Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:24:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7826 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #30 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:51:44 pm »

Với đầy đủ giấy tờ BTL quân đội Pháp cấp trong tay không sợ bị bắt vì tôi bỏ việc, tôi đứng chờ ở Boulevard De la Somme (nay là Đại lộ Lê Lợi), chặn xe nhà binh để quá giang về thẳng Cần Thơ, không dừng lại ở Mỹ Tho để thăm vợ con nữa. Tôi nóng được gặp bạn để bàn việc kháng chiến ngay tại Cần Thơ, nơi mà anh Mai Xuẫn đã có vị trí công tác: Chủ tịch UBKCHC xã Long Tuyền. Xe đỗ lại tại Collège Cần Thơ, nơi Ban tham mưu đóng, gọi là CBM (đại đội tham mưu), ở đó tôi được biết là đơn vị, trung đoàn lục quân thuộc địa số 43 (43è RIC) thuộc sư đoàn 3 (3è DIC) đã đến thế chân cho 6è RIC/9è DIC, hành dinh ban chỉ huy (P.C) đóng tại hai căn nhà có tầng lầu đúc gần dinh tỉnh trưởng, có cờ tam sắc treo cao, lấy tên là p.c Opiniâtre. Tôi bước vào văn phòng ban chỉ huy trình giấy công lệnh. Sĩ quan lên họp trên tầng lầu cả, tên lính làm tùy phái (planton) biểu tôi ngồi chờ gặp đại úy Nogret chỉ huy phòng 2 (2è B.) của trung đoàn. Tôi ngồi bệt xuống chân cầu thang, lục đống tài liệu cũ chất đầy ở một góc, lật qua vài chồng biết ngay nơi đây là văn phòng quốc gia tự vệ cuộc tỉnh Cần Thơ. Một tập tài liệu cũ của Sở Mật thám Liên bang Đông Dương còn sót lại trong đống hồ sơ. Bìa giấy xám, đóng thành tập đầy một trăm trang, ngoài bìa in chữ đậm NGUYỄN ÁI QUỐC. Tôi dở ra đọc chăm chú từng trang, thì ra đây là bản báo cáo của viên Chánh sở mật thám Liên bang Đông Dương, ký tên là Arnoux gởi về Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp điều tra về cuộc đời và quá trình hoạt động của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, từ khi ở Nghệ An, có tên là Nguyễn Tất Thành đến khi tham gia Đảng cộng sản Đệ tam quốc tế ở Pháp, và học trường Phương Đông ở Nga và về tham gia cách mạng ở Trung Quốc, cộng sự viên của Borodine ở Quảng Châu. Những nét lớn đó, tôi cũng đã từng nghe nói đến lúc còn ở quê nhà từ miệng các bậc tiền bối cách mạng. Nhưng thấm thìa nhất, ăn sâu vào tâm khảm của tôi là câu kết luận của Arnoux, tên trùm mật thám Đông Dương đã đánh giá về Bác Hồ của chúng ta một cách chính xác, đầy lòng khâm phục "C'est un révolutionnaire de profession. Avec cet homme, on ne pourrait ni avec l'argent, ni avec les honneurs l’acheter" (Đó là một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Với con người ấy, không thể dùng tiền tài, danh vọng mà mua chuộc được). Câu kết luận của tền trùm mật thám xứ này đã trở thành một hành trang quý báu cho tôi mang theo đến suốt đời. Đó là một nhân chứng phẳn diện của cách mạng Việt Nam, nhưng là một nhân chứng lịch sử làm nổi bật đạo đức và công lao của lãnh tụ cách mạng nước ta. Chân lý bao giờ cũng là chân lý. Kẻ thù dù muốn xuyên tạc cũng không thể nào che lấp được...


Sáng 27/10/1945

Cần Thơ bị Pháp chiếm lại từ tuần cuối tháng 10/1945, cùng với Mỹ Tho. Cần Thơ là điểm đầu cầu đổ bộ (tête de pont) đầu tiên của quân viễn chinh Pháp lên miền Tây Nam Bộ. Hai chiếc thông báo hạm loại 2 (aviso de 2è classe) I'Avalanche và l'Annamite đã từ Vũng Tàu chở quân đi vào sông Cửu Long qua Cửa Đại, đổ quân lên Mỹ Tho, đêm 26/10 và tiếp tục chạy ngược sông Tiền Giang vòng qua Vàm Nao, chạy xuôi theo Hậu Giang, bắn vài phát pháo vào Long Xuyên, nhưng không ghé, về Cần Thơ dừng lại ở Cầu Bắc, và cho một cánh khác của trung đoàn 6è RIC đổ bộ lền Cần Thơ. Tháp tùng cánh này có những công chức thực dân cũ bị Nhật cầm tù ở Sài Gòn, từ tháng 3/1945, trong đó có De Montaigut (tỉnh trưởng cũ của Cần Thơ), Fanova (chánh sở mật thám ở miền Tây), Carlotte đi theo.


Từ đầu tháng 11/1945 đến cuối tháng 2/1946, trước khi trung đoàn 43è RIC (thuộc sư đoàn 3è DIC) của tướng Nyo đến thay quân cho 6è RIC thuộc sư đoàn 9è DIC của tướng Valluy rút về Sài Gòn để đi đánh Hải Phòng theo kế hoạch "chiến dịch Bến Tre" của Leclerc, thì các tỉnh lỵ Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên, Trà Vinh đều bị quân Pháp chiếm đóng. Một số thị trấn lớn như: Cái Vồn, Cầu Kè, Bình Thủy, Ô Môn, Chắc Băng, Thới Bình, Phước Long, Cà Mau cũng đã có đồn bót Pháp đóng.


Như thế là Leclerc không có ý định khoác lác khi nói ở Mỹ Thuận rằng hắn sẽ quét sạch vùng này trong vòng 4 tuần lễ! Nhưng chiếm đất chưa phải là chiếm được lòng dân. Thành phố Cần Thơ, ngày tôi về 3/3/1946, rất vắng đồng bào. Dân cư chủ yếu là gia đình ăn theo bọn lính đầu đỏ (Partisan), lính đầu xanh (lính tập), lính Pháp, công chức chưa có mấy ai. Chủ yếu là bọn lính kín, trí thức còn lại vài ba người trùm chăn chờ thời thế! Tôi tìm người quen. Chùy cho tôi biết anh Mai Xuẫn cùng phái đoàn ông Trần Văn Luân và cả vợ con đều lên đường đi Xiêm theo ông Trần Văn Giàu. Một người cháu bà con gọi tôi bằng cậu: Nguyễn Đăng Dinh, làm lâm nghiệp đang thất nghiệp, vợ là cô giáo, theo đạo Tin Lành, cả hai vợ chồng không làm gì về phía Việt Minh, nên tôi không thể lộ tâm sự. Phải chờ thôi! Hơn nữa, lúc này quân Pháp đang tràn tới như nước vỡ bờ, người dân không ai dại gì hở môi nói đến hai tiếng Việt Minh với Việt gian.


Trung đoàn 43è RIC rải quân chốt các thị xã ở miền Tây, trừ thị xã Hà Tiên được giao cho hải quân Pháp đánh chiếm và quân quản, vẫn theo sách vở: chiếm lĩnh trận tuyến. Ban chỉ huy hành quân chung vẫn là P.C. Opiniâtre, tức là chỉ huy trung đoàn 43è RIC, đóng tại thành phố Cần Thơ, chưa phân chia theo quân khu. Chỉ huy trưởng là đại tá Cluset, có hai phó là trung tá Le Nulzec, lính thường gọi là "ông Năm Chấm phết" vì què một cẳng, và Rossignol, có tình nhân là vợ viên tây đoan Cần Thơ. Tham mưu trưởng là thiếu tá Berdel, trưởng phòng 2 là đại úy Nogret. Phòng 2 cùng làm chung với văn phòng ban chỉ huy do đại úy Nogret chỉ đạo. Phòng 5 (An ninh quân sự) do đại úy Lotte chỉ đạo. Giúp việc cho văn phòng có một thượng sĩ, vài tên cai và binh nhất người Pháp. Trong số đó người tôi có thiện cảm ban đầu, sau trở thành bạn thầm lặng là binh nhất Zédenberg, dân Paris đã từng tham gia du kích chống phát xít ở Pháp. Đó là một thanh niên trạc ngoài tuổi hai mươi, có học vấn và để râu mép, có cái cằm chẻ đôi và đôi mắt sâu thẳm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #31 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:52:19 pm »

Tình cảm đầu tiên đến với tôi trong một buổi hỏi cung Việt Minh. Tôi đang ngồi dịch tài liệu. Bọn Pháp và một phiên dịch viên nào đó đang hỏi cung một người tình nghi là Việt Minh ở phòng sau, tôi thấy Zédenberg mặt đỏ bừng đến gần tôi, nói trong cơn bất bình, không kềm chế được: "les salauds" (bọn đểu cáng). Tôi hỏi nó muốn ám chỉ ai đểu cáng? Nó chỉ tay về phía sau đang có tiếng rên la và nói: Ils se comportent comme les Boches!" (Chúng nó đối xử không khác gì bọn Đức). Hỏi ra thì nó cho biết, nó đã từng kháng chiến, nên biết rõ cái ngón đòn tra tấn của bọn Đức như thế nào, nên không muốn nhìn xem cảnh ấy tái diễn trước mắt nữa! Tôi chú ý, từ đó về sau, không bao giờ Zédenberg tham gia vào một cuộc tra tấn Việt Minh bằng cực hình cả. Dù sao, đó cũng là một thanh niên Pháp tốt, có thể tin được, và tôi đã không lầm. Giúp việc cho văn phòng chỉ huy, mới đầu chỉ có ba phiên dịch viên làm theo hợp đồng ba tháng như tôi, nằm trong ngạch. Một là thiếu úy Nguyễn Tư Long, hơn tôi 10 tuổi, nguyên là kỹ sư nông lâm ở Thủ Dầu Một. Người thứ hai là trung sĩ Thạnh, nhỏ hơn tôi năm tuổi, người ở Thị Nghè - Sài Gòn. Thạnh chỉ làm một hợp đồng sau 3 tháng Thạnh xin thôi luôn. Người thứ ba là tôi. Khi biết tin anh Mai Xuẫn đã đi Xiêm, tôi cũng đã gởi thư về trường Taberd xin trở về dạy, nhưng thầy François thay lời hiệu trưởng Cyprien đã viết thư trả lời: trường chưa khai giảng, khuyên tôi cứ tiếp tục làm phiên dịch cho nhà binh và nhớ gởi thơ trả nợ 200 đồng cho nhà trường mà tôi đã vay mua gạo chưa trả. Vì vậy tôi đành nán lại chờ thời cơ thích hợp, dù sao cũng phải đảm bảo vợ con có, gạo đủ ăn. Thiếu úy Long, người thấp lùn, chỉ cao hơn 1,50m, mập tròn như hột mít. Có vợ là cô giáo Tiếp, người Cần Thơ, không có con, có thể vì Long có bịnh kinh niên, hay méo miệng, nháy mắt, tính nết Long rất kỹ lưỡng trong công việc cũng như chọn bạn. Tôi may mắn được anh ta tin tưởng thật sự (tiếc thay anh đã mất trong thời kỳ chống Mỹ, tôi không còn được gặp lại). Anh đã tâm sự với tôi: "Anh nguyên là Chủ tịch ủy ban lâm thời thị xã Thủ Dầu Một". Tôi cũng tin vậy, không cần kiểm tra. Đến nhà anh ở gần cầu quay Mỹ Tho, tôi thấy anh có một tủ sách Pháp văn khá tốt. Điều tôi phát hiện trong tủ sách có cả một bộ "Tư bản" đóng gáy da, chữ mạ vàng, nhưng tôi không nói gì, đúng là một trí thức đáng trọng, về sau anh đã trở thành có ích cho công tác, không cần khoe khoang, hoặc đòi hỏi gì như mọi người trí thức có lòng yêu nước chân chính. Thế là, ngay trong hàng ngũ địch, tôi cũng đã tìm được người để kết bạn bốn phương, không sợ phải bán mất linh hồn cho quỷ dữ, mà còn tạo cơ hội cho tôi đóng góp công sức vào kháng chiến ở Nam Bộ.


Bộ máy kềm kẹp của thực dân Pháp thế đó cũng chưa có gì là ghê gớm, như người ta vẫn tưởng. Trừ bọn lính của trung đoàn 43è RIC rải rác khắp các tỉnh: Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu v.v... Riêng ở Cần Thơ chỉ có ngoài đại đội tham mưu (C.E.M) trú quân tại trường Collège Cần Thơ (nay là trường Châu Văn Liêm) do đại úy J. Lespinasse chỉ huy. Lespinasse làm chỉ huy khu vực Cần Thơ, đến 6/1946 thì kiêm luôn tỉnh trưởng Cần Thơ thay F. Bonhomme de Montaigut cho đến 10/1946. Đóng bên cạnh Collège ở xóm Xã Bắc, có một trung đội lính khố đỏ do thiếu úy Hiền chỉ huy, chủ yếu để phục dịch cho bọn Pháp ở CEM trong đó có Cao Văn Viên, lúc đó làm cai (Caporal). Tiểu đoàn 1 thuộc 43è RIC đóng tại nhà bác sĩ Hành, gần nhà thờ công giáo, do thiếu tá De la Prade chỉ huy (thiếu tá De la Prade nguyên là đại tá quân du kích Pháp ở chiến khu Vercors sau khi Đức quốc xã bại trận, được biên chế vào quân chính quy, nên phải hạ hai cấp, vì lẽ đó, trong hàng ngũ binh sĩ Pháp thuộc phái De Gaulle, De la Prade bị tình nghi là đảng viên Cộng sản Pháp). Chỉ huy đại đội 63è CR (đại đội sửa chữa cơ giới) đóng ở Cái Khế (gần công an tỉnh Cần Thơ hiện nay) có đại úy Inocenti, một sĩ quan lớn tuổi, đôn hậu. Bên kia cầu Bắc, Cái Vồn (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long)), có một trung đội đóng bót, có hai xe xích có súng đại liên quay trên 180° và một khẩu đội pháo 75mm dã chiến, chỉ huy đồn là trung úy Campadieu có nhiệm vụ bảo vệ bến phà và con đường nối Vĩnh Long - Cần Thơ. Ở Bình Thủy và Cái Răng thuộc vòng ngoài Cần Thơ, có hai đồn đều có bố trí pháo 75mm (dã chiến) kiểu cũ của quân đội Pháp, chỉ huy đồn Cái Răng, ở bót Hãng rượu, có đại úy Gilles đi đâu cũng dẫn theo một con chó berger to tướng. Đầu tóc Gilles cũng vàng hoe không khác gì lông chó của ông ta. Tôi quên mất tên của viên trung úy chỉ huy đồn Bình Thủy. Vài tháng sau, chiếc Bắc Cần Thơ đã chở được xe thiết giáp qua sông nên được thêm một peloton/2è Spahis về đóng tại Cái Tắc. Về lực lượng lính "bản xứ" theo quân Pháp gọi, chưa có cái sắc lính nào khác được thành lập, ngoài bọn lính đầu đỏ (đội calô màu dỏ), tuyển ồ ạt trong đám đầu trộm đuôi cướp, gồm một đại đội dưới quyền chỉ huy của một trung úy tên Massart mà đồng bào gọi là "quan hai điên" vì tánh nết thô bạo, háo sát. Nhiệm vụ của đại đội đó là càn quét ngoại ô thành phố và thực hiện các vụ hành quân theo lịnh của đại tá Cluset, đại đội này đóng ở cầu Tham Tướng, sau này biên chế thành quân commandos, là nỗi khủng khiếp của đồng bào. Dưới quyền Massart có hai thượng sĩ đầu đỏ là ách Kiệt và ách Phẩm: Kiệt làm sếp bót Tham Tướng, Phẩm làm sếp bót Rạch Ngông (bị quân ta trừng trị năm 1948). Về lực lượng cảnh sát, lúc đầu chỉ có bọn lính kín cũ, do quan thầy chúng tập hợp lại và tuyển dụng thêm. Cần Thơ là Tây đô, cho nên Sở mật thám Liên bang ở các tỉnh miền Tây vẫn đặt tại đây, lấy tên là Sở cảnh sát đặc biệt miền Tây (P.S.O). Chỉ huy lúc đầu là Fanova, đến đầu năm 1946 là Jacquemin, một tên tây lai khá gian hùng, lần lượt đến năm 1949 là Pansept, Gautheret, Ribes và Bandy. Gautheret và Ribes bị Tình báo Cần Thơ trừng trị. Dưới quyền Jacquemin năm đó có Trương Thành cần, Thế, điều tra viên. Châu Vân Sáu, giữ hồ sơ lưu trữ. Còn thám tử có Nguyễn Văn Tài, biện Ên, Lâm Tấn Nhàn và một số tên khác thuộc loại vô danh tiểu tốt. Trong đó có Châu Văn Sáu (V.12) là cơ sở tình, báo Cần Thơ, còn Én, Tài, Nhàn là bọn ác ôn, liên tiếp bị biệt động Cần Thơ trừng trị trong các năm 1947, 1949, 1950. Dần dà chúng tuyển thêm người vào tổ chức vây ráp, lùng sục. Chúng bận áo sơ-mi quần đen, đồng bào gọi là lính "áo đen", bọn cảnh sát giao thông cũng được thành lập, gọi là lính áo trắng, phần lớn bọn này là cầu an, một số có tham gia kháng chiến, như Đội Nghề v.v... Và cuối năm 1946, bọn Pháp có tổ chức lại hệ thống lính tập (gọi là lính bánh tiêu) vì đội mũ bê rê vàng dẹp như cái bánh tiêu. Bọn này chỉ chuyên làm nhiệm vụ canh gác công sở, nhà tù, do chính quyền dân sự sử dụng. Bọn mật thám lính kín, thuộc Sở mật thám Liên bang Đông Dương của Pháp cũng được phân ra làm hai ngành cánh sát đặc biệt (P.S: Police spéciale) và cảnh sát hình sự (P.J: Police Judiciaire). Bọn ác ôn hầu hết đều nằm trong ngành cảnh sát đặc biệt. Ở Cần Thơ và Vĩnh Long, thuộc hệ thống tình báo chuyên nghiệp của Pháp, còn có hai văn phòng tình báo trá hình (đồng bào ta gọi là 2è Bureau vô hình) mà sĩ quan đều ăn mặc thường phục, lấy tên là Sở Nghiên Cứu lịch sử (SEH: Service d'études historiques). Chỉ huy SEH ở Vĩnh Long là một đại úy biết tiếng Việt, nhưng vẫn sử dụng phiên dịch, khi giao dịch tiêp xúc thường dẫn theo một con chó berger để tự bảo vệ. Ở Cần Thơ chỉ huy là một trung úy còn trẻ tên là Bon. Một chi tiết làm tôi nhớ mãi tính nhạy bén của nhân dân ta. Mới về Cần Thơ lập văn phòng tình báo chưa đầy một tháng, có lần trung úy Bon mặc thường phục như hàng ngày đi dạo phố rồi nhảy lên chiếc xe kéo ngồi, anh xe kéo hắn ta về đặt ngay tại trước văn phòng làm việc ở cạnh Collège Cần Thơ. Bon ngạc nhiên, gọi phiên dịch ra hỏi tại sao anh phu xe biết chỗ anh ta làm việc. Anh phu xe nheo mắt trả lời: "Ông là ông Hai "Bông", "Đơ bê" vô hình tôi còn lạ gì!". Bon thuật lại chuyện đó, nửa ngạc nhiên, nửa khâm phục. Giúp việc cho Bon, có một số người Việt như: Lê Đăng Khoa tự Phi, Trương Hữu Điền, Nguyễn Hữu Tỷ tự Giáo Tỷ, Lê Ngọc cầu, những người này được SEH sử dụng như nhân viên "tay đôi" (agent double) vừa làm cho Việt Minh vừa làm cho Pháp, trong đó có tên bị ta vạch mặt và bị ta xử án, cũng có người trung kiên bị đòn tra tấn và chết trong khám của thực dân Pháp, còn lại trắng đen cuối cùng vẫn được nhân dân phần rõ, không chờ "kháng chiến thành công"...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #32 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:53:12 pm »

Tháng 4/1946, Bộ Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp có chủ trương thành lập các tiểu đoàn BVN (Bataillon Vietnamien). Trại được đặt tại Bình tây (gần hãng rượu Bình Tây cũ) ở Chợ Lớn. Tôi được điều động cùng một đại úy Pháp lên Chợ Lớn để tổ chức trại. Chừng hơn trăm lính đầu đỏ mới mộ, phần lớn là người Khmer, ở đồng bằng sông Cửu Long. Tôi hơi lo ngại, vì ở một trại lính mới mộ thì chẳng biết làm thế nào để thực hiện ý đồ kháng chiến cứu quốc, như Cụ Hồ kêu gọi. Viên đại úy định đưa tôi làm chỉ huy đơn vị, tôi từ chối với lý do: là tôi nói tiếng Huế, binh sĩ người Khmer và người Nam Bộ khó nghe rõ. May sao ở trên bổ sung trên trung úy Tần, một sĩ quan xuất thân từ Đồng tử quân (Enfant de troupe) có gia đình lính tập cũ của Pháp, tuy thuộc ngạch lính bản xứ, nhưng là người Nam Bộ có học, có trường lớp hẳn hoi, nên có phong độ chỉ huy hơn tôi. Viên đại úy thấy tôi nói có lý nên chấp nhận trả tôi trở về với đơn vị 43è RIC ở Cần Thơ. Sau nầy huấn luyện xong 3 tiểu đoàn BVN thì trung úy Tần, đến giữa năm 1947 cũng về Cần Thơ làm ở văn phòng liên lạc Hòa Hảo (Bureau de liaison Hòa Hảo), về thực chất là cơ quan do thám và chỉ đạo binh sĩ giáo phái Hòa Hảo, dưới quyền chỉ huy của một thiếu tá Pháp. Còn 3 tiểu đoàn BVN đầu tiên là: BVN 1, BVN 3, BVN 5 là lực lượng ngụy quân đầu tiên do Pháp thành lập tại Đông Dương, sau khi tái chiếm Nam Bộ. Năm 1947, 3 tiểu đoàn đó được phân bổ rải rác: 1 ở Cần Thơ, 5 ở Sóc Trăng, 3 ở Rạch Giá để tập dượt và dần dần thay thế cho quân Pháp rảnh tay tung ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện âm mưu "Dùng người Việt đánh người Việt".


Cuối tháng 4/1946, tôi trở về Cần Thơ, với hy vọng tìm cách liên lạc được với kháng chiến, mặc dù đã biết tin quân Pháp đã tiến vào Hà Nội, chính phủ ta đang họp bàn với Pháp ở Đà Lạt, thông qua báo chí hàng ngày, 6 năm đi ở đợ và 6 năm làm báo, dù còn non nớt, nhưng nhờ đọc trộm báo "Nhân Đạo" nên cũng đã giúp cho tôi có những nhạy bén hiểu biết phần nào về ý đồ quân xâm lược và bọn đế quốc.


Về mặt tuyên truyền, Leclerc cũng đã cho in sẵn những tờ báo, truyền đơn tâm lý chiến ngay từ khi bắt đầu khởi hấn phục vụ cho tuyên truyền tâm lý chiến, từ tháng 10/1945 quân Pháp đã cho máy bay đầm già (morane) rải ở đồng bằng sông Cửu Long (Mỹ Tho, Cần Thơ) những tờ truyền đơn kêu gọi công chức hồi cư với chánh phủ lâm thời Nam Kỳ tự trị do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng. Những tờ báo "lá cải" với cái tiêu đề in đậm nét chữ trung hiếu cả chữ quốc ngữ với chữ Hán, trong đó có những nội dung xuyên tạc phong trào kháng chiến của nhân dân ta, chia rẽ Bắc, Nam. Bọn binh sĩ Pháp, cho tôi biết là những tờ truyền đơn, báo chí đó, cùng những cuốn sách nhỏ nhan đề "guérilleros" (du kích) nói về kinh nghiệm chống chiến tranh du kích của đại tá Thompson ở Mã Lai, đều được in từ Pháp chở sang, và người chịu trách nhiệm là thiếu tá Paul Lang một người Việt. Sau đó tôi hỏi thêm một tu sĩ dòng "Anh - Em", mới biết rằng Paul Lang chính là Đinh Nhữ Hàn, giáo viên dạy Việt văn ở trường Taberd trước tôi, năm 1942, đã bỏ theo phong trào De Gaulle và gia nhập quân đội viễn chinh Pháp, lúc quân này tập kết ở các thuộc địa Pháp ở Ấn Độ để chuẩn bị sang tái chiếm Đông Dương. Vận mệnh oái oăm đã đưa cả hai giáo viên Việt văn của trường tư thục công giáo Taberd, kẻ trước người sau, bằng đường đi khác nhau, đều vào làm cho quân đội viễn chinh của tướng Leclerc, với những cương vị và nhiệm vụ khác nhau, với những ý đồ khác nhau hẳn. Tôi không biết Đình Nhữ Hàn nhưng nhìn trong tập niên biểu của nhà trường, tôi thấy vẻ mặt anh ta trong ảnh cũng vẫn trẻ trung sáng sủa. Tôi có suy nghĩ: Cuộc đời anh ta sau nầy có được kết thúc tốt đẹp không? Điểm kết thúc bao giờ cũng phụ thuộc vào điểm xuất phát, phải lựa cho đúng chỗ đứng ngay từ lúc ban đầu.


Khác với tài liệu tuyên truyền của quân Pháp, báo chí công khai lúc ban đầu tập trung ở Sài Gòn xuất bản, chia làm hai phe rõ rệt. Phần đông, đứng đầu là tờ "Việt Bút", đều có chung lập trường đòi thống nhất đất nước, đòi quân Pháp phải tôn trọng Sơ Ước 6/3. Chỉ có một ít tờ lá cải, trong đó có tờ "Phục Hưng" với một số tên bồi bút trong đó có Hiền - Sĩ (sau này bị chị Lan Mê Linh trừng trị) của nhóm đòi thành lập Chánh phủ Nam kỳ tự trị. Một số nơi, bọn phòng nhì còn tổ chức những cuộc đập phá, cướp của những người "dân Bắc kỳ", chỉ cần phân biệt theo giọng nói: "Tân Sơn Nhứt hay Tân Sơn Nhất". Qua dư luận báo chí cũng đủ rõ. Đồng bào Nam Bộ vẫn tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, tin tưởng ở chân lý "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" ngay từ những ngày đầu kháng chiến, cách xa sự chỉ đạo của Trung ương. Tất nhiên, tôi cũng không thể tách mình ra khỏi tâm lý chung của dân tộc. Vì vậy, tôi vẫn hy vọng sớm muộn gì cũng bắt được liên lạc vì qua chuyện trò với binh sĩ Pháp, tôi biết thêm hai sự kiện xảy ra tại Cần Thơ:


+ Một là: Vào cuối năm 1945, khi quân Pháp mới đóng quân ở nhà việc (maison commune) trụ sở hội tề thời Pháp về sau biến thành hãng rượu Cái Ráng, đã có một đơn vị Việt Minh xông vào đồn, một người dùng dao găm đâm vào người đại úy Rouan chỉ huy đồn và bị binh sĩ Pháp bắn chết. Binh lính định dùng súng bắn lại toán Việt Minh còn lại đang bỏ chạy, nhưng Rouan cản lại. Bọn Pháp nói Rouan là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Sau này tôi tìm hiểu thêm thì biết đơn vị tấn công vào bót hãng rượu Cái Răng là công an xung phong của Cần Thơ, mà người chỉ huy bị bắn chết là Lê Bình (Đảng viên Cộng sản chỉ huy Quốc gia Tự vệ Cuộc Cần Thơ). Còn Rouan là đảng viên Cộng sản Pháp, sau khi bị thương về Sài Gòn điều trị, ở tại nhà một đại tá Pháp, chủ bút tờ báo "Lendemain", một tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp xuất bản tại Sài Gòn. Sau khi bình phục, Bộ chỉ huy Pháp cho Rouan về Pháp nghỉ luôn. Sự việc đó đã có có đăng ở tờ "Tiếng súng kháng địch" cơ quan ngôn luận của Quân khu 9 hồi chín năm.


+ Sự kiện thứ hai là viên đại tá Dessert, chỉ huy lục quân Pháp ở Cần Thơ, trên đường đi Rạch Gòi ngang cống Cao Hột, bị phục kích, lật xe và chết tại đó. Việc này xảy ra lúc tôi đi vắng, nghe kể lại, xác Dessert được tẩm liệm vào chiếc quan tài bằng kẽm và chở về Sài Gòn, để đưa về Pháp, ở hành dinh Cần Thơ, có treo cờ rủ để tang, và sau đó, lấy tên Dessert đặt tên cho đường Hàng Xoài (nay là đại lộ Hòa Bình). Tôi nhớ lại một tên nhân viên phòng nhì tên Giáo Tỷ, đem đến cho đại úy Nogret tin tức về đơn vị Việt Minh đã tổ chức phục kích chiếc xe của Dessert đi trên đường Rạch Gòi, chỉ vào điểm xảy ra trận phục kích trên tấm bản đồ quân sự tỷ lệ 1/100.000 và nói là quân Việt Minh trang bị 2 súng trung liên FM và một ít súng mút. Nogret ghi ngay vào báo cáo: có hai lính Nhật tham dự trận phục kích Dessert. Tôi hỏi sao đại úy biết có lính Nhật, tài vậy? Nogret mỉm cười, trả lời: "Ở đâu có Việt Minh ở đó có lính Nhật đào ngũ sang Việt Minh. Việt Minh không biết bắn súng trung liên!". Tôi ngước mặt nhìn ra vẻ thán phục. Trong thâm tâm, tôi suy nghĩ: "Làm tình báo mà suy diễn thì chưa hẳn là đúng. Nhưng có lẽ động cơ của ông ta là quan trọng hóa khu vực ông ta đảm trách và xin thêm kinh phí cho quỹ đen cũng nên!". Tôi thường hay lật ngược vấn đề trong các cuộc tranh luận và tự tranh luận để tìm ra chân lý. Nói trắng ra, là một thói xấu trong cuộc sống bình thường, dễ mất cảm tình, nhưng cũng cần thiết khi phải sống chung đụng trong môi trường phức tạp. Lẽ tất nhiên, tôi phải tìm hiểu về ông quan thầy "Nogret" người cao đến 1m70, tóc chải ngược, đôi mắt nâu màu cà phê dưới đôi mày rậm, cái mũi quặm theo kiểu mỏ vẹt, dòm cái miệng với đôi môi mỏng dính, mỗi khi sắp giận dữ thì hai khóe kéo xuống theo hình chữ nhân. Những lúc đó, báo hiệu cơn bão tố sẽ bùng lên, và tôi nhìn vào đôi khóe môi đó để điều chỉnh liều lượng báo cáo cho đúng mức: đôi má có vết hằn dài từ trên xuống làm cho người thấy già trước tuổi, gương mặt theo kiểu dao cạo, nếu nhìn nghiêng, ông ta có thói quen hay hút thuốc lá tự vấn kiểu sâu kèn. Binh sĩ kháo nhau là ông ta theo phái tam điểm: một hội kín ở châu Âu. Thường không bỏ buổi lễ nào ở nhà thờ đạo ngày chủ nhật, nhưng xem người ta đi lễ hơn là xem Cha Cố làm lễ, còn ít hơn nhìn tượng Chúa. Binh sĩ cho tôi biết ông ta là sĩ quan tình báo chuyên nghiệp (đến nay 1975 tôi nghe nói là Nogret đã lên cấp thiếu tướng tình báo của quân đội Pháp), vì vậy ông ta không tin được cấp dưới nào cả. Và, tất nhiên, tôi cũng được ông ta chú ý nhiều hơn mấy người khác, theo tôi nghĩ... Trong hàng ngũ quân thù, đó là đối tượng tôi cần đối phó nhiều hơn hết, nhưng tôi lại rất ít biết về ông ta. Cũng may mà tôi qua mặt ông ta một cách trót lọt trong bao năm ông ta có mặt tại Cần Thơ, với đủ quyền sinh sát, trên cả tên Chánh mật thám Jacquemin.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #33 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:54:08 pm »

Tháng 5/1946, mặc dù đang thời kỳ Pháp mới trở lại, các tổ chức kháng chiến đều giạt ra ngoài thành phố Cần Thơ. Nhưng vì có ngày lễ sinh nhật Bác, truyền đơn bắt đầu xuất hiện trên đường phố, theo lịnh của Việt Minh bãi công và bãi thị khắp nơi, để kỷ niệm ngày 1/5 và 19/5, hai ngày lễ lớn trong tháng. Truyền đơn do Chủ tịch ủy ban quận bộ Việt Minh Cần Thơ: Lâm Văn Phận ký tên (ông Phận sau này là bố vợ tôi). Hôm đó, tôi đang đi trên đường Nguyễn Trãi, thì có mấy bà vợ lính đang níu kéo anh chàng thanh niên, bận quần đùi, ở trần và dẫn theo anh chàng trai độ tuổi 18 mặt khờ khạo đi theo, không chống cự. Gặp tôi đang bận bộ đồ lính Tây đi ngang, họ kéo chàng thanh niên lại giao cho tôi. Họ trao người bị bắt với cuộn truyền đơn kêu gọi bãi thị, nói là của chàng trai rải trước mặt họ. Bàn giao xong, không cần tôi hỏi gì thêm, họ yên tâm xách giỏ đi chợ, không đếm xỉa gì tới truyền đơn. Tôi nhìn anh thanh niên: trai nông thôn mới lớn, quần đùi, đầu trần ngực trần, chân đất. Vừa đi tôi vừa hỏi: "Sao anh dại dột rải truyền đơn trước mặt vợ lính?". Anh trả lời: "Tui đâu có biết, thấy đàn bà đi chợ thì rải thôi". Tôi hỏi thêm: "Thế anh ở đại đội nào? Ai sai anh đi?" - "Tôi ở đại đội Trần Đăng ở Bình Thủy". (Sau này tôi mới biết, đúng là có tên Trần Đăng, nguyên là thủ lĩnh TNTP Cần Thơ, tổ chức một đại đội du kích hoạt động vùng ngoại thành Cần Thơ). Đi ngang văn phòng chỉ huy (ở ngay vườn hoa Tam giác, bên cạnh đường Nguyễn Trãi), thay vì dẫn vào Sở làm, tôi dẫn luôn ra phía cầu đôi Cái Khế. Đi ngang qua, góc đường Pasteur, tôi chỉ vào phòng tôi ở, dặn: "Lần sau nếu có việc gì muốn làm thì đến kiếm tôi tại đó, đừng đi bậy mà bị bắt". Tôi đẫn anh đi. Anh hỏi tôi: "Anh dẫn tôi đi đâu?". Tôi nói: "Cứ đi theo tôi sẽ ổn thôi". Anh ta ngạc nhiên nhìn tôi, tôi cũng nhìn anh ta ngạc nhiên không kém. Lạ thật, một chàng trai không kém sức lực, bị một đám vợ lính tay không bắt mà không vùng vẫy, đi với một "Việt gian" tay không mà vẫn ngoan ngoãn đi theo. Thật ra, tôi cũng mong chàng trai cho tôi một quả đấm để bỏ chạy. Tại sao có những con người hiền lành như vậy mà vẫn đi bộ đội đánh Tây? Đi đến cầu đôi Cái Khế, một tên lính Pháp ôm cây súng tiểu liên Sten chặn mọi người qua cầu để hỏi giấy thông hành. Chàng thanh niên trần trụi chắc không có giấy tờ tùy thân, tôi đi sát anh ta ra vẻ thân mật, đi ngang tên lính Pháp, đưa hai ngón tay lên ca-lô để đáp lại cái đứng nghiêm đập gót giày của tên lính rồi chỉ phía bên kia cầu đôi, đường đi Bình Thủy, vừa xô vào lưng chàng trai trẻ "Allez vous en" (anh đi đi) trước mặt tên lính gác. Anh thanh niên rảo bước nhanh qua cầu, qua khỏi còn nhìn lại tôi. Anh ta ngạc nhiên vì thái độ của tôi, hay vì sợ bị bắt theo? Tôi vẫn nghĩ mãi điều đó trong đầu, mong đợi ngày chàng trai trở lại kiếm tôi, như tôi đã dặn. Đó là cơ hội để có thể móc ráp với lực lượng kháng chiến ở đây.


Nước rạch Cái Khế vẫn đổ ra vàm Cần Thơ ngày ngày không mệt mỏi. Mắt tôi nhìn về phía Bình Thủy, mỗi khi ra cầu đôi mong gặp lại gương mặt trai trẻ ấy. Tôi không dám mạo hiểm vượt qua cầu, vì ngay bên cạnh rạch Cái Khế là vùng không bảo đảm an ninh cho binh sĩ đi lẻ tẻ...


Tôi vẫn không nản chí. Cuối tháng 6/1946, sáng sớm vừa đến văn phòng làm việc, thì tên giáo Tỷ đã đến, đặt một hồ sơ lên bàn và đem theo 6 súng, bó trong một bao tải, báng súng đều bị cháy cả, tôi hỏi thì hắn nói là Tên Việt Minh này bị bắt với 6 cây súng cất trong vựa lúa bị cháy, tang vật và hồ sơ đem nạp lên đây để nhà binh định liệu, còn tên Việt Minh thì ông quan ba ở Cái Răng giữ lại tại bót, chiều đem bắn. Tôi đọc qua hồ sơ bị can tên là Hồ Văn Mến. Tôi giật mình trong hồ sơ của Sở mật thám đưa qua có danh sách những người vượt Côn Đảo trong đó có tên đó. Tôi vào báo cáo lại với trung úy Nogret biết về đề nghị Cái Răng phải giải người luôn lên để thẩm vấn. Nogret gật đầu đồng ý và biểu tôi phải đích thân giải can phạm. Chỉ huy bót Cái Răng là đại úy Gilíes đưa người bị bắt cho tôi áp giải về Cần Thơ mà hắn còn tỏ vẻ hối tiếc! Người bị bắt được đưa ra thùng sau chiếc 4x4. Tôi nhảy lên cùng ngồi, vì không thể để anh ta ngồi một mình được, trong hai tay đã bị còng số 8 khóa chặt với nhau. Đó là một con người vóc dáng bình thường, còn thanh niên. Tôi gợi chuyện, khoảng đường đi độ 12km, nên không thể chần chờ. Tên lính Pháp, lái xe ngồi cách cabin không biết tiếng Việt. Tôi vào đề ngay, căn cứ vào hồ sơ đã đọc qua, không cần anh trả lời. Hồ sơ anh tên là Hồ Văn Mến, trùng tên với danh sách tù binh vượt Côn Đảo. Anh biết tiếng Pháp, chắc ông quan ba sẽ hỏi trực tiếp, không cần phiên dịch. Vậy tôi dặn anh mấy điều cần nhớ, có lợi cho anh thôi. Một là anh khai tên là Nguyễn Văn Mến, tự Hai Mến. Họ Nguyễn không phải họ Hồ. Hai là về tang chứng: 6 cây súng cháy sém là do Việt Minh giấu trong đống rơm ngoài ruộng cách xa nhà dân đến 300m. Việt Minh về họp đun lửa nấu trà lửa bén rơm nên cháy đống rơm rồi họ bỏ chạy luôn. Ba là ông quan ba có hỏi anh làm chức vụ gì trong Việt Minh thì cứ nói là TNTP (tôi lập lại kinh nghiệm cũ ở Mỹ Tho). Người bị bắt gật đầu. Quả nhiên Nogret đồng ý không xử bắn mà chỉ phạt tù.


Chuyện đó tôi không nhớ tới vì đã cách xa nhau gần 40 năm trời. Và, tôi có thói quen không bận tâm nhớ tới những việc gì không trực tiếp liên quan đến công tác, nhứt là tên những người mà mình đã giúp đỡ. Năm 1984, tình cờ về Cái Da (phường Hưng Phú - Cần Thơ), một người bạn cũ nhắc lại tôi mới nhớ, và được biết thêm đồng chí Hồ Văn Mến là em đồng chí Hồ Văn Mai, tỉnh ủy viên cũ của Cần Thơ hồi năm 1946, được chỉ thị của Đảng gom súng lại để tổ chức lực lượng võ trang chiến đấu tại Cần Thơ, chẳng may cháy nhà, bị bọn Việt gian phát giác, tố cáo lên đồn Cái Răng nên bị bắt.


Điều tôi canh cánh bên lòng là chuyện phải bắt liên lạc với kháng chiến. Tôi lục hồ sơ của địch có sẵn về các nhân vật Việt Minh có tên tuổi tại Cần Thơ. Lác đác cũng có nhiều gia đình trí thức, công chức cũ tản cư trở về thành phố. Tôi mong mỏi gặp người có thân nhân còn ở trong kháng chiến để làm quen. Tôi biết rõ vị trí của tôi, không dễ gì tiếp xúc với đồng bào một cách thân ái cởi mở được.


Cuối tháng 5/1946, vợ con tôi từ Mỹ Tho đã tìm đến Cần Thơ ở với tôi, được bố trí ở căn phố số 9 ở dãy phố trệt, vách ván, gọi là phố 18 căn, trên đường Lộ Mới, được bọn Pháp đặt tên là đường Capitaine d'Hers, để tưởng nhớ viên quan Ba sen đầm bị Nhật Bản giết chết hồi tháng 3/1945.


Cùng dãy phố có vợ chồng chú Tư Ngà (Trần Phước Ngà), lớn hơn tôi 10 tuổi, vốn là người từ Chắc Băng (Vĩnh Thạnh - Rạch Giá) tản cư về ở hai căn số 2 và 4. Chú Tư Ngà đã nhường căn số 2 cho một bà trung niên ở cùng hai cô con gái. Cô chị tên Phấn, cô em tên Phết. Cô Phấn 28 tuổi, đã có một con, chồng là địa chủ Bạc Liêu, nay thôi chồng về ở với mẹ. Cô em có chồng địa chủ lớn ở Rạch Giá. Hiện đang ở vùng kháng chiến. Qua chú Tư Ngà và Tám Dinh, tôi biết bà mẹ chính là vợ của ông Lâm Văn Phận, trước kia là giáo viên giám thị trường Collège Cần Thơ, là người đã ký tên vào tờ truyền đơn, kêu gọi bãi thị mà chàng thanh niên đã rải trước mặt vợ lính. Mấy hôm sau, tôi lại gặp hai chị em vào văn phòng ban chỉ huy quân sự tìm gặp tham mưu trưởng là thiếu tá Berdel. Tôi được gọi lên để phiên dịch, mới rõ là hai chị em lên để xin lại căn nhà trên rạch Cái Khế, bị quân đội Pháp niêm phong, vì là nhà vắng chủ. Đã là gia đình kháng chiến, thì dù muốn hay không gia đình vẫn có liên lạc với kháng chiến. Tôi thấy có hy vọng. Lợi dụng một hôm, hai cô vắng nhà tôi qua nhà gặp bà mẹ. Bà rót nước mời tôi uống. Qua vài câu hỏi xã giao, biết tôi đã rõ là ông Phận đang ở trong Khu nên bà chủ động hỏi tôi: "Ông nhà tôi ở trong bưng cực khổ quá muốn hồi cư, ông liệu có được không?". Tôi đáp: "Thôi bà ơi! Đi kháng chiến đáng lẽ là công việc của bọn thanh niên tụi tôi, ông nhà đã đi thì thôi, kêu lại làm chi?" Bà làm thinh. Đôi bên đều có thế thủ, kéo dài tình trạng ấy đến bao giờ? Phải tìm cơ hội nắm chớp lấy thời cơ để xông vào trận đánh..
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #34 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:55:15 pm »

CHƯƠNG 6
ĐOÀN "SÁT GIAN ĐẢNG"


Không phải ngẫu nhiên, mà trong hai lần xâm lược và tái xâm lược nước ta, đều có bàn tay của một Giám mục Thiên chúa giáo. Lần đầu Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) dẫn đường cho Pháp xâm lược, mượn cớ giúp Gia Long, lần này, Giám mục kiêm Đô đốc Thủy quản Cao ủy Pháp D'Argenlieu, bản thân dẫn hạm đội quân Viễn chinh Pháp sang tái xâm lược Đông Dương, bắt đầu từ Nam Bộ.


Nếu vai trò của đại tướng Leclerc, nổi lên từ hàng đầu trong những ngày đầu năm với cái "chiến dịch Bến Tre" khét tiếng trong sư đoàn 9BB (9è DIC) và câu tuyên bố "sẽ bình định Đông Dương trong vòng 3 tháng" trước công luận với báo chí Sài Gòn ngày 12/1/1946, thì đến tháng 6/1946, vai trò của Leclerc đã lu mờ hẳn, nhường chỗ cho những âm mưu xảo quyệt mới của Thực dân Pháp do thầy tu phá giới Thierry D'Argenlieu thực hiện. Trên bàn hội nghị, Hiệp định Sơ bộ 6/3 đã ký kết, nhưng ở Nam Bộ quân Pháp vẫn không ngừng khủng bố ngày nào. Hội nghị Đà Lạt đã bế tắc, kết thúc ngày 12/5/1946. Ngày 31/5/1946, Bác Hồ và phái đoàn Chính phủ ta lên đường sang Paris để tiến hành đàm phán trực tiếp với Chính phủ Pháp. Để đặt Chính phủ ta trước "sự việc đã rồi", Thierry D'Argenlieu một mặt đã cử đại tá Nguyễn Văn Xuân, dân Tây, sang Pháp để vận động ủng hộ chủ trương của Cao ủy Pháp, mặt khác cho ra đời ngày 1/6/1946, một chính phủ bù nhìn tại Nam Bộ, với danh nghĩa là: "Chính phủ Nam Kỳ tự trị", bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng, hòng chia cắt Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam.


Tôi được tin tức qua báo chí công khai xuất bản tại Sài Gòn. Trong một tờ báo hàng ngày, tôi còn nhìn thấy ảnh chụp chiếc quạt giấy với 6 chữ Hán "Dĩ bất biến ứng vạn biến" Hồ Chủ Tịch tặng cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền Chủ tịch nước để dặn dò trước khi Bác lên đường sang Pháp. Qua báo chí, tôi còn nhớ dư luận vẫn đòi hỏi thống nhất nước nhà, ngừng khủng bố đồng bào và đả đảo Chính phủ bù nhìn. Trong giới trí thức, trừ một số người mất gốc, những người còn ở thành phố, hầu hết đều "trùm chăn" không ra cộng tác với Pháp. Vì vậy, tôi vẫn giữ được niềm tin và thắng lợi của Cách mạng. Tình cờ, một buổi sáng, nhân đọc một tờ báo cáo của Sở Mật thám Pháp Cần Thơ đưa sang, tôi được biết có một người tên là Hai Tắng, dáng người đi cà niễng, có nốt ruồi dưới mắt trái, đang vào Cần Thơ đế tổ chức ban ám sát của Việt Minh ngay trong nội thành. Tôi nhớ kỹ nội dung bản tin, nhưng tìm người thì khó, tìm một người trong một thành phố rộng lớn vào bậc nhất nhì Nam Bộ thì quả là không dễ. Hơn nữa, đã gặp chưa chắc được tin cậy, hay ngược lại có thể nguy hại đến bản thân...


Tình cờ, một sự tình cờ thú vị, một buổi sáng vào khoảng 7 giờ, tôi đang ngồi ở nhà số 9, nhìn xéo căn bên kia, phía căn nhà số 2 đối diện, căn nhà mà bà giáo Phận đang ở nhờ chú Tư Ngà, chợt thấy một người trạc tuổi tôi, dáng thấp, vai cà niễng đi ra, như tài liệu đã tả. Linh tính giác quan thứ sáu nơi tôi trỗi dậy, tôi vụt chạy sang bà Giáo, hỏi:

- Thưa bà, có phải anh Hai Tắng vừa vào đây không?

- Ủa, sao ông biết Hai Tắng?

Tôi không trả lời, xin lỗi rồi cáo lui, vội bước nhanh ra ngõ: đứng trước chàng thanh niên đang xâm xúi bước đi. Tôi đi như chạy đến gần ngã ba thì bắt kịp. Tôi gọi to: "Anh Táng!". Anh ta dừng bước quay lại, nhìn tôi đôi mắt gườm gườm. Tôi lúc ấy mặc binh phục màu cứt ngựa. Tôi đến gần anh vỗ vai anh, nói nhỏ bên tai, đủ anh nghe: "Anh Hai nè, tôi biết anh có việc muốn làm ăn ở Cần Thơ nếu anh muốn tôi giúp anh, anh cứ hẹn ngày giờ, địa điểm, chúng ta gặp nhau sẽ nói chuyện sau. Anh, đồng ý đi, tùy anh quyết định, tôi không nói nhiều". Anh chàng nhìn kỹ tôi từ đầu đến chân, thấy tôi mặc binh phục, nhưng vẻ mặt nho nhã, không ra con nhà lính, anh tần ngần giây lát rồi nói ngay: "Đồng ý, chiều chủ nhật, đúng 2 giờ, tôi chờ anh ở Đàn Tiên". Nói xong bỏ đi ngay. Đàn Tiên là vườn hoa của một công chức cũ có tiền xây dựng thành một biệt thự xinh xắn, có vườn hoá, có hòn non bộ, có ao sen để cùng bạn bè thưởng ngoạn, cách bót Cụ giáo Phận chừng nửa km, bên rạch Cái Khế. Đúng hẹn, tôi mặc thường phục, quần kaki dài, áo sơ mi trắng, tay không lững thững đi tới Đàn Tiên, tôi đoán chắc Tắng sẽ chờ tôi, và tất nhiên có đem theo vệ sĩ (sau này Tăng cho biết có đem theo hai chiến sĩ phục kích ở chỗ hẹn để phòng bất trắc). Nhưng tôi vẫn tin tưởng vào lòng thành của mình nên không ngại. Chúng tôi bắt tay nhau rồi đi ngay vào câu chuyện. Tôi bắt đầu: "Theo tài liệu Sở Mật thám thì tôi biết anh vào đây là để tổ chức ban ám sát của Việt Minh. Nếu đúng vậy thì công việc anh định làm đã lọt vào tay lính kín, và chúng đang theo dõi anh. Tôi đề nghị: một là nếu anh chưa tin tôi thì thôi, anh nên phòng xa đi nơi khác mà làm, đừng nấn ná ở Cần Thơ nữa, chúng sẽ bắt anh. Hai là nếu anh tin tôi thì cho tôi tham gia, nếu chúng có bắt anh thì anh cứ nói thẳng với tụi nó, anh là người của tôi, muốn bắt thì phải cho tôi biết. Tôi sẽ bảo lãnh cho anh. Anh suy nghĩ kỹ rồi cho tôi biết ý của anh". Trong khi chờ đợi Tắng trả lời, tôi chăm chú nhìn xuống ao sen, có đóa sen tịnh đế mới chớm nở, một loại hoa quí, tôi đã nghe tiếng nhưng trước nay chưa hề thấy. Tôi nhớ đến một bài ca Kim Tiền, điệu Huế mà tôi đã học được từ nhỏ: "Hoa sen đẹp biết bao... Gần bùn mà chắng hôi tanh mùi bùn". Gửi trọn niềm tin, giữ trọn danh tiết, và tôi tự cảm nhận lòng mình đang yên tâm, thanh thản khi tin chắc sẽ được chấp nhận. Quả nhiên, chưa đầy một phút, Tắng gật đầu đồng ý, và cho tôi biết luôn là anh có nhiệm vụ vào tổ chức "Đoàn Sát gian đảng" ở nội thành, nhưng mới được vài người hưởng ứng. Sở dĩ Sở Mật thám biết vì anh đã có tiếp xúc sơ bộ với một người quen làm lính kín, nhưng nó chưa biết gì nhiều về tổ chức. Mới nghe nói tên "Sát gian đảng", tôi nghe hơi rợn người. Sau nghĩ lại có lẽ do câu thành ngữ "Trời bất dung gian" từ cửa miệng của đồng bào Nam Bộ, nên cấp trên đã cho tổ chức đội võ trang ngay trong vùng tề ngụy có cái tên răn đe ấy cho bọn Việt gian kiêng sợ. Thì ra cũng kịp thời vì ở Cần Thơ, Nogret cũng đã bắt đầu cho tổ chức những trò hề chính trị mới: Thành lập một phong trào "dân chủ Đông Dương" để hưởng ứng cái Ghính phủ Nam kỳ tự trị và mời tên Cao Văn Trạng, một nhà thầu khoán giàu có, chủ hãng xe đò "Cao Văn" làm chủ tịch. Thật ra cái phong trào ấy chỉ mới trong ý đồ của tên đại úy Nogret Trưởng phòng Nhì. Cao Văn Trạng được mời cũng gật đầu cho yên thân, nhưng cuối cùng, nghe lời thuyết phục của Hai Tắng, hắn bỏ trốn lên Sài Gòn ở luôn, không về Cần Thơ nữa. Phong trào chết ngay từ trong trứng nước! Đó là thành tích chính trị đầu tịên của "Sát gian đảng".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #35 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2026, 08:55:57 pm »

Sau này anh Ba Quang (đại tá Trần Nhật Quang, Tham mưu phó Quân khu 9), một trong ba người chủ xướng tổ chức "Sát gian đảng" tháng 6/1946, đã nói với tôi: "Anh Bảy Tuệ (tức là đồng chí Phan Trọng Tuệ) chánh ủy Khu 9 hồi đầu 9 năm đã chỉ thị cho chúng tôi phải nhanh chóng thành lập đơn vị võ trang để trừ gian diệt tề trong các vùng địch tạm chiếm. Anh chỉ thị cho anh Quang cùng với anh Hoàng Hà (sau này là đại tá giám đốc Công an Minh Hải) và anh Vĩnh (hy sinh năm 1948) cùng bàn thảo tại nhà anh Tắng, ở Rạch Đường Sân, Vĩnh Thuận, Rạch Giá. Tổ chức thành đoàn công tác lấy tên là "Sát gian đảng", định triển khai ở 4 thị xã: Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Trước hết là tổ chức ở Cần Thơ. Anh cũng đã gọi một anh thợ khắc dấu, cho xuống ghe tam bản, chở vòng quanh để giấu địa điểm: khắc một con dấu có hình đầu lâu và hai xương chéo bên dưới, bên trên đầu lâu là hình bàn tay chụp xuống có những giọt máu chảy xuống đầu lâu; Thật là rùng rợn, đầy chất Sherloc Homes. Đoàn có nội quy gồm 25 điểm, trong đó có những quy định khá nghiêm ngặt. Ví dụ: Cấm không được quan hệ kết hôn với Việt gian, cấm đồng đội không được kết hôn với nhau. Tôi xem bản nội quy và con dấu "Sát gian đảng" thấy khá buồn cười, nhưng không phát biểu ý kiến với anh Tăng, vì mình mới được móc ráp với tổ chức kháng chiến của Khu là đã vượt quá yêu cầu rồi.


Buổi hội ý tuần sau, vẫn hẹn nhau tại địa điểm Đàn Tiên. Chúng tôi bàn ngay vào việc tổ chức S.G.Đ ở Cần Thơ, tôi được cho biết là ở Cần Thơ dự tính tổ chức một trung đội, mới có được 4 tổ: Hồng, Hoàng, Việt, Phi hoạt động ở ngoại ô: Đầu Sấu, Xóm Chài, Cây Da.


Chúng tôi bàn với nhau thành lập một tiểu đội lấy tên là Tiểu đội Thanh (muốn tránh màu đỏ dễ gây chú ý cho địch) chuyên trách hoạt động ở nội thành, tự phần công nhau: Tắng Tiểu đội trưởng, tôi Tiểu đội phó. Tiểu đội trưởng lo mọi mặt giao dịch với cấp trên và chỉ huy diệt ác, trừ gian. Tiểu đội phó chịu trách nhiệm cung cấp địch tình và bảo vệ nội bộ, chỉ cần vài đội viên để làm liên lạc, không cần biết mặt các đội viên khác. Tắng đồng ý và nói đã có hai đội viên nữ, giao cho tôi lập thành một nhóm chuyên về liên lạc và địch tình. Đó là hai cô Lâm Thị Phấn, 28 tuổi, con bà giáo Phận, và Bùi Thị Nhụy, 17 tuổi, người ở Cái Vồn, con ông Bùi Hà Đông. Thế là hôm tiếp theo, chúng tôi họp cả 4 người và phân công cụ thể. Theo đề nghị của tôi, chúng tôi đồng ý lấy bí danh bằng chữ Thanh: Tắng bí danh Thanh Nguyên, Hiến bí danh Thanh Đình, Phấn bí danh Thanh Phong, Nhụy bí danh Thanh Hương. Sau này, năm 1947, Tắng chuyển công tác binh vận, thì tôi đặt thêm bí số để giữ bí mật hơn: Tôi bí số 32, Phấn bí số 29 Nhụy bí số 18 (lấy tuổi ta + 1 cho dễ nhớ). Tất nhiên, trong tiểu đội Thanh còn nhiều đội viên khác, nhưng do cần giữ bí mật tôi không tiện tiếp xúc.


Điều lý thú nhất trong cuộc chiến đấu đầu tiên trong lòng địch, tờ truyền đơn ra mắt đồng bào của tổ chức "Sát gian đảng", tôi tiếp nhận từ tay đại úy Nogret, trưởng Phòng Nhì của ban chỉ huy Pháp đóng ở Cần Thơ trao cho. Hôm đó vào khoảng tháng 7/1946, tôi đến văn phòng thấy bọn Pháp đứng bàn tán xôn xao, tên Cantin (Pháp lai Malgache) làm sếp khám Cần Thơ mang lại một tờ truyền đơn Việt Minh. Bộ mặt vốn đen xì biến thành bạc phếch. Nó ngước đôi mắt trắng dã lên giải thích cho Nogret và bọn Pháp vây quanh biết rằng: nó nhận được tờ truyền đơn từ một bàn tay bí mật dán vào sau lưng nó, khi đến làm việc nhờ nhân viên dưới quyền phát hiện, nó mới biết. Tờ tố cáo ra mắt đồng bào in mực tím có ghi rõ nội quy cả 25 điểm của "Sát gian đảng", không có ai ký tên. Nhưng con dấu in hình đầu lâu có hai ống xương bắt chéo bên dưới và bàn tay rỏ máu bên trên, in bằng mực đỏ, đủ nói lên quá nhiều nỗi khiếp sợ của người xem. Nogret trao cho tôi xem rồi dịch, dịch xong nó giải thích cho Cantin và thuộc hạ rằng đây chỉ là trò bịp trẻ con, không đáng sợ. Tuy nhiên, sau đó Cantin ra về, thì Nogret gọi ba phiên dịch viên đến gần tấm bản đồ thành phố Cần Thơ, tỷ lệ 1/25.000 treo trên vách, lấy cây thước kẻ khoanh một vòng từ cầu Cái Đôi theo rạch Cái Khế đến Rạch Ngỗng, rạch Bần, cầu Tham Tướng quanh lại sông Cần Thơ và dặn kỹ: "Chúng mày nên nhớ đi một mình đừng bao giờ ra khỏi ranh giới này, ngoài chu vi này thuộc về vương quốc của Hồ Bá Phúc, và Trần Nhật Quang". Nghe đại úy dặn dò, một mặt tôi có phần nể nó vì nó cũng có quan tâm đến mạng sống của cấp dưới, nhưng mặt khác tôi cũng nhận thức được sức mạnh tâm lý cú đấm đầu tiên mà tổ chức tình báo ta đánh vào tâm khảm của tên trùm đầu sỏ của Đệ nhị phòng Pháp ngay trên mảnh đất miền Tây Nam Bộ. Một vấn đề nảy sinh ngay trong óc tôi: Ai đã cung cấp cho nó biết tên Hồ Bá Phúc và Trần Nhật Quang? Hồ Bá Phúc là Ủy viên Mặt trận Việt Minh tỉnh Cần Thơ thì nhiều người biết đã đành nhưng anh Trần Nhật Quang chỉ huy tổ chức "Sát gian đảng" thì làm sao nó biết dược? Tôi kiểm điểm lại những người lui tới vàn phòng Ban chỉ huy quân sự, trong đó có Phòng Nhì, do Nogret điều khiển. Về phía người Việt chỉ có ba người phụ nữ, thường mặc áo dài đen, hai người Hoa là trưởng ban hội Triều Châu: má Chín Xuân ở Cái Răng và trưởng ban Quảng Đông, má Chín Đông trưởng ban Cần Thơ, không kể hai công chức của sở lính kín P.S là Tài và giáo Tỷ (giáo Tỷ vừa làm cho Sở Mật thám vừa làm cho 2è Bureau) mà tôi đã tìm hiểu lai lịch và hành tung từ lúc mới đến Cần Thơ. Qua dư luận bà con lối xóm tôi ở, bằng phương pháp loại dần, cuối cùng cơ quan cũng phát hiện được kẻ gian, có biện pháp đối phó kịp thời, đảm bảo bí mật tổ chức, an toàn công tác. Muốn đánh được giặc, trước hết phải bảo vệ mình, không thể nào khác. Qua đó biết rõ thêm về đối tượng tác chiến hiểu rõ thêm về đồng đội của mình.


Thời gian từ tháng 3/1946 đến tháng 9/1946, cả địch và ta đang ở thế vừa đàm phán xoay quanh Hiệp định 6/1 và 14/9 vừa chuẩn bị đánh nhau trên chiến trường ở cả hai miền. Riêng ở miền Nam, bọn Pháp ráo riết mọi mặt để hòng thiết lập lại chế độ thuộc địa như cũ. Vì vậy, bất chấp dư luận báo chí công khai phản đối ngày 1/6/1946, chúng đã đưa ra cái chính phủ bù nhìn Nam Kỳ tự trị do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh cầm đầu. Thực chất vẫn là con rối do Phòng Nhì của thiếu tá Savany nặn ra và đạo diễn. Savany lúc này đã được thăng cấp thiếu tá và từ Vĩnh Long điều lên Sài Gòn làm trưởng Phòng Nhì của quân lực Pháp ở miền Nam Việt Nam.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #36 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:38:11 pm »

Vào thời gian 7/1946, quân đội Pháp ở Cần Thơ cũng nhận thêm các phương tiện tuyên truyền là một chiếc xe bít bùng có đầy đủ máy phóng thanh và hai loa truyền thanh, những thiết bị kỹ thuật hiện đại nhất chưa từng thấy ở mảnh đất miền Tây. Nogret gọi các phiên dịch đến và phân công tôi với các xe, và lên xe cầm micro kêu gọi đồng bào ủng hộ Chính phủ Nam Kỳ tự trị vừa ra mắt đồng bào. Tôi lắc đầu bảo: "Tôi nói giọng Huế, dân Nam Bộ nghe không được đâu". Thiếu úy phiên dịch Long cũng ủng hộ lời tôi nói. Một phiên dịch mới tuyển, trung sĩ Nuôi người công giáo đứng ra lãnh trách nhiệm lên gào thét vào micro thay tôi. Đêm đó, anh Tắng xông vào nhà ở đường Cầu Xéo, xóm Nhà Thờ. Tắng định thuyết phục anh ta thôi cái trò tuyên truyền bịp bợm đồng bào, Nuôi đang tắm ở nhà sau vội xách áo quần chui qua vách líp qua nhà hàng xóm. Hôm sau, hắn đến văn phòng mặt tái mét, thuật lại từng chi tiết về việc Việt Minh xông thẳng vào nhà để ám sát anh ta, may nhờ anh ta có chút nghề võ phi thân qua tường thoát nạn. Mọi người ở văn phòng ban chỉ huy, kể cả đại úy Nogret đều được một trận cười muốn vỡ bụng. Người thích thú nhất, không nói ra ai cũng biết là tôi! Cũng may, Nogret cũng không muốn hành tội thêm bộ hạ của mình, cho chuyển ngay xe tuyên truyền và loa phóng thanh về cho Tiểu đoàn 1/43è RIC, đóng ở bót nhà ông Hành, toàn quyền sử dụng. Từ đó chiếc xe và loa được thiếu tá chỉ huy Tiểu đoàn cho vào kho luôn, không bao giờ thấy xuất hiện ở Cần Thơ.


Nếu tôi nhớ không lầm thì chiến công đầu của "Sát gian đảng" có diệt địch và thu chiến lợi phẩm là trận đánh chiếc đò máy tiếp tế cho Cầu Kè. Trận này tôi không tham gia như đã phân công, hoàn toàn do anh Tắng trực tiếp chỉ huy tác chiến. Theo anh kể lại: anh đã cùng hai anh đội viên khác là Nhân và Nghĩa, giả làm hành khách, quá giang chiếc đò máy từ bên Cần Thơ. Chiếc đò máy do nhà binh trưng dụng để tiếp tế cho bót Cầu Kè (nay thuộc tỉnh Trà Vinh) chở đẩy vải đen về phân phát cho vợ con lính ở quanh bót. Đến gần cù lao Lục Sĩ Thành, chiến sĩ ta tấn công tên Cai xếp (hạ sĩ) Pháp, tước khẩu tiểu liên hiệu Sten, hất xác tên Pháp xuống sông. Xong, uy hiếp hại tài công cho lái chiếc đò máy vào cù lao và phân phát vải cho đồng bào đang thiếu mặc, xong trận thắng, Tắng về thuật lại cho tôi biết và tặng cho tôi chiếc đồng hồ đeo tay hình chữ nhật, hiệu Zénit. Anh bảo: "Tôi thấy anh làm Việt gian mà đến chiếc đồng hồ đeo tay cũng không có, nên trước khi liệng xác thằng Tây xuống sông, tôi còn tước lại của nó chiếc đồng hồ này để tặng anh, anh có dám đeo không?". Cảm động vì tấm lòng ưu ái của bạn, tôi đeo ngay vào tay, và nói: "Anh đã dám giết nó lấy cho tôi, tôi sợ gì mà không dám đeo!". Và qua thật, tôi đã đeo nó luôn bên mình, ngay cả khi đi làm việc, cho mãi năm 1951, vì cũ quá không còn sửa được nữa. Đó là trận giao thông chiến đầu tiên, tiểu liên chiến lợi phảm đầu tiên và cũng là tên lính Pháp đầu tiên bị "Sát gian đảng" trừng trị ở Khu 9. Sau khi quân Pháp dở thói tráo trở vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6/3, tiến công chiếm đóng Hà Tiên, Rạch Giá 9/3. Chiến công tuy nhỏ nhưng cũng góp thêm một cột mốc của lịch sử kháng chiến Cần Thơ, và của ngành Tình báo ta trong thời còn non trẻ.


Không bao lâu sau trận đoạt tàu cướp súng đó, Tiểu đội Việt của "Sát gian đảng" do đồng chí Việt Dũng chỉ huy lại tiếp tục tổ chức một trận phục kích trên đường Cái Răng - Cần Thơ, đánh bọn lính Miên gian đi trên xe đổi gác ở bót Vườn Bông. Tốp lính khiếp sợ vứt súng chạy tán loạn, ta lượm được 4 cây súng mút Anh, rút về rạch Đầu Sấu. Tắng thường độc lập tác chiến. Tôi nhớ có một lần, Tắng đi ngang qua nhà thiếu úy Hiền, thấy hắn đang ngồi một mình, có cây súng Sten treo tòn teng trên cột vách, liền xông vào bắn chết ngay tên thiếu úy, rồi xách tiểu liên đi ra.


Tắng khoe với tôi, nhưng tôi không lấy việc đó làm thích thú vì thấy quá mạo hiểm... Một lần khác, nghe tôi nói giáo Thạch là bí thư Dân xã Đảng Cần Thơ, ngay đêm đó Tắng xông vào nhà hạ sát ngay tên phản động vì căm thù Hòa Hảo đã giết chết bố anh hồi năm 1945.


Cùng trong thời gian đó, các tiểu đội khác, tuy mới hình thành, quân số còn rất ít, vẫn cố gắng len lỏi vào hoạt động nội thành. Tiểu đội Hoàng, gồm các thiếu niên dưới 16 tuổi do Hoàng Thanh (Võ Xuân Vi) và Hoàng Thám (Nguyễn Hữu Lộc), tiểu đội trưởng và tiểu đội phó chỉ huy, cả hai đều hy sinh năm 1948, trong lúc ném lựu đạn giết giặc. Tờ truyền đơn của "Sát gian đảng" dán vào lưng Sếp khám Cantin là do một chiến sĩ nhỏ tuổi của Tiểu đội Hoàng, chiến sĩ đó là Nguyễn Văn Nhâm. Tiểu đội Hồng có Nguyễn Huy Quỳnh, gọi là Quỳnh xụi chỉ huy. Tuy què một chân vẫn len lỏi ra tận Cầu Bắc đến gần lính Miên gian kề khẩu súng Rouleau nhỏ xíu vào mang tai tên lính, bóp cò. Đạn không nổ. Quỳnh vất súng bỏ chạy, tên lính cũng hoảng hồn ôm súng chạy về ngả khác (Quỳnh sau này là đại úy Cục 2 về hưu ở nhà 40 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội, từ trần năm 1998 ở tại thành phố Hồ Chí Minh). Tiểu đội Phi, do Hổ chỉ huy cũng tổ chức được một đội viên đưa làm bồi cho tên đại tá Cluset, định đầu độc nhà ăn của sĩ quan Pháp. Nhưng vì thuốc độc bốc mùi hăng quá, Cluset đưa cho con chó berger ăn thử súp, con chó chết lăn quay. Anh bồi tên là Phấn bỏ trốn. Năm sau, tôi gặp Phấn ở Cái Đôi (Phú Hữu - Cần Thơ). Phấn cho biết khi chuyện bại lộ, anh bỏ trốn, chỉ lấy được của Cluset một số tiền chừng 18.000 đồng... Phấn sau này chết bịnh ở quê nhà. Còn đồng chí Hổ, sau làm sĩ quan liên lạc bốn bên, năm 1975 chuyển ngành về làm thông tin văn hóa Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.


Những hoạt động vũ trang trong lòng địch tuy còn thơ ngây, nhưng cũng nói lên được chí khí quật khởi của đồng bào vùng đô thị Cần Thơ trong buổi đầu kháng chiến. Thực tế hoạt động của "Sát gian đảng" đã làm cho các cơ quan đầu não của Pháp ở miền Tây lo sợ trước một kẻ địch vô hình, đã chận tàu xe cướp súng, giết lính Pháp và còn mưu toan đầu độc cả sĩ quan cao cấp Pháp ngay tại căn cứ chỉ huy, lại còn dán bố cáo cảnh cáo trước ngay trên lưng chúng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #37 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:40:40 pm »

Trong lúc đó, tin tức các nơi đưa về lác đác có một số đồn bót ở Nam Bộ, Việt Minh đã sử dụng lính lê dương đào ngũ, giả làm sĩ quan Pháp đi kiểm tra, cướp đồn, đoạt súng buộc địch phải đề phòng cẩn mật hơn.

Cũng trong thời gian này, bà giáo Phận, nhờ công sức của hai cô con gái, đã xin về ở lại ngôi nhà ngói cũ ở số 37, đường Paul Emery (nay 81-83, Hoàng Văn Thụ, Cần Thơ). Viện lý do bảo đảm an toàn, tôi cũng được đại úy Lespinasse, chỉ huy đại đội văn phòng tham mưu kiêm chỉ huy thành phố Cần Thơ, dành cho tôi một căn phòng nhỏ bên phải ngôi nhà kiên cố đó. Tôi dùng căn phòng để viết báo cáo mật ban đêm, tránh khỏi cặp mắt bọn mật thám. Việc giao dịch bàn bạc công tác của tiểu đội Thanh với anh Tắng và cô Hai Phấn cũng thuận tiện hơn trước. Dư luận bắt đầu lan rộng đến tai vợ tôi và cả bọn Phòng Nhì Pháp về mối quan hệ đó, cho là tôi mê gái. Tất nhiên tôi không cải chính, ngược lại mỗi khi giao dịch với bọn Pháp, tôi vẫn tươi cười: "Tôi xin giới thiệu, bà Elise, người yêu tôi". Elise là tên Tây đặt theo một quí phái hồi đó của cô Hai Phấn. Ngặt một nỗi tôi không biết giải thích sao cho vợ tôi hiểu, chỉ cười trừ mà thôi. Là một phụ nữ từng trải, vợ tôi cũng phải làm thinh chịu đựng. Một hôm, ăn cơm tỏi xong, tôi đến định ở lại ban đêm viết báo cáo, bà Giáo Phận và con gái giới thiệu tôi với một người trung niên mặt mũi đầy đặn, có cục thịt thừa nhò ở bên dái tai, cô con gái nói: "Đây là anh Ba Nghi, học trò cũ của ba em. Tối nay, anh xin ngủ lại một đêm, mai đi sớm, xin ông nhường cái phòng cho anh ấy một đêm được không? Anh ấy ngủ ngoài sợ bất tiện lắm". Tôi bắt tay người đàn ông ấy và đáp : "Được thôi, tôi sẵn sàng". Qua các báo cáo của Sở Mật thám, và các tin tức tôi thu lượm được, tôi biết rất rõ Ba Nghi là một lính áo trắng, theo Việt Minh từ tháng 8/1945, là người tình cũ của cô Hai Phấn, hoa hậu ở Cần Thơ, trước kia, và nay là trung đội trưởng trong đại đội địa phương Cái Vồn, do anh Phạm Tấn Khương, lính kèn cũ của Pháp chỉ huy. Đêm ấy, anh Ba Nghi ngủ lại phòng ngủ của tôi, còn tôi về nhà ngủ. Nằm chung với vợ, tôi vẫn nghĩ một bài thơ đề tặng cho Ba Nghi sáng hôm sau, trước lúc chia tay. Bài thơ làm theo kiểu cũ, nặng điển tích, nhưng cốt sao nói được tâm sự của mình mà khỏi bị lộ bí mật: Bài thơ đó có mấy câu sau:

   "Trên bước chinh trường gặp gỡ nhau
   Mùi chi lan mới bén quen màu
   Đó gươm bách chiến gươm mài bén
   Đây bút thiên quân giá vẫn cao
   Chim Việt, cành Nam thường vẫn nhớ
   Ngựa Hồ đất Bắc dễ quên đâu!
   Chén trà tiễn bạn hôm nay nhé
   Chén rượu mừng công hẹn buổi sau!


Anh Ba Nghi ra đi được mấy hôm, bỗng có một cô gái liên lạc khoảng 18 tuổi đến gặp cô Hai Phấn, nhắn mượn tôi một bộ đồ sĩ quan Pháp. Tôi chỉ là thượng sĩ phiên dịch, nhưng vẫn lấy quân phục màu cứt ngựa của kho quân trang Pháp cấp cho về thuê cắt may lại cho đẹp, có 4 túi ngoài như áo sĩ quan. Tôi hiểu ngay dụng ý của Ba Nghi, chỉ dặn dò cô liên lạc: "Nói với anh Ba phải cẩn thận nghe cô, đừng để mất". Một tuần sau, cô liên lạc đem trả lại, bộ quần áo là ủi phẳng phiu, chỉ rách một đường dài ở nách. Sau này, vào khoảng cuối năm 1946, tôi có dịp gặp anh Ba Nghi lại tại đại đội địa phương Cái Vồn. Anh Ba cho biết, anh đã mượn bộ đồ sĩ quan cho anh Bé, một hàng binh lê dương của đơn vị bạn ở Vĩnh Long, giả dạng trung úy Pháp đi kiểm tra đồn bót. Anh Ba Nghi đóng vai phiên dịch viên, đi thẳng vào bót, bắt bọn lính sắp hàng hai để điểm danh tập thể dục, thừa cơ anh em xông vào cướp súng mang đi. Đó là một đồn bót lẻ ở vùng Cái Vồn (bót Cai tổng Giỏi). Từ dạo đó đến nay đã 43 năm ròng, tôi đành thất hứa, chưa có dịp nào ngồi lại uống chén rượu mừng công năm ấy. Ba Nghi sau 9 năm cũng có đi tập két, trở về công tác Sở lương thực thành phố Hồ Chí Minh, cũng đã nghỉ hưu ở quận Bình Thạnh.


Trong thời gian Hội nghị Fontainebleau đang họp ở Pháp, bọn chỉ huy quân đội Pháp ở miền Tây Nam Bộ lên giây cót tinh thần cho binh sĩ "bản xứ" ở các đồn bót lẻ, tổ chức một vòng tuần du bằng tàu lửa (xà lúp chạy bằng củi đốt) trên các kinh xáng, liên kết các đồn bót với nhau. Viên trung tá Nulzec, chỉ huy phó, dẫn tôi cùng đi kiểm tra các đồn Ngã Năm, Phước Long, Thới Bình, Chắc Băng ở giữa vùng rộng lớn đồng bằng miền Tây Nam Bộ. Mỗi đồn chỉ có một vài tên Pháp chỉ huy, ngoài ra chỉ là lính Partisan, phần lớn là người địa phương đó, gần một trung đội. Le Nulzec đến đồn nào cũng lập ra công thức đã nghĩ sẵn: "Anh em binh sĩ phải hết lòng phục vụ quân đội Pháp. Đừng nghe lời của Việt Minh Cộng sản tuyên truyền, đừng đi chơi lẻ tẻ ra ngoài đồn mà bị Việt Minh giết chết. Phải tin vào sức mạnh của nước Pháp". Do vậy công việc phiên dịch cũng không có gì khó khăn. Đến đồn Chắc Băng (Vĩnh Thuận, Kiên Giang hiện nay) có sẵn một phiên dịch, nên tôi được miễn làm phận sự. Tôi chú ý lắng nghe lời dịch của anh bạn đồng nghiệp mới. Thay vì dịch sát nghĩa của viên trung tá đã truyền đạt, anh ta nói: "Tụi bây đừng láng cháng mang súng đi bố ráp ngoài đồn mà bị Việt Minh giết chết đa!". Tôi bỗng có cảm tình ngay với giọng Bắc của anh ta. Đến lúc giải lao, tôi tìm anh phiên dịch để bắt chuyện, bỏ luôn cả giấc ngủ trưa để tâm sự với người bạn mới. Anh tên là Trần Huy, nguyên là thư ký Tòa sứ Lạng Sơn, bị ham cờ bạc thua, phải thụt két, rồi trốn vào Nam Bộ về ở Trà Vinh làm thư ký cho luật sư làm công chức kiểm lâm, tản cự về Rạch Giá, xin làm phiên dịch cho viên trung úy Lacroix rồi theo nó đến đóng ở đồn Chắc Băng. Có vợ con gốc Trà Vinh. Tôi đem tờ báo ra cùng xem tin tức và cùng bàn luôn thời sự. Báo chí công khai hồi đó cũng lên tiếng đả kích Chính phủ Nam Kỳ tự trị và đòi thống nhất 3 kỳ. Tôi hỏi ý kiến anh Huy, Huy trả lời dứt khoát: Nam Kỳ tự trị là cái quái gì? Là người Việt Nam ai lại không muốn thống nhất đất nước? Thái độ quan điểm giọng nói thể hiện rõ nội tâm. Tôi thành thật bày tỏ nguyện vọng muốn kết bạn tri kỷ. Huy đồng ý ngay. Tuy nhiên, với công tác tôi vẫn còn giữ ý. Tôi nói với Huy: "Chúng ta đã là bạn tri kỷ thì tôi chỉ xin Huy một điều, sau nay nếu có ai đó nhân danh tôi đến nhờ Huy giúp đỡ một việc gì đó, Huy có sẵn sàng không?". Huy gật đầu tán thành.


Tôi nói thêm: "Tuy nhiên, muốn biết người đó là người của tôi không thì cần có khẩu hiệu để nhận nhau. Khẩu hiệu đó là. Hỏi "Thống" đáp "Nhất". Huy cũng nhất trí. Trước khi từ biệt tôi nói thêm: "Anh Huy này, tôi với anh đều có hoàn cảnh bất đắc dĩ cả, chỉ mong sao giữ trọn tình bạn đừng quên nhau, và nhất là đừng quên giúp đồng bào mỗi khi làm được. Đồng bào ta đang khổ sở lắm, phải không anh".


Tuy nhiên, vì nhiều công việc khác dồn dập, mãi đến cuối năm 1947 tôi mới được gặp lại Huy, và nhờ chú Tư Ngà, vốn đã quen nhau từ hồi ở Chắc Băng, móc ráp lại trở thành một cơ sở phục vụ có kết quả cho ngành Quân báo Phân Liên Khu miền Tây Nam Bộ sau này. Đất nước đã thống nhất, như ý muốn của Trần Huy, chúng tôi có dịp gặp lại nhau nhưng kiểm điểm lại tôi vẫn chưa làm được gì để đền đáp tương xứng công lao và tấm lòng của người bạn tri kỷ, lớn hơn tôi 10 tuổi. Thật đáng hổ thẹn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #38 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:41:40 pm »

Ngày 1/8/1946, Hội nghị Fontainebleau đang họp thì có tin bọn thực dân Pháp ở Đông Dương tổ chức Hội nghị Liên bang Đông Dương ở Đà Lạt, phái đoàn của ta rời Fontainebleu và không trở lại nữa. Ở miền Tây Nam Bộ bọn Pháp vẫn tổ chức các cuộc càn quét xung quanh các thị xã và mưu toan phát súng cho địa chủ để chúng mộ lính lập thêm đồn bót, mở rộng vùng chiếm đóng.


Văn phòng tổ chức "SGĐ" của ta do anh Quang trực tiếp chỉ huy thường xuyên, đóng ở vùng Đầu Sấu và Rạch Bà Tồn, cách nội thành chừng vài ba km. Một đội viên Tiểu đội Thanh - tên Phúc - tấn công một tên lính Pháp ở nhà Dưỡng lão, để mưu toan đoạt súng, bị nó bắt dẫn về Phòng Nhì, Phúc còn là học sinh, may nhờ có chị cậu ta là người công giáo quen với Nogret đến bảo lãnh nên được tha về. Để đối phó với các cuộc càn quét hàng ngày, tôi phân công: Thanh Phong (Hai Phấn) và Thanh Hương (Nhụy) thay phiên đem tin tức về cơ quan mỗi khi xảy ra các cuộc hành binh cấp tốc. Do có nhiều bà con ở Đầu Sấu, nên công tác liên lạc cũng khó giữ bí mật. Một hôm bọn lính Đầu đỏ ở bót Tham Tướng càn quét vùng Đầu Sấu, bắt được một anh tự vệ tên Cảnh, bị đòn đau, anh ta khai là có liên lạc với cô Hai Phấn, con gái ông giáo Phận ở Cần Thơ, Thanh Phong liền bị Nogret gọi lên văn phòng để đối chất với tên Cảnh. Để điều tra vụ này, Nogret nghe nói cô Phấn là tình nhân của tôi, nên không gọi tôi mà cho gọi thiếu úy Long lên làm phiên dịch. Tôi ngồi làm việc mà cứ phập phồng lo sợ suốt buổi. Tuy nhiên nhờ thiếu úy Long mớm cung. Cảnh phải khai lại là: anh ta chỉ nghe người ta nói cô Hai Phấn có quen thân với ông Ách Hiến (hồi này tôi đã lên lon) nếu rủi bị bắt thì cứ khai cho cô Hai, thế nào ông Ách Hiến cũng bảo lãnh cho. Vì vậy Thanh Phong được tha về. Tuy nhiên Nogret vẫn còn tiếc rẻ: "Chuyện đáng nghi lắm, tao muốn giam bà ta lại, để điều tra thêm". Hú vía! Tôi thở phào, không cần che giấu tình cảm trước mặt Nogret, bắt chặt tay Long người bạn lớn hơn tôi 10 tuổi. Cảnh sau đó bị kết án đầy đi Côn Đảo (sau này tôi được biết Cảnh trong một nhóm tù chính trị vượt Côn Đảo về Bạc Liêu, sau Hiệp định Genève, tập kết ra Bắc, có thời gian làm Giám đốc nhà máy Diêm cầu Đuống tỉnh Bắc Ninh). Tôi cũng rút kinh nghiệm, không phân công Thanh Phong làm liên lạc, dồn công việc cho Thanh Hương, mới 17 tuổi, chưa bị lộ. Sau đó ít lâu, một điền chủ ở Long Mỹ, ông Cả Chánh lên xin gặp Nogret để xin cấp phát súng về mộ lính, lập đồn bót, giữ điền địa của ông ta. Nogret đồng ý, Cả Chánh có chiếc tam bản đậu ở Cầu Xéo, ông ta có một súng rouleau, kiểu St.Etienne mang theo trong mình. Đêm đó, được tôi báo, Tắng liền rủ thêm Hai Méo (có tật méo miệng) xuống tam bản gặp Chánh để cảnh cáo. Hai người vừa bước xuống mũi tam bản thì Cả Chánh hốt hoảng cầm súng bắn ra, viên đạn trượt trên da bụng Hai Méo, để tự vệ, Tắng bắn trả, rồi cõng Hai Méo chạy thoát. Cả Chánh trúng đạn chết trong tam bản. Hôm sau, đại úy Nogret được tin báo, cho thu hồi khẩu súng rouleau lại và gọi hai đứa con của Cả Chánh đến. Hai cậu con Cả Chánh là Sơn và Điền tuổi vào khoáng 20, 18 được Nogret động viên đi tìm Việt Minh đế trả thù cho cha. Tôi phiên dịch, nhưng hai cậu đều hiểu tiếng Pháp, sốt sắng nhận lời. Thấy hai cậu còn trẻ, tôi rút kinh nghiệm, không vội báo cáo cho Tắng biết, chỉ dặn Nhụy (Thanh Hương) tìm cách làm quen và theo dõi. Không ngờ trong quá trình tìm hiểu, Nhụy và Sơn lại gắn bó và yêu nhau tha thiết, xin làm lễ cưới. Nghĩ lại nội dung 25 điều của "SGĐ" cấm lấy Việt gian, tôi lập luận: "Sơn là con địa chủ, bản thân tuy có nhận nhiệm vụ đi trả thù cha, nhưng chưa có hành động gì Việt gian cả, nên không ngăn cản ta muốn cũng cản được đôi lứa yêu nhau". Sau đó, Sơn xin vào làm phiên dịch cho bọn lính thiết giáp 2è SPAHIS và cũng là một cơ sở tốt cho ta, cung cấp một tài liệu về kế hoạch tuần tra của xe thiết giáp A.M ngày đêm ở thành phố Cần Thơ, giúp cho một đơn vị chủ lực tỉnh Cần Thơ (E.122) đột nhập tập kích vào tận khu bệnh viện Cần Thơ năm 1948, thu được một số kết quả, tránh thương vong.


Sơn hoạt động đến năm 1952 thì bị bọn phán gián Pháp bắt tại Cần Thơ, giam giữ ở Sài Gòn và chúng trao trả cho ta năm 1954 ở miền Bắc (cả Nhụy và Sơn sau hòa bình lập lại đều có gặp tôi, gia đình họ ở TP.HCM, P17.Q.Bình Thạnh).

Nhớ hồi mới gặp nhau, Nhụy có hỏi quan điểm của Sơn: "Với cái chết của cha, Sơn thấy thế nào?? Sơn trả lời: "Ổng chết thì ổng chịu. Ai biểu ông nhận súng của Tây làm gì!". Một điển hình lý thú về công tác tư tưởng và tổ chức trong lòng địch.

Ngày 14/9/1946, thỏa hiệp án đã ký kết ở Pháp giữa Hồ Chủ tịch và Moutet, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, thay mặt cho Chính phủ Pháp, Hồ Chủ Tịch được đưa về nước trên một chiến hạm Pháp, treo quốc kỳ Việt Nam. Trong lúc Bác đang trên đường về Tổ quốc thì ở Nam Bộ bọn Pháp vẫn không ngừng càn quét, khủng bố đồng bào. Tôi nhớ, có nơi vội gởi phái đoàn ra hiệp thương với bọn Pháp và bị chúng bắt giam lại. Một hôm tại nhà cụ giáo Phận, một người bà con với cụ giáo Phận ở Phong Điền, xã Trường Long, tên là anh Hai Rép đến trao cho tôi một bức thơ, tôi ngạc nhiên vì thấy thơ có dấu son đỏ chót của Bộ Tư lệnh Quân khu 9, do đồng chí Phan Trọng Tuệ, Chính trị Bộ chủ nhiệm Quân khu ký tên, nội dung vắn tắt trên một trang giấy pelure nhỏ, động viên tôi tích cực công tác và đề ra 2 yêu cầu cho biết chủ trương thi hành Thỏa hiệp án của bọn chỉ huy quân đội Pháp ở miền Tây Nam Bộ và cung cấp ngay cho Bộ Tư lệnh một bản đồ quân sự của thành phố Cần Thơ. Cô Hai Phấn (Thanh Phong) cũng nhận được thơ của cụ giáo Phận, lúc này là chủ tịch Liên Việt tỉnh Cần Thơ, động viên con gái hết lòng vì nước, cô Hai đọc xong thư của cha, đưa cho tôi xem. Tôi còn nhớ mấy câu thơ cuối. Cụ trích dẫn hai câu thơ của Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi, trước lúc sang Trung Quốc:

   "Thương cha con phải lo cho nước
   Đừng để giang sơn chịu thiệt thòi!"

Đêm hôm đó, tôi ở lại một đêm viết báo cáo, sáng hôm sau giao cho anh Hai Rép mang về Khu. Tỏi nói rõ: bọn Pháp không có thực tâm thi hành Thỏa hiệp án đâu, bằng chứng là có vài nơi ta gởi phái đoàn, thì bọn Pháp bắt giam lại. Ta không nên mắc mưu nó. Và, để cung cấp bản đồ tôi phải nhờ một thanh niên học sinh, có cảm tình với kháng chiến là cơ sở của ta, tên Phước Kiếng, cùng tôi thức suốt đêm để vẽ lại bản đồ thành phố Cần Thơ, theo tỉ lệ 1/25.000, đến sáng vẽ xong, tôi để Phước trở về nhà, một mình tiếp tục ghi lại các căn cứ, đồn bót Pháp có đủ phương tiện cùng đơn vị đóng quân và nhiều chi tiết khác. Sau này anh Trần Nhật Quang cho tôi biết, năm 1947 anh ra Bắc cùng với phái đoàn Nam Bộ ở chiến khu Việt Bắc. Trong một hội nghị Quân báo, anh đem bản đồ địch tình Quân khu ra trình với đầy đủ chi tiết. Nhiều đồng chí hỏi làm sao anh nắm vững địch tình như thế, anh cười bảo là nhờ bạn bè quen biết sống ở đô thị cho tin. Nghe anh nói, tôi cũng rất tự hào về công tác của ngành mình đã có tiếng vang ra miền Bắc, trong đó mình cũng có phần đóng góp. Và, ngay trong tháng 9/1946, Bộ Tư lệnh Quân khu 9, lúc đó dưới quyền của Khu bộ trưởng Huỳnh Phan Hộ, Chánh ủy Phan Trọng Tuệ đã không gởi phái đoàn ra họp với Pháp ở Cần Thơ như các nơi khác đã làm, chỉ sai một cụ già ngoài 60 tuổi, có chòm râu dê, người nhỏ thó, ngực mang mề đay Pháp "Croix de guerre" đến chỉ huy sở của bọn Pháp để đưa thơ thôi. Ông cụ đưa thơ rồi ra về, trước con mắt nể vì của chỉ huy Sở, ông cụ còn hiên ngang vén ống quần lên "trút bầu tâm sự" vào cánh cửa lớn đang mở rộng, trước con mắt kinh ngạc của bọn lính Tây còn trẻ măng đứng gác cổng!... Tôi cũng thích thú nhìn theo cảnh tượng đó. Một hình ảnh khá tượng trưng cho tình cảm của đồng bào Nam Bộ đối với quân xâm lược được trang bị tận răng!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #39 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:43:59 pm »

Ngày 1/10/1946, Ban chỉ huy tổ chức "SGĐ" triệu tập Tiểu đội Thanh về văn phòng đóng tại Rạch Cái Nai (bên bờ Đông sông Cần Thơ). Chúng tôi gồm có Tắng, Phân, Nhụy và tôi, xuống chiếc ghe tam bản thường trực tại bến ngã ba Lộ Mới, do một thanh niên, anh Lân, lái và giữ tam bản làm phương tiện giao thông. Theo anh Tắng cho biết thì tiểu đội Thanh còn có ba trạm liên lạc, do anh bán lúa lấy tiền tạo dựng nên, một bàn may tại kinh Xáng Cụt (bên rạch Cái Khế), một vựa mắm tại Cầu Củi (gần nhà đèn), và một vựa củi tại Cầu Xéo (xóm Nhà Thờ). Những việc đó sau này tôi mới được biết. Lần đầu ra xa thành phố, tôi đem theo cây súng rouleau để tự vệ (của Cả Chánh còn để tại văn phòng làm việc của tôi) nhằm phòng xa, khi gặp nhóm lính kín chặn đường làm ẩu. Tam bản vừa đến nơi, tôi xách cái túi có súng theo lên văn phòng ban chỉ huy. Tiếp chúng tôi ở văn phòng chỉ có một thanh niên, trạc 20 tuổi, dáng thư sinh. Tắng giới thiệu cho biết đó là anh Vĩnh, chỉ huy phó của Đoàn "SGĐ". Tôi thấy thái độ của anh khá lạnh nhạt nên cũng không vồn vã. Giới thiệu xong, tất cả đều kéo nhau xuống bếp, chỉ còn anh Vĩnh và tôi nói chuyện. Câu chuyện mang tính chất thẩm tra nhiều hơn là tâm tình. Đây lần đầu tôi tiếp xúc với ban chỉ huy đơn vị nên cũng chưa rõ cách đối xử như thế nào cho phải phép, ở vùng gọi là tự do, nghe xong một câu chất vấn theo giọng cấp trên, tôi lặng lẽ đứng lên, rút trong túi cây súng ra đặt trên mặt bàn, tay chỉ, miệng nói thong thả, từng tiếng một:

"Đây là khẩu súng tôi mang theo để tự vệ, có đủ sáu viên đạn còn tốt, nếu các anh tin tôi để tôi tham gia kháng chiến thì cứ để tôi giúp các anh, nếu các anh không tin tôi, thì sẵn súng đạn đó, anh cứ cầm lấy bắn tôi đi. Đừng nghi ngờ mất công. Có thằng Hiến cũng tốt, không có thằng Hiến thì cách mạng vẫn cứ thành công". Tôi nhìn thẳng vào mắt Vĩnh chờ đợi. Vĩnh hơi cụp mắt xuống, đằng sau bếp, Tắng cùng anh Quang đi lên. Quang chìa tay cho tôi, tôi bắt tay Quang xong, ngồi xuống. Vĩnh rút lui ra sau bếp. Nhụy mang lên một đĩa vú sữa vừa hái trên cây xuống. Quang phổ biến chỉ thị của Khu: Kể từ nay quân đội ở Nam Bộ đều lấy tên chung quân đội cả nước là: Vệ Quốc Đoàn. Sát Gian Đảng lấy tên là Vệ Thám Phòng. Các tiểu tiểu đội vẫn giữ nguyên biên chế, các chiến sĩ và cán bộ đều phải viết lý lịch quân nhân theo mẫu sẵn. Mỗi người phải viết lý lịch trong ngày cho xong, nộp văn phòng rồi sẽ trở về vị trí chiến đấu. Tôi gặp riêng anh Quang, hỏi: "Trường hợp tôi có nên viết lý lịch không?". Anh Quang nói cho tôi yên lòng: "Anh cứ viết như mọi người, lý lịch sẽ gởi về Khu quản lý, không sợ mất đâu". Chúng tôi chia ra mỗi người một góc, ngồi viết. Tôi viết lý lịch mà cứ phập phồng trong ngực. Suy nghĩ chừng nửa tiếng, để phỏng đoán khả năng, cuối cùng tôi quyết định: cứ viết điểm cơ bản, theo đúng yêu cầu, lược qua những chi tiết, nhất là những đóng góp trong quá trình của tôi trước năm 1945. Lấy 2/9/1945 làm điểm mốc như mọi người. Rủi lý lịch có rơi vào tay giặc thì kể như chuyện hên xui, xác suất không phải là nhỏ, vì văn phòng còn nằm trong vùng càn quét hằng ngày trong hoạt động của bọn đầu đỏ của thằng quan hai điên Massart.


Quả có vậy, năm sau, 1947, bọn lính đầu đỏ do tên ách Phẩm chỉ huy đến bố ráp vùng An Phú Trung (Phú Hữu, Cần Thơ), bao vây văn phòng đóng tại đình. Trung đội võ trang Vệ Thám Phòng chiến đấu ác liệt với địch tại ngã ba An Phú Trung, anh Vĩnh bị trúng đạn xuyên cổ, hy sinh tại chỗ và đã được anh em Vệ Thám Phòng, nhân dân địa phương chôn cất chu đáo tại đình An Phú Trung (Hòa bình lập lại, hài cốt đồng chí Vĩnh được di dời về quê nhà ở tỉnh Vĩnh Long. Các việc an táng, di dời đồng chí Vĩnh đều có đồng chí Trần Nhật Quang trực tiếp chứng kiến, lo liệu chu toàn).


Nghe tin Vĩnh hy sinh, tôi vừa thương vừa lo, thương một thanh niên còn trẻ mà đã hy sinh quá sớm (sau này tôi mới biết tên thật đồng chí Nguyễn Văn Vỹ, cháu ruột Thiếu tướng Nguyễn Văn Tây, tự Thanh Sơn, quê ở xã Trà Côn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, còn lo là lo hão số phận bản lý lịch quân nhân của tôi, có nằm ở văn phòng Vệ Thám Phòng và có lọt vào tay địch hay không?


Hoạt động của Vệ Thám Phòng trong tháng 10/1946 chủ yếu là: nắm tình hình địch càn quét đồng thời gây tiếng vang để thức tỉnh đồng bào vùng tạm chiếm. Sau khi đã có thỏa hiệp án, đôi bên đang chờ chủ trương mới để thi hành, thì đến cuối tháng 9/1946, bọn Pháp ở đồn Bình Thủy mang một trung đội càn quét vùng Miễu Ông, bị du kích ta bắn chết tên trung sĩ làm cho tình hình căng thẳng thêm. Hoạt động nổi ở nội thành, chủ yếu là tìm đủ mọi cách không cho quân địch nống ra khỏi đồn bót. Bằng lựu đạn do BCX9 chế tạo, các chiến sĩ Vệ Thám Phòng, chủ yếu là tiểu đội Hoàng phân công đi đánh lẻ tẻ các địa điểm ca nhạc và ăn nhậu của lính Pháp. Mở đầu bằng trận ném lựu đạn vào Bar Kim Long do anh Tắng trực tiếp thực hiện, tôi, Phấn và Nhụy đứng hẳn về bên lề đường để trinh sát, theo dõi kết quả trận đánh. Trời chạng vạng tối, lính Pháp đang ăn nhậu trong Bar, Tắng rút quả lựu đạn trong túi quần ra, đập mạnh đầu kim hỏa xuống lề đường thấy nhá lửa mới liệng vào trong quán. Một tiếng nổ vang rền, nhưng kết quả chỉ 2 lính Tây bị thương nhẹ, vì mảnh lựu đạn lớn gây tiếng nổ hơn là gây thương tích. Tiếp sau đó, lựu đạn của Tiểu đội Hoàng (gồm trên chục em toàn ở độ tuổi 13, 14, 15 với bình phong: bán báo, bán đậu rang, đánh giày, học sinh...) do em Hoàng Thanh chỉ huy, liên tục nổ ra ở nhiều nơi khác nhau như Casino dancing, trường College, chợ Cái Răng, chợ Cao Đài, chợ Hàng Dừa... tuy hiệu quả giết giặc chưa cao (chỉ 1 tên Cai Kèn chết) nhưng tinh thần quả cảm của các em đã gây tiếng vang vô cùng to lớn làm khiếp đảm bọn mật thám và quân Pháp khắp thành phố Cần Thơ, điển hình các trường hợp chiến đấu hy sinh anh dũng từ cuối 1946 đến 1947:

- Em Trần Văn Đổng bị bắt, bị tra tấn vô cùng dã man vì có 2 quả lựu đạn trong mình, đã dõng dạc đối đáp với bọn mật thám Jacquemin: "Các thầy tra khảo tôi làm gì cho mất công, tôi làm việc này là để cho con cháu các thầy hưởng độc lập, tự do thật sự mai sau...". Không khai thác được gì ở em, chúng đem em ra bắn ở cầu tàu.

- Em Hoàng Thám, một học sinh vừa đỗ tiểu học (CEPCI) là con ông Trưởng tòa Đạt, bị địch bắt ở chợ Hàng Dừa, chúng ôm chặt em, em rút lựu đạn đập ngay xuống đất chia mảnh lựu đạn nổ với 2 tên mật thám.

- Em Đặng ném lựu đạn ở chợ Cái Răng và cũng chia mảnh lựu đạn với giặc và hy sinh tại đây.

- Em Hoàng Thanh, hy sinh ở chợ Cao Đài trong một trận ném lựu đạn, xác em được bọn Pháp đem về nhà xác Nhà thương Cần Thơ, âm mưu gài bẫy bắt chúng ta ra tìm lấy xác em, nhưng Tiểu đội Việt Dũng đã mưu trí lấy được xác em đem về chôn an toàn ở Nghĩa trang Cầu Nhiêm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM