Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:39:04 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 8060 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #20 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:43:04 pm »

Giữa đất Sài Gòn hoa lệ, tôi sống với lớp học trong một dòng tu ăn ở như những tu sĩ, ngăn cách với thế giới bên ngoài. May sao, tôi lại gặp anh Mai Xuẫn (với gia đình chung sông ở Thị Nghè, anh Xuẫn làm tham tá ở Ba Son cùng với người con Mai Thùy đang học trường Rosel, dạy thợ máy lái tàu ngay tại xưởng Ba Son, một xưởng quân cảng lớn nhất của Pháp ở Đông Dương) thật là "Tha hương ngộ cố tri", người xưa đã nói nơi đất khách gặp bạn cũ là một niềm vui lớn, chúng tôi vừa là bạn thân, vừa là bạn học, vừa là người làng có tình bà con với nhau: vợ tôi gọi mẹ anh Xuẫn (O Viên Phu) bằng cô ruột: O Viên đối xử với tôi cũng như người mẹ nuôi. Hơn thế, tôi với anh Xuẫn đều là những thanh niên có chí hướng: yêu nước, thương nòi. Nỗi vui, buồn, sướng, khổ đều thổ lộ tâm sự cho nhau biết. Hồi ấy, máy bay Mỹ có đến ném bom Sài Gòn, Ba Son là mục tiêu của chúng. Chiếc tuần dương hạm Lamote Piquet, niềm tự hào duy nhất của hải quân Pháp ở Viễn Đông, bị trúng bom nằm trên bờ sông Sài Gòn. Mỗi lần, sau một đợt dội bom, tôi lại chạy qua Thị Nghè hỏi thăm tình hình. Trường Taberd cũng nằm kề Ba Son, nên phải sơ tán về Mỹ Tho, ở chung với trường St.Joseph, một cơ sở của dòng Huynh đệ tại thành phố Mỹ Tho. Tôi lại dọn về Mỹ Tho, gia đình anh Mai Xuẫn cũng sơ tán về Mỹ Tho, vì sở Ba Son cũng đóng cửa. Đầu năm 1945, vợ con tôi, trừ Dũng còn ở với bà và cô ở làng, đã kéo nhau vào Sài Gòn, tất cả lên ở nhờ chị Ba Chắc (chị vợ tôi). Chị Ba có chồng là anh Quận lái xe tải và buôn bán ở Brélinh (Lộc Ninh). Trường sơ tán về Mỹ Tho, tôi mướn một gian nhà lá ở góc sau nhà thờ Mỹ Tho trả mỗi tháng 15 đồng, rồi gởi thơ lên Brélinh, bảo vợ và mấy đứa con về dưới ấy. Thời cuộc dồn dập, ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, trường học đóng cửa, cho học sinh nghỉ hè sớm. Bọn Nhật buộc các công sở phải treo cờ Nhật thay cờ Pháp, chúng gởi thư đến mượn trường Taberd ở Mỹ Tho, để cho quân lính Nhật ở. Nhà trường hoang mang không biết dọn đi đâu, hiệu trưởng Taberd hồi này là thầy Cyprien một điền chủ ở Trà Vinh, được gởi đi học ở Pháp và La Mã từ nhỏ, rất thạo tiếng Anh, tiếng La tinh và tiếng Pháp, nhưng nói tiếng Việt như người mới học, đã gặp riêng tôi để hỏi ý kiến nên đối phó bằng cách nào? Tôi gợi ý: "Thầy cứ cho treo cờ trắng, vàng của Vatican lên thay cho cờ Pháp. Nếu bọn Nhật hỏi thì nói rằng: "Nhà trường thuộc chủ quyền của tòa thánh La Mã, chắc bọn Nhật chẳng dám động đến đâu?". Cyprien làm theo lời tôi khuyên, quả nhiên hôm sau, một viên thiếu tá Nhật, kéo lê chiếc gươm dài đến trường, Cyprien tiếp đón nó, nói chuyện trực tiếp bằng tiếng Anh, và sau đó quả nhiên viên sĩ quan Nhật đồng ý để yên, không đả động đến chuyện treo cờ Nhật, và mượn nhà cho lính Nhật ở nữa. Uy tín của tôi nhờ vậy mà được nâng lên trước mắt các thầy dòng. Mặc dù không có học sinh, nhà trường vẫn trả đủ lương hàng tháng cho tôi chỉ đến trường để dịch sách cho có việc. Trong thời kỳ này, tôi rảnh việc nên làm quen với anh chị lao công của trường và có dịp biết nội tình nhà trường hơn trước: chú Bút, người Nghệ An, cho tôi biết: trong thời kỳ Mỹ ném bom ở Sài Gòn, có hai phi công người Anh bị Nhật bắt nhốt ở trại giam đã vượt ngục. Trường đã tổ chức cho hai phi công trốn thoát. Một thầy dòng tên Vincent, cứ mỗi tối lại cởi áo thầy dòng mặc âu phục, nhảy rào ra đi với gái. Tôi hỏi sao chú không báo cho trường biết? Chú Bút nói: "Mặc kệ nó, nói mần chi!"


Từ đó, tôi hiểu thêm mặt trái của một dòng tu. Có những việc thế tục trong dòng tu mà các đấng bề trên cũng như Đức Chúa Trời đều không thấy! Nhưng không thể qua mắt những người lao động bình thường như chú Bút.

Từ tháng 6/45, tình hình thời cuộc dồn dập. Anh Xuẫn cùng với vợ và hai con: Xuân, Quang đã dọn về Cần Thơ, nương náu với anh Phan Tùng Ngâm, bạn cột chèo, đang làm ở hãng lúa gạo Saric ở Bình Thủy, ngoại thành Cần Thơ, để Chùy ở lại với tôi. Tiễn anh bạn xuống bến tàu lục tỉnh, tôi căn dặn anh Xuẫn về Cần Thơ chuẩn bị trước, nếu quân Pháp trở lại chiếm Nam Bộ, tôi sẽ xuống Cần Thơ cùng nhau tham gia kháng chiến. Trước mắt tham gia Thanh niên Tiền phong là lực lượng rộng rãi và đông đúc nhất. Thế là anh Mai Xuẫn tham gia Thanh niên Tiền phong ở Cần Thơ, tôi tham gia Thanh niên Tiền phong ở Mỹ Tho. Được bố trí vào đoàn Lý Thường Kiệt. Tôi được anh Lương người quê miền Bắc hay bận chiếc áo thâm dài, hơn tôi chừng 10 tuổi, chỉ đạo phong trào. Sau khi khảo sát sơ qua trình độ, được biết Đoàn Lý Thường Kiệt là một Đoàn bao gồm hầu hết là công chức và sinh viên phần lớn là ở xóm nhà thờ Mỹ Tho. Nhiệm vụ của tôi cũng khá đơn giản, biết gì nói nấy, miễn sao nhen nhóm lòng yêu nước cho đoàn viên. Ban đêm thì cùng nhau vác gậy tầm vông đi tuần tra canh gác trong phạm vi thành phố Mỹ Tho, dọc theo con đường Bourdet, dinh tỉnh trưởng quanh theo bờ sông ngang cầu quay trở về giáp với con đường Bourdet ở ngã ba bến đò qua Rạch Miễu. Trụ sở thì nằm chờ thay đổi phiên gác ở ngay nhà ông Phán chủ sở Bưu điện Mỹ Tho, cha của anh Lai, một học sinh ở Taberd với tôi. Tuy tham gia Thanh niên Tiền phong ở Mỹ Tho, nhưng tôi và anh Xuẫn vẫn thường xuyên gặp nhau ở Sài Gòn để dự cuộc mít tinh ngày 25/8/1945 do Mặt trận Việt Minh tổ chức ở vườn Ông Thượng (tức Tao Đàn hiện nay).


Ngày 26/8/1945, tôi được anh Hai Đen chỉ huy Thanh niên Tiền phong ở Mỹ Tho, giao nhiệm vụ phải thuyết phục hiệu trưởng Cyprien hạ lá cờ trắng vàng của Vatican xuống làm lễ treo cờ đỏ sao vàng trong sân trường St.Joseph (Taberd). Vì vừa dự lễ ở Sài Gòn về, tôi nói cho Cyprien biết niềm tự hào của dân tộc ta có một quốc kỳ để phụng sự và việc treo cờ Vatican trước đây chỉ là một thủ đoạn đối phó với bọn Nhật, không thể tách trường ra khỏi đất nước Việt Nam được. Đây là vinh dự lớn không bao giờ có được, Cyprien đồng ý và giao cho tôi chuẩn bị một bài diễn văn để ông ta đọc, giao cho thầy François dặn dò các tu sĩ và bồi bếp tập sắp hàng để mai làm lễ treo cờ Việt Nam. Tôi dặn chú Bút chuẩn bị lấy vải đỏ và vàng để may cờ. Ngôi sao tôi vẽ theo kiểu cũ: 5 cánh mập. Buổi lễ chào cờ tại trường diễn ra đúng theò nghi thức. Tu sĩ và công nhân viên nhà trường sắp thành hai hàng đứng trước, hai trung đội Thanh niên Tiền phong của Đoàn Lý Thường Kiệt mang tầm vông, có mấy cây súng mút đi đầu từ ngoài cổng trường tiến vào rẽ sang hai bên cột cờ, đứng thành hai cánh hai bên hàng tu sĩ thành hình chữ U, dưới chân cột cờ có đặt bàn thờ Tổ quốc. Hiệu trưởng Cyprien đọc diễn văn tôi đã viết sẵn, chữ chân phương đủ các dấu hỏi, ngã... Tuy nhiên, lần đầu tiên đọc diễn vãn trước công chúng bằng tiếng mẹ đẻ ông ta cũng có phần lúng túng, quên mất các dấu đọc như tiếng La tinh. Buổi lễ chào lá cờ Tổ quốc cờ đỏ sao vàng đầu tiên được thượng lên cột cờ trường đạo (trước nay chỉ quen với cờ tam sắc và cờ trắng, vàng của những chân trời xa lạ).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #21 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:43:57 pm »

Trong không khí tưng bừng của ngày độc lập tôi được động viên viết bài cho phòng Thông tin Mỹ Tho. Tôi viết về những ngày độc lập của đất nước, ca tụng Hai Bà Trưng đã mở đầu cho kỷ nguyên phất cờ giành độc lập lần đầu tiên cho dân tộc ta, để động viên phụ nữ tham gia kiến quốc. Một bà cụ đang mải mê ngắm ảnh Bác Hồ và khen: "Đúng Cụ Hồ là bậc Nghiêu - Thuấn, mắt cụ có hai tròng", tôi lướt tới ngước nhìn ảnh Bác: gương mặt gầy gò, trán cao, râu ba chòm. Tôi hiểu ngay Cụ Hồ Chí Minh chính là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã viết "Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp" và là cậu học sinh Nguyễn Tất Thành mà tên trùm mật thám Trung kỳ Sogny đã dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt theo dõi từ lâu! Con thuyền cách mạng Việt Nam đã có người vững tay lèo lái. Niềm tin ấy đã giúp tôi vượt qua nhiều thử thách sau này.


Đời sống của chúng tôi lúc này có khó khăn nhiều hơn trước nhưng không một ai kêu ca, vì kể cả bà con nghèo trong xóm nhà thờ chúng tôi đang ở, hàng tháng tôi vẫn mượn trước tiền lương của nhà trường để mua gạo ăn. Áo quần rách nát cả. Vợ tôi mua được một chiếc bao tải (bao tải đựng gạo, bột mì) về cắt ra may cho tôi và Chùy mỗi người một cái quần đùi để mặc, nhưng vẫn chờ đón một tương lai tốt đẹp hơn. Dòng tu kín của các dì phước nhường lại cho đoàn Thanh niên Tiền phong Lý Thường Kiệt cái phòng bé nhỏ ở góc trường để chúng tôi làm trụ sở Thanh niên Tiền phong, ở đó, thay vì học chính trị, tôi bắt đầu hướng dẫn cho đoàn viên một vài đường roi Thừa Thiên cho phù hợp với gậy tầm vông, vì tôi nghĩ, nếu giặc Pháp trở lại thì nói chánh trị chẳng bằng múa gậy tầm vông vào đầu chúng. Tôi lại cùng Jacques Lê Văn Đức, một nhà công giáo có thế lực ở Mỹ Tho, do cha xứ ở Mỹ Tho là Cha Barbier, một linh mục dòng "Thừa vô phép", không thể vận động chống Pháp được, nên chúng tôi rủ thêm Cha Hiền, Cha Sở họ Xoài Hột thành lập nhóm công giáo kháng chiến Nam Bộ và cùng tham gia Ban vận động sáng lập Hội. Hội bao gồm chừng vài trăm đại biểu ở quanh các họ đạo Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Bà Rịa, Mỹ Tho... Cuộc họp cả ngày, buổi trưa đại biểu đều ăn hủ tíu. Về phía chánh quyền có giới thiệu một người của Quốc gia Tự vệ Cuộc Sài Gòn cử tham gia: anh Kiều Công Cung. Xác định rõ mục đích là: vận động đồng bào giáo dân tham gia kháng chiến nếu Pháp manh tâm trở lại đất Nam Bộ. Hội nghị cử một đoàn ra Hà Nội để báo cáo tình hình và vận động đồng bào công giáo cả nước hưởng ứng. Trưởng đoàn là một đại biểu Sài Gòn tên Luật. Tôi không rõ kết quả chuyến đi đó về sau ra sao! Nhưng sau nầy, trong kháng chiến, Cha Luật đã bị bọn phản động ám hại, mất tại vùng nông thôn tỉnh Sa Đéc. Được biết Cha Sang, em của Cha Luật người gốc Thủ Thừa - Long An đều tích cực hoạt động cách mạng và đều bị thực dân Pháp ám hại. Ông Jacques Lê Văn Đức về sau cùng gia đình sang Pháp cả. Còn Cha Hiền sau nầy ở lại vùng Pháp chiếm đóng, tôi không gặp lại nữa, vì không thấy cần thiết.


Ngày 23/9, thực dân Pháp, dựa vào quân Anh giải giới quân Nhật, giải thoát cho bọn Pháp bị Nhật giam giữ đã tấn công ta tại Sài Gòn rồi lan dần ra vùng phụ cận. Đầu tháng 10/45, Mặt trận Chợ Đệm bị phá vỡ, thương binh được chở về bịnh viện Mỹ Tho, vợ tôi cùng bà con xóm nghèo chia nhau mua đồ tiếp tế săn sóc thương binh, vợ tôi nấu một nồi cháo của biển gánh vào, gặp anh Vọng, nguyên là lính thủy vào Cộng hòa Vệ binh, bị thương ở bụng, viên đạn xuyên suốt người, nhưng không đụng cơ quan nội tạng nào cả. Chúng tôi đã từng quen biết nhau ở nhà anh Xuẫn ở Thị Nghè, sau nầy, nghe đâu anh Vọng ở lại hoạt động ở Sài Gòn. Chùy có gặp. Tiếng súng đồng tàu Richelieu của Leclerc đã chở quân Pháp cập cảng Vũng Tàu. Thành phố Mỹ Tho chuẩn bị kháng chiến. Tôi cũng định đem vợ con đi sơ tán nhưng còn phân vân, không nơi nương tựa. Một chiều, tôi đang đi đến trường học Collège Mỹ Tho, thì thấy Lai, học sinh lớn tuổi, có học với tôi, đang nối dây chuối đo lường, quanh thành trường học. Tôi nói thì Lai bảo, phải đo để biết rõ địa hình sau này tổ chức trinh sát cho tiện. Tôi hỏi Lai có biết chỗ nào ở nông thôn giúp tôi sơ tán vợ con không? Lai bảo tôi: "Thầy đừng đi sơ tán làm gì, cứ ở đây làm cơ sở cho tụi con hoạt động". Tôi gật đầu, nghĩ cũng có lý, nhưng vẫn không yên tâm nên đưa vợ và con sơ tán ra ngoại ô ở một trại cưa bỏ trống, vắng chủ. Chùy cũng theo chị ra ở trại cưa tham gia du kích.


Nửa đêm 25/10, tôi thức dậy, vì tiếng nổ nghe gần, tiếng súng liên thanh tiếp tục từng hồi. Tôi thức đến sáng, bận áo dài vào, soạn sẵn các tập bài làm của học sinh, những tu sĩ còn tiếp tục học tiếng Việt định ôm vào trường để làm việc. Vừa ra khỏi cửa liếp đã thấy hai thằng lính Tây, mặc áo quần rằn ri dị hợm, tôi chưa từng thấy, áo quần liền nhau, tay cầm tiểu liên chỉa vào ngực tôi, hỏi giấy tờ tùy thân. Trong hai thằng Tây rằn ri, có một thằng là học sinh cũ trường Taberd. Tôi hiểu ngay, thế là bọn Pháp bị Nhật bắt đã được bọn Anh thả, nay mặc áo quần rằn ri trở lại hoành hành xuống chiếm Mỹ Tho. Tôi chỉ vào những tập học sinh đang ôm trong nách, nói bằng tiếng Pháp: "Tôi là giáo viên trường Taberd, đang chuẩn bị tới trường". Thế là chúng đẩy tôi đi trước, chúng đi sau, mũi súng vẫn chĩa vào lưng tôi. Chỗ tôi ở cách cổng trường 200m ngăn cách bởi khuôn viên nhà thờ Mỹ Tho. Đến trường, tôi thấy lúc nhúc đầy xe cộ và lính Pháp. Chúng đã đổ bộ và đồn trú ngay tại trường St.Joseph (Taberd tản cư về). Chúng dẫn tôi đến một lớp học gần cổng, đã dọn sẵn làm văn phòng quân đồn trú. Một thằng quan hai Pháp còn trẻ, hỏi cung tôi. Tôi lặp lại như trước. Chúng cho mời thầy hiệu trường Cyprien ra nhận bảo lãnh cho tôi. Nó nói: "Thôi được, nhưng quân đội làm nhiệm vụ, cấm anh không được ra khỏi cổng, nếu muốn sống!". Thế là tôi bị giam lỏng trong một lớp học phía sau, gần nhà bếp. Cũng may, lo cho vợ con không biết ra sao, nhất là cái ăn ai lo cho! Tôi lại được gặp anh em bồi bếp của nhà trường để trò chuyện đỡ buồn, nhờ nhắn tin ra ngoài cho vợ biết. Hằng ngày chúng tôi ngồi nhìn ra cửa sổ về phía văn phòng quân đồn trú, xem đồng bào ai bị bắt đến và ai bị dẫn đi. Phiên dịch cho viên trung úy Pháp chỉ huy văn phòng chính là đốc phủ Tâm, một tên địa chủ khét tiếng chống Cộng ở vùng Cai Lậy ai cũng biết, đi đôi giày da vàng, bận đồ tuýt-xo (tussor), đội nón cối, dáng người thấp lùn, trạc hơn năm mươi tuổi, lưng hắn khoác khẩu súng săn hai nòng, mỗi lần hắn dẫn người vào rồi lại dẫn ra là y như là người ấy bị đem đi bắn. Hôm đó, chúng tôi đếm cả ngày có 16 đồng bào bị đem đi bắn. Chú Bút nhìn tôi chằm chằm vào mặt, nói: "Để như ri thì chắc dân mình chết hết! Hay là thầy xin đi làm thông ngôn đi để cứu đồng bào mình?". Tôi thấy bất bình vì lời đề nghị của chú Bút động đến lời thề thiêng độc lập ngày 2/9. Nhưng trước sự việc nhãn tiền, tôi chỉ làm thinh suy nghĩ. Đêm đó thầy hiệu trưởng Cyprien bước vào phòng tôi đang ở (như bị quản thúc) khuyên tôi nên đi làm phiên dịch cho bọn Pháp, vì họ thiếu người, nên viên quan tư chỉ huy tiểu đoàn 2 (2è bataillon/6è RIC/9è DIC) đóng quân tại Mỹ Tho đã có yêu cầu nhà trường giúp tìm được người đáng tin cậy. Đã đến lúc thầy cũng phải làm việc để có lương nuôi sống gia đình, vì nhà trường không có học sinh. Nên cũng không thể trả lương cho thầy giáo nữa. Thấy quẫn bức quá, tôi xin hẹn lại 3 hôm, để trả lời. Vợ con tôi từ nơi sơ tán tạm, nay cũng đã kéo về nhà, và cũng đã một lần đến thăm tôi, đứng ngoài chấn song sắt nhìn vào, thấy tôi vẫn tự do, không bị trói, cùm gì nên chắc cũng yên tâm. Thế là tôi được về nhà bàn tính với vợ. Do đồng tiền eo hẹp, tản cư về vợ tôi đã trả căn nhà lá cọ số 15, góc sau đường nhà thờ để thuê một căn nhà lá hẹp hơn, tối tăm hơn nhưng rẻ hơn căn nhà mướn trước đây một chút, một trong 3 căn nhà lá của bà Dậu, nằm sát bên ngôi biệt thự xinh xắn của một ông dược sĩ, bọn Pháp đã sung công làm chỗ ở cho tên đại úy chỉ huy hậu cứ của 6è RIC thành phố Mỹ Tho.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #22 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:44:41 pm »

Đêm hôm đó, tôi còn nhớ suốt đời, vì là đêm quyết định cả số phận của cả gia đình tôi, kể cả sinh mệnh chính trị của tôi: Bé, Gái, Anh, Em bốn đứa con nhỏ dại của tôi đã ôm nhau ngủ trên bộ ván gỗ tạp duy nhất của căn nhà, dưới ngọn đèn hoa kỳ leo lét mà vợ tôi đã vặn thấp xuống cho đỡ khói và đỡ tốn dầu. Tôi dẫn vợ ra trước cổng thì thầm, to nhỏ, mặc dù phố xá đều im lìm, tối tăm như địa ngục.


Chúng tôi không nhìn rõ mặt nhau, nhưng không bỏ sót một chữ nào trong câu chuyện tâm tình đó:

- Nhà trường không trả lương cho anh nữa! Thầy Cyprien bảo anh phải đi làm thông ngôn cho tụi Pháp mới có tiền để ăn. Em tính răng chừ?

Im lặng kéo dài. Vợ tôi biết cảnh túng quẩn đó hơn tôi. Đã một tháng rồi, vay 200 đồng của nhà trường vẫn chưa trả được.

- Anh tính thể này! Em cứ đem con đi tản cư, còn anh mượn cái xe kéo bỏ không của chú Tám (chồng chị Tám là du kích đã bị bắn chết đêm Pháp đổ bộ, chiếc xe còn để ở nhà) anh kéo xe kiếm tiền để nuôi con có được không?

- Ô hay! Phố xá còn ai đi nữa mà anh kéo xe? Còn em và các con đi sơ tán dựa vào ai mà sống? Tụi mình có bà con mô mà dựa?

Để phá sự im lặng, tôi lắc đầu kể chuyện một ngày 16 đồng bào bị đốc phủ Tâm bắt dần đi bắn, và câu gợi ý của chú Bút, như vớ được cái sào lúc chết đuối, vợ tôi tán thành ngay.

- Liệu sau này ăn nói sao với anh em kháng chiến? - Tôi đặt lại câu hỏi để vợ tôi giải đáp.

- Miễn mình hết lòng cứu giúp đồng bào bị bắt thì em chắc không ai nói chi mô.

Tôi quyết định ngay. Thôi được, nếu lịch sử có Pêtrus Ký làm thông ngôn cho Pháp mang tiếng là bán nước, thì tại sao ta lại không dám làm thông ngôn mà không bán nước? Ăn thua là ở lòng mình. Ông ơi! Cha ơi! Hãy giúp con đừng phản bội cha, ông. Lạy Chúa! Chúa hãy rõ lòng con, đừng để con phản lại Tổ quốc của con!


Hôm sau, tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ. Đến hôm thứ ba tôi gặp Cyprien, nói quyết định của tôi, nhưng với điều kiện, tôi không trực tiếp làm giấy giao kèo tự nguyện làm thông ngôn cho quân đội Pháp mà chính nhà trường giao tôi cho quân đội Pháp mượn làm phiên dịch không công (Interprète bénévole) cho đến ngày tựu trường phải trả về lại cho nhà trường để tiếp tục dạy học. Đêm đó, đến gặp tại phòng tôi ở, Cyprien dẫn theo cả viên thiếu tá chỉ huy tiểu đoàn 2 (2è Bataillon/6è RIC). Bản giao kèo được ký, một bên là thầy Cyprien, giám hiệu nhà trường, một bên là thiếu tá Duboval, chỉ huy Tiểu đoàn 2/6è RIC/ 9è DIC để cho thầy giáo Trần Hiến được làm phiên dịch không công cho quân đội Pháp trong thời gian nhà trường không có học sinh, đến lúc nào học sinh tựu trường, phải trả lại cho nhà trường để tiếp tục dạy học. Lương hằng tháng tạm thời được tính là 350 đồng. Cả ba người đều có ký tên vào ba bản, mỗi bên giữ một bản.


Ký xong, hai người ra về, thỏa mãn. Riêng một mình tôi nằm lại trong lớp học tạm thời làm phòng giam những người bị bắt, gác tay lên trán với nỗi buồn man mác. Thế là mình đã ký tên vào bản giao kèo bán mình cho quỷ dữ. Lạy Chúa cho con đủ sức mạnh để đối đầu với quỷ sứ! Quỷ sứ không có nanh có vuốt nhưng có đủ mọi thủ đoạn tinh vi, và vũ khí tân kỳ!


Hôm sau, tới văn phòng chỉ huy, tôi được làm quen với những ông chủ mới. Chỉ huy trung đội, chỉ huy kiêm sĩ quan tình báo của tiểu đoàn là trung úy Cousson, một sĩ quan Pháp đã tham gia chiến tranh chông phát xít Đức, mới đăng vào đạo quân viễn chinh của Leclerc. Anh ta còn trẻ, thích ra lịnh nhưng cũng biết phục thiện. Một người Pháp mới! Tôi tạm thời phân loại bọn Pháp làm hai hạng: bọn Pháp cũ, gốc ở thuộc địa, bọn Pháp mới theo De Gaulle từ Pháp sang, để có thái độ thích ứng. Binh sĩ Pháp trong trung đội chỉ huy tiểu đoàn (Section de Commandement) hầu hết là bọn Pháp mới, đăng ký vào quân viễn chinh vì lý do ham tiền và ham gái ở xứ lạ, chỉ biết phong trào Việt Minh qua bộ máy tuyên truyền của thực dân xuyên tạc. Còn viên Thiếu tá Duboval, chỉ huy tiểu đoàn là một sĩ quan kỳ cựu của quân đội Pháp đóng ở Lạng Sơn và đã rút sang Trung Quốc theo chân tướng Alexandry khi Nhật tràn vào Đông Dương, đến khi tướng Leclerc đem quân viễn chinh Pháp trở lại Đông Dương thì cũng trở lại theo gót Leclerc sung vào sư đoàn 9è DIC của tướng Valluy, đổ bộ vào Sài Gòn tràn xuống các tỉnh miền Tây Nam Bộ, bắt đầu từ Mỹ Tho, Cần Thơ, theo con đường thủy, vì các cầu Bến Lức, Tân An đã bị phá sập.


Buổi đầu, tiếp xúc với binh sĩ Pháp, tôi hiểu ngay là bọn Pháp mới khinh bọn Pháp cũ là không có tham gia phong trào của Tướng De Gaulle, ngồi yên hưởng thành quả chiến công của người khác. Trao đổi với Trung úy Cousson, tôi hiểu viên sĩ quan trẻ này có hai cái sở thích gái và thích ngắm nghía cây súng trường Mauser mà anh ta đã lấy từ kho vũ khí của bọn Đức sửa lại làm súng săn, luôn luôn mang vào vai khi ra trận, về Việt Minh, anh ta cho là Cộng sản dã man, ham giết người, cướp của nên phải diệt trừ không thương xót. Tôi chỉ ngay vào ngực tôi: "Tôi cũng là Việt Minh đây, nếu diệt trừ hết Việt Minh thì lấy ai cho các anh cai trị?".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #23 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:45:14 pm »

Chiều hôm ấy có việc làm ngay. Oái oăm thay, việc đầu tiên trong binh nghiệp phiên dịch lại nhằm vào việc làm đối với một học sinh lớn tuổi của tôi là anh Hoàng Hữu Hải, con của Giáo sư Nghĩa có vợ đầm, khi giặc Pháp đến Mỹ Tho, anh Hải ở lại thành phố, vào làm việc ngay cho Sở mật thám Mỹ Tho. Tai họa xảy đến cho anh là có người đã báo cho Cousson biết nhà Hải là nơi Việt Minh đóng, tàng trữ lựu đạn và chất nổ để hoạt động nội thành. Được tin, một mặt cho một toán tới bao vây nhà, mặt khác, cho người tới ngay sở Mật thám Mỹ Tho để bắt Hải. Tôi nhận ngay việc đến Sở Mật thám bắt Hải, với ý đồ muốn cứu học trò khỏi cơn hiểm nghèo. Cousson đồng ý, nhưng cử thêm một lính Pháp mang súng theo tôi. Vừa ra khỏi văn phòng độ 200m, tôi gặp ngay Hải đang hớt hơ phóng xe đạp đi ngược lại, vẻ mặt trắng bệnh. Nhìn thấy tôi, Hải khựng lại, tôi biết ý hất hàm yề phía Hải rồi ra dấu cho Hải quẹo về phía Trung Lương (ngoại ô thành phố). Thấy Hải quẹo về phía đó rồi, tôi lại cùng tên lính đi về phía Sở Mật thám. Lẽ tất nhiên Hải vắng mặt, tôi không nói gì thêm, về báo cáo lại. Toán lính đi bao vây và xét nhà Hải cũng đã về bắt theo một chú bé trạc 15 tuổi. Tang vật gồm có một số chai đựng chất gây nổ, mấy quả lựu đạn "lô can" có đuôi. Một vài tên lính còn chốt lại tại nhà Hải, làm bẫy chuột bắt nguội Hải trở về nhà. Cuộc hỏi cung bắt đầu công việc phiên dịch. Em bé bị Pháp bắt tại nhà Hải tất nhiên bị tình nghi. Tôi quên mất em tên gì. Chỉ nhớ nội dung cuộc đấu trí giữa Cousson và em thiếu niên Việt Nam bị bắt. Cousson hỏi bằng tiếng Pháp: "Tu es agent de liaison Viet minh?" Tôi dịch: "Mầy là liên lạc viên Việt Minh?". Em lắc đầu. Tôi nhìn kỹ. Đôi môi em mím lại, đôi mắt em nhìn trân vào mặt Cousson, không nhìn tôi, tin chắc rằng với cử chỉ ấy viên sĩ quan Pháp không cần phiên dịch. Em vẫn lặp lại cái lắc đầu. Cousson mất bình tĩnh, nói với tôi: "Il ment, donnez lui une gifle!" (Nó nói láo, hãy cho nó một cái tát). Tôi nín thinh, hai tay buông xuôi mắt nhìn thẳng vào mắt viên trung úy. Cousson bình tĩnh lặp lại câu hỏi như cũ với tôi. Tôi vẫn đứng yên, tay buông xuôi. Đến lần thứ ba một tên lính Pháp sợ Cousson mất thể diện, bước lên tát em bé một cái, em bé chúi nghiêng người. Tôi quay mặt nhìn ra cửa sổ nhìn bầu trời xanh. Cuộc hỏi cung tạm kết thúc, em bé được dẫn trở lại phòng giam, một lớp học để trống ở bên cạnh. Khi đã bình tĩnh hẳn, Cousson kêu tôi lại, nhỏ nhẹ hỏi tôi: "Tại sao tôi biểu anh đánh mà anh không nghe lịnh tôi?". Tôi nghiêm chỉnh trả lời từng tiếng một: "Tôi là thầy giáo không bao giờ đánh học trò. Hơn nữa, trong bản hợp đồng tôi chỉ làm nhiệm vụ phiên dịch, không làm công việc của tên đao phủ!". Cousson nhìn tôi, tôi nhìn thẳng vào đôi mắt nâu của nó, đôi mắt ấy, chưa vẩn đục, chưa mất hết tình người. Tôi tin thế!


Và quả thật! Từ buổi ban đầu ấy, mãi suốt thời gian tôi làm phiên dịch cho Cousson, chưa bao giờ nó sai bảo tôi đánh người, và bản thân nó cũng chưa bao giờ đánh ai trước mặt tôi. Có lẽ nó sợ bị cấp dưới, một trí thức bản xứ khinh khi chăng? Trong "Kinh Cựu ước", có câu chuyện David thắng người khổng lồ Goliat. Ở đây, một thiếu niên Việt Nam bị khóa tay cũng đã thắng một sĩ quan Pháp vũ trang tận răng bằng những cái lắc đầu. Nhưng chưa hết, đến chiều chú bé bị giam rống lên, ôm bụng kêu ca, đòi đi cầu. Tôi sai một tên lính Pháp dẫn ra khoảng đất rộng phía sau trường, có sẵn một dãy hố xí che tạm thời bằng lá. Một tiếng sau, tên lính ôm súng chạy vô hốt hoảng báo cáo: Thằng bé Việt Minh đã chuồn mất! Tôi không ngạc nhiên. Trời đã hoàng hôn. Hố xí che bằng lá phía trước kia, phía sau không có hàng rào, nhà trường làm tạm thời cho học sinh sử dụng lúc mới sơ tán đến, cách xa trường lớp. Người chiến thắng trận đầu không ngờ ấy là một học sinh 15 tuổi: chiến công thầm lặng của một chiến sĩ vô danh! Nếu em ấy đến nay còn sống cũng khoảng 60 tuổi, có thể tự hào một cách chính đáng... Tôi có thiếu sót, sau nầy tập kết ra Bắc, tôi đã có dịp gặp Hải vài lần, nhưng không hỏi han đến em bé thông minh, dũng cảm ấy. Hải có biệt hiệu là Hắc Hổ. Tôi được biết, sau khi trốn khỏi, lên Sài Gòn vẫn tiếp tục hoạt động kháng chiến trong lòng địch.


Đêm hôm ấy, toán lính chốt "làm bẫy chuột" ở nhà Hải rút về, giao lại cho bọn lính kín Mỹ Tho, do một tên Cò tây lai, vốn trước đây sống ở Mỹ Tho, chỉ huy. Sáng hôm sau một anh phu kéo xe, dừng lại gần cổng nhà anh Hải, không rõ vì lý do gì, bọn lính kín bắt giữ đánh đập, đến 9 giờ, tên Cò tây lai dẫn đến văn phòng quân Pháp đóng, ỷ mình là chánh sở mật thám, trong lúc Trung úy Cousson đi vắng, hắn tự tiện lôi anh xe kéo, tự mình vừa đánh vừa hỏi cung. Bọn lính Pháp thấy cách đánh người tàn bạo của tên chánh sở mật thám tây lai đều tỏ vẻ khó chịu. Tôi tới gần, hỏi: "Tại sao anh đánh nó?". Tên mật thám nói: "Nó là Việt Minh". Tôi bắt nó đỗ xe gần nhà tên Hải. Tôi quay lại hỏi người bị bắt: "Anh làm gì mà bị bắt?". Người kéo xe nói: "Tôi kéo xe đi ngang đó, thấy mệt, ngồi nghỉ xả hơi, không ngờ bị ông nầy bắt không biết tại sao?". Tôi dịch lại tiếng Pháp cho cả văn phòng đều nghe. Bọn lính nghe rõ, lên tiếng phản đối. Tôi nói với tên chánh sở mật thám: "Hôm nay ông chủ đi vắng, có việc gì chiều ông đến, để người bị bắt lại đó, chúng tôi sẽ điều tra. Thấy bất lợi, nó bỏ đi ra không chào ai cả. Cousson về, bọn lính kể lại. Cousson ra lịnh ngay: "Từ nay về sau tôi đi vắng, không cho tên nào vào đây lộng quyền cả nghe chưa? Đây là lịnh của tôi".


Nhìn thấy anh phu xe mồm miệng còn đầy máu, Cousson bảo: "Thôi đủ rồi, thả nó ngay!". Bọn lính thích thú thi hành lệnh. Tôi rót ngay ở bi-đông ra một ly rượu Rhum, đưa cho người phu xe uống trước khi anh chắp tay chào từ biệt. Một anh lính trẻ bình luận: "Tên mật thám đúng là một tên thực dân chính cống!" (C'est un vrai colonialiste). Giữa lính Pháp mới và bọn Pháp cũ có mâu thuẫn, có thể lợi dụng được, vẫn có ích cho nước cho dân.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #24 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:45:54 pm »

Tôi vẫn bán tín bán nghi về việc bọn chỉ điểm chỉ cho bọn Pháp vây bắt nhà Hải? Nhà của một giáo sư có vợ đầm, có danh vọng ở Mỹ Tho. Tôi kiểm lại, trừ bọn lính kín cũ làm cho sở mật thám Mỹ Tho, bọn chỉ điểm cho quân đội viễn chinh Pháp, ở Mỹ Tho đã có những ai? Mấy tuần đầu là tên đốc phủ Tâm khét tiếng chống Cộng mà nhân dân Nam Bộ ai cũng biết. Nhưng từ khi có tôi làm phiên dịch thì bọn Pháp chỉ sử dụng nó như một thông tin viên danh dự (honorable correspondant) khi cần mới hỏi đến. Phục vụ cho Cousson, sĩ quan chỉ huy kiêm sĩ quan tình báo của tiểu đoàn 2 (2è bataillon/ 6è RIC/ 9è DIC), ngoài tôi là phiên dịch viên không công, chỉ còn cô giáo Mỹ, một cô giáo không có học trò, một phụ nữ không còn trẻ và không có "co", quan hệ với Cousson khá mập mờ nhưng không có gì khó hiểu, và làm đầy tớ sai vặt. Có một anh tên Hai, tuổi chừng 30, thuộc loại vô sản lưu manh xin vào làm lính đầu đỏ (Partisan) để nuôi thân. Trong ba người đó, ai là người chỉ điểm vụ nầy? Tôi đang phân vân suy nghĩ thì bỗng có lịnh của Cousson phải chuẩn bị để ngày mai trung đội sẽ mở một cuộc bố ráp vùng ngoại vi thành phố Mỹ Tho. Tôi hỏi Hai: "Mầy có biết đi bắt ai không?". Hai muốn tân công: "Tôi biết đi xét nhà ông Năm... ở đường Xoài Hột". Sáng hôm sau, tôi kêu Hai xách súng đi theo tôi tới nhà ông Năm. Nhà lá ở chơ vơ giữa cánh đồng trống. Một con đường hẻm nhỏ dẫn vào nhà chừng 200m. Tôi thầm nghĩ: nhà hội họp của Việt Minh ở chỗ nầy nếu bị bao vây chạy ra đồng trống khó thoát. Tôi bước vào nhà, chỉ một ông già khoảng ngoài 50 tuổi tiếp tôi. Vì có Hai đi mang theo súng, đội mũ đỏ, nên tôi nói ngay: "Tôi nghe nói nhà ông có chứa Việt Minh nên đến hỏi ông: ông có chứa Việt Minh hay tài liệu Việt Minh nên đưa ra ngay thì khỏi bị bắt, khỏi bị liên lụy", ông già chỉ ngay cuốn sách đạo Cao Đài để giữa bàn nước trả lời: "Mấy cậu ơi! Nhà tôi theo đạo Cao Đài, đừng vu oan giá họa cho tôi, tội nghiệp". Tôi chỉ Hai rồi nói trỏng: "Thôi ông đã không chỉ, để chiều Tây nó tới xét nhà có tài liệu Việt Minh thì ông đừng trách chúng tôi đa". Tôi chỉ cuốn sách đạo Cao Đài dầy cộm trên bàn: "Tài liệu đó ông cứ để yên, chiều tụi tui tới mà không có thì đừng trách". Nói xong tôi dẫn Hai ra về, không chào hỏi gì cả. Đến chiều, hai tiểu đội lính Pháp cùng tôi đến căn nhà đó y như kế hoạch càn quét đã định. Cuốn sách Cao Đài còn để nguyên trên bàn nước. Bọn lính lục xét khắp nhà chẳng có tài liệu, vũ khí gì. Ông già vẫn đứng rót nước trắng ra tách mời khách đàng hoàng. Tôi cầm cuốn sách Cao Đài nói với Cousson: "Tung tin sai. Ông già theo đạo Cao Đài một tôn giáo chống Việt Minh". Tôi quay sang nói với ông già: "Chúng tôi tịch thu cuốn sách của ông để làm tang chứng". Dĩ nhiên Cousson đồng ý rút lui quân, không bắt tù binh, chỉ có một chiến lợi phẩm độc nhất: cuốn sách truyền bá đạo Cao Đài. Cụ già Năm tiễn khách, nét mặt có vẻ đắc thắng! Cũng nội chiều hôm ấy. Cousson đưa cho tôi một lá đơn của cô giáo Mỹ, trong đơn có yêu cầu quân đội Pháp cho cô ta cái vườn và nhà ở của ông giáo, ba anh Hải, để cô dọn đến ở, gọi là trả công cho cô đã báo tin cho nhà chức trách quân sự Pháp để diệt hang ổ Việt Minh ở Châu Thành Mỹ Tho. Cousson hỏi ý kiến tôi. Tôi đọc kỹ tờ đơn xin cấp nhà. Tôi nói với Cousson: "Kể ra chỉ điểm viên cũng có công đấy! Nhưng ban thưởng nhà đất không thuộc thẩm quyền của quân đội. Hơn nữa, ông giáo sư Nghĩa là công dân Pháp, vợ ông là người Pháp. Việc làm của Hải, hai ông bà đang ở Pháp không đồng tình. Nếu chúng ta đụng tới việc này thêm nhiều phiền phức đụng đến luật dân sự. Nhà binh không thể giải quyết!". Cousson đồng ý với lời nhận xét của tôi. Trả lại đơn cho cô giáo Mỹ. Người đàn bà ấy có cái tên thật đẹp (Mỹ!) nhưng hình dáng không đẹp chút nào, tính cách thì quả là xấu. Đến nay, nếu còn sống, bà ta chắc cũng đã đến tuổi 70. Có thể tự kết luận được rồi. Còn nếu chết, cũng là may cho con cháu. Hải, thì đến nay còn sống, đã nghỉ hưu ở thành phố Hồ Chí Minh, sau khi hoàn thành nhiệm vụ của đời mình trong hai cuộc kháng chiến đầy gian khổ lắm tự hào của dân tộc ta... Chúng tôi có mấy lần gặp nhau, nhưng ít nói vì Hải có tật bẩm sinh lãng tai, nhưng do cùng hoạt động trong lòng địch, chúng tôi thông cảm nhau nhiều qua ánh mắt. Tôi có suy nghĩ về Hải là người lai Tây, có hai giòng máu, có hai nước để yêu, nhưng ở đây, yêu nước Việt Nam bị xâm lược lại là vấn đề chính nghĩa. Hải đã chọn con đường chính nghĩa.


Một sự cố trong gia đình xảy đến cho vợ chồng tôi: thằng Anh, đứa con trai lên 5 tuổi, em của Gái bị sốt rét ác tính đã chết đột ngột tại nhà thương thí Mỹ Tho. Do hậu quả mấy tháng trời vợ tôi vào Sài Gòn không có nhà tạm trú phải nương náu ở Brélinh cách Lộc Ninh 12 km, cách Bù Đốp 6km, là đồn điền cao su của Pháp, có tiếng ma thiêng nước độc. Ở tại đó chưa đầy 6 tháng, cháu Anh đã bị sốt rét vàng da, ỏng bụng, về Mỹ Tho vẫn thường sốt liên miên. Nhưng do thiếu thốn và dốt nát về thuốc men, chúng tôi cũng không để ý nhiều về căn bệnh của con. Hôm chúng tôi đưa con đến bịnh viện thì cơn sốt ác tính lên trầm trọng, các bà Sơ đều lắc đầu nhìn chúng tôi ái ngại. Thấy con rên xiết quá, tôi nghiền nát viên kí-ninh vàng của bịnh viện cho để dành: "Con cố gắng uống để sống với ba nghe con". Nó gật đầu cố nuốt viên thuốc đã nghiền nát hòa trong nước, rất đắng. Xong, nó trợn mắt nhìn tôi lần cuối và lịm đi. Ẵm con trên tay, tôi xiết đầu nó vào đầu tôi, nói thầm vào tai nó: "Con ơi! Con không sống với ba mạ, được về với ông bà, nói với ông và cố rằng: Ba còn sống thì không bao giờ phản bội lại cha, ông đâu! Con có thiêng thì phò hộ cho ba để làm việc cứu nước giúp dân con nhé!". Nó đã tắt thở. Nhưng chợt nghĩ lại, nếu quả thật có thiên đường cũng phải để cho con được vào cho con khỏi chịu thiệt thòi thân nó ở đời sau. Và, tôi lấy cái khăn tay thâm nước nhỏ vào trán nó, làm lễ rửa tội cho nó y như sách kinh của Công giáo đã chỉ vẽ. Dù sao, cũng không sao, không có Chúa hay có Chúa thì con trai tôi vẫn không bị thiệt thòi hơn. Cuộc sống hiện tại, cái khổ cái nghèo đã theo đuổi chúng tôi từ Trung vào Nam và con cái tôi cũng chung gánh.


Đám tang con tôi không kèn, không trống: một chiếc quan tài mua vội, dán giấy hồng đỏ thay sơn. Bốn đĩa sành cắm 4 cây nến trắng, bà con giáo dân lối xóm hầu hết là phụ nữ con nhà nghèo khuyên tôi vào cầu xin Cha xứ Barbier cho đem quan tài vào nhà thờ xin làm lễ cầu hồn cho con tôi, mà tôi vẫn chưa kịp đặt tên thánh. Nhưng Cha xứ Barbier, một ông già rậm râu như tên gọi, không biết vì lẽ gì khăng khăng từ chối. Với những đồng tiền còn lại trong túi, tôi nhờ ông già gác nhị tì ở gần bờ sông trên đường lên Xoài Hột, cách thị xã độ 3 km, với tấm bia nhỏ bằng xi-măng xây nấm mộ: "TRẦN TUẤN ANH (1941-1945) Làng Niêm Phò - tỉnh Thừa Thiên", những mong sao sau này tìm lại được hài cốt con.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #25 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2026, 08:46:33 pm »

Mặc dù làm cho Pháp, tôi vẫn cùng vợ con cố gắng ăn tiêu dè xẻn đủ trả tiền nhà, tiền ăn, đừng làm gì cho bà con lối xóm dị nghị, oán ghét. Có lần viên đại úy Charroy chỉ huy thị trấn (Commandant de la place) đóng cạnh nhà tôi, thấy gia đình tôi ăn ở chật chội trong một gian nhà lá tối tăm, bảo tôi nên dọn về ở nhà ông bác sĩ Tươi, hay ông trạng sư Tho có phố lầu bỏ trông, vì chủ đi tản cư. Vợ tôi cũng muốn dọn về chỗ nhà cao cửa rộng. Tôi nhắc lại: "Lịnh chánh phủ không ai được đụng đến nhà đồng bào tản cư, mình không nên trái lịnh". Vợ tôi nghe ra không nói gì thêm. Chỉ có đại úy Charroy là thắc mắc, không hiểu tại sao tôi không sớm dọn nhà. Tôi đành phải nói khéo với ông ta: "Chúng tôi cảm ơn lòng tốt của đại úy, nhưng chúng tôi không muốn đi xa vì gần đại úy chúng tôi thấy an toàn hơn".


Nói dối nhiều khi cũng cần thiết, miễn không thấy xấu hổ với lương tâm.

Khoảng trung tuần tháng 11/1945, có lịnh trung đội phải hành binh càn quét cấp tốc ở thị trấn Tân Hiệp, cách Mỹ Tho 12km về phía Sài Gòn. Cả cái trung đội - tiểu đoàn bộ 2è Bataillon. 6è RIC lên xe từ sáng sớm. Đến một cái đình làng khoảng 3km trên đường đi Bến Tranh, bắt đầu triển khai cuộc vây ráp. Đến một cái nhà lá, một tên lính Pháp, quẹt diêm vào đế giày đưa lên mái toan đốt, tôi nhanh tay ngăn lại, hỏi: "Tại sao mày đốt nhà?". Nó chỉ vào đường hào giao thông bên cạnh nói: "Trạm trú của Việt Minh". May sao dưới hầm còn một đống phân trâu còn ướt, có lẽ chủ nhà mới đổ vội xuống hầm sáng nay. Tôi chỉ vào đống phân: "Không phải là chiến hào đầu, đó là nông dân đào cho súc vật xuống tránh bom đạn đó. Mầy thấy không? Súc vật vừa phóng uế đó. Chả là trước đây, bọn Nhật - Mỹ đánh nhau hay thả bom bừa bãi lắm nên dân quê họ sợ trâu, bò chết mà!". Cũng may, nhờ đống phân trâu, nên các lập luận "bố láo" của tôi cũng trót lọt. Tên lính Pháp vốn là nông dân nên gật đầu thông cảm. Hú vía!


Toán quân bố ráp vây cái đình làng, bắt dẫn theo 48 người nam giới. Vì lính Pháp mới sang, nên chúng không bắt phụ nữ. Số người bị bắt đem về văn phòng tiểu đoàn để hỏi cung. Ngồi sau chiếc bàn, Cousson bắt đầu thực hành bài giảng về tiếng Việt của tôi hôm trước. Nó hất hàm nhìn 48 người đang đứng hai hàng trước phòng, bắt đầu cho vào từng người và hỏi: "Demandez lui s'il est Tan-nin ou Zou-kít?" (Anh hỏi nó là thanh niên hay du kích?). Tôi phiên dịch, cố nói chậm rãi, sợ giọng trọ trẹ khó nghe, dễ hiểu lầm. "Anh phải nói là thanh niên đừng nói là du kích nghe". Người bị hỏi gật đầu đáp gọn: "Dạ, thanh niên!". Cousson đắc ý "Bon". Rồi chỉ sang đứng bờ tường bên phải nó. Tôi hiểu ngay ý định nó muốn phân loại, nếu ai là du kích sẽ cho đứng sang bên trái sẽ đem đi xử bắn như trước kia. "Dịch và diệt". Tôi nhận thức ngay trách nhiệm, nên hết sức chủ ý truyền đạt ý định của mình cho người nghe hiểu rõ. Lặp đi lặp lại 48 lần với từng người bị bắt. Cuối cùng, tất cả đều đứng sang bên phải. Họ đều là thanh niên tiền phong, mặc dù có người đã ngoài 50 tuổi có để hàm râu đen nhánh. Cousson tỏ vẻ khoái trí vì mình đã hiểu được tiếng bản xứ, hoặc ít ra cũng làm cho dân bản xứ thấy được thiện chí của mình, nên hắn đúng lên vung tay: "Bon bon, cà va!". Tất cả đều được tạm giam để làm thủ tục cấp giây thông hành tạm ra về. Tôi cũng thở phào nhẹ nhõm, dẫn tất cả 48 người vào lớp học bên cạnh, ít nhất cũng được ngủ ngon giấc sau một ngày vất vả. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, thấy đói bụng mới sực nhớ là chiều hôm qua, lần đầu tiên tham gia hành quân với bọn Pháp, đầu óc khá căng thẳng nên không nghĩ đến chuyện lo cho dạ dày. Còn 48 đồng bào bị giam chắc vừa sợ hãi lo âu, còn đói hơn mình nữa! Không cần đánh tiếng, tôi xuống ngay nhà bếp, gặp anh Cuistot (lính đầu bếp), bụng phệ, đang đánh trần bên cái bếp dã chiến đốt dầu lửa. Nồi sữa ca-cao đang được quậy đảo nghi ngút khói. Tôi đến gần, lấy hết vốn liếng ngôn ngữ xã giao chào anh lính trình bày rõ hoàn cảnh mấy anh nhà quê bị bắt trong cuộc vây ráp đang nhịn đói từ hôm qua. "Họ là nông dân chính cống, không phải Việt Minh. Anh hiểu chứ?". Anh đầu bếp cũng dễ tính, đồng tình ngay. Thế là tôi được nhận một thùng giấy to đựng bánh "bích quy" lạt Balan và một xô nhôm đầy sữa ca-cao. Một tay xách xô sữa ca-cao, vai vác thùng bánh khẩu phần sáng của một trung đội. Tôi cảm ơn lòng nhân đạo của anh lính Pháp, khệ nệ xách vác kéo ngang sân trường bất kể ai dòm ngó. Dù sao một thầy giáo không bị học trò khinh khi lao động nặng để làm việc thiện. Đặt thức ăn sáng trước cửa lớp học phòng giam, tôi mở cửa phòng xách từng thứ vào. Anh em bị giam cũng đã đứng lên cả. Tôi chỉ vào thức ăn nói: "Mấy anh, mấy chú ăn sáng đi, chắc bụng đói lắm rồi. Đây là ăn trước bọn nó, thức ăn còn nguyên vẹn. Sữa ca-cao còn ngon hơn sữa cà phê, không phải bơ thừa, sữa cặn đâu!" Tôi lấy hết can đảm, nói thêm: "Bởi vì nói thật ra, nếu là bơ thừa sữa cặn thì đến phần tôi trước đã, chưa đến phần các anh đâu". Tôi mỉm cười chua chát với mình. Xong lấy cái ca đem sẵn, tôi múc một phần sữa ca-cao, mở thùng bánh ra, bốc lấy một cái đưa lên miệng ăn, nâng ca lên uống ực một hơi, xong đặt ca xuống nói: "Tôi xin vô phép ăn uống trước để bà con yên tâm, không phải là thuốc độc, cứ tự nhiên ăn uống đi, chờ làm thủ tục giấy má, nhà binh Pháp sẽ thả bà con về quê cũ". Tôi đi ra, biết rằng gần 100 con mắt nhìn theo tôi, nhưng cứ đi thẳng xuống bếp nhận lãnh khẩu phần ăn sáng của mình. Theo luật Hướng đạo sinh tôi có quyền thắt thêm một cái nút vào buổi rạng đồng nầy. Còn luật giáo hội La Mã thì sao? Tôi không rõ. Nhưng Đức Chúa lòng lành vô biên chắc chẳng nỡ trách tôi đâu. Vì đó là việc phải làm của mọi người và mọi người đều làm được cả. Nhưng sự đời không đơn giản như tôi nghĩ. Đúng bảy giờ, tôi vừa bước vào văn phòng Ban chỉ huy, bỗng nghe thấy lao xao trước cổng sắt. Tôi vội chạy ra. Một tên lính Pháp ôm súng gác cổng đang tranh cãi với một phụ nữ nông dân, trạc 40 tuổi, thân gầy như que củi, mạnh ai nấy nói, thấy tôi ra anh lính trẻ mừng rơn, giao người đàn bà cầm lá đơn cho tôi. Tôi dẫn chị phụ nữ vào văn phòng, chị ta bước tới cầm đơn đặt trước mặt Cousson. Cousson đưa tôi dịch, tôi lướt xem qua vì lá đơn khá dài, khoảng hết hai trang giấy kẻ. Tóm tắt: chị ta có người chồng bị bắt trong cuộc hành binh ở Tân Hiệp vừa qua, chị ta mất chồng và mất luôn túi nữ trang 12 lượng vàng và hột xoàn. Mất chồng và tiếc của nên chị làm đơn kêu oan chồng và xin được nhận lại đồ nữ trang nói trên. Tôi dịch lại cho Cousson nghe, Cousson hỏi: "Chị biết ai lấy vàng không?". Nghe tôi dịch câu hỏi chị chỉ ngay ngón trỏ tay phải vào ngực tôi, mắt quắc lên hét to: "Thằng Việt gian nầy lấy!". Tôi đỏ mặt, nhưng cố trấn tĩnh dịch lại đúng từng chữ cho Cousson nghe. Cousson phì cười, vì trong cuộc hành binh tôi ở bên cạnh nó. Tôi đã bình tĩnh nhớ lại câu cách ngôn cổ của Ấn Độ: "không có lửa sao có khói?". Tôi nói với Cousson: dù sao đã có đơn kiện thì phải có xét xử. Cousson lập tức tập hợp toàn trung đội, mang theo cả ba-lô và sac marin (túi bao to đựng quân trang) trên lưng mỗi tên lính. Tập hợp xong, viên trung úy trẻ tuổi gọi viên thượng sĩ trực ban đến biểu đi xổ tung từng ba-lô, túi sắc ra thềm nhà. Không có vật gì quí giá cả. Chỉ có những chiếc đồng hồ đeo tay của cá nhân, đây đó vài chiếc nhẫn, chiếc vòng đồng hồ đeo tay không đáng giá. Đúng là lính mới, chúng còn khá ngây thơ hoặc chưa kịp tiêm nhiễm thói quen đời lính tẩy. Cousson chỉ cho chị phụ nữ đến nhìn kỹ từng đống áo quần của lính. Chị cũng nhìn qua không lục lạo gì trong đồ lính thêm. Tôi nói với Cousson: "Còn một chỗ chưa xét", "ở đâu?", "ở nhà tôi". Tôi đáp. Cousson cười chỉ chị nông dân, chị nghe tôi nói lắc đầu. Cousson đưa tờ đơn cho tôi bảo: "Thôi kết thúc câu chuyện đi!".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:47:51 pm »

Tôi dẫn chị vào văn phòng và hỏi thật chị muốn gì cứ nói đi. Chị nói muốn gặp mặt chồng. Tôi cầm tờ đơn đi vào phòng giam đưa cho chồng chị và hỏi có thật chị mất vàng không? Ông chồng lắc đầu tỏ vẻ bực: "Chúng tôi nghèo xác nghèo xơ, dân tản cư có vàng có hột xoàn gì đâu? Chắc nó bịa để đi thăm tôi đó thôi". Tôi dẫn chồng ra cho chị gặp mặt. Ông chồng là người có râu đen, độ 50 tuổi, cũng nói là thanh niên lúc hỏi cung, gặp vợ đã không hôn mà tay giáng một cái tát vào vợ mặt hiền, la lên: "Mày đặt chuyện tầm bậy, tao nhờ ổng mà khỏi chết, sắp được thả rồi mầy viết đơn tầm bậy, ổng giam lại biết chừng nào về nhà". Tôi vội xông đến can thiệp, vì thấy cái tát thứ hai sắp giáng xuống. Tôi an ủi ông chồng, bảo cứ yên tâm xong giấy tờ thông hành mới ra đi được. Bà vợ lúc đó mới tươi tỉnh nét mặt, thú thật là vì chồng bị bắt, nhờ người ta viết đơn giùm rồi bịa chuyện mất vàng và hột xoàn cho to chuyện để mong được tiếp nhận và được gặp chồng. Tôi không nhắc lời chị mắng tôi là Việt gian đã lấy cắp của chị trước mặt một sĩ quan Pháp, vì sợ chị mắc cỡ, thầm tâm tôi cũng kính phục chị dám mắng Việt gian trước mặt người đại diện quân đội viễn chinh ngay chốn ba quân!


Sau này, mãi mấy tháng đầu năm 1946, mỗi lần tôi trở về thăm nhà, vợ tôi vẫn khoe với tôi, trong lúc tôi xa nhà, chị phụ nữ có chồng được thả, mỗi lần đi chợ Mỹ Tho, vẫn mang đến cho khi nải chuối, khi quày dừa, vì thấy vợ con tôi sống đạm bạc trong căn nhà lá nghèo nàn quá! Tôi dặn vợ tôi: "Người ta đến thăm là tốt rồi, nhưng họ cũng nghèo, em đừng nhận quà cáp gì cả, không nên!".


Đến cuối tháng 11/1945, quân đội Pháp tạm củng cố việc phòng thủ ở thành phố Mỹ Tho. Trung đoàn 6è RIC/9è DIC đã chiếm xong hai vị trí xung yếu nhất ở miền Tây Nam Bộ: Mỹ Tho và Cần Thơ. Ban chỉ huy trung đoàn đóng tại Mỹ Tho, lấy mật danh là PC.Eléphant (hành dinh Con voi). Theo tôi biết: đóng tại Mỹ Tho có Tiểu đoàn 2 và Đại đội Trợ chiến (C.A.C) đóng tập trung ở dinh tỉnh trưởng. Trường Collège và Ban chỉ huy ở trường St.Joseph (Taberd). Phía bên kia cầu quay, có đại đội lính đầu đỏ (Partisans) thu hút bọn đầu trộm đuôi cướp, vô sản lưu manh. Tên tây lai Leroy lúc đó được phong hàm chuẩn úy, chỉ huy bọn đầu đỏ, dòm ngó về Bến Tre, quê quán nó ở Bình Đại, mấy năm sau nó lên hàm quận trưởng, rồi đại tá tỉnh trưởng. Chỉ huy khu vực Mỹ Tho là đại úy Charroy, ở sát gia đình tôi ở; Nói cho công bằng, viên sĩ quan này đã lớn tuổi, tính nết điềm đạm, dễ tiếp xúc, vì biết lẽ phải trái. Hoạt động của 6è RIC triển khai theo chiến tuyến dọc theo con đường số 4, nhằm tấn công vào khu vực miền Tây Nam Bộ. Toàn bộ nỗ lực của chúng trong tháng 11/1945 là nhằm khai thông con đường Mỹ Tho - Sài Gòn dễ điều các đơn vị thiết giáp và pháo binh xuống yểm hộ cho bộ binh.


Đến cuối tháng 11/1945, công binh Pháp đã bắc xong hai cầu Bến Lức và Tân An, đã bị ta phá sập sau ngày rút lui khỏi chiến tuyến chợ Đệm. Tiểu đoàn 2/6è RIC lại được lịnh điều ngược về Sài Gòn một dại đội trong đó có tiểu đoàn bộ dọc đường từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, qua các thị trấn dọc đường số 4 đồng bào đều tản cư theo chủ trương của kháng chiến "Vườn không nhà trống", chỉ một số tiệm chạp phô của Hoa kiều là mở cửa đón khách qua đường, ung dung tự tại dưới lá cờ thanh thiên bạch nhựt của Tàu Tưởng, một cơ hội để hốt bạc... của nghề thương mãi.


Đơn vị có tôi đi theo, trú đêm tại hậu cứ của Sư đoàn 9 (9è DIC) trên đường Angier đầu cầu Thị Nghè, có các kho vũ khí đạn dược và xăng dầu của sư đoàn, đã bị Lê Văn Tám đốt rụi (khoảng đầu tháng 12/1945). Hôm sau đơn vị lại tiếp tục hành binh đánh chiếm Thủ Đức. Trừ trường dòng "Anh- Em", các tu sĩ còn ở lại, ở thị trấn nổi tiếng về thịt bò 7 món này không còn bóng dáng một người đàn ông, nên không có tiếng súng đạn. Tôi nhớ lại Coussòn vừa đặt lưng xuống đi-văng, trong một căn phố vắng chủ để nghỉ trưa đã nói với tôi như ra lịnh, tuy vẫn dùng cách xưng hô anh, tôi, không mày tao mi tớ: "Cherchez-moi une Con Gái" (Anh tìm cho tôi một cô gái). Tôi biết thằng này đang nổi máu lính tây, vì thiếu cô giáo Mỹ bên cạnh như trước đây ở Mỹ Tho. Nhếch mép cười, tôi đáp: "Dân chúng tản cư hết nếu có con gái thì tôi đâu để đến phần anh! Hơn nữa chỉ có phụ nữ bị giang mai mới không chịu tản cư". Nó thở dài thất vọng.


Trở lại thị xã Mỹ Tho, sau hai ngày hành binh cấp tốc, để nới rộng phạm vi chiếm đóng Sài Gòn, tháng 12/1945, kể như Mỹ Tho khá yên tĩnh, trừ hai chi tiết: một tu sĩ dòng "Anh-Em" phá giới theo làm lính đầu đỏ cho bọn Pháp, ở Thủ Thừa (Tân An) bị du kích bắn gãy tay, vào thăm trường St.Joseph cũ, gặp tôi, năn nỉ xin vào làm phiên dịch không công như tôi. Tôi hỏi anh ta, anh có ruộng vườn ở Thủ Thừa không? Anh bảo là có. Tôi khuyên anh nên rút kinh nghiệm về làm vườn mà sống yên thân hơn, đi lính thêm khổ thân. Thành thật tự thâm tâm, tôi cũng muốn về vườn sống mà không có đất. Anh ta rút lui.


Cũng trong thời gian đó, tin tức về kho đạn Thị Nghè bị đốt, nhà cháy, đạn nổ kéo dài cả tuần, tin bay về tận Mỹ Tho. Bọn Pháp bắt đầu nơm nớp lo sợ "Việt Minh tấn công tận hang ổ chúng". Ngày 24/12, đáng lẽ là nghỉ lễ Noel, nhưng đơn vị lại cấp tốc hành quân mở rộng chiếm đóng quốc lộ 4 và đánh chiếm Cai Lậy. Xe GMC chở lính phải đi rất chậm phần sợ Việt Minh bắn tỉa, phần phải tránh những chiến hào chữ chi ngay trên quốc lộ 4, cứ 500m, có chiến hào, khi bên phải, khi bên trái làm chậm bước tiến quân. Nhưng đến nửa đường, đành phải kéo đi bộ, vì cầu Long Định bị phá sập. Đốc phủ Tâm vẫn đội nón cối, mặc bộ đồ tussor, súng hai nòng khoác vai, trên đường đi vắng tanh, không một nông dân nào xuất hiện. Đến thị trấn Cai Lậy vừa đúng trưa ngày 24/12/1945. Sân vận động Cai Lậy còn cháy dang dở, do Việt Minh đốt trước khi rút lui.


Thị trấn Cai Lậy vào năm 1945, hầu hết các nhà đều lợp lá, trừ một vài tiệm chạp phô bằng ngói của Hoa kiều là mở cửa, có lá cờ "Thanh thiên bạch nhựt" treo phất phơ trước mái, làm bùa hộ mệnh. Một tên lính Pháp còn trẻ măng đang đưa báng súng dộng vào cửa tủ một phụ nữ gầy ốm đang khóc lóc van xin. Tôi đến gần can tên lính. Tên lính trẻ lại chĩa súng vào tôi hăm dọa. Tôi phanh ngay áo ngực, dứt tung cái áo ra trước mũi súng, thét vào mặt nó: "Tao không muốn mày trở thành tên ăn cướp". Nó lườm tôi rồi thu súng về. Cousson vừa bước vào thấy vậy, cho tên lính một cái tát xiêu người, xử luôn: 7 ngày giam! Tên lính đứng nghiêm nhận kỷ luật. Đêm hôm đó, cả đại đội ăn lễ "Giáng Sinh" giữa sân chợ, có một đại úy, trung úy làm lễ thánh. Tất cả đều đứng xem lễ. Bên cạnh tôi vẫn có tên lính bị phạt tù, cả người sĩ quan trẻ đã phạt tù nó. Tất cả người phạm tội, người xét xử nó, và người ngăn cản không cho phạm tội ác đều đấm ngực ba cái nói lên "Lỗi tại tôi" và tự cho mình là người có thiện chí. Thành kính tưởng nhớ giờ phút Chúa hài đồng ra đời, với lời thánh ca: "Vinh quang Chúa trên các từng trời, hòa bình cho những người có thiện chí trên trái đất". Ngọn lửa ở sân vận động còn đỏ rực ở góc đông thị trấn. Chiến tranh đang lan tới trên đất phì nhiêu ở miền Tây không biết ngày nào chấm dứt. Tôi chợt nghĩ đến Đồng Tháp Mười và Mỹ An Thiên Hộ. Lạy Chúa con đã lo ra rồi! Lúc nào Chúa sẽ đoái hoài đến đất nước của con đang bị ngọn lửa chiến tranh thiêu đốt sáng cả góc trời cao!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:48:37 pm »

Vài ngày sau, đơn vị tiếp tục đánh chiếm thị trấn Cái Bè và mở một cuộc hành binh cấp tốc vào Thiên Hộ, vì được tin Linh mục thừa sai người Pháp ở Cái Bè đã bị Việt Minh bắt đi và giam ở đó. Cuộc hành binh không có kết quả. Nhà không, vườn trống, không một tiếng súng không một tù binh. Hai đại đội lính đầu đỏ vẫn theo chân Cousson. Viên trung úy giao cây súng trường Mauser được tân trang thành súng săn cho tôi để chứng tỏ sự tin cẩn. Thấy tên lính Hai liếc nhìn với vẻ thèm muốn, tôi tháo đạn bỏ vào túi mình, giao ngay cây súng cho Hai mang, dặn thêm: "Ông quan hai cưng cây súng lắm, nòng đã thoa đầy mỡ bò, đừng bắn bậy bạ mà chết với ông ta!". Súng đã tháo đạn, nhưng tôi vẫn phòng xa vì cỡ đạn 7,9 không thiếu. Lính của 2è Bataillon đều trang bị súng trường Mauser.


Sau khi ăn Tết tây (1946) tại Mỹ Tho, toàn đơn vị 2è Bataillon lại tiếp tục hành binh bằng đường sông, sang đóng tại Vĩnh Long. Văn phòng ban chỉ huy tiểu đoàn đóng gần chợ, cạnh bên bờ con rạch nhỏ Cầu Lầu. Cái văn phòng luật sư nào đó (sau nầy nghe nói là của Luật sư Thọ) biên thành hành dinh tiền phương P.C.A (Poste de commandement avancé) Vĩnh Long đã được chiếm từ trước tháng 12/1945. Viên sĩ quan chỉ huy thị trấn Vĩnh Long (Commandant đe la place Vĩnh Long) là đại úy Savariy, một người Pháp gốc đảo Corse, có một vết thẹo dài trên má. Có dưới quyền một dại đội lính đầu đỏ. Savany, sau này lên thiếu tá chỉ huy 2è Bureau của quân đội Pháp ở miền Nam. Sáng 3/4/1946, đơn vị Tiểu đoàn 2/6è RIC được lịnh cấp tốc xuống tàu L.C.M hành binh về hướng Tây, để đánh chiếm thị xã Sa Đéc.


Từ 9/1945, Sa Đéc là nơi chiếm đóng của Đệ tam sư đoàn Nguyễn Hòa Hiệp (sau nầy theo Pháp) trước khi Pháp khởi hấn chiếm Sài Gòn. Cuộc hành binh của 2è Bataillon/6è RIC, có quân số gần hai đại đội đi trên 3 chiếc tàu há mồm L.C.M. phải phá cản lục bình tàu mới tiến được vào thị xã. Thị xã không lớn lắm. Đồng bào đã tản cư trước. Còn ở lại thị xã, tôi nhận thấy chỉ có hai gia đình. Một là gia đình ông Ngỡi ở trên con đường chính nối liền hai cầu ở hai đầu phố chính. Cô con gái bác sĩ Ngỡi gọt cam mời các sĩ quan Pháp ăn gồm có ba người trong ban chỉ huy: thiếu tá Duboval chỉ huy tiểu đoàn, một đại úy chỉ huy phó và trung úy Cousson chỉ huy trung đội văn phòng, chuẩn úy Darían (cháu nội đô đốc Darían, một người chỉ huy cao cấp hải quân Pháp). Trong khi các sĩ quan Pháp quây quần ăn cam, tôi bỏ đi vì cảm thấy khó chịu trước cảnh một trí thức ở lại đón tiếp quân xâm lược, trong khi tất cả đồng bào đều tản cư. Đi đến con đường thứ hai song song với con đường chính, tôi thấy một toán lính, độ ba tên, đang lục lạo trong một căn phố có bảng đề "Phước sanh đường". Vào nhà thấy có các hộc tủ nhỏ đựng những vị thuốc Bắc. Một bà cụ đang run run nhìn bọn Pháp sục sạo. Một ông cụ đang đắp chăn nằm co ro trên sạp. Một tên lính đưa đến cho tôi một tập giấy giới thiệu và một con dấu đựng trong cái túi vải: "Mặt trận Việt Minh Sa Đéc" - "Hội phụ lão cứu quốc". Tôi hiểu ngay cụ già là Hội trưởng hội phụ lão cứu quốc. Tôi hỏi bà cụ, ai nằm trong chăn. Bà cụ đáp, ông tôi đang lên cơn sốt rét đó. Tôi giải thích cho tên lính Pháp biết, hai ông bà già này đang bị bịnh, còn cái tập giấy kia là các toa đơn thuốc của hiệu thuốc bắc, không phải truyền đơn của Việt Minh. Nói xong tôi liệng cái túi và tập giấy ra sân có cái hầm cá vồ và cái cầu tiêu bắc ngưng trên hầm. Tôi lấy thêm hòn đá bỏ vô túi cho nặng, bỏ cả tập giấy giới thiệu vào buộc miệng túi lại. Lợi dụng lúc đi cầu, tôi quăng ngay túi vải xuống hầm cá để phi tang. Tôi chú ý nghe lác đác đây đó một vài tiếng súng mút nổ. Đến con đường đất song song bên cạnh lộ cái, một toán lính đang lục lạo trong một gian nhà lá không người, tôi bước xem một cái va-li cũ đã mở toang nằm dưới đất, một số áo quân cũ đã vứt tung tóe, chỉ còn một quyển từ điển Pháp - Việt của Đào Duy Anh đóng bìa da còn nguyên. Tôi lật ra thấy có tên người chủ cuốn sách ở trang đầu, ghi Trần Bửu Kiếm (thư ký ƯBKC/HC Nam Bộ, những ngày đầu kháng chiến chống Pháp) không có cái bóng dáng nào của Đệ tam sư đoàn hữu danh vô thực của Nguyễn Hòa Hiệp. Cuộc hành binh kết thúc trong ngày. Duboval cho bố trí hai trung đội gác hai đầu cầu, hai đầu phố chính rồi ra lịnh cho toàn đơn vị xuống tàu trở về Vĩnh Long. Binh sĩ xuống hai chiếc L.C.M đi trước, chiếc thứ ba để dành cho ban chỉ huy. Tôi bước xuống theo dưới tàu, nằm sóng sượt 7 tử thi lính Pháp, trong đó tôi nhận thấy có một thượng sĩ văn phòng ban chỉ huy. Bảy mạng công dân của nước Pháp với khẩu hiệu vang lừng "Tự do, Bác ái, Bình đẳng" đã hy sinh cho cái gì ở đây? Những binh sĩ còn sống, ngao ngán nhìn, và lẩn tránh ra sau lái.


Một trung đội công binh làm nhiệm vụ lập lại các cầu bị phá sập dọc hai lộ Mỹ Tho - Bắc Mỹ Thuận và Vĩnh Long - Sa Đéc. Trung đội văn phòng được nghỉ một ngày. Trừ trung úy Cousson có một phòng riêng ở phía sau văn phòng, tất cả binh sĩ đều nằm trong gian nhà rộng phía trước như xấp cá mòi. Tôi trèo lên gác lửng nhỏ, nơi đựng các tài liệu bắt được của Việt Minh trong mấy ngày qua, vất bừa bãi ngổn ngang chật cả gác, dưới ngọn đèn tròn chạy máy nổ, tôi giở đại một tài liệu ở bên cạnh để xem cho đỡ buồn. Một biên bản hội nghị chi bộ xã, đề ngày 23/12/1945, xã chỉ cách thị trấn Cai Lậy 2km, phía đông trên kinh Xáng số 12. Tôi không còn nhớ toàn bộ nội dung biên bản. Nhưng điều sâu đậm trong lòng tôi có hai điểm:


Sát ngày Cai Lậy bị đánh chiếm, nhân dân đều tản cư vào sâu trong Mỹ An, Thiên Hộ, Năm Ngàn, Dương Văn Dương (Đồng Tháp Mười) chỉ còn chi bộ ở lại ngày cuối cùng để họp bàn phân công đối phó với địch, một khi Cai Lậy bị chiếm. Chi ủy xã gồm bảy đồng chí, phân công 4 đồng chí ở lại nắm dân, trong đó có một đồng chí nữ. Một niềm hy vọng tràn ngập tim tôi, chi bộ ở xã còn hoạt động thì cấp trên không thể nào bỏ rơi cuộc kháng chiến này được, hơn nữa còn Bắc bộ, Trung bộ, Bác Hồ không thể nào để yên cho quân Pháp dày xéo Nam Bộ được. Ý thức kháng chiến của tôi không đơn độc.


Đã 8 giờ tốỉ, bọn công binh làm đường lên Sa Đéc giải về năm thanh niên bắt gặp trên đường hành quân. Trời đã về đêm, trung úy Cousson ra lịnh tạm giam ở phòng nhỏ phía trước nhà khách, để hôm sau bắt đầu hỏi cung.

Sáng hôm sau, trời sáng, tôi thức dậy nghe tiếng lao xao dưới phòng ngủ bọn lính Pháp. Hỏi ra mới vỡ lẽ: năm người trong phòng giam không còn nữa, một người trốn thoát, bốn người bị mấy tên lính gác dẫn đi bắn hết. Cousson biết chuyện, nhún vai, chết hay trốn đối với nó đều là như không quen biết, thế thôi!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #28 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:49:05 pm »

Thời gian gần Tết, tôi được cho về Mỹ Tho, nghỉ phép với gia đình. Trường vẫn chưa có học sinh. Binh lính Pháp vẫn còn đóng chốt. Hỏi thăm Chùy, thấy vắng mặt. Vợ tôi bảo nó sợ nặng gánh gia đình nên đã tự động xin đi làm phiên dịch cho C.A.C (Compagnie d'accompagnement tức đại đội trợ chiến của Trung đoàn 6è RIC) nên đã lên đường cùng đơn vị đi Cần Thơ từ đầu tháng 1, và nghe đâu bị thương đang điều trị tại Cần Thơ. Tôi giận quá la lên: "Anh đã bảo nó đừng đi đâu hết, cứ ở nhà, để một mình anh đi làm là đủ, tại sao em để cho nó đi, cho đến nông nỗi nầy?".


Vợ tôi thấy tôi to tiếng, lặng im. Một ý nghĩ lại đến với tôi: Phải xuống ngay Cần Thơ thăm nó, khuyên nó điều trị cho mạnh rồi ở luôn Cần Thơ, trên đường móc nối với anh Xuẫn, đang làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Bình Thủy (Cần Thơ). Tôi sang gặp đại úy Charroy, xin giấy phép đi Cần Thơ. Charroy đang tiếp một người Pháp dân sự: kỹ sư công chánh Fournier. Fournier có chiếc xe Traction avant đang định đi Cần Thơ. Charroy gởi tôi đi tới Vĩnh Long. Tới đó tôi sẽ xin phép đơn vị để sang Cần Thơ trong ngày. Hôm đó vào hạ tuần tháng 1/1946, tôi quá giang Fournier đến bến Bắc Mỹ Thuận. Một viên đại úy Pháp đứng ở thanh chắn ngang bến không cho xe vào bến Bắc. Hai chiếc xe nồi đồng (AM) gắn súng 37mm cũng dừng lại ngoài cảng. Tôi hiểu chiếc phà nhỏ không đủ sức chở loại xe này. Fournier dừng xe xuống chào viên đại úy và chìa công lịnh ra, xin vào bến phà, viên đại úy không cho. Hai bên cãi nhau. Tôi cũng xuống xe đến gần. Không biết Fournier đã hỏi gì chỉ nghe viên đại úy đáp: "Je sers la France" (tôi phục vụ nước Pháp) - lúc ấy Fournier nổi cáu thật sự: "Si tu n'es pas payé à la fin du mois, peux tu servir la France? Tu es ici, parce que tu es payé pour çà! C'est tout!" (Nếu cuối tháng nầy không được trả lương, liệu mày còn phục vụ nước Pháp được không? Mày ở đây là vì mày được trả lương để làm việc đó, thế thôi!). Bỗng nghe có tiếng: "Hélo! Jules!" (Này bọn kia!) từ dưới bến phà vọng lên. Một sĩ quan Pháp đứng trên mô đất cao bên bến phà đang vẫy tay chúng tôi xuống, xung quanh có một nhóm sĩ quan khác. Viên đại úy bỏ chỗ gác chạy xuống, tôi và Fournier cũng rảo bước theo. Vừa chừng nhìn rõ môi trên viên sĩ quan có chòm râu kiểu Hitler, nhưng rậm hơn, sâu rọm dài hơn, trên cầu vai có 4 ngôi sao đại tướng tập đoàn quân. Tôi hiểu ngay, trước mặt tôi chính là viên tướng lừng danh, là người giải phóng Paris, trên các báo chí Pháp. Và hiện nay là tư lệnh tối cao quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương: Leclerc, xung quanh là nhóm sĩ quan tùy tùng. Thấy mọi người đã vây quanh, Leclerc quay mặt đối diện với sông Cửu Long chuyển cây gậy (trique) uy quyền màu đen có ngôi sao bạc, cầm sang ở tay trái, dùng tay phải dang thẳng ra phía bên kia chân trời, khoát một vòng từ bờ sông phía Nam sang phía Bắc, bao quát cả một vùng rộng lớn Đồng Tháp Mười hoang dã mênh mông, lớn tiếng như hô trước ba quân: "Je vais balayer cà en quatre semaines" (Ta sẽ quét sạch vùng này trong vòng 4 tuần lễ!). Nã Phá Luân đứng trước đạo kỵ binh viễn chinh của đế quốc Pháp, trước triển vọng rút quân qua Địa Trung Hải để về Pháp, cũng đã dùng giọng nói như vậy để nâng cao sĩ khí ba quân: "Hỡi tướng sĩ! Từ trên đỉnh các Kim tự tháp, 40 thế kỷ đang chiêm ngưỡng các ngươi!" (Du haut de cette pyramide, 40 siècles vous contemplent) lên giây cót cho binh sĩ trước triển vọng rút quân hay giọng nói tướng của một ông tướng! Dù sao tôi vẫn không tin và không thích giọng điệu huênh hoang khoác lác đó. Tôi tin vào lịch sử: sông Cửu Long với Rạch Gầm và Xoài Hột đã nhận chìm 4 vạn quân Xiêm! Đồng Tháp Mười với các nghĩa binh Trương Định, Nguyễn Trung Trực mà tôi đã dọc sử lúc dạy môn lịch sử: "Bao giờ Đồng Tháp Mười hết cỏ thì mới hết người dân chống Tây". Tôi vẫn tin vào lịch sử: các cuộc viễn chinh Thành Cát Tư Hãn ở phương Đông, rốt cuộc với Thoát Hoan chui vào ống cống thoát chết; Nã Phá Luân ở phương Tây, cuối cùng phải rút chạy khỏi nước Nga thất bại ê chề! Đó là niềm tin của con người luôn bị cái nhục mất nước dày xéo ám ảnh tâm can..., Chờ xem thực hư chân giả. Hay chỉ là một kế nghi binh của một tướng tài ba thao lược?


Leclerc nghỉ lại đêm ở Vĩnh Long, tại biệt thự của Giám mục Ngô Đình Thục có đủ tiện nghi, giường Hồng Kông gọng đồng bóng loáng, lò xo nhún nhảy, ghế tràng kỷ gỗ mun, cẩn xà cừ óng ánh thay vì xa-lông tiếp khách. Viên tổng tư lịnh Pháp hội ý với sĩ quan chỉ huy khu vực: đại úy Savany, chỉ thị phải đón giám mục Thục còn đang tản cư ở chợ Lách trở lại tòa giám mục Vĩnh Long. Tôi được biết tin ấy qua Cousson, Tết 1946, nhằm ngày 2/2/1946. Tôi xin phép đơn vị quá giang xe chở bánh mì tiếp tế Cần Thơ. Tôi mua ổ bánh mì, đến Cần Thơ vào bịnh viện nhà binh Pháp thăm Chùy. Bịnh viện Cần Thơ để dành cho quân viễn chinh Pháp 3 nhà để làm quân y viện. Khoảng 50 thương bịnh binh. Chùy đang nằm trên giường sắt, thấy tôi đến, mừng rỡ, mặt lốm đốm vết đen vì mảnh lựu đạn, may không hỏng mắt. Tôi không rầy nó, chỉ dặn ráng điều trị cho lành, rồi xin thôi việc ở lại Cần Thơ, tìm gặp anh Mai Xuẫn, nhắc lại lời hẹn trước (ở Cần Thơ tìm cách tham gia công tác và chờ tôi xuống cùng tham gia kháng chiến cho có bạn) Chùy đồng ý và đưa cho tôi xem chiếc mề đay "Croix de guerre" Leclérc đã đích thân gắn cho nó tại giường bịnh, lúc hắn đến thị sát Cần Thơ. Mề đay được Leclerc ký duyệt ngày 15/11/1946. Thế là Leclerc đã xuống miền Tây. Chiến sự ở đây phải chăng đã đến thời kỳ quyết định trở nên quyết liệt hơn. Phải chi có anh Vịnh (tức Nguyễn Chí Thanh) ở đây chỉ bảo cho tôi những điều cần phải làm. Tôi biết anh đang là Chủ tịch Việt Minh Trung bộ và Chủ tịch Hội thanh niên Việt Nam. Nhưng biết làm sao được, phải tự mình xoay sở miễn đừng mất gốc...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #29 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:50:11 pm »

CHƯƠNG 5
VÀO TRẬN


Ngày 2/3/1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp khóa I, bầu Chính phủ Liên hiệp kháng chiến tại Hà Nội, do Hồ Chủ tịch lãnh đạo. Cùng ngày đó, ở Sài Gòn, tướng Leclerc ra lịnh: tung quân mở đầu chiến dịch "Bến Tre". Kế hoạch đã vạch chu đáo, về lực lượng tham chiến toàn bộ sư đoàn 9 bộ binh (9è DIC) trụ cột của quân đội viễn chinh Pháp đã tập trung về Sài Gòn để tham gia chiến dịch. Sư đoàn 2 thiết giáp (2è DBL), con cưng của Leclerc, đã từng được viên tướng này huấn luyện, tuyển mộ và tập dượt trên sa mạc Sahara trong những ngày kháng chiến chống Đức ở châu Phi, khi ông ta còn là một trung úy thiết giáp, cũng đã lên đường trên con lộ số 10, vượt qua biên giới Miên Lào để tiến công vào vĩ tuyến 16, ngang Trung bộ, theo con đường số 9 làm gọng kềm thứ hai của chiến dịch, về mặt ngoại giao, tướng Salan đã thay mặt Leclerc đến Trùng Khánh ký hiệp định Pháp - Trung với Tưởng Giới Thạch để quân Pháp thay thế quân Tưởng giải giới quân Nhật từ Vĩ tuyến 16 trở ra. Mãi mấy tháng sau, đọc báo "Caravelle" tôi mới hiểu âm mưu đó của viên tướng tài nước Pháp.


Sáng 2/3/1946, tôi thức dậy cùng đơn vị 2è BM theo lịnh báo động hành binh, mang cả hành trang cá nhân theo, hành trang của tôi cũng đơn giản, ngoài bộ quần đùi, áo sơ-mi cụt tay, màu đất xám rộng thùng thình, lấy từ kho quân trang của bọn Đức phát xít để lại cho quân Pháp, còn nguyên vẹn ở Berlin, tôi chỉ còn một bộ đồ treilly rằn ri áo liền quần, dầy như mo cau, màu cứt ngựa của lính Mỹ, hành trang cấp phát dư thừa của quân đội Mỹ, sau chiến tranh đem cho quân Pháp theo kế hoạch Marshall để giải quyết hàng ứ đọng, gọi là viện trợ của đồng minh về vũ khí và quân dụng cho Pháp để lấy lại thuộc địa Đông Dương. Tất cả cái tài sản ấy được bố thí dây chuyền đến tận tay tôi đều gói gọn với chiếc chăn dạ xám trong cái ba-lô nhảy dù của Mỹ, lủng lẳng những dây đai khóa sắt và túi nhỏ đựng linh tinh. Tôi thu gọn nhanh và rảo theo hàng lính, nện gót giày đinh trên đường phố Sài Gòn. Tôi đã ghét gót giày đinh từ lúc đọc truyện "Gót sắt" của J.London, vì vậy lúc cấp phát quân trang tôi đã năn nỉ với tên OD (Officier de détails) để được đổi lấy đôi giày đế cao su đen, mặc dù đôi giày đã cũ, chắc của một tên lính nào đã chết để lại. Từ nơi trú quân ở doanh trại của 11e-RIC cũ, tôi đi thẳng ra bờ sông Bến Nghé (Quai de Belgique - nay là Bến Chương Dương). Mấy chiếc tàu há mồm L.M.C đã đậu nằm chờ trung đội xuống tàu. Tôi hỏi một tên lính bên cạnh: "Chúng ta đi đâu? - "Tham gia chiến dịch Bến Tre". "Bến Tre sao không xuất phát từ Mỹ Tho, mà phải lên Sài Gòn? Một viên hạ sĩ đứng cạnh vỗ vai tôi: "Ba ngày nữa chúng ta sẽ đổ bộ ở Bắc Kỳ!". Tôi quay lại tên lính, hắn gật đầu. Tôi nhìn ra sông Sài Gòn thấy những chiếc LCT, LCI v.v... loại tàu đổ bộ cỡ lớn đang đậu hàng dọc. Thế là rõ! Leclerc đem quân ra đánh Bắc, trong lúc Tổng hành dinh còn đóng ở Sài Gòn, đánh Bến Tre thì chúng không huy động số tàu lớn như thế này. Tôi quyết định ngay: xốc lại chiếc ba-lô trên vai, tôi nói với tên lính trẻ ban nãy: "Tao còn gia đình ở đây, phải lên gặp chỉ huy cái đã". May mà chỉ huy đơn vị Duboyal và Cousson không đi chiếc LCM này, nên tên lính thông cảm gật đầu. Tôi ba chân bốn cẳng phóng như bay khỏi chiệc tàu há mồm sắp rời bến, đi ngược lên phía đường Gatinat (nay là Đồng Khởi), không biết đi đâu, nhưng nhứt định không ra Bắc, vừa xa gia đình vừa không có ai quen biết, cái chết cầm tay! Phải: trở lại Mỹ Tho. với vợ con cái đã. Đi hết con đường Catinat trước mắt đã hiện sừng sững nhà thờ Đức Bà, tôi thấy bên tay phải một cái cổng mở sẵn, có một số đông người đang đứng coi tờ cáo thị, trong căn phòng rộng ăn thông ngang cổng vào. Thì ra có tờ cáo thị tuyển chọn phiên dịch viên làm hợp đồng cho quân đội viễn chinh Pháp, hợp đồng ba tháng ký lại một lần, lương bổng, cấp bậc sẽ được hưởng tương đương như binh sĩ Pháp. Sẵn công lệnh của đại úy Charroy cấp còn giá trị, tôi bước vào phòng thi tuyển. Một chục người đang lố nhố ngồi chờ. Trên bàn chấm thi, một viên thiếu tá và một đại úy Việt ngồi hỏi vấn đáp từng người, rồi hội ý cho điểm, định cấp bậc luôn, thủ tục gọn và nhẹ. Nội dung thi càng thi vị hơn: một cuốn Kim Vân Kiều đặt ở trên bàn, thí sinh chỉ việc lật ra bất cứ trang nào, chấm ngón tay vào trang, đọc lên hai câu lục bát được chỉ trúng rồi dịch ra bằng tiếng Pháp cho giám khảo nghe. Giám khảo hội ý rồi nói luôn cấp bậc, lương được hưởng cho thí sinh biết. Viên đại úy hỏi họ, tên rồi ghi luôn vào tờ hợp đồng đối với cấp bậc, lương được hưởng giao cho người trúng tuyển phân công về đơn vị nào đó, cho luôn giấy đi đường. Nhìn viên thiếu tá người cao to, da mặt tai tái của loại cạo giây và cuốn Kim Vân Kiều dở sẵn, 2 câu: "Thoắt trông nhờn nhợt màu da, ăn gì to lớn đẫy đà làm sao?" Tôi dịch: Du pre-mier regard, Il a un visage pâlot, Qu'est ce qu'il a bouffé pour être si grand et si gros! Đây cũng là loại tú bà giống đực mà thôi! Vì phân tán tư tưởng, tôi dịch lầm lẫn giống đực và giông cái trong ngữ pháp, và nhận ngay một kết quả xứng đáng về cấp bậc: Đội xếp (sergent chef). Tôi không quan tâm đến giám khảo và các thí sinh khác và cũng dửng dưng với cái lon mới của nhà binh, từ một nhà giáo, bị bắt làm phiên dịch không công, không ngạch bậc nay trở thành một phiên dịch hợp đồng trong ngạch nhà binh, quân đội viễn chinh Pháp, hằng tháng lãnh lương của kẻ thù dân tộc! Sau này sẽ ăn nói với đồng bào làm sao đây? Một câu hỏi của viên đại úy làm tôi tỉnh giấc mơ, quyết định ngay: "Cho tôi về Cần Thơ. Gia đình tôi ở đó". Thật ra gia đình tôi ở Mỹ Tho.


Nhưng lời hứa với anh Xuẫn làm tôi tỉnh ngộ, làm sao cũng còn cách tham gia kháng chiến, tôi đã dặn Chùy tìm anh Xuẫn ở Cần Thơ, chờ tôi xuống. Định hướng, ý định và định mệnh đã gặp nhau, trong một tích tắc ấy phải chăng đó là thời cơ quyết định cho cuộc đời tôi? Thời cơ ấy xảy ra vào chiều ngày 2/3/1946, viên thiếu tá sau này tôi được biết là một trạng sư, "thầy kiện Chín tự do? còn viên đại úy là Báu, nguyên là một thầy giáo dạy trường Bassac Cần Thơ. Những người có cấp bậc cao nhất trong hàng ngũ phiên dịch nhà binh Pháp hồi đó.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM