chỗ tối ngày ngồi đọc cuốn sách chữ nho, sai bảo đầy tớ, phu xe và còn giờ rảnh thì đóng cửa lại đánh ghen với ông chồng có vợ bé giấu ở một đồn điền khác. Hai đứa con: một gái, một trai cũng dốt không kém cha, cần có người kèm cặp. Ông chủ lại có một cậu em vợ thay ông để đi lãnh thầu công việc làm cầu đường của Sở lục lộ (công chánh) Huế. Người ở thường xuyên là một đầy tớ gái chuyên nấu bếp, một anh phu xe lực lưỡng với chiếc xe kéo sơn đen có gọng đồng ở hai căng kéo, một phương tiện đi lại của các quan lớn có bài ngà, một trang sức không thể thiếu trong giao tiếp. Ngày đầu tiên tôi vẫn được giới thiệu là: anh giúp việc. Cồng việc hàng ngày cũng không khác trước: sáng dậy sớm quét sạch 5 căn phủ thờ rộng cỡ 100m2, đi xe đạp khoảng 30km đến công trường chấm công cu-li, chiều về tắm rửa dạy học cho hai đứa con ông chủ, tối ngủ bảo vệ luôn cái phủ thờ rộng rãi có đủ các hương án, ngai vàng... làm chỗ ngồi cho bà Thánh Cung mỗi khi về cúng giỗ cha. Vì là người giúp việc kiêm thầy dạy học cho con; nên tôi đặc cách được ngồi cùng mâm cơm dọn cho hai ông bà chủ. Dù sao cũng đỡ tủi thân vì hằng tháng được lãnh 3 đồng để mua gạo nuôi mẹ và em gái. Hơn nữa, tôi tìm hiểu thêm công việc xây cất cầu đường giúp chủ tính toán lại để tiết kiệm vật tư và có sáng kiến đề xuất với chủ phương pháp ráp cầu Kim Long trên bờ, dùng giây cáp kéo sang bờ kia, rút ngắn thời gian thi công nửa tháng, chủ được thưởng 300 đồng, công nhân được hưởng một bữa cháo vịt. Tôi chẳng được xu nào mà vẫn vui vì được khen hay, thấy mình không phải vô dụng. Vì lo thủ nhà từ đường nên tôi phải học thêm cách têm trầu; mời nước (cho phù hợp với khách quí phái), thắp nhang đốt trầm ở bàn thờ trong các ngày lễ lớn của gia đình do Bộ Lễ tổ chức. Cộng với sức khỏe tốt, vì nhờ thường xuyên luyện tập các bài võ cổ truyền như quyền, roi được học lỏm từ nhỏ, có tính siêng năng, hoạt bát nên được ông bà chủ ưa. Một lần bà Thánh Cung đi chiếc kiệu 8 người khiêng có 2 quạt lông, hai tán vàng đi kèm để dự ngày giỗ của Nguyễn Hữu Độ, bà bước vào phủ thờ, ngồi yên trên chiếc ngai vàng có nệm thêu hình con phượng, vẫy tôi lại gần: "Mi lại đây tao hỏi, mi có muốn vô làm hộ vệ cho ngài Ngự (chỉ Bảo Đại) không?". Tôi khoanh tay trả lời không chút do dự: "Dạ bẩm Ngự, con quê mùa lắm, ở nơi cung cấm không đặng mô, sợ lỡ dại nói năng thất thố, mất đầu!". Bà già cười bộ mặt trát đầy phấn nhăn lại vẫy tay cho lui. Thế là thoát nạn khỏi làm đầy tớ cho nhà vua, mà ở quê tôi bà con thường nguyền rủa hơn là tâng bốc. Hơn nữa hồi đó tôi được tin Bảo Đại đi Đà Lạt ve vãn vợ kỹ sư công chánh Desmaret bị ông này bắn què giò, phải đi máy bay sang Pháp điều trị, phao tin là ngài Ngự đi săn voi bị voi quật què cẳng. Vốn tính cả tin nên tôi sống cuộc đời đầy tớ gần ba năm, hãnh diện vì được ngồi ăn cùng mâm với ông bà chủ, nếu không có một việc đột biến làm thay đổi ngay quan niệm của tôi đối với bà chủ: Hôm đó, chị Nụ, người đầu bếp, còn trẻ bưng mâm cơm lên rồi khoanh tay đứng nhìn, thấy tôi rón rén gắp thức ăn vào chén không dám đưa đũa gắp món ăn ở đằng xa mình, sợ thiếu lễ phép chị bỏ xuống bếp. Chờ tôi ăn xong, bưng mâm xuống bếp chị bảo tôi: "Chắc anh ăn chưa no phải không? Thôi ngồi xuống, nghe tôi nói đây: Anh tội gì ngồi ăn mâm trên để phải đói. Xuống đây, ngồi ăn với tụi tôi có phải sướng hơn không. Nè tôi nói cho anh biết: mỗi lần dọn mâm lên bà chủ cũng biểu tôi xoay dĩa rau muống và nước mắm về phía anh ngồi, còn dĩa thịt luộc và canh thì để ngay trước mặt ông bà, vì họ biết anh lễ phép, không dám với đũa gắp xa đó đa". Như bị gáo nước lạnh dội ngay vào đầu, tất cả những tình cảm dành cho nhà quí phái nầy bỗng tan biến. Tôi đứng lặng, buồn rầu nhìn chị Nụ: "Cảm ơn chị đã cho tôi biết sự thật". Đêm đó dạy xong hai đứa trẻ học bài, tôi cũng ôn lại bài bọc về tình cảm giai cấp mà tôi vừa nhận được lúc ban chiều, lặng lẽ ngồi viết một bức thư dài hai trang giấy "cảm ơn lòng tốt ông bà chủ, vì cuộc sống không cho phép tôi ở lại hầu hạ ông bà chủ được, xin từ giã ông bà và để lại cuốn tự điển Gruzier của tôi tặng lại cho hai em để các em học tốt hơn".


Tôi tin rằng dù bằng lao động chân tay, tôi cũng tìm được cách sống xứng đáng. Biết mình đang thất nghiệp, tôi ôm gói quần áo trong tay, lòng tôi vẫn nhẹ nhàng thanh thản, tin tưởng ở sức mình, ở tương lai...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:13:41 pm »

1935, năm khủng hoảng thất nghiệp. Ở Huế không dễ gì kiếm việc làm. Tôi phải nhờ người bạn của cha tôi là ông Võ Bá Cường gởi gắm đến ông Tham tá Thân Trọng Phát làm chủ công đoạn đường sắt (chef de subdivision) Trung kỳ để xin một chân cu li đường sắt. Ở ga gần không có, tôi được gởi đi Tiên Yên, một ga đường sắt trên sông Bến Hải để nhận việc. Làm cu li kíp lương công nhựt mỗi ngày là 0,18 đồng. Tiên Yên có ga xe lửa, có cầu Kim Môn, đội trưởng kíp làm đường sắt tên Cảnh dưới quyền có Cai Trinh. Tôi rủ Lê Phòng người cùng làng, cố nông cùng đi xin và đều được nhận làm cu li công nhựt. Công nhân của đội, gọi là một kíp có khoảng 20 người, công trường bắt đầu từ ga Đông Hà đến ga Sa Lung. Hễ có chỗ cần dọn cỏ, đắp nền, nắn đường, xiết bù lon thì đội phải kéo đến. Thời giờ bắt đầu từ 5 giờ rưỡi đến 11 giờ rưỡi, chiều 15 - 17 giờ (tổng cộng 10 giờ trên công trường). Công việc đúng là lao động nặng: vác đường sắt, tà vẹt, cuốc chim, nện nền đường, xà beng nạy đường, kềm to để vặn bù lon v.v... Chỉ mới 10 ngày đầu, tôi và anh Lê Phòng là nông dân có sức khỏe (đã quen đạp guồng nước, cuốc đất rang) vẫn nổi rộp phồng da tay, nứt gót chân vì đứng trên đường sắt nung nóng dưới ánh nắng suốt ngày. Tuy vậy, dần dần vẫn quen việc, tôi mượn thêm sách kỹ thuật bảo dưỡng đường sắt của, ông sếp Cảnh để học thêm các bài toán kỹ thuật nắn độ cong đường sắt cho phù hợp với tốc độ đoàn tàu, kỹ thuật ngắm đường v.v... để trau dồi nghề nghiệp thêm. Hằng tháng lãnh lương được 5,40 đồng nếu làm suốt 30 ngày trả tiền cơm 2,40 đồng còn lại 3 đồng gởi về nhà giúp mẹ. Để khỏi rách áo quần, chúng tôi ở trần bận quần đùi để làm dưới ánh nắng. Hồi đó có phong trào đấu tranh của công nhân toàn ngành đường sắt đòi tăng lương công nhân tăng 2 xu/ngày. Cuộc đấu tranh có kết quả chúng tôi được lãnh 0,20 đồng/ngày. Bước đầu hiểu được cuộc sống tập thể và sức mạnh của sự đoàn kết đấu tranh cho miếng cơm, manh áo hằng ngày dù chỉ để kiếm thêm 2 xu nhỏ. Đấu tranh cho sự bất công trong thái độ đối xử hằng ngày giữa Cai kíp với anh em công nhân, dù biết rằng cuộc đấu tranh đó nhiều khi phải chịu thiệt thòi cho bản thân. Tôi còn nhớ rõ: một hôm, anh Khánh người cùng đứng đâu lưng chèn tà vẹt với tôi bị Cai Trinh gây sự, giơ cù nèo định đánh, lấy cớ là Khánh chèn chưa chặt làm ẩu. Nghe tiếng Cai Trinh mắng chửi tôi hiếu ngay lý do: Cai Trinh định trả thù Khánh về canh bạc hồi hôm hắn mượn tiền Khánh, Khánh không cho, nên giờ hắn ra oai. Không nói gì, tôi buông ngay cuốc chim, xoay người lại co chân lấy thế, chỉ ngay vào mặt Cai Trinh: "Mi mà hạ cù nèo xuống là tao cho đá lọt xuống mương ngay đa". Thấy bộ vó tôi khá hùng dũng, hắn rút lui ngay tức tốc đi báo cáo với Đội Cảnh. Tan tầm, Đội Cảnh kêu tôi lại cho tôi nghỉ việc. Tôi bỏ đi không một lời thanh minh. Tôi lại thành thất nghiệp nhưng không buồn chán, vì dù sao tôi cũng học thêm một nghề, hơn nữa trong thời gian làm kíp tôi đã làm quen với một thiếu nữ cũng nghèo như tôi và tôi dự tính về thưa với mẹ hỏi cô: ấy làm vợ. Nhớ lại buổi hẹn hò đầu tiên dưới gầm cầu Tiên Yên ở bờ Bắc. Trên trăng, dưới nước, cảnh khá thơ mộng, chúng tôi cùng dựa lưng vào móng cầu nhìn, xuống sông Bến Hải không nói một lời. Đến khi nghe tiếng gà gáy sáng, giật mình, nàng vụt chạy về: "Thôi chết, em chưa đóng cửa bếp, sợ chủ biết thì khổ thân em". Cô ấy tên Nụ, một cái tên thường đặt cho người con gái để đi ở đợ, chủ dễ kêu, còn tên trong căn cước khai sinh là Phan Thị Tuyết sinh năm 1913 ở làng Mai Xá thị, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Làng đó chỉ là một thôn nhỏ giữa làng Mai Xá rộng lớn có con sông Phương Hàn chạy ra Cửa Việt. Mai Xá thị chỉ có vài chục túp lều tranh, quanh năm làm nghề đánh dậm bắt cá để sống qua ngày. Mẹ cô mất sớm, cha cô ở vậy nuôi ba con. Cô là con cả, em gái gần cô tên Hạnh cũng đi ở đợ trên tỉnh, còn một cậu em út tuổi thiếu nhi. Cha cô, người lùn có tật méo miệng, làm nghề chèo đò. Nuôi sống gia đình nhờ chiếc đò ngang đưa khách sang sông Phương Hàn, một bến đò cách Cửa Việt khoảng 6km. Cả gia đình sống trong một túp lều tranh sát bến đò. Tôi quen Nụ lúc Nụ đi ở cho một người Cai kíp ở bên cầu Tiên Yên, nơi chúng tôi ăn cơm tháng. Trước khi đi ở nhà ông Cai, Nụ đã đợ cho một ông Tây đồn điền tên Rocher có trang trại ở dầu cầu phía Nam cầu Tiên Yên. Nàng cũng có học chữ quốc ngữ nhưng không biết tiếng Tây, hò giã gạo thì giọng rất ấm áp và đối đáp cũng khá nhanh nhẹn. Tôi quen nàng qua một buổi hò đối đáp ở cối gạo nhà ông cai Pháp. Nàng không đẹp, có thể nói là xấu cũng không sai. Nhưng mãi cho đến nay, khi không còn tưởng tượng nổi bộ mặt nàng ra sao nữa, tôi vẫn nhớ kỹ một câu hò nàng kể cho tôi nghe khi hai đứa ngồi chờ đò ở bến đò chợ Chùa trên đường về thăm quê nàng. Nàng kể: "Chèo đò ngang này cũng đáo để lắm, bên kia bến đò có một ông Cố đạo nuôi một anh bồi, hằng ngày sai anh bồi lên tỉnh mua bánh mì và rượu chát về cho ông ăn uống vì ông chỉ ăn cơm tây. Hôm đó anh bồi về thì đò đã tách bến. Anh ta lên giọng kêu đò quay lại. Đò đã ra xa, cô lái đò chần chờ mãi mới cho đò quay lại đón anh ta. Anh ta bước xuống đò, tay xách chai rượu, nách cặp hai ổ bánh mì hùng hổ sấn tới gần cô lái đò, giáng vào má cô gái một cái tát tai: "Mi không biết tao là ai răng? Để tao kêu đò lâu rứa!". Cô lái đò biết anh bồi cậy thế ông Cố đạo nên im thin thít. Đò vừa ra giữa sông, cô lái đò cất cao giọng hò mái đẩy: "Ôi anh ơi, quốc gia thủy thổ anh đây, anh ham chi hai ổ bánh mì, giang tay đánh thiếp, khổ làm ri hỡi trời!". Cả đò đều nhìn vào mặt anh bồi, anh bồi cúi gằm mặt không dám ngừng nhìn ai cả. Câu chuyện ở bến đò chợ Chùa từ năm xưa vẫn còn mãi đến hôm nay (đã hơn nửa thế kỷ)
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM