Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:21:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7837 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #10 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:14:29 pm »

Tôi chỉ đến Phương Hàn được vài tuần, nên không biết rõ về gia đình bên nhà gái. Ông già cô Nụ tính tình chất phác, bộc trực nhưng thương con và chàng rể tương lai. Tôi nhớ lần đầu tôi khom lưng bước vào túp lều thì đằng sau lưng cả đám chàng trai làng đi theo muốn gây sự. Tôi không sợ đám đông ấy vì biết mình thừa sức đánh lại nếu có đứa làm càn. Tôi vừa bước vào nền nhà bỗng có người sấn lại, cầm tay trái tôi kéo ra sân. Tôi trụ mình xuống, đưa ngay bàn tay phải lên phạt dọc cánh tay trái, thế là thoát, ông già vội đến sập các liếp cửa xuống để cho tôi khỏi bị tấn công. Tôi hỏi ngay cô Nụ: "Ở đây có ai là Tộc trưởng không, em mời đến ngay cho anh gặp". Ông già lách ra một lát sau dẫn về một ông già đầu bạc. Tôi rót rượu mời cụ rồi lễ phép khoanh tay thưa gởi nhờ cụ che chở. Cụ gật đầu biểu chống cửa lên. Bọn thanh niên không còn nữa. Tôi yên lòng ở lại vài ngày rồi trở về làng, thưa với mẹ đem trầu cau đến hỏi vợ. Cũng có trầu cau nhưng lễ cưới cũng đơn giản cha mẹ đôi bên có gặp nhau, không cần cỗ bàn, khách khứa, thế là yên bề gia thất. Nụ về quê chồng, hằng ngày vẫn gánh hàng ra chợ bán kiếm sống. Tôi được anh Vịnh giới thiệu sang Huế làm bồi cho Linh mục JB Thích, con thứ hai của cụ Thượng Mại, mỗi tháng được 7 đồng, ăn cơm với bồi bếp trường Providence, nơi Cha Thích ở và dạy học. Mỗi tuần chiều thứ bảy lội bộ về nhà. Ăn ở với nhau hơn một năm, Nụ sinh được con trai đầu lòng. Cả nhà đều vui mừng vì đã có người nối dõi. Nhà nghèo không có buồng riêng. Mẹ tôi cùng tôi tạo dọn cái chuồng heo bỏ trống sau bếp cạnh gốc cây mít bên rào nhà hàng xóm làm nơi ở cữ. Mẹ tôi làm bà mụ, có quần cũ làm tã lót và cái nôi đan bằng tre cật nứa mây cả hàng chục năm còn gác trên giàn bếp sau khi mẹ tôi sinh xong cô Hợi em tôi, được đem xuống lau chùi sạch sẽ để làm nôi cho đứa cháu đích tôn. Chưa đầy hai tuần, Nụ đã dậy gánh hàng xén ra chợ bán để kiếm thêm tiền chợ. Tiền lương của tôi được 7 đồng tôi mua 7 hộp sữa cho con, còn lại 3 đồng rưỡi phụ mẹ tôi để mua gạo. Con trai tôi èo uột thuộc loại suy dinh dưỡng, vợ tôi không đủ sữa cho con bú. Tôi biết vậy nên không dám làm gì sứt mẻ đồng lương và cũng không nói ra cho ai biết đồng lương và nghề nghiệp của mình, một loại ở đợ với danh nghĩa con nuôi Cha cố, một chức nghiệp chẳng có gì phô trương. Chúng tôi sống nghèo mà vẫn vui như vậy cho đến một ngày: đó là một chiều thứ bảy, tôi vừa cuốc bộ 12km từ Huế về làng, vừa bước chân vào ngõ đã nghe tiếng cãi vã trong nhà. Mẹ tôi đang mắng vợ tôi, tôi nhanh chân bước tới thấy mẹ tội và vợ tôi đang giằng nhau cây tre chống cửa. Tôi hỏi, em gái tôi nói: "Chiều mô đi chợ về cũng rứa cả". Tôi bước lại gần Nụ quát to: "Em nhịn mẹ không đặng à!". Nụ làm thinh. Tôi đến gần bên mẹ tôi đang ru thằng con tôi ngủ. "Mẹ nuôi cháu không có sữa đặng không?" Mẹ tôi bảo "Cháu tao tao nuôi, không bỏ cho ai nuôi cả". Đêm đó, cân nhắc bên hiếu, bên tình, tôi thảo tờ ly hôn đưa cho Nụ: "Em đọc xong suy nghĩ rồi ký tên vào". Nụ chỉ thắc mắc ra đi lấy chồng thì cả chồng và mẹ chồng đều đến tận nhà rước dâu, nay bỏ nhà chồng trở về một mình sợ cha không nhận nữa. Tôi nói cho Nụ rõ: "Nếu Nụ thuận ly hôn, tôi sẽ đích thân dẫn về nhà giao lại cho thầy, đừng sợ". Hôm sau thức dậy, Nụ giao cho tôi tờ thuận ly hôn có ký tên cả hai vợ chồng. Tôi hẹn Nụ sang gặp Cha Thích xin phép rồi trở về đưa nàng về quê. Hành trang lúc đi lấy chồng cũng như khi trở về nhà cũ vẫn không có gì khác nhau, không đầy một khăn gói buộc chéo quàng vai, nhờ tôi mang giúp. Chúng tôi dậy sớm nấu cơm bới đầy một mo cau, cùng nhau lên ga Văn Xá mua vé tàu đến ga Đông Hà, theo đường hỏa, đi xa bộ một quãng tìm một cái cống có bóng mát, dỡ mo cơm bới ra cùng ăn với muối mè. Bữa cơm cuối cùng chúng tôi ăn chung với nhau, không nói điều gì xúc phạm nhau thêm nữa. Xong bữa cơm, chúng tôi cùng nhau men theo bờ con sông Cửa Việt về làng Phương Hàn. Tôi biết việc đưa nàng về quê sẽ gặp nhiều phản ứng về phía ông bố vợ. Tôi sẽ trình bày không giấu giếm hoàn cảnh cơ cực của gia đình và chờ ông già cho ý kiến và sẵn sàng chịu một cây tre chống cửa vào đầu. Chúng tôi đang ở đầu làng Mai Xá chỉ còn 2km sẽ đến bến đò Phương Hàn. Gió đồng thổi lộng, trời nắng chang chang. Nàng bỗng cầm tay tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi nói rõ: "Thôi chúng mình chia tay nhau nơi đây, anh khỏi cần đưa em về nhà nữa. Anh về nhà thì thầy em đánh anh đến chết thôi. Anh ráng làm có tiền để nuôi con". Tôi hỏi: "Ở làng em có người yêu không?". "Có, anh ấy tên Sanh là giáo viên". Dù sao lấy chồng người làng vẫn tốt hơn, tôi kết luận. Bất thần tôi ôm nàng vào hai tay, ôm hôn thắm thiết. Chúng tôi đã gặp nhau không một lời thề thốt, hẹn hò, không kịp có một cái hôn say đắm thì nàng đã chạy biến về nhà lo đóng cửa bếp. Bây giờ xa nhau chẳng lẽ không để cho nhau dư vị một nụ hôn? Nàng đã lấy chồng không một đôi bông tai của chồng để làm của riêng, ra đi để lại cho nhà chồng một đứa con trai để nối dõi tông đường, thế là quá đủ. Phận gái 12 bến nước, gặp bến đục, phải chọn bến trong hơn. Thế thôi.


Sau này tôi có hỏi thăm biết rằng nàng đã có chồng, có con, tôi không mong gì hơn nữa. Tôi trở về nhà ngay theo chuyến tàu đêm. Nhìn đứa con trai còn nằm ngủ trên chiếc nôi ngon lành, mẹ tôi vẫn thức ru cháu. Tôi không nói gì. Mẹ tôi vẫn không hỏi tôi kết quả chuyến đi. Thằng con trai vẫn không hay biết gì về mẹ nó. Nó đang ngủ say và dù thức dậy cũng thế thôi. Nó mới 4 tháng rưỡi, bú sữa bò, thiếu ăn, thiếu thuốc và thiếu cả tình thương của mẹ cha!


Từ năm 1930 đến 1935, tôi đã lớn lên về thể xác cũng như về tinh thần đủ sức đương đầu với những khó khăn thử thách, nghèo khổ và thất nghiệp. Cuộc sống còn lắm khó khăn, nhưng tôi vẫn tin vào sức mình, vào bạn bè, vào làng xóm quê hương.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #11 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:16:48 pm »

CHƯƠNG 3
TÔI LÀM BÁO


1936...

Khủng hoảng và thất nghiệp, mất mùa và đói kém ở khắp nơi! Tôi sống trong khung cảnh ấy từ nhỏ đến lớn, nên cũng quEn, không thấy buồn tủi khi bị mất việc. Vả chăng lao động nặng nề 10 tiếng một ngày vất vả hơn cả nông dân trên đồng ruộng, mà chỉ lãnh được 0,20 Đồng một ngày công thì khó nuôi được gia đình. Phải tìm cách khác để sinh sống, miễn đừng làm đầy tớ cho người khác. Sẵn có năng khiếu từ nhỏ, quen học người lớn đan dát, tôi xin ông cậu ruột một cây tre, tự chẻ ra vót nan đan một chiếc ghe câu vừa một người ngồi, mua sắm chỉ và lưỡi câu để làm hai cần câu đi câu cá trên sông Bồ, góp phần cùng gia đình để sống qua ngày. Một hôm, anh Vịnh ở Huế về thăm. Tôi biết anh đã đi hoạt động Cách mạng từ mấy năm trước, nhờ ông Cha Thích (con cụ Tiểu Cao người cùng làng) xin cho một chân bồi trường Thiên Hựu (Providence) để có bình phong hoạt động ở Huế. Thấy hoàn cảnh tôi không có việc làm, sống lây lất, nên bảo tôi sang Huế, anh sẽ giới thiệu với ông Cha Thích để làm bồi thay anh, trước là để tôi có tiền lương ổn định, sau là để anh rảnh chân chạy lo công việc. Tôi hiểu ý anh nên theo anh.


Linh mục JM Thích là người con thứ hai cụ Tiểu Cao, bỏ nhà quan, theo nhà thờ, lúc nhỏ học trường Dòng, lớn lên vào Chủng Viện, được Giáo Hội đào tạo thành Linh Mục Thiên Chúa giáo. Linh mục Thích vốn biết cha tôi, nên nhận lời ngay. Thế là từ một anh cu li thất nghiệp, tôi trở thành một người bồi phòng cho trường Thiên Hựu mà Cha Thích, giảng viên Triết học trường tư thục Thiên Hựu, thuộc dòng Thừa Sai Pháp. Công việc hàng ngày cũng nhàn hạ hơn làm công nhân. Dọn phòng cho Cha Thích và tiếp tay với anh em bồi bếp khác khi làm tổng vệ sinh toàn trường. Tôi được Cha Thích cho mỗi tháng 7 đồng để nuôi mẹ, nuôi con, nuôi em. Hàng tháng tôi trích 3 đồng 50 để mua 7 hộp sữa Nestlé còn hơn 3 đồng đem về nhà cho mẹ mua gạo. Nhà trường cho ăn cơm chung với bồi bếp, khỏi trả tiền cơm. Trường Thiên Hựu là một trường có hai tầng lầu được khá khang trang so sánh với tất cả các trường tư thục khác của kinh thành Huế. Giáo viên hầu hết là các Linh mục, Thừa sai Pháp. Chỉ có Cha Thích và ông Tạ Quang Bửu là giáo viên người Việt. Mỗi người đều có phòng ở riêng trên lầu hai. Tôi ở ngay trên cái chuồng cu nằm ngay đầu cầu thang nhìn ra sân thượng, rất thoáng mát, được nhìn bao quát bọn phía chân trời kinh thành Huế.


Tôi lại có điều kiện để rèn luyện thêm thân thể và tự học Pháp văn, vì sẵn có thư viện nhà trường, tha hồ đọc sách. Cũng tại trường Thiên Hựu này, tôi được đọc bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp, Tư bản luận của Mác-Engel, Nguyễn Ái Quốc, sách bằng tiếng Pháp. Nhờ tình cờ lọt thân vào giữa đống sách Triết học và Thần học của Aristote, của St Thomas d'Aquin, của St Augustin trong tủ sách Cha Thích. Ở đây, sách cấm không bị mật thám dòm ngó tới. Tính hiếu học là vốn cổ truyền của cha ông gieo lại cho tôi nên phần nào đó, tôi được thỏa mãn, không mất tiền, không sợ bị lộ.


Năm 1936, cũng là năm ở Pháp có phong trào Chính phủ Bình dân lên cầm quyền, chính sách thuộc địa của Pháp cũng buộc phải nới rộng hơn: cho phép tự do xuất bản báo chí ở Huế. Phía Cộng sản cho xuất bản tờ "Nhành lúa". Ngày 15/1/1937, tờ "Nhành lúa" ra đời. Lúc đó có các đồng chí Phan Đăng Lưu, Hải Triều, Tố Hữu chủ trương. Nguyễn Xuân Lữ làm chủ nhiệm. Phía Công giáo, do Linh mục Thích chủ trương, cũng xin xuất bản tờ "Vì Chúa". Hai tờ báo có hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, trớ trêu thay lại có chung một trụ sở trong ngôi nhà trệt, cất hình chữ L ở góc đường An Cựu, cạnh trường Thiên Hựu. Một cánh về phía trường Thiên Hựu là tòa soạn báo "Vì Chúa", cánh bên kia nhìn ra đường cái là tòa soạn báo "Nhành lúa". Ban biên tập báo, "Vì Chúa" chỉ có mấy người: ông Cảnh, một ông Công giáo tư sản bán nước mắm, có nhà ở phủ Cam làm Chủ nhiệm, chịu bỏ vốn ra để có tên tuổi trên báo, không viết được bài nào. Linh mục Thích là Chủ bút. Tòa soạn có hai anh: Cương Minh, quê ở Thanh Hóa, phụ trách bình luận thời sự quốc tế, Bùi Tuân, gốc Bình Định làm nhiệm vụ phóng viên, và một thư ký đánh máy Nguyễn Quí Biền, người Quảng Bình. Tôi đang làm bồi dọn phòng, bỗng nhiên Cha Thích đưa tôi một bài báo tiếng Pháp, trích trong tờ báo "La Croix" (Thập tự) biểu tôi dịch ra một đoạn ngắn không đầy nửa cột báo. Tôi dịch xong, Cha Thích nhìn tôi khen: "Con viết được đó. Thôi từ mai, con khỏi làm bồi ở trường nữa. Con chuyển sang làm báo đi. Về nhà ông Cảnh mà ở, lương vẫn 7 đồng/tháng, ăn ở luôn nhà Chủ nhiệm báo". Tôi mừng rơn, vì được thoát khỏi chân bồi, trở thành nhà báo, một trí thức "ngang hông". Cha Thích giới thiệu tôi vào Đoàn Hướng đạo sinh (Routier) Lý Thường Kiệt, ở đó chỉ toàn là công chức, thừa phái làm việc cho Chính phủ Nam Triều. Tôi được dịp tìm hiểu thêm về phong trào Hướng đạo sinh và thực tế chỉ sinh hoạt có hai lần. Một lần họp ở Thành Hội do anh Trần Thanh Đạm là huynh trưởng, một lần đi cắm trại ở Bạch Mã do Cha Thích hướng dẫn. Tôi làm thêm về kỹ thuật cắm trại và làm trinh sát của hướng đạo sinh, nhưng vẫn thấy mình lạc lõng giữa đám đông con ông cháu cha, thầy thông, thầy ký.


Dù sao biết thêm một số kiến thức về hoạt động trinh sát và khi cắm trại ngoài trời cũng có ích cho một thanh niên ham thích hoạt động xã hội. Nói cho công bằng, tờ báo "Vì Chúa" cũng là một tờ báo thuần túy theo giáo lý Công giáo và Linh mục Thích là một bậc tu sĩ thuần túy có lòng thương người theo kiểu Giám mục Bienvenue trong tác phẩm "Những người khốn khổ" (Les misérables) của Victor Hugo, ông không muốn làm chính trị, nhưng chính ông lại là người đã viết cuốn sách "Mặt nạ Cộng sản", mà hồi đó, tôi đọc cũng đã tỏ ý không tán thành rồi. Trong cuốn đó, tôi nhớ một chuyện mà tôi đã phản ứng. Chuyện kể về một nữ giáo viên Liên Xô, trong giờ dạy về tình dục, đã bị một học sinh cưỡng dâm tại lớp. Đọc xong, tôi hỏi: "Cha đi Nga bao giờ mà biết chuyện đó?" Cha Thích giải thích: "Thì mình cũng dịch theo báo La Croix đã đăng!". Tôi bảo: "Con không tin". Ông lặng thinh. Nhưng có một lần, chừng vào năm 1939, viên toàn quyền Decoux ghé thăm Tiểu Chủng Viện An ninh, đã gặp Cha Thích. Sau cuộc gặp đó, Cha Thích nói với tôi: "Decoux nó muốn cho báo mình 10.000 đồng, nhưng mình không nhận, mình không muốn làm chính trị, chỉ muốn viết báo "Vì Chúa" mà thôi".


Bắt đầu viết báo, nhờ tủ sách của Cha Thích, tôi có cơ sở để tìm hiểu về chủ nghĩa Cộng sản và phong trào chống thực dân đế quốc, lẫn đạo lý Thiên Chúa giáo và Giáo hội Vatican, nhận thức vẫn còn quá nông cạn, chưa đủ để tranh luận, phân biệt chân lý, nhưng vẫn thừa nhận, tuy chống Cộng về tư tưởng, Cha Thích vẫn lấy quan điểm "Mến Chúa. Yêu người" mục đích cuộc sống cho đến trọn đời, và chưa bao giờ thấy ông ta lên tiếng bài bác các nhà làm Cách mạng cả. Tết năm 1940, ông còn lấy 15 đồng tiền của con chiên xin Cha làm lễ, biểu tôi đem biếu cụ Phan Bội Châu, nhân lúc gần đây Cụ túng thiếu vì số người gửi tiền ủng hộ Cụ đăng trên báo "Tiếng Dân" ngày càng thưa dần.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #12 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:18:46 pm »

Từ ngày vợ đầu ly hôn, để lại đứa con 4 tháng tuổi cho mẹ tôi nuôi, tôi đi làm ở Huế, hằng tuần vẫn về thăm nhà. Một năm sau, tôi gặp lại người mà cha mẹ tôi đã chọn cho tôi hồi còn nhỏ. Người con gái cùng quê đó là Võ Thị Tường, gọi là "Chắc con", con gái út vợ kế của ông Võ Bá Cường, thường gọi là Lý Cường, bạn của ba tôi, người đã giúp xin việc cho tôi đi làm phu kíp. "Chắc con" lớn hơn tôi hai tuổi, lúc gặp thì đã có đứa con trai với anh Nguyễn Văn Bức, con nhà giàu. Gia đình là bà giáo Hoàng, mẹ của Bức, không đồng ý vì lẽ không môn đăng hộ đối, không cưới. "Chắc con" về với gia đình, ở nhờ nhà ông anh ruột, là anh Võ Hòa, làm thơ ký Sở Trường Tiền.


Tôi gặp "Chắc con", thấy hoàn cảnh ấy, nên "cạp lại rổ rá" giúp nhau đỡ khổ trong cuộc sống, vì đôi bên đều nghèo như nhau. Tất nhiên không cần làm đám cưới, nhưng vẫn xin giấy Giá thú ở làng. Viên Hương Kiểm (tôi nhớ như là Kiểm Lẫm) nhà ở xóm Đình, bắt tôi phải biện đủ một chai rượu, một mâm trầu cau và 0,20 đồng lệ phí mới cấp giấy kết hôn. Tôi bàn với vợ, tụi mình lấy nhau, đã có con với nhau rồi, dù không giấy tờ cũng không ai bắt mình phải xa nhau, không cần phải biện lễ cho ai hết. Thế là xong chuyện. Ông nhạc tôi đặt tên cho đứa con trai cháu ngoại, lấy họ tôi: Trần Phụ Nguyên. Tôi chỉ xin sửa lại chữ lót: Trần Anh Nguyên, ý muốn cho đứa con lớn lên sẽ là anh của đứa con tôi với Nụ là Dũng. Và mong cả hai con sau này trở nên người anh dũng để góp sức với đời. "Chắc con" từ khi mang tai tiếng với Bức, bây giờ lại đem con về làng ở chung với mẹ ruột, bà nhạc tôi, cùng một họ với tôi. Có thêm vợ con, tôi phải kiếm thêm việc làm để nuôi sống những miệng ăn mới. Tôi xin làm "thầy cò", tức là thợ sửa bản in nháp (correcteur de morasse) cho tờ nguyệt san "Giáo dục Tạp chí" của Bộ Học (Giáo dục) Chính phủ Nam Triều, do ông Nguyễn Khoa Toàn, Tham tri, làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, lại làm thêm Phóng viên thường trú cho tờ báo: "Tin Mới" ở Hà Nội, do bác sĩ Nguyễn Tấn Gi - Trọng làm Chủ bút. Thế vẫn không đủ sống, vẫn sống quen nếp sống ở thành thị, quên mất cuộc sống chân lấm tay bùn,; nên tôi phải tìm thêm việc cho vợ tôi, chẻ nan, đan sáo để bán lại cho Cha Thích, vẽ tranh tứ bình, một phần để tiêu khiển, một phần để giúp cho vợ tôi có công ăn việc làm. Tôi ghi nhớ công ơn của người cha đỡ đầu. Có một bận, gia đình hết gạo ăn, tiền tháng tôi đưa về cho cả hai gia đình là 60 đồng, vợ tôi nướng sạch trong một sòng tài bàn náo đó. Tôi túng quá, phải làm liều. Tuy viết báo hằng ngày tôi vẫn chăm lo dọn phòng cho Cha Thích, ăn cơm chung với Cha, nên biết rõ trong tủ Cha còn để dành một xấp nhiễu màu tím của một con chiên biếu Cha. Cha để dành sau nầy nếu được phong Giám mục thì sẽ may áo. Tôi dọn tủ rồi đánh cắp xấp nhiễu đưa cho vợ tôi về bán để mua gạo. Tối giấu luôn cái tội trọng đó. Mấy tháng sau, nhân một ngày lễ tụng nào đó. Cha Thích mở tủ không thấy xấp vải hỏi tôi, tôi phải thú thật. Vị Linh mục đáng kính ấy chỉ nhìn tôi, thông cảm, không nói một lời. Chuyện đó làm tôi nhớ lại thái độ của Giám mục Bienvenue, khi thấy cái chân đèn bạc bị lấy cắp. Khác với ông Chủ bút, ông Chủ nhiệm Cảnh, một con chiên gọi là ngoan đạo, sáng nào cũng rước Chúa vào lòng tại lễ sớm Nhà thờ Phủ Cam thì được Bùi Tuân đặt cho cái biệt hiệu "Tartuffe", một nhân vật đạo đức giả của Molière. Tôi ở trong nhà ông ta, nên cũng đồng tình với nhận định đó. Điều kỳ lạ là buổi chiều, hai vợ chồng cãi vã vì chuyện ông Cảnh tằng tịu với người tớ gái, thì sáng hôm sau, ông Cảnh vẫn quì gối trước bàn nguyện, hít hà đọc kinh, đấm ngực và lên rước Chúa vào lòng. Bản tính hay tò mò, lại được huấn luyện về thủ đoạn trinh sát của Hướng đạo sinh, tôi thấy ngay trong trường Thiên Hựu cũng có hiện tượng đáng theo dõi. Một Linh mục Thừa sai, rậm râu nhưng tuổi còn trẻ, giáo viên nhà trường tên là Douchet, có một chiếc xe hơi riêng, do gia đình bên Pháp gửi cho, đến cuối tuần, tự lái xe lên Phủ Cam, đón một cô gái gia đình có đạo, chở đi chơi đến tận khuya mới về. Sáng sớm hôm sau, tôi vẫn thấy vị Linh mục trẻ tuổi ấy, vẫn mặc áo lễ, vào nhà thờ làm lễ Chúa không chút ngần ngại. Tôi đem thắc mắc lên hỏi Cha Thích, Cha cau mày, nhưng vẫn nghiêm trang đáp: "Không sao cả, nếu họ có tội biết ăn năn hối cải thì Chúa vẫn tha tội cho họ". Vì đã có nghiên cứu giáo lý, nên tôi hỏi nhẹ: "Nhưng họ đâu có thì giờ để dí xưng tội mà được tha?" - "Trong trường hợp nào đó, họ có thể rước lễ trước, xưng tội sau vẫn được". Không nói ra, nhưng tôi thầm nghĩ: "Thế là Chúa vẫn dễ bị con chiên qua mặt. Hay là điều lệ Giáo hội vẫn có khoản để bao che cho tín đồ?".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #13 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:19:51 pm »

Tôi còn nhớ mãi câu chuyện tôi được giải nhất trong cuộc thi ca do báo "Vì Chúa" tổ chức, vào đầu năm 1938. Ban Giám khảo do nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm chủ khảo. Tôi viết một bài ca "Nam Bình", nhan đề "Maria cầu Mẹ" được giải nhất. Tôi hớn hở bước vào văn phòng tòa soạn để lãnh giải. Ông Cảnh bắt tay tôi chúc mừng và trao cho tôi chiếc lộc bình (lọ hoa) bằng đồng là giải thưởng. Tôi ôm cái bình cổ vừa bước ra khỏi cửa tòa soạn, thì bỗng đâu bà vợ chủ nhiệm chặn lại, nói với tôi giọng con buôn: "Này anh Hiến! Anh nhà tranh vách đất đem cái ni về chưng ở mô? Thôi, để lại cho tôi. Tôi cho anh 15 đồng, về mua gạo mà ăn, còn hơn". Tôi bực mình chần chờ một lát, suy nghĩ lại cũng đúng, đành chịu. Dù sao, cũng phải thừa nhận bà ta hiểu đúng tim đen mình. Hai ông bà chủ nhiệm chắc đã bàn bạc kỹ trước khi trao tặng phẩm cho người trúng giải. Chúa ở trên trời đâu biết những ngóc ngách nầy của con người trần thế!


Trong những bạn cùng tòa soạn, tôi còn ghi nhớ mãi những nét tính cách từng người viết báo "Vì Chúa", nhưng không một ai bán nước hại dân.

Tôi nhớ anh Bùi Tuân, một phóng viên khá sắc sảo, nhà nghèo, không nhà, hai vợ chồng sống dưới chiếc đò dưới cầu Phủ Cam. Anh ta có đạo, nhưng không ngần ngại đặt tên cho chủ nhiệm Cảnh là "Tartuffe" (đạo đức giả) mà không sợ tôi nói hành. Có một lần, năm 1939, Tuân đại diện cho báo đến dự cuộc họp, do Sogny triệu tập các báo ở Huế, để bắt các báo vận động đồng bào đi lính cho Pháp để đánh đuổi quân Xiêm (Thái Lan) đang gây hấn ở Đông Dương. Đi họp về, Tuân kể lại: "Các báo không nói gì, chỉ riêng cụ Huỳnh Thúc Kháng ở báo "Tiếng Dân" lên tiếng: "Quân Xiêm có đánh Đông Dương thì nước Pháp mới có đủ quân lính súng đạn để đánh lại, còn người Việt Nam chúng tôi, đến cái rựa, cái mác cũng không có đủ dùng, lấy chi mà chống lại nó". Đó cũng là tâm trạng chung của giới cầm bút. Hồi đó phóng viên Cường Minh vô thần, không vợ, không con. Lấy bàn viết làm giường ngủ, lấy tình bạn làm thú vui, chuyên bình luận thời sự quốc tế. Năm 1939, cũng là năm chủ nghĩa phá xít hoành hành ở châu Âu: Đức tấn công Pháp, ở châu Á Nhật đang xâm lược Trung Quốc; Cường Minh đã có một lời nhận xét khá sắc sảo: "Cái hiểm họa của thế giới, suy rộng ra là tinh thần chủng tộc, thu hẹp lại là nghĩ mình hơn mọi người!". Cũng trong năm, Cường Minh đã từ giã cái thế giới đầy hiểm họa này, nhưng câu nói đó đã theo tôi suốt cả cuộc đời, như một phương ngôn. Chúng tôi đã lo cho anh yên nghỉ dưới chân núi Ngự Bình, và thay lời điếu văn, đã có hai bài thơ ngắn khóc anh trên tờ "Vì Chúa" trang nhất, nơi trang trọng nhất.


Trong số cộng tác viên, có anh Trần Ngọc Giao, người Bình Định, tuổi trẻ, có một vợ, một con, cũng vô thần và vô sản, anh cũng mất ở Huế, và chúng tôi đã góp tiền để tiễn gia đình anh trở về quê. Tuy đau ốm, anh vẫn cố viết cho báo. Tôi nhớ mãi hai bài thơ tứ tuyệt cuối cùng của anh đả kích bọn tham nhũng, hồi đó chúng tôi gọi là lũ tham quan ô lại. Hai bài thơ ấy, đến nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi:

      VỊNH ĐAU BỤNG
   Nào có ăn gì sung sướng đâu!
   ........
   Cơm thì xoàng xĩnh cháo cùng rau,
   Cớ sao bụng vẫn sinh đau nhỉ?
   Đến nỗi mày nhăn, mặt phải cau?!
   .........
   Đến nỗi mày nhăn mặt phải cau!
   Bất bình trời hỡi! Cớ làm sao?
   Những phường ăn bẩn ních đầy bụng,
   Sao chẳng làm cho chúng nó đau!



Hai bài thơ ấy cũng được đăng trang nhất của tờ báo "Vì Chúa".

Với danh nghĩa là con nuôi Cha Thích, tôi dọn phòng ngủ cho cha và được ăn cơm chung với Cha khỏi trả tiền. Là một nhà báo, tôi lo sắp xếp bài vở qua lại tòa soạn và nhà in "Viễn đệ" làm việc như một thơ ký tòa soạn thực thụ, nên được trả lương cao hơn các phóng viên khác. Viết bài cho báo, tôi chọn ngay cái bút danh là "Học Trai", cái biệt hiệu mà cha tôi đã đặt cho tôi lúc còn đi học.


Nghề viết báo đa dạng, khi thiếu thơ thì làm thơ, khi vắng bài thời sự thì tổng hợp tin tức để viết, có khi chen vào viết truyện dài, vì tác giả ốm, nằm bịnh viện. Thông thường khi dịch đăng những bài của báo "La Croix" tờ báo Công giáo của Pháp, chủ yếu là tờ "Nhân đạo" (Humanité), nên tôi đã có những bài viết khá thú vị, đến nay tôi còn tâm đắc. Lục trong tủ sách Cha Thích có cuốn "L'Orgine du monde" (Nguồn gốc thế giới). Giải thích quả đất hình thành từ một đám tinh vân, tác giả là một tu sĩ người Anh ở thế kỷ 17, được các báo chí tiến bộ đánh giá là một nhà triết học theo học thuyết Darwin, có xu hướng duy vật lịch sử, tôi dịch đăng luôn trên tờ "Vì Chúa" liên tiếp hàng chục số. Cha Thích không phản đối. Dù sao tác giả cũng là một tu sĩ Thiên chúa giáo, lấy từ nhan đề ở Mỹ vạch trần hàng tá bọn chủ tư sản.


Một bài báo nhan đề "Lịch sử cây đèn dầu Hoa Kỳ" bóc trần thực chất thủ đoạn bóc lột nhân dân Đông Dương của tập đoàn tư bản lũng đoạn dầu lửa của Rockefeller, thông qua các hãng Shell và Mobiloil chủ yếu là lấy nội dung từ một bài báo "Hunanité du Dimanche" kết hợp với thực tế cuộc sống ở vùng nông thôn quê nhà. Bài ấy được tờ báo Lao Động (báo của Đảng) hồi ấy xuất bản tại Hải Phòng, đăng lại nguyên văn choán cả trang ba. Đó là một vinh dự bất ngờ mà tôi không dám đem khoe. Ngoài ra, để hưởng ứng phong trào chống bọn tham nhũng và bọn mật thám Pháp, tôi đã viết một bài "Cuộc đời con chó săn" và một bài "Cải vòng luẩn quẩn của hai chai bia" dưới dạng trào phúng (Nhân cơ hội tòa soạn báo "Vì Chúa" dọn theo Cha Thích ra ở Tiểu Chủng Viện An Ninh thuộc phủ Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị). Bài sau này tôi giấu tên thật, nhưng không biết do một thủ đoạn nào đó, viên tri phủ Vĩnh Linh, người bị đả kích trong cốt truyện đã biết ngay tôi là tác giả, gởi trát đòi tôi hầu tòa, hăm dọa bỏ tù "mọt gông". Tôi vẫn bình tĩnh với một lập luận đanh thép để tự bào chữa: "Đúng là bài cùa tôi viết, nội dung câu chuyện cũng có thật, nhưng tôi không nêu tên quan. Nay quan phủ bỏ tù tôi, hóa ra làm cái việc "Lạy ông tôi ở bụi này" sao? Phiền thật, nhưng không phải cho tôi, mà cho thanh danh của ngài đó!". Trần Mậu Trinh, viên tri phủ Vĩnh Linh, quen ăn hối lộ mỗi lá đơn là 0,20 đồng kèm hai chai bia "con cọp", buộc phải để tôi ra về thong dong với một lời tiễn không dễ lọt tai mấy: "Đồ xỏ lá!". Nghe đâu, Trần Mậu Trinh, sau này, năm 1945, đã bị nhân dân Vĩnh Linh xử tội tử hình. Đúng là với những kẻ tham ô, công luận phải được kết thúc bằng công lý. Tin ấy do cụ Duyên, ông thầy đờn, chú của nữ nghệ sĩ nhân dân Châu Loan cho biết, lúc hai chú cháu ra hội diễn ở Nhà hát Nhân dân Hà Nội năm 1957.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #14 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:22:14 pm »

Từ năm 1940, vì cuộc sống của gia đình, tôi phải chữa bản nháp cho tờ tạp chí "Giáo Dục" in ở nhà in báo Tiếng Dân. Từ làm anh thợ sửa bản nháp, dần dần chịu khó học hỏi thêm, nhân một dịp thiếu bài điền vào cột trống, tôi tự ý làm một bài thơ tám câu đưa cho ông Huân đạo Trần Đình, cháu nội của Trần Tiến Thành xem, và được duyệt y cho đăng. Thế là từ một anh thợ sửa bản nháp, tôi chuyển lên làm thơ ký tòa soạn, hữu danh vô thực. Tiền công trả theo tháng, nhưng làm việc tùy hứng, miễn sao tờ tạp chí ra đều đặn hàng tháng là được. Công việc biên tập chỉ có sửa chữa bản nháp, liên hệ kịp thời với nhà in, và dịch những bài báo bằng Pháp văn của ông Tham tri Nguyễn Khoa Toàn ra Việt văn để đăng trên tạp chí. Nguyễn Khoa Toàn là anh em với Hải Triều Nguyễn Khoa Văn, nhưng xu hướng chánh trị cũng như phong cách hoàn toàn khác nhau. Hải Triều là một nhà tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng sản, dịch và viết sách về cách mạng vô sản, sống rất giản dị, ngược lại, Toàn là một con người hãnh tiến, làm quan Nam Triều, nhưng chỉ nói chuyện bằng tiếng Pháp, ham thích hội họa và chỉ vẽ tranh khỏa thân. Tôi còn nhớ, để thử tài, lần đầu tiên ông giao cho tôi dịch một bài ông viết "Về cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp sư phạm: "qui nạp và diễn dịch" (la lutte entre deux méthodes pédagogiques: l'induction et la déduction) viết bằng Pháp văn, dùng toàn những danh từ triết học, vừa khó hiểu, vừa tối nghĩa, hẹn trong một tuần cho xong. Tôi đem về nhà hết lật từ điển Petit Larousse" lại đến từ điển Pháp-Việt Đào Duy Anh để tra cứu. Gặp một chữ khá hiểm hóc: "Amorphisme" - Tôi lật cả sách vở, không tìm đâu ra chữ nghĩa để dịch cho được. Tôi dịch liều là: "Thuyết vô hình tượng!". Đến nay, tôi vẫn không biết đúng hay sai. Nhưng đọc xong bản dịch của tôi, Toàn khen hay và còn tán tụng, "C'est un type très érudit" (một tay rất uyên bác!), làm tôi nghe kể lại cũng nở mũi như "chó ngáp phải ruồi". Có một lần vui chuyện, Toàn rủ tôi làm đơn xin vào làm thừa phái (một ngạch quan lại Nam Triều, ngang bậc với thơ ký bậc 7 của Chính phủ Bảo hộ Pháp, nhưng được mang thẻ bài ngà với hàng chữ "Hàn Lâm viện đãi chiếu" đeo lủng lẳng trước ngực như mọi quan chức Nam Triều). Tôi cười và lắc đầu, xin "cảm ơn" lòng tốt của quan lớn. Thật ra cũng khó giải thích lý do từ chối cho một vị đường quan. Đối với tôi thì thật đơn giản. Tôi được trả lương mỗi tháng hơn 40 đồng. Mỗi tuần chỉ làm việc hai ngày là xong chuyện. Thì giờ còn lại, tôi làm cho báo "Vì Chúa", tùy thích muốn về làng lúc nào cũng được. Thanh niên trong làng tôi vẫn biết tôi thích đua ghe và biết một vài miếng võ "mèo quào" nên hay rủ tôi đi trong các cuộc đình đám, có đấm đá nhau. Làm công chức thì gò bó, giờ giấc không chịu được. Mỗi sáng, bất kể trời mưa, nắng, tôi vẫn đội nón lá, mang áo tơi (nếu trời mưa) đi bộ từ quê lên dinh (thành phố) với đôi guốc mứt lẹp kẹp. Đến Bộ Học (Bộ Giáo dục) tôi ngồi vào một góc của cái nhà kiểu bánh ít, cột lim cũ kỹ, máng nón lá vào cây đinh trên cột, quay lưng lại các quan chức, đang ngỗi chễm chệ ở cái bàn đặt giữa nhà theo thứ tự: Thượng thư (Bộ trưởng) ngồi bàn trong cùng, có lính "anh danh" đứng hầu điếu đóm. Lần lượt các quan tham tri (tẩm phẩm) tá, lý (tứ phẩm hoặc tùng tam) Huấn đạo v.v... theo thứ tự ngạch, bậc của triều đình. Mỗi sáng, đúng 7 giờ, chiếc còi xe hơi bóp tay nghe kêu trước cổng báo hiệu quan thượng thơ đến văn phòng Bộ. Thượng thư Bộ học (giáo dục) lúc bấy giờ là ông Trần Thanh Đạt - anh của nhà văn Trần Thanh Mại và nhà thơ Trần Thanh Tịnh. Thấy cụ Thượng thơ đang đủng đỉnh xuống xe, mang áo gấm, đi hài thêu, khoan thai bước lên thềm, thì trong nầy các quan, bất kể lớn nhỏ, đều đứng nghiêm chỉnh trước bàn làm việc, đưa tay sửa lại vành khăn đóng chữ "nhơn" cho ngay giữa trán, sờ lại cổ áo đã gài nút cổ áo chưa, sửa lại bài ngà đeo lủng lẳng trên khuy áo bên phải cho ngay ngắn, bày hàng chữ đỏ ra ngoài. Xong xuôi, khoanh hai tay trước ngực, lẳng lặng cúi đầu, đứng ra hai bên chừa hàng giữa cho cụ Thượng bước vào. Tôi phớt lờ, cứ ngồi trong góc, tranh tối, tranh sáng, cặm cụi sửa bài vở, như không biết có chuyện gì xảy ra sau lưng mình. Tôi nhớ rõ, một lần cụ Thượng dừng lại hỏi ông Toàn câu gì đó tôi nghe không rõ. Chỉ nghe ông chủ báo đáp: "Bẩm cụ", "xừ" đó là người thuê ngoài vào làm để sửa bài cho kịp lên khuôn". Thế là từ đấy, không nghe cụ thượng hỏi han đến nữa.


Động cơ nào đã thúc đẩy tôi có thái độ khinh mạn ấy? Hồi ấy, tôi không phân tích, chỉ biết tâm trạng mình vốn từ lâu đã ghét cảnh giàu sang quyền quí, đối lập với cảnh đói khát, nghèo nàn ở quanh làng xóm thân thương. Chỉ đơn giản thế thôi, mà 17 tuổi tôi đã không màng chức thư ký nhà giây thép, 19 tuổi đã từ chối vào cung nội làm thị vệ cho Bảo Đại, và 25 tuổi đã từ chối cái bài ngà hàn lâm viện đãi chiếu của Nam Triều. Cũng có một phần không kém quan trọng là, cái câu "Học để làm người tốt" cha tôi đã dạy. Như một động cơ tốt thúc đẩy tôi tìm cho được con đường lý tưởng chân chính của một thanh niên trong cảnh nước mất nhà tan? Cái động cơ ấy cũng được luôn luôn các bạn bè thân thích nhen nhúm ngọn lửa nhiệt tình qua phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Châu Trinh, để tang cụ Phan Bội Châu trong sinh viên, học sinh ở Huế v.v... Biết mình không thể dửng dưng đứng ngoài cuộc, tuy không phải là đảng viên, lại viết báo Công giáo, tôi vẫn tùy sức giúp đỡ cho bạn bè, mỗi khi cần và có thể làm được.


Tháng 4 năm 1937, phong trào đón Gôđa (Gustin Godard - Nghị sĩ Đảng xã hội Pháp trong Mặt trận Bình dân Pháp) sang kinh lý Đông Dương, đến Huế. Tôi cũng đi. Nhưng vừa lên đò ở Bến Tượng, vào khoảng hơn 7 giờ sáng, thì ở bến đò đã có một mật thám, đứng bên cạnh có ông Bát Vân, lính Thừa Phủ, người cùng làng. Gặp tôi, ông kéo riêng, nói nhỏ: "Mật thám cho đón bắt những ai đi đón Gôđa đó". Tôi giật mình, bước lên bến đò đã thấy anh Nguyễn Hùng lững thững đi tới, tôi chặn lại, tin cho anh biết. Anh cho tôi rõ: "Cuộc mít tinh thất bại, vì bọn mật thám đã cho lính giải tán, và chúng đã bắt anh Vịnh (Nguyễn Chí Thanh) đi rồi". Anh dặn tôi: "Cứ đứng đây, có anh em nào về thì chỉ cho họ con đường khác để tránh bọn mật thám". Nhờ vậy, tôi đã chỉ cho hai anh Hoàng và Tiềm, ở làng Thanh Lương thoát lưới mật thám.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #15 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2026, 08:23:32 pm »

Sau vụ biểu tình đón Gustin Godard, Sogny - chánh sở mật thám Trung kỳ vẫn gia tăng khủng bố những đảng viên nào đã lộ mặt hoạt động công khai từ năm 1936, công việc làm báo tự do cho tôi nhiều dịp giúp đỡ bạn bè hoạt động cách mạng, thoát khỏi bàn tay mật thám. Năm 1938, tình cờ về thăm nhà, tôi được dịp làm nhân chứng một cảnh xét nhà người hàng xóm, do hai tên lính lệ ở huyện Quảng Điền đem trát về đòi bắt Nguyễn Bật và xét nhà, có chứa đồ quốc cấm. Nguyễn Bật vắng nhà. Chúng cho gọi tôi sang làm nhân chứng để xét nhà. Trong nhà chỉ còn lại bà cụ già, tuổi ngoài 80 (mợ Bó) và mấy đứa em của Bật. Tôi biết nhà Bật có tài liệu tuyên truyền trên bàn thờ để chuyền tay nhau đọc. Tôi đi thẳng lên nhà trên, vén sáo tre với tay lên bàn thờ, lấy cuốn "Giai cấp và giai cấp đấu tranh" của Hải Triều và cuốn "Gót sắt" của Jack London, lận vào trong bụng. Đoạn, ra ngồi tiếp hai tên lính lệ. Hai chú lính này đưa lịnh xét nhà cho tôi xem, rồi nói: "Phải làm gấp, không thể chờ Nguyễn Bật được, vì còn phải xuống bắt và xét nhà Nguyễn Húng nữa cho kịp về trình bẩm quan nội trong ngày mai". Tôi thay mặt chủ nhà, rót nước mời hai thầy, với tay lấy chai không dưới bàn, móc túi ra 0,20 đồng chạy xuống bếp nói to với Giáp, em gái Bật, cố ý để cho hai tên lính nhà trên nghe rõ: "Này mi cầm hai giác đi mua cho tao chai rượu mau đem về đây nghe". Rồi cúi xuống dặn nhỏ: "Tin ngay cho Húng biết lính huyện xuống khám xét nhà". Em Giáp gật đầu, cầm chai chạy đi. Tôi trở lại tiếp chuyện hai chú lính. Rượu về, lại tiếp tục chén chú chén anh, cốt kéo dài thời gian. Lát sau thấy Giáp thập thò đầu lên vẫy tôi. Tôi bước ra em nói: "Xong rồi". Tôi mỉm cười nói to: "Thôi đủ rồi không cần mua thêm rượu nữa". Xét nhà xong, tôi ký vào biên bản, vui vẻ tiễn hai chú lính ra cửa. Trong bụng vẫn còn lận hai cuốn sách cấm, nhờ vậy anh Húng đã kịp trốn thoát và di chuyển tài liệu đi nơi khác (tôi chỉ biết việc đó sau này, khi nghe bà mẹ anh Húng), dì Mít kể lại, sau ngày tập kết ra miền Bắc gặp nhau (Nguyễn Bật vào Đảng năm 1937). Tết Canh Ngọ năm 1990 có vào thành phố Hồ Chí Minh, đến thăm tôi cũng có nhắc lại câu chuyện đó.


Cũng trong năm 1938, hình như vào mùa hè, cũng tình cờ, tôi được chú Bát Văn cho biết thằng Sogny biết có cái "Tỉnh ủy tỉnh tổ" gì đó của Cộng sản đang đóng ở bãi tắm Thuận An. Hắn chờ cho các tay tổ quy tụ về đó sẽ bắt trọn ổ.

Đã 6 giờ chiều, tôi bỏ bữa cơm chiều, đạp xe một mạch về cửa Thuận An, dắt xe qua đập, tôi tìm cái quán giải khát, cất lều ngay trên bãi cát trắng. Tôi vào lều, gặp ngay các anh Lâm Mộng Quang, Hải Triều và Vịnh ở trong lều. Anh Quang ở tù Côn Đảo về, biết cha tôi và tôi lúc còn học sinh, nên xoa đầu tôi như hồi còn nhỏ. Xong mấy anh kéo nhau đi ra ngoài, để anh Vịnh ở lại tiếp tôi, tôi vội vàng cho anh biết tin tức hệ trọng đó. Anh cười nhìn tôi trìu mến, nói: "Mi chắc chưa ăn cơm, thôi chuyện để đó tối kể tiếp. Tao làm cơm, tụi mình ăn đã. Tao cũng đói rồi". Anh lấy trứng gà ra làm ốp- la, chiên lại cơm xúc ra hai đĩa, hai anh em cùng ăn cơm chiều. Đêm đó, anh đem chiếc chiếu ra, trải giữa bãi cát, hai anh em nằm ôm nhau ngủ như hồi còn bé. Tôi thuật lại câu chuyện Sogny biết "cái tỉnh ủy, tỉnh tổ gì đó của cộng sản" cho anh nghe. Anh chăm chú nghe, rồi bảo: "Được, từ nay có tin chi thì cho tao biết, đừng sợ, không can chi mô". Đêm đó, tôi kể lại cho anh nghe về công việc của tôi để anh yên lòng. Cũng cần nói rõ, anh Vịnh là người rất quý bạn và tin bạn. Khi tôi bắt đầu viết báo, tôi mua được 2,5m vải simili trắng, may cho một bộ "comlê" và một cái cà-vạt ca rô để tiện cho ra vẻ nhà báo. Thấy tôi có bộ đồ tây trắng tinh, ra vẻ thầy chú, anh nói ngay: "Hiến, tao cần bộ đồ hơn mi, mi đưa tao mặc thử coi". Tôi cởi ngay, thấy anh mặc vừa vặn, tôi lấy cả cái nón trắng và đôi giày bata trắng đưa anh luôn. Tôi đã rõ anh cần có bộ đồ sang trọng, để dễ bề hoạt động cách mạng ở vùng đô thị. Năm 1939, anh Vịnh bị bắt, bị xử chung với một số đồng chí khác và đày đi Ban Mê Thuột. Phiên tòa xử lại Phủ Thừa do ông Nguyễn Hữu Mai là chánh án. Với tư cách nhà báo, tôi có đến dự phiên xử. Chỉ là hình thức, chánh án chỉ việc đọc bản án, không có luật sư bào chữa, các bị can không ai thèm nói một lời, vì biết rõ tòa án Nam Triều chỉ là bù nhìn, có nói cũng bằng thừa, công chúng không có ai đến nghe cả. Trong thời gian anh bị bắt, địch cấm người nhà đến thăm.


Tôi theo dõi anh đi làm cỏ-vê, vận động lính canh cho bà cụ (mẹ anh Vịnh) vào cho hai mẹ con gặp nhau, chừng hai tiếng, dặn dò mọi việc ở nhà. Ngậm ngùi chia tay nhau, vì thấy mình bất lực trước uy quyền của thực dân...

Tờ báo "Vì Chúa" sống nhờ tiền độc giả, có khi nhờ vào tiền lương, tiền lễ của cha J.M Thích, không có trợ cấp của giáo hội cũng như Chính phủ bảo hộ. Đúng như tục ngữ nói: "Ăn cơm nhà vác tre ngà cho quan" mà vẫn tự hào một cách dại dột. Tuy vẫn tranh luận về giáo lý với Cha chủ bút, nhưng tôi vẫn khâm phục về lối sống thanh bạch vì lòng nhân ái của vị Linh mục đáng kính ấy.


Cuối cùng, nhân lễ Noel năm 1939, Cha Thích tổ chức lễ rửa tội cho tôi tại một ngôi nhà nguyện nhỏ của Tiểu chủng viện An Ninh (Cửa Tùng), không kèn, không trống, không có vợ con, gia đình biết, không cho lối xóm hay. Nhân dịp này, Cha Thích đã soạn riêng một bản thánh ca để các tu sĩ đồng ca trong buổi lễ. Lần đầu tiên được rước Chúa vào lòng, tôi vẫn chờ mãi sự biến chuyển ở trong người, nhưng vẫn không thấy gì khác lạ. Nhìn trên bàn thờ Chúa, tôi vẫn cứ nhớ mãi một câu mà tôi đã đọc đâu đó: "Không phải Chúa xây dựng con người theo hình ảnh Chúa, mà chính con người đã xây dựng Chúa theo hình ảnh con người". Tôi vẫn ở trong thế giằng co giữa có Chúa và không có Chúa, trên con đường cứu rỗi phân biệt đúng sai để tìm ra chân lý, con đường đó - lạy Chúa - lại không có sẵn trong kinh thánh! Nhân loại đang xâu xé nhau, gây tội ác và bất công khắp nơi, phải chăng cũng đều do ý Chúa mong muốn? Để cho lũ ác quỷ hoành hành, bắt con cháu Ađam và Eva luôn luôn gánh chịu tội của tổ tông tự muôn đời nay? Đó là câu hỏi thường trực trong tâm hồn tôi, không thể, nào tự giải đáp được. Nghiên cứu giáo lý người ta thường nêu thắc mắc ở chỗ Chúa Jésus chết chôn đã ba ngày sống lại, hay đức bà Maria đồng trinh mà sinh con, nhưng tôi lại nêu thắc mắc về khía cạnh sự công bằng của Chúa hay nói đúng hơn, theo giáo lý của giáo hội La Mã: Lẽ nào một tên nhà giàu bóc lột áp bức nhà nghèo suốt đời, trước lúc chết ăn năn hối lỗi, xưng tội vẫn được trực tiếp lên thẳng thiên đường! Trong lúc một người suốt đời sống lương thiện, không chịu phép rửa tội chết đi vẫn vĩnh viễn ở ngoài thiên đường không được thấy Chúa? Một người làm ân mà không cần báo ân, một người làm phước để mong được hưởng phước đời sau, thì nên trọng ai hơn? Hơn nữa, sự bất công ở ngay trong giáo hội, cách đối xử giữa linh mục và thừa sai, lính mục bản xứ cũng có sự phân biệt rõ rệt. Với tư cách phóng viên nhà báo tôi đã theo Cha Thích khắp ở họ đạo ở ba tỉnh Bình Trị Thiên, đi đâu cũng thấy cha tây thì ăn cơm nhà trên, cha ta ăn cơm nhà dưới, cách biệt nhau! Tôi hỏi, Cha Thích chỉ làm thinh.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #16 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:40:05 pm »

Nhưng một viên chức họ đạo ở Bình Đức (Quảng Bình) đã nói rõ: "Vì họ là tây, còn ta là ta. Ở Nghệ An đã có hai linh mục bản xứ vì thắc mắc đã bị đày đi Côn Đảo rồi đó!". Thì ra chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cũng không buông tha cho đạo lý của Chúa trời. Ngay trong hàng giáo phẩm có lẽ vì những thắc mắc cố hữu, tôi không bao giờ được chịu phép thêm sức (Confirmation) nghĩa là được chính thức xác nhận là một con chiên của Chúa, một nghi lễ cần thiết cho mọi người công giáo có đức tin.


Ngày 22/9/1940, quân Nhật ở Hoa Nam tràn vào Đông Dương, để dọn đường cho quân Nhật tràn xuống phía Nam, ở Huế, viên Tổng lãnh sự Nhật gởi thiệp mời các báo ở Huế, đến dự một buổi tiệc chiêu đãi tại khách sạn Moriri (nay là Hương Giang) một nhà hàng lớn nhất ở Huế dành riêng cho người Âu. Tờ báo "Vì Chúa" đã dời văn phòng tòa soạn theo Cha Thích về Huế. Tôi được Cha Thích cử đi dự. Tôi lại đến tòa soạn tạp chí "Giáo dục", Nguyễn Khoa Toàn cũng trao cho tôi một tấm thiệp khác, tương tự. Tôi đút luôn hai tấm thiệp vào túi áo. Thừa biết ý họ là muốn có người đi thay trong thế "trên đe dưới búa". Dù sao cũng đã biết ăn cơm Tây ngon như thế nào, chỉ hiềm áo quần tây từ khi cho anh Vịnh rồi tôi chưa làm cách nào để có tiền sắm thêm một bộ khác. Sực nhớ có người bà con là Mai Duận (em anh Xuẩn) đang làm thư ký lục bộ, nhà ở Bến Ngự, tôi cuốc bộ lên hỏi mượn. Duận sẵn sàng đem bộ comlê tropical sang nhất, cả cà vạt và đôi giày da vàng cho tôi mượn. Sửa soạn xong vừa tối: đôi giày hơi chật, vì bàn chân có ngón to bè của tôi không quen gò bó trong giày dép. Cuối cùng tôi vẫn cuốc bộ từ Bến Ngự đến khách sạn Morin vừa kịp 7 giờ tối. Giờ chiêu đãi ghi trong giấy. Trước khi vào tiệc, ngồi chờ ở sa-lông uống saké (rượu ngọt của Nhật) thấy ngọt như rượu mít, tôi uống luôn hai ly. Thằng Sogny, người Pháp, duy nhất được mời, là chánh sở mật thám Trung kỳ, một tên Pháp người Corse đi lính mạch-lô sang Đông Dương trở thành cáo già thực dân, ngồi cạnh tôi, can ngăn tôi bằng tiếng Pháp: "Assez, jeune homme" (thôi, bạn trẻ). Muốn chọc tức nó, tôi chìa ngay ly cho người phục vụ uống tiếp một ly nữa: dù sao nó đến để làm phận sự của nó chứ chẳng còn quyền hành gì đối với bọn Nhật cả. Buổi tiệc khoảng 12 người tham dự, cả chủ lẫn khách - không có cụ Huỳnh Thúc Kháng, chủ báo "Tiếng dân". Pháp chỉ có một mình Sogny, phía chủ tiệc có tổng lãnh sự Nhật, một tên Nhật khác được giới thiệu là một nhà văn vừa đi du lịch Tây Ban Nha về. Tên phiên dịch là Đạt. Tôi không hề ăn cơm tây, nên không biết cả cách dùng khăn, muỗng, nĩa, dao thế nào cho phải cách. Nhưng nhờ thói quen quan sát, tôi cứ nhìn cách làm của người ngồi bên trái mà xử sự. Bữa ăn cũng trót lọt, chỉ có một lần ăn món gà quay, tôi ăn chưa xong đã gác cả dao và nĩa, anh phục vụ bàn vội dọn cất ngay, tôi không dám giữ lại. Nhưng mục đích chính của bữa tiệc là để cho viên Tổng lãnh sự Nhật công bố việc quân đội Thiên Hoàng đã vào Đông Dương và sẽ đánh bại quân đồng minh, yêu cầu các báo chí được phép đăng tin, do hãng thông tấn Domiz cung cấp tất cả các báo đều nhất thiết đăng ngay lên trang nhất. Nghe tên Đạt phiên dịch xong, tôi nhìn quanh bàn, tất cả đều im phăng phắc. Đúng là một tối hậu thư, không cần bàn cãi. Riêng mình tôi, "điếc không sợ súng". Tôi đứng lên thanh minh: "Tờ báo tôi đại diện là báo hằng tuần, hằng tháng mới ra một số, tin tức đến với bạn đọc thường chậm trễ hơn các báo hằng ngày. Vì vậy, chỉ đăng tin tổng hợp ở mục thời sự. Nếu đăng trên trang đầu, sợ tin tức lạc hậu với tình hình phát triển chiến sự, làm trò cười cho độc giả. Vì vậy xin để y như cũ". Nghe dịch xong, viên Tổng lãnh sự Nhật gật đầu. Tôi liếc nhìn tên Sogny, y nhếch mép. Xong việc, tên Tổng lãnh sự Nhật xô ghế đứng lên, mọi người lục tục thở phào ra khỏi bàn tiệc, không một lời bàn tán. Một sức nặng mới đè lên vai mọi người. Hai bàn chân tôi tê dại vì sức ép của đôi giày da khác chủ. Vừa ra tới cửa, tên Đạt đâm bổ ra giữ tôi lại. Tuy không quen biết y vẫn vồn vã mời tôi lên phòng y chơi, nếu tôi đồng ý đi làm cho Nhật. Đang bực mình với đôi giày, tôi gắt: "Thôi cảm ơn, tôi chỉ muốn tự do". Ra khỏi khách sạn, khách khứa lên xe ra về. Tôi ngồi phịch xuống bên lề đường, kéo mạnh đôi giày ra khỏi chân, buộc chùm đôi giày vắt ngang vai, thong thả cuốc bộ về Bến Ngự, trả lại bộ đồ sang trọng cho chủ nó, thích thú mặc lại chiếc quần cháo lòng và chiếc áo vải thâm, lẹp kẹp lê guốc trở về với túp lều tranh cạnh dốc Nam Giao.


Nói cho đúng, nếu không có đôi giày da, tôi vẫn từ chối lời mời cộng tác với Nhật, bởi vì qua theo dõi thời cuộc hằng ngày, nhất là vào đầu năm 1940, tôi đã có dịp đến thăm cụ Phan Bội Châu, và qua cụ cũng hiểu là Nhật Bản chẳng ủng hộ thiết thực gì cho phong trào Đông Du do Cụ đề xướng, mặc dù Cụ đã từng gặp Khuyển Đăng Nghi, Thủ tướng Nhật.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #17 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:40:56 pm »

Cụ Phan sống ẩn dật trong căn nhà lá ở dốc Bến Ngự, cất trước mặt chùa Từ Đàm, cách nơi tôi ở chừng 300m. Tôi hồi còn đi học thường nghe và đọc thơ cụ, qua báo "Tiếng Dân", qua các cuộc bình thơ của cha tôi với các nhà nho sính thơ văn. Những bài như "Người vợ góa khóc chồng": "Có người hỏi thiếp đã có chồng chưa? Thiếp gạt mắt thưa rằng xưa vẫn có..." nói lên nỗi lòng người dân mất nước, vì nước mất tên. Tôi còn nhớ thuộc lòng từ năm mới lên mười, nhưng đồng thời cũng nghe nói đến bài luận "Pháp Việt đề huề", mà bọn mật thám năm 1927 đã in xuyên tạc và phát cho học sinh, lúc có phong trào học sinh Huế bãi khóa, hướng về Cụ, nên tôi cũng không ham chủ thuyết đó lắm. Vì vậy, tuy đi ngang nhà Cụ nhiều lần, tôi vẫn không ghé hỏi thăm. Tôi cũng biết Cụ Sống thanh đạm, từ chối mọi ân huệ của thực dân Pháp, chủ yếu nhờ các nhà hảo tâm từ Bắc chí Nam gởi tiền ủng hộ Cụ. Đến năm 1940, phong trào ủng hộ Cụ có phần giảm sút, một phần do thủ đoạn bao vây của Sogny nên cuộc sống của Cụ có khó khăn hơn trước. Nhân một buổi Cha Thích khoe với tôi vừa được con chiên đến xin làm lễ 15 đồng, tôi gợi ý đến hoàn cảnh Cụ Phan, vị linh mục liền đưa ngay tôi 15 đồng, biểu tôi nhân danh nhà báo đến biếu Cụ, sẵn tiền biếu tôi bỏ thêm tiền túi mua một gói trà Song Hỷ đến thăm Cụ Phan. Lần đầu tiên bước vào nhà Cụ, tôi không khỏi bỡ ngỡ: một cái nhà tranh nhỏ, theo lối nông thôn có hai chái hai bên. Ở ngay phòng giữa, tranh treo hai bên đối diện. Tranh, vẽ bằng mực tàu to cỡ bằng một tờ giấy báo trải rộng. Bên trái là chân dung Lê Nin (ảnh bán thân) họa theo hình danh nhân thế giới trong tự điển Petit Larousse của Pháp. Bên phải là chân dung Khổng Tử, như hình vẽ trong Quốc văn giáo khoa thư của các trường tiểu học thời bấy giờ. Ở phía sau gian có kê một cái bàn con và hai chiếc ghế tựa cho khách ngồi. Cụ Phan vẫn ngồi trên chiếc phản gỗ, ở giữa có một ấm nước pha sẵn, một cái điếu thuốc lào. Tôi lễ phép khoanh tay cúi chào Cụ, đưa phong bì dựng 15 đồng và một gói trà Song Hỷ dâng lên Cụ bằng cả hai tay. Nói rõ mục đích đến để chúc thọ Cụ và mong được Cụ chỉ bảo thêm. Cụ Phan gọi pha trà rồi kêu hai chú bé trạc 12, 13 tuổi lên biểu đọc thơ cho khách nghe. Một chú tên Chắc. Bài thơ Đường luật 8 câu vịnh "Chó săn". Cụ chăm chú quan sát tôi, trong lúc tôi nghe thơ. Thật ra tôi đã biết trước đó là cách thức Cụ thử lòng khách, vì Cụ thừa biết thủ đoạn của Sogny thường cho mật thám dò la Cụ. Tôi vẫn nghe thơ liên hệ với nội dung bài báo tôi đã viết đả kích bọn mật thám với nhan đề "Cái chết của con chó săn" đăng trên báo "Vì Chúa". Thấy tôi không có gì bối rối mà còn tỏ ra thích thú nghe đọc thơ, cụ Phan biểu tôi ngồi lên tấm phản gần Cụ rồi hỏi chuyện. Tôi nói rõ tấm lòng mến mộ Cụ từ nhỏ, và đọc thuộc lòng bài thơ "Người vợ góa khóc chồng" (sau này báo "Tiếng dân" đăng là "Tại sao mi không lấy chồng"), bài "Bắc thang lên hỏi ông trời" đăng trên báo "Tiếng dân" gần đây cho Cụ nghe, nhờ Cụ giải thích thêm cho rõ hơn một số ý thơ. Dần dần, hỏi Cụ thêm về các hoạt động của Cụ ở nước ngoài mà tôi đã được nghe nói trên bảo chí, những nhân vật quan trọng mà Cụ từng tiếp xúc. Qua câu chuyện, Cụ đã cho tôi biết Cụ có gặp Khuyển Dưỡng Nghị, Nguyễn Ái Quốc. Cụ hỏi tôi nhà ở đâu. Tôi nói rõ là ở dốc Nam Giao cũng gần đây. Cụ thân mật nói: "Nếu chú (cụ đã đổi xưng hô) ở gần đây thì chúng ta kết bạn vong niên, thỉnh thoảng sang nói chuyện thi phú cho vui". Chừng một tiếng đồng hồ, sợ Cụ mệt, tôi cáo từ Cụ để ra về.


Cụ lấy một bản thảo viết tay trao cho tôi. Tôi liếc nhìn. Hai tập giấy học sinh trắng kẻ ngang, đóng liền nhau, bên trang ngoài đề to một hàng chữ "Nhãn sinh quan cách mạng hay là để đi tìm triết lý của cuộc sống". Tôi buột miệng hỏi: "Cụ cũng biết chữ quốc ngữ à?" - "Mình đã học hồi bị giam ở Hỏa Lò. Nhưng trong nầy có một số chữ tôi mượn người ta chữa bằng tiếng Tây. Tôi không biết tiếng Tây. Chú đem về xem lại có chỗ nào sai, chú sửa giùm cho". Tôi cầm tập bản thảo, hẹn Cụ sẽ trả lại sau hai tuần. Cụ vui vẻ đứng lên lấy gậy tiễn tôi đi một vòng sau nhà. Đến góc sau phía bên chái trái, gần hàng rào, thấy một cái bia mộ đề mấy chữ "Ấu Triệu Nương nương chi mộ" (bằng chữ Hán) Tôi quay sang hỏi: "Cụ thờ Bà Triệu sao không xây trước nhà mà xây sau nhà?" Cụ lắc đầu: Không phải, đây là mộ của một nữ đồng chí đã hy sinh". Tôi lặng người, không muốn gợi nỗi đau thêm cho Cụ nữa. Tôi về nhà đọc bản thảo và cũng có trao cho cụ Bùi Tuân đọc.


Thật ra về các quan điểm triết học cũng như các cuộc thảo luận về nhân sinh quan và thế giới quan, vì nghề nghiệp, tôi cũng có tham gia đôi ba lần, nên tôi đọc toàn bộ bản thảo viết tay dầy 2 tập cũng không thấy gì mới mẻ hơn những điều tôi biết qua. Những buổi nói chuyện giữa cha tôi và các bạn bè của cha tôi, qua những sách về kinh điển mà tôi đã đọc lén lút với bạn bè hoặc công khai trên báo chí. Nhưng qua tài liệu, tôi hiểu biết hơn về xu hướng chánh trị và lý tưởng mà nhà cách mạng tiền bối ôm ấp cho đến cuối cuộc đời, tổng kết những ước mơ của ông cha ta, kết hợp những tinh hoa cổ truyền của triết học phương Đông với lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa. Tài liệu đề cập đến các mối quan hệ xã hội, giai cấp dân tộc, không nói đến cách thức điều hành để có một xã hội tương lai công bằng hợp lý hơn, không có dân tộc nầy áp bức dân tộc khác, không có giai cấp này bóc lột giai cấp khác, không có người nầy bóc lột người khác. Xây dựng một thế giới đại đồng, không có đồng tiền ngự trị. Nam nữ bình quyền, người già yếu được xã hội săn sóc, người đau được chữa trị, trẻ con được học hành không mất tiền. về. Tam Cang ngũ thường cụ không nói đến chữ trung quân, tứ đức, tam tòng của phụ nữ. Đọc đến đoạn tài liệu phê phán chủ nghĩa phát xít, phê phán những người đề xướng chủ nghĩa dân tộc (ethnologie) tôi thấy tiếng Pháp trong ngoặc đơn chứa không sát nghĩa, nên khi trả lại bản thảo, tôi thận trọng đề nghị nên bỏ chữ (ethnologie) mà thay vào một chữ khác, chữ Racisme chẳng hạn thì phù hợp hơn. Tôi dại dột giải thích cho Cụ biết ethnologie là nhân chủng học, một khoa học không liên quan gì đến chủ nghĩa phát xít cả. Cụ cắt ngang lời tôi một cách nghiêm khắc: "Chú nói rứa là mới biết một chưa biết mười, thử hỏi nếu các nhà khoa học không bày ra cái môn Nhân chủng học thì làm gì thằng Hitler có cớ để tuyên truyền cho chủ nghĩa phát xít?". Với trình độ hiểu biết của tôi, tôi đành im lặng không dám cãi. Nhưng đó là bài học cho tôi nhớ đời. Sự hiểu biết của một người bao giờ cũng có những hạn chế nhất định. Tôi cứ băn khoăn mãi một điều là Cụ đưa cho tôi đọc tài liệu đó có phải chăng là để nhờ tôi sửa lại những chữ tiếng Pháp hay là vì mục đích tuyên truyền lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa cho một nhà viết báo Công giáo? Dù sao về nhân sinh quan tôi vẫn thấy Cụ đúng, có phải chăng Cụ đã bỏ suốt cả cuộc đời làm cách mạng để tìm đường cứu nước, và mãi đến cuối đời mới tìm ra được lý tưởng cho cuộc đời của mình? Bức tranh Lênin vẫn nhìn xuống Cụ đang ngồi trầm lặng. Trán cao, đầu hói mấy sợi tóc bạc suốt dồn ra phía sau, chòm râu dài rậm nhiều sợi còn đen, với đôi mắt quắc thước vẫn nhìn tôi đăm đăm như gửi cả tình thương nước, thương dân vào tuổi trẻ. Tôi chào Cụ ra về, không ngờ đó là buổi cuối cùng tôi được gặp Cụ. Do tòa soạn báo phải di chuyển địa điểm, tôi phải đi vắng mấy tháng để lo công việc. Đến khi trở về Huế thì Cụ đã từ trần. Tôi hỏi lại Bùi Tuân, được biết: chủ tang lễ là cụ Tôn Quang Phiệt. Cụ Phan mất 20/10/1940.


Trời Huế đổ cơn mưa to, như khóc người chí sĩ. Cuộc đấu tranh để tìm ra một lý tưởng chân chính cho cuộc đời trong người tôi vẫn còn tiếp diễn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #18 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:41:36 pm »

Vào cuối thập kỷ 30, Tòa thánh Vatican đã tấn phong một Giám mục mới: Giám mục Ngô Đình Thục, con cụ Ngô Đình Khả, một gia đình vọng tộc Công giáo ở phủ Cam (Huế). Thục là em của Ngó Đình Khôi, một Tổng đốc khét tiếng sát Cộng ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, anh của Ngô Đình Diệm, một Thượng thơ Bộ lại của Nam Triều bị Phạm Quỳnh hất cẳng, đang về ngồi nhà ở ven bờ sông Phủ Cam. Đó là một lễ lớn cho giới công giáo ở Huế. Cha Thích sai tôi đến tìm hiểu để viết một bài phóng sự đưa lên báo "Vì Chúa". Bước vào ngôi nhà kiểu bát úp của dòng họ Ngô Đình, bên cạnh phủ Cam. Tôi chìa thơ tay của Cha Thích cho gia đình và bẩm báo. Ngô Đình Diệm, viên quan "Lại Bộ thượng thứ" của Vua Bảo Đại, đang bị viên toàn quyền Pasquier cho về vườn, ngồi chơi xơi nước, từ trên lầu ba bước xuống nhận thư, đọc xong liền chỉ cho tôi chiếc bàn ở phía sau phòng khách, có đủ tiện nghi để viết lách. Xong, y liền bước lên lầu, để mặc tôi ngồi viết bài cho báo. Khoảng một giờ sau, vẫn viên quan về vườn đó lẹp kẹp đi xuống đưa cho tôi một bài báo của viên bộ trưởng thuộc địa Paul Reynault viết, biểu tôi dịch cho y xem. Bài báo chẳng liên quan gì đến vụ tấn phong Giám mục cả. Tôi đặt tờ báo lên bàn suy nghĩ: "Hay là Cha Thích muốn cho ta làm thư ký riêng cho Diệm?". Để làm gì? Trưa hôm đó, trở về nhà, ngôi nhà ở số 1 đường Jules Ferry là nơi trường tư thục Pellerin dành riêng cho Cha Thích ở, tôi hỏi lại Cha, Cha gật đầu, muốn tôi làm thư ký riêng cho Diệm! Tôi nói rõ cảm xúc ban đầu của tôi cho Cha biết: "Ông Diệm là con người kiêu ngạo, chỉ nhìn người bằng nửa con mắt thôi, con không chịu làm việc với con người như thế!". Và, ngay từ trưa hôm đó, tôi không bước tới ngôi nhà từ đường của họ Ngô nữa. Buổi tường thuật lễ tấn phong tân giám mục vẫn được viết, nhưng không cần phải có bàn tay của Diệm nhúng vào. Con người của Diệm không có gì hấp dẫn, thuộc tướng Ngũ đoản. Lúc lên làm thượng thơ Bộ Lại thay Nguyễn Hữu Bài, trong dịp "năm cụ khi không rớt cái ình" thì Bài đã cảnh cáo Diệm: "Tui như chiếc dây thung, nên không đứt, chú như sợi dây thép, căng lắm thì đứt di đa". Thời kỳ Diệm làm tri huyện Quảng Điền, nhân ngày Tết. Ông Nghè Tố, một điền chủ trong làng tôi đem biếu một khay quả đầy bánh thuẫn, Diệm cho lính lệ nhận đem cho ngựa ăn ngay trước mặt người biếu. Vì vậy, Nghè Tố cho là quan huyện thanh liêm, tôi thì cho là thái độ ấy là ngạo mạn. Vì vậy, có ấn tượng không tốt về viên thượng thư "về vườn" ấy. Vào đầu những năm 40, có một lần Sogny cho lính đến xét cằn nhà Cha Thích đang ở, thì ra bọn mật thám nghi ngờ Cha giấu Ngô Đình Diệm ở trong nhà, Cha Thích là Cha linh hồn của Diệm, người mà Diệm thường đến để xưng tội với Chúa. Trong sách kinh bổn dạy cho con chiên bao gồm 10 điều răn và 7 trọng tội, không có khoản nào đề cập đến tội phản nước, hại dân, ôm chân đế quốc, vì thế cho nên lúc bị mật thám Pháp vây bắt, Diệm đã chạy vào Tổng lãnh sự Nhật ở Huế, và sau 1945, chạy sang Mỹ ẩn vào một dòng tu, để nuôi dưỡng ý chí sát Cộng vốn có trong gia đình họ Ngô. Từ ngày mẹ vợ tôi mất (năm 1941), tôi để cho vợ tôi về làng, ở căn nhà mẹ vợ tôi để lại. Một mình tôi phải làm để nuôi hai gia đình. Mẹ tôi với em gái, con trai tôi ở riêng xóm trên, vợ tôi với con riêng, con chung (Nguyên, Bé, Gái, Anh và em) một chị vú, ở xóm giữa. Tôi thu nhập hàng tháng 60 đồng chia cho gia đình ở xóm dưới 45 đồng, xóm trên 15 đồng kể như cũng đủ sống ở nông thôn. Vì lương một thầy giáo làng hồi đó chỉ 15 đồng/tháng. Phần tôi ăn cơm với Cha Thích khỏi trả tiền. Mỗi tuần đến chiều thứ bảy về làng, sáng thứ hai lên làm việc, thành thông lệ. Không biết vì một lý do gì, hôm đó tôi phá thông lệ về làng vào một ngày giữa tuần. Đã 9 giờ tối, tôi bước vào nhà, vợ tôi không có nhà chỉ có mấy đứa nhỏ đã đi ngủ. Chị vú (mụ Bực) còn thức, cho tôi biết là mụ phó Thỉu đến kêu đi đánh bài đâu đó. Tôi quay ra đi xuống xóm dưới có gốc cây bàng. Mụ phó Thỉu ở một cái nhà tranh cất sau nhà họ. Tôi bước vào trong nhà chỉ có cái đèn hoa kỳ, dọi ánh sáng leo lét: một bóng người dỡ liếp nhà bếp vụt chạy ra. Tôi liếc nhìn đoán biết là ai, nhưng tôi vẫn gọi mụ phó Thỉu ra. Mở cửa ra tôi thấy vợ tôi, tôi không nói gì, chỉ nói với mụ phó Thỉu: "Chị đi kêu thằng Bức tới nhà tôi, bàn chuyện tử tế, bằng không, tôi tới nhà nó sẽ phá nhà nó cho coi". Mụ phó Thỉu ra đi. Vợ tôi lặng lẽ ra về. Về nhà đợi một lát không đầy 15 phút. Mụ phó Thỉu và Bức cùng đến nhà tôi (nhà vợ tôi ở). Tôi mời Bức ngồi lên phản, đối diện với tôi, rồi thong thả rót từng tiếng một: "Tôi biết anh còn nặng nợ với Chắc con, không phải chỉ là vì "người tình cũ không rủ cũng tới" mà vì còn có thằng Nguyên, con anh, tôi đã khai sinh và đặt tên cho nó, nhưng hôm nay tôi trả nó lại cho anh, anh đem nó về nuôi nấng cho nên người. Anh giàu có chắc đủ sức làm việc đó, còn phần Chắc con và mấy đứa con tôi anh nên cắt đứt đi để tôi lo liệu việc nhà tôi". Đêm đó tôi về ngủ riêng nhà mẹ tôi, trằn trọc thâu đêm và quyết định ra đi, tìm một cuộc sống mới, ít nhất cũng đỡ hơn trước. Kể từ đấy, tôi không còn gặp lại Bức. Sau nầy, được biết anh ta theo con đường chống phá Cách mạng leo lên đến cấp Trưởng công an ngụy quyền tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng và chạy sang Mỹ trước 30-4-1975
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #19 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:42:27 pm »

CHƯƠNG 4
DẠY TRƯỜNG TƯ VÀ ĐI THÔNG DỊCH


Năm 1943, hai ngày ba đêm đi tàu suốt từ ga Huế đến ga Sài Gòn, lần đầu tiên tôi xa làng xóm, xa quê nhà, không biết giờ nào trở lại, miếng cơm manh áo còn mong manh, tương lai còn mờ mịt, tuy bản thân đã trưởng thành hẳn về năm tháng. Đàng sau tôi, cả làng Kẻ Lừ thân thương, cả gia đình 9 miệng ăn đang chờ đợi. Hành trang để phiêu bạt vào Nam của tôi, ngoài thân thể chỉ có giỏ mây xách tay, cái nón "cát trắng", đôi dép quai hai màu den trắng chen nhau. Tiền túi dành dụm vừa đủ mua chiếc vé tốc hành. Tôi giữ kỹ bức thư của Cha Thích gởi gắm tôi cho thầy Donatien, hiệu trưởng trường Taberd Saigon. Trường đang cần một giáo viên dạy Việt văn. Tất cả đang còn phía trước. Nhưng đầu óc tôi thì đang quay lại đằng sau. Những kỷ niệm, không phải thời thơ ấu, mà chỉ mới gần đây đã thúc đẩy tôi ra đi. Dù sao con tàu đang chạy không thể vô cớ dừng lại vì một nỗi buồn riêng của hành khách. Tôi không thể mang nỗi buồn theo mãi với cuộc đời. Tôi nhớ đến mẹ tôi, một người mẹ đã trên hai chục năm nay chắt chiu từng hạt gạo để nuôi con, nay lại phải một mình nuôi cháu nội, vì đứa con trai độc nhất của gia đình, vạn bất đắc dĩ phải ra đi, tìm cách sinh sống nơi xa lạ. Buổi tiễn đưa diễn ra lặng lẽ một buổi chiều. Con tôi đã đi ngủ sớm. Mẹ tôi đứng dưới bụi tầm vông trước ngõ, tần ngần nhìn tôi, rồi chép miệng: "Thôi con không nói mạ cũng biết, con cứ đi đi, để thằng Xiềng mạ lo cho. Con ở nhà chỉ thêm khổ, không khéo con bị bắt, lại càng khổ thêm". Mẹ tôi tưởng tôi cùng làm cách mạng như các bạn tôi đã bị bắt nên lo cho tôi, vì thấy tôi thường hay giúp đỡ bạn bè.


Thành phố Sài Gòn, được báo chí ca tụng là "hòn ngọc Viễn Đông", năm ấy đang bị quân Nhật tràn xuống chuẩn bị hất cẳng thực dân Pháp đang thất trận ở chính quốc. Trường tư thục Taberd của nhà dòng Huynh đệ Lasalle bị quân Nhật chiếm đóng, phải rời các lớp học đến ở chung với Đại chủng viện, nơi đào tạo các linh mục các xứ dòng trong. Hiệu trưởng Donatien là một thầy dòng người Pháp, khá hiền lành, với vẻ mặt đăm chiêu và dáng đi khập khểnh, đọc thơ giới thiệu của Cha Thích xong, không hỏi thêm học vấn điều gì, gọi thầy François quản trị nhà trường lên và giao cho thầy François lo liệu việc tiền lương và nơi ăn ở cho thầy giáo mới. Không mặc cả, tôi được trả ngay lương 200 đồng/tháng. Mỗi tuần dạy 11 tiết. Trừ tiền ăn tại trường hết 80 đồng. Còn 120 đồng trả tiền ngày 30 cuối tháng. Biết tôi mới vào chưa có tiền, hiệu trưởng biểu ứng trước cho tôi 120 đồng, để mua sắm. Tôi viết thư về ngay cho vợ biết tôi đã tới nơi, để gia đình yên tâm và tôi gởi ngay ngân phiếu 60 đồng, dặn vợ chia làm 3 phần, 2 phần vợ giữ, 1 phần giao lại cho mẹ tôi, để nuôi đứa con trai dầu lòng. Lúc tôi từ giã gia đình ra đi, vợ tôi có hỏi tôi nên đặt tên đứa con gái sơ sinh của tôi tên gì? Tôi bảo sẽ đặt cho nó sau. Nhưng rồi liền nhớ tới con, tôi ghi thêm vào cuối thư: "Em đặt tên cho con là Hoài Thương". Bức thư ngắn gọn vừa đủ cho vợ tôi hiểu. Thiếu những lời lẽ nồng thắm và hàng ngàn cái hôn!


Dạy học là nghề của cha tôi, nhưng tôi mới đặt chân vào một lớp học chính quy, không hiểu biết về sư phạm, những hiểu biết của tôi không ngoài những bài báo đăng ở Giáo dục tạp chí của Nguyễn Khoa Toàn, nhưng kiến thức về Việt văn của tôi không ngoài những sách vở tôi đã đọc trộm ở thư viện trường Thiên Hựu trong thời gian làm bồi! Tất cả những kiến thức ấy còn trong bụng tôi, được thế nào hay thế ấy. Ngoài ra, tôi chẳng có một cuốn sách giáo khoa nào để làm vốn. May nhờ lớp học sinh trường thầy dòng, phần đông là con ông cháu cha thi trượt trường công gởi vào học, cộng với mấy ông thầy dòng, thạo tiếng Pháp, tiếng Latinh, nhưng thiếu sách sư phạm về quốc ngữ, nên không có những yêu cầu vượt ngoài khả năng làm tôi phải bối rối. Bài dạy theo chương trình của nhà trường, chỉ quanh quẩn mấy bài dịch từ Pháp văn ra Việt văn, hoặc ngược lại độ 10 dòng. Để đổi món tôi thử ra một số bài tập luận văn, hoặc ngữ pháp nên cũng đơn giản so với chương trình trung học (hồi đó gọi là chương trình tú tài).


Cái khó nhất đối với tôi là phải hướng dẫn học sinh trước giờ lên lớp, phải đứng lên đọc thuộc kinh cầu nguyện "Lạy Chúa" bằng tiếng La tinh. Về khoản này, tôi yêu cầu một thầy dòng là giáo viên đảm trách thay tôi. Mỗi lần lên lớp học sinh đều trạc lứa tuổi tôi (20 đến 30 tuổi) cũng không làm cho tôi ngán ngại. Chỉ ngại một nỗi, chiếc áo lương (the) đen từ chiếc áo dòng cũ của Cha Thích cho tôi, được anh Giai thợ may, bạn tôi, người làng Xuân Tùy cắt vào may lại cho tôi, không lấy tiền công, đã quá cũ. Qua một đoàn đường xe lửa đã sờn vai, cứ mỗi lần đứng lên bục giảng, cựa mạnh, vai áo cứ muốn rách tung ra!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM