Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:34:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 8066 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #50 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:04:28 pm »

Nhân chuyện này tôi lại nhớ một chuyện nữa vì mua đạn dược. Người bị bắt cũng là anh thợ hớt tóc ở phường Cái Khế. Tên anh là Nguyễn Văn Điều. Hồ sơ của anh cũng khá đầy đủ, đã thú nhận: Nhân viên binh vận đã mua của bọn lính Âu Phi ở đại đội sửa chữa cơ khí 63è CR. Đúng 360 viên đạn mút Anh. Biên bản, khẩu cung đều hợp lệ. Tang vật gồm có: một rổ sảo đầy ắp 360 viên đạn mới toanh. Tôi hỏi người lính kín áp tải: "Tang vật gồm cả cái rồ sảo nữa à?". "Dạ đúng vậy. Bắt được tại nhà y nguyên một rổ sảo". Tôi nhìn Điều phân vân. Người gầy gò, quần áo tả tơi, mặt mày tím bầm. Tôi hỏi: "Lời khai của anh đấy à?" - "Dạ" - "Đúng vậy à?" - "Dạ". Kinh nghiệm cũ, chắc là sợ bị đòn lần thứ hai. "Không bị bức cung à?" - "Dạ, không ạ". Bên lề hồ sơ chữ son đỏ chói của Cluset: "Mua đạn dược, sáng mai, 9 giờ, đem bắn tại chợ". Tôi phân vân, cuối cùng cũng xin với Fallon cho xét lại vụ án với lý do đơn giản: "Đây là vụ án mua bán đạn dược khá lớn. Có người mua thì cần phải hỏi ai bán? Sẽ tìm ra nhiều manh mối". Cluset đồng ý ngay khi nghe Fallon báo cáo lại. Tôi thở phào, cho giam lại để chiều xét xử tiếp. Ngồi trước bàn làm việc, tôi bóp trán suy nghĩ: "Có người mua, phải có người bán... Người mua người bán, trăm người bán, vạn người mua!". Bỗng một tia sáng lóe lên trong đầu tôi... Có người mua không người bán đã có sao đâu? Tôi chụp vội điện thoại, quay cật lực tổng đài xin cho đại đội 63è CR. Chỉ huy 63è CR là một trung úy Pháp còn trẻ vừa mới đến thay thế đại úy già Inocenti về Pháp. Ngựa non háu đá, ham lập công, nhưng sợ kỷ luật. Tôi gọi lén gặp tôi có chuyện cần bàn gấp, gấp lắm, quan hệ đến uy tín và danh dự của đơn vị. Nửa giờ sau, viên trung úy trẻ tuổi bước vào. Tôi đứng lên bắt tay mời ngồi: "Có chuyện mới đây; đơn vị anh xưa nay vốn có kỷ luật, bỗng nhiên ông quan năm chuyển sang cho tôi cái này (tôi chỉ tập hồ sơ dày cộm). Thôi khỏi cần đọc, tôi báo cáo tóm tắt cho anh nắm. Chả là còn một tên Việt Minh nào đó bị lính kín cho ăn đòn liền khai là mua ở đơn vị anh 360 viên đạn đúng là 3 cơ số đạn cá nhân. Tôi bất ngờ quá. Chẳng lẽ có ba binh sĩ anh lại bán hết trọi cả cơ số đạn phát cho cá nhân sao? Tôi không thể tin, có lẽ nào đơn vị anh vẫn được tiếng là có kỷ luật trong quân khu kia mà. Trung úy chộp ngay lời tôi: "C'est vrai, très discipliné". "Thế anh có dám đảm bảo là đơn vị anh không mất một viên đạn nào không?".

- "Tôi cam đoan như vậy". Thế thì tốt quá! Có thể cho kiểm tra được chứ? Bao giờ, chiều nay nhé? Được, chiều nay, anh cứ xuống kiểm tra. Đúng 15 giờ, đơn vị tôi sẽ có mặt. Tôi tin ở tài tháo vát của anh! Đôi bàn tay siết chặt, thân thiện! Không biết ông trung úy cảm ơn tôi hay ngược lại. Một cái bắt tay cởi mở, không chút xã giao. Tôi vào văn phòng báo cáo lại với đại úy Lotte, ông quan ba có đôi ria mép hiền hậu. Đại úy Lotte và đại úy Fallón đều ngồi chung một phòng. Vì vậy, mỗi khi báo cáo công việc đều trình bày cho cả hai cùng biết, tùy mỗi việc mà đứng trước bàn này hay bàn khác. Đại úy Lotte là trưởng phòng 5, phòng an ninh quân đội, phòng này ít việc bận rộn hơn, nên mỗi khi có việc là Lotte hăm hở làm ngay. Tôi trình bày phương án kiểm tra. Lotte đồng ý, không thêm bớt. Trình tự kiểm tra được tiến hành như sau:


Tôi nhớ lại năm 1947, đại úy Lotte đã tỏ rõ uy lực của phòng 5, khi xử lý một vụ hiếp dâm của trung đội công binh Pháp đóng lại bót thầy Phận. Hôm đó, 16 tên còn lại trong section de génie kêu một chị bán bún bò gánh vào trại, rồi đè chị xuống thay phiên nhau làm nhục. Tôi cho người nhà đón chị và biểu chị lên ngay Phòng Nhì Pháp tố cáo. Tôi dịch lá đơn đưa ngay cho đại úy Lotte xem. Đại úy Lotte một mặt cho nạn nhân vào trạm xá quân y để khám bệnh, và ngay chiều hôm đó chở chị về bót công binh Pháp để nhìn bọn lính đã hiếp chị. Chị chỉ đúng 10 tên. Đại úy cho bắt giam và sau đó xét xử ngay: 2 tên bị 5 năm tù, 7 tên bị 1 tháng tù giam. Viên thiếu úy chỉ huy trung đội biết tôi đã tố cáo việc hiếp dâm tập thể, hắn hăm dọa tôi: "Atention chef! Tu vas recevoir un poignard dans le dos!" (Coi chừng sếp! Mày sẽ bị một dao găm vào sau lưng!). Lotte biết chuyện đó, liền báo cáo với chỉ huy Zone, cho chuyển ngay trung đội công binh Pháp ra làm nhiệm vụ trực tiếp ở chiến trường Compagnie Franc-tieur (đơn vị bị kỷ luật chiến trường) đổi đi Sa Đéc.


Lần này tôi lại có dịp nhờ đại úy trưởng phòng 5. Trước hết kiểm tra sổ sách kho quân trang, tập trung chú ý đến đạn súng trường. Đối chiếu sổ sách và thực tế phát hiện vừa thiếu. Thứ đến, cho binh sĩ tập hợp, thành đội ngũ chỉnh tề, có đầy đủ vũ khí đạn dược cá nhân, rồi cho điểm danh từng người, chú ý cơ số đạn dành cho cá nhân. Phát hiện thừa thiếu, xử lý kỷ luật cá nhân luôn. Thật là gọn nhẹ, cuộc tuần tra kéo dài không đến một tiếng. Binh sĩ tại đơn vị chỉ có một trung đội lính Âu Phi nhờ tài tháo vát của trung úy chỉ huy, mọi việc đều sắp xếp ổn thỏa. Đạn trong kho không thiếu một viên. Cơ số đạn cá nhân mang theo mỗi người đều có đủ 120 viên quanh thắt lưng. Ký tên vào biên bản đại úy Lotte, trung úy chỉ huy đơn vị và tôi. Nhận xét tốt, nút sâm banh được khui, ra về ai cũng thỏa mãn. Người thỏa mãn nhất là tôi. Hôm sau, tôi tới sở làm việc sớm để kết thúc hồ sơ. Chỉ cần lấy thêm lời phản cung của Điều là xong việc. Công việc phản cung cũng không khó lắm. Bị đánh đập buộc phải khai. Người bắt Điều là Nhạn. Tôi hỏi Điều có hay chơi xì-dách hay không?. "Có" - "Được rồi, cứ nói là mượn tiền cờ bạc không cho nên trả thù cho bõ ghét!". Đã có tiền lệ rồi. Kết thúc hồ sơ, tôi tin chắc rằng, dù oan hay không Điều cũng sẽ được tha bổng. Giữ biên bán kiểm tra đạn được của quân dội Pháp, có đóng dấu mực tím, với lời buộc tội của Điều tra viên Sở Cảnh sát đặc biệt thì ông đại tá Cluset sẽ tin ai hơn? Hơn nữa, cái rổ sảo được 360 viên đạn làm bằng chứng cũng có chỗ đáng ngờ. Một Việt Minh chính cống, không dại đựng 360 viên đạn trong cái rổ sảo để chờ lính kín đến bắt bất ngờ. Quả nhiên, ngày hôm sau Điều được thả. Câu chuyện chưa kết thúc. Tối hôm đó, tôi đang ngồi trong nhà, cái nhà lá bọn Pháp cất tạm bên hông bót, thì thấy Điều đang đứng ngoài cửa, có thêm một người đàn ông trọng tuổi, khăn đóng áo dài, bước vào đặt lên bàn hai chai rượu và một bao thơ. Tôi mở bao thơ đựng 3000 đồng (tiền Đông Dương hồi đó, thế là nhiều lắm, gấp 4 tháng lương của tôi). Tôi nhìn anh ta hỏi: "Anh là ai, đến đây có việc gì?" người đàn ông tự xưng là khóm trưởng khóm Cây Khế. Anh đến để đền ơn cứu mạng cho thằng Điều, một mình anh ta không dám đi. Tôi nghĩ đến cảnh lý hào áp bức ở quê nhà. Tỏi nghiêm sắc mặt nói: "Tôi làm việc công, ngay gian phải làm cho rõ. Điều không có tội, nào tôi có công gì? Anh làm viên chức nhà nước mà còn nhận của đút lót thì còn ra gì nữa? Trước mặt tôi anh đưa ba ngàn, sau lưng tôi anh còn lấy bao nhiêu nữa!". Gã khóm trưởng vái lia lịa. Tôi kêu Điều lại gần, đưa hai chai rượu và ba ngàn bạc bảo anh mau mang về. Quay lại anh khóm trưởng: "Anh phải từ bỏ ngay cái lệ này bằng không anh sẽ biết tay tôi".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #51 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:05:53 pm »

Sáng hôm sau, Điều lại đến, lần này có cả bà cụ mẹ anh đi theo. Điều mang theo hai con vịt và một chục trái ổi sá lỵ. Tôi thấy bà cụ già đến, mời bà cụ giáo ra tiếp chuyện.

Nhớ đến mẹ, tôi ứa nước mắt. Mẹ hiện giờ ở đâu? Tình mẹ thương con ở đâu cũng có và giống nhau. Tôi đang bàng hoàng trong nỗi nhớ và tình thương, thì bỗng theo dấu hiệu của bà cụ, Điều sụp xuống lạy. Tôi giật nẩy mình tránh sang một bên, miệng lắp bắp: "Anh lạy ai, anh làm tôi tổn thọ mất". Tôi mời hai mẹ con cùng ngồi, rót nước mời uống, rồi giải thích: "Tôi đã nói, tôi không có công lao gì hết. Anh không có tội thì dĩ nhiên anh được thả. Đó là công lý. Anh đừng nói với ai hết, làm tôi tổn thọ thêm. Bây giờ tôi xin nhận, vì cụ cũng như mẹ tôi, bà cụ đã đến tôi không thể từ chối. Tôi nhận hai trái ổi sá lỵ để nhớ bà cụ đưa cho. Còn tất cả xin mang về thôi, đừng làm cho tôi mang thêm tội. Thực tình tôi không muốn từ chối một tấm lòng, nhưng buộc lòng phải giữ khoảng cách không phải thờ ơ.


Hòa bình lập lại năm 1955. Nhân dịp đơn vị tôi tập kết ở Sầm Sơn. Tôi và Thanh Phong xin anh Ba Phấn một cái giấy giới thiệu đến gặp Ban chỉ huy E55, nơi quản lý các tù binh được Pháp giao trả ở Hà Nội, xin bảo lãnh cho chú Tư Ngà và Tư Quý đang ở đó. Tình cờ chú Tư cho biết là Điều cũng được trao trả một lượt với chú. Tôi hỏi: "Điều hớt tóc sao bị bắt". Thì hắn vẫn tiếp tục mua đạn cho ban binh vận. Chúng tôi bật cười: "Kháng chiến cũng là một nghiệp chướng!". "Đã mang lấy nghiệp vào thân", về sau, Điều được về công tác ở ban thống nhất cho đến khi nghỉ hưu, trở về Cần Thơ sum họp với gia đình, rồi mất vào năm 1980. Thật đáng trách trong bao nhiêu năm sống trên đất Bắc, chúng tôi chưa có dịp gặp nhau. Trừ một lần duy nhất: làm giấy xác nhận cho Điều! Vô tình chăng? Hay bận rộn công việc, đều có đủ lý do cả. Anh Điều mất đi để lại cho đời 8 đứa con hiện sinh sống tại Cần Thơ. Dù sao, các cháu sau này khỏi vất vả đi tìm mua từng viên đạn súng mút mà cha  cháu đã chịu bao cảnh tra tấn tù đày, thậm chí đã trả bằng sinh mạng để đổi lấy tự do độc lập để cho con cháu hôm nay!


Một việc cuối cùng, kết thúc hồ sơ khủng bố, vào năm 1947. Lúc đó là 6 giờ kém 10. Tôi dẹp đống hồ sơ cho gọn, đứng lên phủi áo ra về. Bỗng lù lù trước cổng một anh lính kín dẫn vào một chú bé con. Hồ sơ đặt lên bàn. Tôi chụp cái ca-lô xanh, đặt lên đầu, sửa lại cho ngay ngắn cái chóp chào mào ngay giữa trán, hơi nghiêng về bên trái theo đúng mốt, thầm nghĩ: chỉ còn 10 phút chẳng đủ thì giờ liếc qua hồ sơ. Thôi dẹp đến mai vậy. Cho dẫn phạm nhân vào khám. Theo thói quen, tôi liếc qua trang đầu vẫn thấy bút chì đỏ quen thuộc của đại tá Cluset. Nó ám ảnh tôi, không buông tha tôi: "Lanceur de grenades, Pris en flagrant délit. Demain matin, 9 heures fusiller au marché" (Thủ phạm ném lựu đạn. Bị bắt tại trận. Sáng mai 9 giờ, xử bắn tại chợ). Tôi nhìn xuống chú bé con. Đúng là một cậu bé bán đậu phộng rang, đánh giày, hoặc bán báo thường gặp trên đường phố Cần Thơ. Tuổi chừng 15, 16. Áo quần rách bươm tả tơi vì các trận đánh đòn xé thịt, mặt bầm tím. Cậu ta gục đầu ngồi bó gối bên vách, có lẽ không còn sức đứng gượng được. Bộ mắt cắt híp lại như con khỉ con! Tôi buộc lòng phải đọc lại toàn bộ hồ sơ!


Bọn sĩ quan Pháp chắc hẳn đồng tình không cho xử bắn một vị thành niên, trái với pháp luật quốc tế. Tôi đọc khá nhanh: Nguyễn Văn Nhâm, tự Hai, 16 tuổi, trường hợp bị bắt: bắt tại trận khi sắp ném lựu đạn ở ngã tư đường Saintenoy - Delanoue. Lựu đạn đã rút chốt an toàn, tìm thấy chốt an toàn trong túi quần đùi. Kèm theo tang vật: một quả lựu đạn kiểu mãng cầu (đã tháo ngòi) một cái khoen khóa chốt an toàn. Người theo dõi và bắt can phạm: Nguyễn Văn Thanh. Trong lời khai của bị cáo, đã nhận cả tội trạng người hỏi cung và can phạm, không bị bức cung. Tôi chỉ vào chữ ký tên hỏi cậu bé: "Chữ ký tên của mày phải không?". Cậu bé ngước lên nhìn và gật đầu. Tôi nghĩ: "Còn nước còn tát! Không nên thất vọng". Tôi rà lại các chứng cớ buộc tội: tang vật rành rành, không thiếu mà còn thừa! À, một ánh chớp lóe lên. Sao lại thừa? À cái chốt an toàn! Tôi xấp lại hồ sơ, ba chân bốn cẳng chạy vội vào phòng sếp. May còn kịp, hai đại úy Fallon và Lotte đang ngồi tán gẫu, chắc họ đợi kim chỉ đúng 6 giờ chiều. Tôi không kịp rập gót chân, nói ngay: "Báo cáo đại úy, xin hoãn hồ sơ này để thẩm tra lại đã!". Fallon hơi cau mày: "Tại sao lại hoãn, liệng lựu đạn, bắt tại trận thì hoãn sao được? Mày tốt cũng tốt vừa vừa thôi chứ. Chẳng lẽ mày thân Việt Minh sao?". Đại úy Lotte mỉm cười binh vực tôi: "Il est trop bon pour être Việt Minh" (Nó quá tốt để trở thành Việt Minh). Thế là hai cấp trên này đã có đánh giá về tôi qua kết quả các cuộc điều tra từ trước. Tôi càng yên tâm. Đột ngột tôi hỏi lại: "Hai ngài chắc chắn đã trải qua chiến tranh chống bọn Đức, chắc đã từng ra trận mạc, và từng ném lựu đạn qua phòng tuyến địch?". "Đành rồi, nhưng sao nữa?". Tôi hỏi hai ngài: "Có lần nào hai ngài rút chốt an toàn để ném lựu đạn đi, rồi cất cẩn thận chốt an toàn vào túi quần không?" - "Cái gì, cất chốt an toàn sau khi đã ném lựu đạn đi? Động tác này chắc không có đa!" - Thế thì xin hai ngài xem đây!". Tôi vạch đúng dòng ghi biên bản: "Đã bắt được cả chốt an toàn của lựu đạn nằm trong túi quần của thủ phạm". Tôi nói tiếp: "Đáng nghi ngờ hơn nữa là thằng bé con bị bắt không có phản ứng tự vệ, hoảng hốt buông ngay trái lựu đạn ra. Vì sao, vẫn là một vị thành niên, cần có thẩm tra lại kỹ để khỏi có hậu quả xấu về sau". Fallon cầm máy nói quay lên phòng đại tá, báo cáo lại tình hình, chờ một lát, Fallon nói lại cho biết: "Đại tá đồng ý cho hoãn lại 24 tiếng để thẩm tra hồ sơ. Nếu không phát hiện cái gì mới, 9 giờ sáng hôm sau, cứ y lịnh mà thi hành". Tôi vẫn cố chấp hiểu theo cách của tôi: "Được rồi, mỗi ngày làm 8 tiếng, 24 có đủ 3 ngày, may ra có thể kết thúc được". Fallon tròn xoe mắt: "Anh là quân nhân, đang thời buổi chiến tranh. Đại tá bảo 24 tiếng là cho anh một ngày để làm việc đó, kể từ 6 giờ chiều ngày mai, nếu không làm rõ vấn đề thì kể như không có gì bàn cãi nữa. Thế thôi!" - "Nhưng gấp quá, đại úy có cho tôi được toàn quyền hành động không?" - "Được cho anh toàn quyền. Muốn cần ai giúp cứ nói. Đóng cửa phòng lại mà làm việc, không một ai được quấy rầy anh, kể cả tôi! Miễn sao đúng 6 giờ chiều mai, có kết quả. Tôi ôm hồ sơ về phòng. Tên lính kín Nhàn mang súng đứng chờ để giải chú bé về khám.


Đường về nhà không xa... Tôi lững thững cuốc bộ về để có thì giờ suy nghĩ. Dù sao cũng không để cho một cậu bé bị bắn, vô nhân đạo quá. Hơn nữa, biết đâu đây là một đồng đội trong Tiểu đội Hoàng.

Tôi nói rõ cho chú Tư biết, và nhờ chú giúp cho hai việc: Một là tìm hiểu lai lịch tên chỉ điểm Nguyễn Văn Thanh, hai là tìm hiểu dư luận ở Cần Thơ về vụ ném lựu đạn. Nếu cần trong đêm nay, hoặc sáng mai, 6 giờ sáng cho tôi biết tin tức, thì giờ quá gấp. Chú gật đầu.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #52 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:10:09 pm »

Đêm đó, tôi thao thức suy nghĩ kế hoạch tác chiến ngày mai. Điểm lại những chỗ sơ hở của hồ sơ, và tìm cho ra điểm để đột phá. Sáng hôm sau dậy sớm, đi ngang qua căn phố chú Tư Ngà, chú kêu vào uống nước trà luôn tiện cho biết: tên Thanh nguyên là một du kích bị bắt vì đánh bài tây giam ở xã đội Long Tuyền, trốn trại mang theo một trái lựu đạn, ra đầu thú với Jacquemin, được làm chỉ điểm viên cho tên Nhàn. Hắn theo dõi Nhâm, và bắt quả tang liệng lựu đạn. Nhâm là một đội viên của Tiểu đội Hoàng. Tôi hình dung ngay việc phải làm: "Nhờ chú kiếm cho tôi hai người làm chứng, người của mình, ở gần nơi liệng lựu đạn càng tốt" - "Họ phải nói sao khi bị hỏi?" - "Cái đó chú chờ tới trưa, 11 giờ tôi sẽ về nói cho chú rõ". Thật tình tôi chẳng biết nói sao, phải chờ cách phản cung của bị cáo. Trên đường đến sở làm, tôi hình dung công việc: phải lập một tòa án binh giả, ít nhất để uy hiếp tinh thần tên phản bội, ngoài ra tùy cơ ứng biến. Nhưng bọn Jacquemin bị thất bại mấy vụ rồi. Tất cả đối phó. Tốt nhất, phải giữ vai trò đạo diễn, không để bút tích của mình trong hồ sơ. Đúng 7 giờ, tôi đến sở. Do đã được Fallon cho biết trước, các nhân viên văn phòng đều chờ tôi phân công. Thượng sĩ Laurent đã viết sẵn giấy, sai lính qua khám lớn, dắt can phạm về. Tên Thanh chỉ điểm viên cũng đang chờ sẵn đợi lịnh. Tôi nói với Laurent và trung sĩ phiên dịch Nguyễn Văn Bình: "Hôm nay chúng ta sẽ mở phiên tòa hỏi cung, các bị cáo và nhân chứng. Làm việc nghiêm túc suốt ngày, không ai được ra vào phòng hỏi cung". Tôi phân công: "Thượng sĩ Laurent sẽ chủ tọa phiên tòa, trung sĩ Bình làm phiên dịch. Trong lúc hỏi cung, nội bất xuất, ngoại bấp nhập. Muốn giữ kỷ luật phải xin C.E.M cho 3 binh sĩ bản xứ, chọn người có tầm vóc cao, có mang súng và ma-trắc theo để thị uy, ăn mặc chỉnh tề. "Phiên tòa" sẽ mở ngay tại phòng họp lớn sát với phòng khách. Chỉ một chiếc bàn đặt chính giữa ba cái ghế tựa cho Laurent, tôi và Bình hỏi cung. Một cái ghế để trống trước bàn để người hỏi cung vịn vào làm vành móng ngựa. Hai tên lính Miên gian to con đứng sau lưng ôm súng tư thế nghiêm, thắt lưng có treo lủng lẳng chiếc dùi cui sơn trắng. Một tên lính khác cũng ôm súng gác trước cửa phòng. Cấm không cho bất cứ khách hay nhân viên nào quấy rầy trong lúc đang làm phận sự. Tôi cho dẫn bị cáo Nhâm và cả người tiên cáo (Thanh) vào. Cũng như hôm qua, Nhâm vẫn bận quần đùi rách. Tôi chỉ vào góc phòng ngồi bó gối chờ...


Thanh vênh váo xấn vào đưa tay vịn vào lưng tựa chiếc ghế duy nhất còn trống, định ngồi. Tôi nghiêm sắc mặt: "Anh khoan ngồi. Hãy nghe phổ biến nội dung. Hãy nghe cho kỹ, phải trả lời cho đúng theo câu hỏi, không nói thêm nói bớt, nói thiếu. Phải được phép mới nói, không được phép cắt ngang lời người khác. Không tự tiện di chuyển khi đang làm việc, muốn đi đâu phải xin phép trước. Vi phạm nội quy sẽ bị nghiêm trị!" (đại thể là dùng uy vũ để khuất phục người khác). Bình dịch bản nội quy tôi sáng chế cho Laurent cùng nghe. Chiếc bàn làm tòa án do Laurent chủ tọa. Tôi ngồi bên cạnh Laurent, tiếp giáp với chỗ ngồi của Bình phiên dịch viên. Laurent hỏi nhỏ tôi: "Par òu commencer?" (ta bắt đầu từ đâu?). Tôi chỉ ngay mặt tên chỉ điểm. Thế là Laurent nhìn vào giấy lấy khẩu cung, bắt đầu hỏi: "Nom et prénom?". Bình phiên dịch : "Anh cho biết họ tên?". Tên Thanh đáp: "Dạ Nguyễn Văn Thanh". Bình đọc lại và viết lên giấy. Laurent đọc: "Profession". Bình phiên dịch: "Nghề nghiệp?". Thanh đáp: "Chỉ điểm viên". Bình dịch: "Informateur". Tôi ngăn lại nói nhỏ bên tai Laurent: "Demandez lui la profession qu’il tien dans les rangs Việt Minh". Laurent gằn to lên. Bình dịch lại: "Anh nói kỹ nghề nghiệp anh làm trong hàng ngũ Việt Minh kia!". Nét mặt Thanh trở nên xanh tái. Thế là cú đòn có hiệu quả. Im lặng nửa phút, hắn bắt đầu buông thõng: "Dân quân du kích" (quái quỷ thế nào mà nó biết mình ở trong Việt Minh ra, bọn Phòng Nhì gớm thật!). Bình dịch xong, Laurent trố mắt, không hiểu ra sao cả. Một tên chỉ điểm viên lại là dân quân du kích! Người tố cáo lại trở thành bị cáo chăng? Laurent hất hàm hỏi tôi. Tôi nói nhỏ vào tai viên thượng úy già: "Demandez lui l'armemenl individuel d un guérillero?". Nghe qua lời phiên dịch lại, Thanh đáp một cách rụt rè: "Thì dân quân du kích đứa thì có cây súng mút, đứa có vài trái lựu đạn. Thế thôi". Tôi liếc nhìn vào bản viết dịch lại của phiên dịch. Thấy đoạn viết "vài trái lựu đạn" dịch là "quelques grenades" thiếu chữ "s" (chỉ số nhiều). Tôi nhắc lại: "Bình quên rồi sao? Vài là số nhiều phải thêm chữ s vào chữ grenades". Bình gật đầu sửa lại lỗi chính tả. Tôi nhắc Laurent hỏi thêm "phải hỏi nó Việt Minh giao cho loại vũ khí gì, khi đi canh gác?". Laurent hỏi, Bình dịch, Thanh trả lời: "lựu đạn". Anh được Việt Minh giao vài trái lựu đạn để canh gác hả? Nói cụ thể là hai hay ba?" - "Dạ, một trái ạ" - "Sao lại một vài thì ít nhất phải là hai trái chứ?" - "Dạ, hai trái". Tôi nhắc lại: "Việt Minh giao cho anh hai trái lựu đạn để canh gác phải không?". Thanh gật đầu: "Dạ, đúng ạ!". Tôi nhìn lại biên bản hỏi cung. Thế là tôi tìm được con đường sống cho chú bé. Chú bé ngồi ở góc phòng, hai tay ôm gối vẫn chăm chú theo dõi. Bước vào phút quyết định, tôi gợi một câu hỏi bất ngờ cho cả người hỏi cung như người bị hỏi cung: "Lợi dụng sơ hở của Việt Minh, anh ôm lựu đạn ra quy hồi với Chính phủ phải không?" - "Dạ phải" - "Anh đem lựu đạn nạp lại cho ai?" - "Dạ, cho ông Jacquemin". "Mấy trái?" - "Dạ, một trái" - "À, còn một trái nữa anh để ở đâu?". Thanh tái mặt ấp úng một hồi, rồi buột miệng nói bừa: "Dạ, tôi còn để ở nhà". Tôi như mở cờ trong bụng. Tôi liền đề nghị với Laurent, cho tạm giải lao, trong thời gian đó, cho trung sĩ Bình cùng với Thanh lên xe Jeep trở về Bình Thủy để lấy trái lựu đạn về đây, Thanh giữ là nguy hiểm.


Bình cùng Thanh lên xe đi, Laurent vào căn-tin giải khát. Tôi ở lại phòng điều tra, lật lại các tờ hỏi cung, chuẩn bị buổi chiều hỏi tiếp những người còn lại. Hai binh sĩ được ra khỏi phòng nghỉ xả hơi. Một mình còn lại với cậu bé Nhâm, tôi chuẩn bị cho cậu đối phó với tình thế. Tôi hỏi: "Bây giờ đã đến lúc em phải phản cung, bằng không thì chỉ có chết! Em nói thật đi, sự việc xảy ra thế nào, em cứ bình tĩnh mà nói rõ". Nhâm cũng đã đủ thời gian, suy ngẫm và rút ra được nội dung phản cung hợp lý. Nó nói: "Chiều hôm đó, má tôi sai tôi đi mua nhang, đi ngang ngã tư thì gặp thầy đó chận lại, định nhét trái lựu đạn vào túi quần tôi, vu cho tôi liệng lựu đạn, tôi sợ quá vừa chạy vừa la: không phải của tôi, không phải của tôi. Nhưng chạy không thoát. Bị bắt về bót, bị đòn đau quá, tôi phải nhận bậy để tránh đòn". Tôi biểu Nhâm nhắc lại một lần nữa, rồi bảo: "Em nhớ chiều phải khai đúng như thế, nếu em muốn thoát khỏi cảnh tử hình". Nhâm vâng dạ. Chừng 15 phút, Bình và Thanh đã trở về cơ quan. Từ ngoài cửa phòng Bình đã văng tục: "ĐM, nó biểu cho xe chạy vòng vòng khắp chỗ, nhưng cuối cùng chẳng có lựu dạn đâu cả. Nó chỉ tán đóc thôi!". Tôi nhìn Laurent, nói: "Trái lựu đạn đó nó nằm ngay đây chớ đâu! Đó là tang vật của vụ án. Bởi vậy không thể tìm nơi nào khác được là lẽ tất nhiên. Thôi chúng ta hãy nghỉ. Chiều hai giờ chúng ta sẽ hỏi cung".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #53 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:10:50 pm »

Vừa về tới đầu ngõ 18 căn phố, chú Tư đã đứng đợi sẵn. Tôi đã không thất vọng, chú cho tôi danh sách hai người tình nguyện làm nhân chứng: một là chị Sương, thợ may, em vợ của bác sĩ Hoạch, hai là chú Hoa kiều mập ú, bán bánh bao, cũng ở ngay ở ngã tư xảy ra vụ lựu đạn. Nhưng đến lúc nào thì sẽ đến văn phòng? Đến rồi phải khai báo như thế nào? Tôi vui vẻ dặn chú: "Bảo họ đến đúng 14 giờ chiều nay, đến văn phòng 2è B. Secteur, còn hai người làm chứng phải nói như Nhâm khai sáng nay: thấy Nhâm vừa chạy vừa la khoát tay: "Không phải của tôi... Không phải của tôi!". Còn thấy Thanh đuổi theo dúi trái lựu đạn vào túi quần đùi của Nhâm. Hai người nói đúng như thế". Trước khi từ giã, chú Tư còn trao đổi cho tôi một bản cáo thị của Jacquemin ký tên, hứa sẽ tặng thưởng cho người nào bắt được Việt Minh ném lựu đạn: 100 đồng. Thêm một bằng cớ tăng sức mạnh cho bản phản cung của Nhâm. Chú Tư đã bóc nó từ thân cây trên đường phố Cần Thơ. Quả thật chú Tư là một cộng sự viên quý giá. Buổi chiều, "Tòa án binh", trong phòng với đầy đủ các thành viên. Hai nhân chứng sống đã đến đang ngồi chờ trước cửa. Tên lính ôm súng đứng trước phòng họp cấm không cho ai ra vào. Sau này, tôi người nghe nói lại, Jacquemin mấy lần muốn vào phòng, nhưng không vào được, vì Fallon đã trót hứa với tôi toàn quyền hành động trong ngày. Cả buổi trưa, ăn cơm xong, tôi đã bắt đầu suy nghĩ: "Dự kiến kết luận buổi phản cung, các yếu tố đã có đủ. Lý lịch "bất hảo" của Thanh chưa đủ để tín nhiệm. Trái lựu đạn Thanh đã nhận cất giấu ở nhà không tìm thấy. Bản cáo thị của Jacquemin với sức hấp dẫn 100 đồng khen thưởng chỉ chờ lời phản cung của Nhâm và lời khai của hai nhân chứng là đủ chứng minh sự vô tội của Nhâm. Tốt nhất là phải để cho Thanh tìm đường rút lui trước!".


Sau khi nghe Bình báo cáo lại việc săn tìm trái lựu đạn không có kết quả, tôi đề nghị hãy ghi nhận sự việc, rồi chuyển sang hỏi cung Nhâm. Nhâm vẫn khai đúng như nói buổi sáng với tôi. Mấy lần Thanh định mở miệng cắt ngang, thì hai tên lính cầm ma-trắc giơ lên hăm đánh, làm cho y rụt cổ, đứng im. Đến lượt gọi hai nhân chứng vào. Chị Sương và chú Hoa kiều được hỏi riêng biệt kẻ trước người sau, từng người một đều thừa nhận là Nhâm bị Thanh dúi lựu đạn vào túi quần để vu vạ. Liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay Zenit hình chữ nhật: đã hơn 15 giờ rưỡi, chỉ còn hai tiếng rưỡi là phải kết thúc phá án. Tôi nôn nóng, xin lỗi thượng sĩ Laurent, trực tiếp hỏi cung để tiện mớm cho Thanh, tên chỉ điểm. Tôi nhìn thẳng vào mặt Thanh tìm phương án để Thanh giải quyết.


Ta có thể kết luận được rồi: đối với Nhâm lời phản cung đã được hai nhân chứng xác nhận. Còn đối với Thanh, chỉ có một lối thoát duy nhất giữa hai đường phải chọn lấy một. Một là anh phải thú nhận anh có nhét lựu đạn vào túi quần của Nhâm, vì muốn được lãnh 100 đồng tiền thưởng (tôi đưa bản cáo thị của Jacquemin cho Bình đọc). Như thế, có lẽ là tốt nhất. Thay vì được thưởng, anh có thể bị chủ sở "mắng" nhưng vẫn tự do. Và, Nhâm khỏi phải chết.


Hai là anh cứ khư khư đòi kết tội Nhâm chưa đủ bằng cớ thì ông quan năm cũng chưa kết án được. Dù Nhâm bị xử bắn thì anh cũng chẳng lợi lộc gì, hơn nữa, hồn ma của nó sẽ theo dõi anh suốt đời không buông tha anh đâu! Và, chúng tôi, quân đội Pháp cũng phải giam giữ anh cho đến lúc nào tìm ra trái lựu đạn mà anh cất giấu. Bởi lẽ như anh thấy đó, không tìm thấy lựu đạn đó thì chúng tôi không thể ăn ngon ngủ yên được. Cấp trên cũng không để chúng tôi yên. Anh suy nghĩ kỹ lời tôi chọn một trong hai điều tôi kể ra cho anh biết đấy, không có cách nào khác!


Không đầy một phút suy nghĩ thiệt hơn, sau cùng Thanh chọn điều một, xin một tờ giấy để viết lời thú tội, viết xong đề ngày tháng và ký tên vào. Kim đồng hồ đến 5 giờ chiều. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm, liền gấp rút chỉnh lý hồ sơ và trình lên văn phòng đại úy. Thanh cũng thở phào xin phép trở về sở. Tôi hội ý với Laurent ký giấy tạm giam Thanh vào khám Cần Thơ: "Anh hãy tạm nghỉ ở đây một đêm, sáng mai có lịnh chủ anh, chúng tôi sẽ thả về. Tuy nói thế, nhưng lòng tôi không muốn thế: những con chó ghẻ không nên để cho nó chạy rong khắp đường". Mặt khác, tôi cũng chưa biết đại tá Cluset có quyết định cuối cùng ra sao cả. Đúng 6 giờ, trước lúc tan giờ, đại úy Fallon đi hội ý về đưa trả lại tập hồ sơ bản án Nguyễn Văn Hai (tự Nhâm). Tôi liếc nhìn trang đầu bên trái, chỗ dòng bút chì đỏ: "Lanceur de grenades" đã bị gạch chéo ngang cũng hằng bút chì đỏ. Phía dưới tôi đọc chữ của Cluset: A relaxer tout de suite le nommé Hai dit Nhám. Demain matin, 9 heures, au marché, à fusiller le nommé Nguyễn Văn Thanh avec une grande pancarte: "Faux accusateur de lanceur de grenade". (Tha ngay tên Hai gọi là Nhâm. Sáng mai, 9 giờ, tại chợ, đem bắn tên Nguyễn Văn Thanh với một tấm bảng lớn: "Tội vu cáo người khác ném lựu đạn", vẻ mặt đại úy mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ, vì đã tránh xử tử một vị thành niên vô tội. Lòng tôi cũng vui sướng, có lẽ còn hơn đại úy bội phần, và chỉ có thể bộc lộ cho chú Tư Ngà biết để chia vui. Sáng hôm sau, đúng 9 giờ sáng, tôi ra coi xử bắn, để tận mắt mục kích cái chết của một tên phản bội tổ quốc, nếu tôi được quyền thay đổi tội danh. Cả chợ cá cũng ùn ùn đố ra xem chật đường, một mặt vì hiếu kỳ, nhưng số đóng ai ai cũng căm ghét hành vi dùng lựu dạn để tống tiền của bọn lính kín. Một toán 12 lính tập, dưới sự chỉ huy của một ách Pháp làm nhiệm vụ hành quyết. Tên Thanh bị trói chằng ngang lưng quanh gốc cây dái ngựa, bên lề đường, mắt bịt, đầu cúi xuống. Một tiếng hô "phơ" là tiếng nổ đồng loạt ghim vào ngực hắn. Có lẽ các viên đạn đều trúng vào bên phải trái tim. Thân thể hắn nhũn ra và tuột dần trong vòng dây trói xuống gốc cây. Hắn đã chết, không cần viên đạn ân huệ cuối cùng. Dưới chân hắn không có một giọt máu.


Đất mẹ Cần Thơ không cần giọt máu của đứa con hư!

Cả 12 viên đạn của các anh lính tập đều trúng vào trái tim đen của hắn, máu chảy vào trong. Thế cũng là rồi một đời kẻ phản bội đền tội xứng đáng. Và cũng với vụ xử bắn, có giàng giá công khai, lần thứ hai này, chỉ trong vòng mấy tháng năm 1947 đã kết thúc trò chơi tàn ác xử bắn công khai giữa chợ những phần tử Việt Minh mang tội danh "khủng bố". Mở đầu bằng bắn một thiếu niên vị thành niên trái với mọi pháp luật quốc tế. Và, kết thúc bằng việc bắn chết một tên phản bội, làm tay sai đắc lực cho mình trước mắt nhân dân thành phố Cần Thơ, trên khoảng đất cạnh cầu tàu lục tỉnh và chợ cá Cần Thơ. Cái trò hề ấy được đập vỡ ngay trong lòng trứng, bằng những bàn tay của chính kẻ thù thực dân. Người có công với chúng biến thành kẻ có tội, người có tội đối với chúng trở thành vô tội và được thả ngay trong hôm đó. Sự thật đó không một ai biết, ngay những kẻ được tham gia xét xử và thi hành án, trừ Nhâm, chú Tư Ngà. Còn tôi, lẽ đương nhiên vì nghiệp vụ, vì mạng sống, không dám hé răng mở miệng nói nửa lời.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #54 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:11:57 pm »

Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi. Cách 37 năm sau, mồng 4 tết năm 1984, nhân dịp đầu năm mới, có cuộc họp mặt hàng năm của anh em quân báo Khu 9, đã nghỉ hưu ở tại nhà anh Ba Phấn, trưởng ban quân báo Khu 9, số 61, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cần Thơ, đến lúc gần ra về, tôi chợt nhìn thấy bên cạnh tôi, một người gần 60 tuổi, vóc dáng nhỏ thó. Vẻ mặt ngờ ngợ thấy quen, tôi hỏi: "Anh có bị bắt ở khám Cần Thơ lần nào không?". Anh ấy ngước mặt nhìn tôi, rồi ôm chầm lấy tôi, không nói lên lời. Anh kể lại nguyên nhân bị bắt do tên Thanh, theo dõi anh từ cây da qua bến đò đến ngã tư, gần nhà tên Tài lính kín, mục tiêu anh định đánh khi tên Tài trở về nhà. Anh vừa rút lựu đạn ra cầm tay, thì bị tên Thanh theo dõi từ sau nắm chặt bàn tay, cả trái lựu đạn, không vùng vẫy được. Ở khám lớn, anh bị nhốt vào xà lim tử tù, chung với một chiến sĩ người Khơ-me bị giải từ Sóc Trăng lên, cũng bị khép án tử hình, nhưng chờ giải lên Sài Gòn mới xử. Sáng hôm xử tên Thanh chính anh là người bất ngờ nhất. Thấy xe cây tới, anh em tù nhân đều đứng nhìn sau song sắt chờ vẫy tay chào, không ngờ khi cai ngục đến kêu tên Thanh ra, thì mọi người đều nhìn nhau sửng sốt. Thanh được dẫn đi rồi lại đến lúc anh được phóng thích. Anh mừng rỡ về luôn cơ quan, cũng tần ngần không rõ lý do vì sao được thả. Anh hỏi anh Mười Lời (phụ trách Phòng Tình báo Cần Thơ, anh chỉ nói ỡm ờ: "Nhờ cơ sở ta giúp thế thôi!". Sau đó, anh được chuyển lên công tác ở Cao Miên. Sau Hiệp định Genève, anh lên chiến đấu ở chiến trường Lào bị thương rồi chuyển ngành về Bộ Cơ khí luyện kim, đi học lớp quản lý. Hòa bình lập lại, thống nhất hai miền, anh xin về Hậu Giang, cưới vợ sanh được ba cậu con trai. Vợ anh, hiện là Phó giám đốc bệnh viện da liễu Hậu Giang. Ba cậu con trai là: Quốc, Nam và Hậu Giang; nhà ở phía sau lưng trường phổ thông cơ sở Đầu Sấu, thuộc xã Bình An, một xã anh hùng của thành phố Cần Thơ... Nhâm rút túi đưa cho tôi xem thẻ thương binh: phỏng vì bom Napan, thương tật 8/8. Thoát khỏi tử thần, vẫn không thoát bom Napan! Cuộc đời binh nghiệp là thế đây! Đạn bom, và kẻ thù không giết nổi con người.


Tháng 3/1947, được tin anh Tám Miêng về thay anh Cần làm trưởng đoàn Tình báo Thành bộ Cần Thơ. Tôi vẫn là Phó cho anh Miêng. Tôi mừng vì đã có người chỉ đạo ờ Phòng Tình báo tỉnh Cần Thơ, anh Mười Lời lên thay thế anh Ba Quang đã công tác khác. Khi mấy anh báo tin anh Ba Phấn đi học lớp tình báo ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ đã trở về chỉ đạo Tình báo Khu 9. Lúc này văn phòng đóng ở Miễu Ông. Theo quy ước mới với anh Tám Miêng, địa điểm của văn phòng Tình báo thành hễ thay đổi thì căn cứ theo tọa độ mà thông báo cho tôi biết, tôi sẽ dò theo bản đồ mà tìm đến mỗi khi cần, làm thế vừa đảm bảo bí mật khỏi cần liên lạc dẫn đường. Tôi nhớ kỷ ngày đó là ngày 14/1/1947. Đã hơn 6 giờ chiều. Sau khi canh tọa độ lên bản đồ tôi thấy đúng là Miễu Ông. Cách Cần Thơ 4km phía Tây nam. Tôi thay ngay bộ đồ bà ba đen, một mình tới ngã ba cây xăng đường rẽ xuống Cầu Bắc, tôi nhắm hướng Tây nam đi thẳng, băng đồng, ước lượng chưa đầy nửa km, thấy một con đường đất ai nới đắp, xăm xúi đi, bỗng một chú bé chăn trâu đang ở mé ruộng bên phải kêu la: "Chú ơi! Chú đi đâu?". Tôi bỗng nhìn lại, chú bé tuột xuống khỏi lưng trâu, chạy đến bên tôi bảo nhỏ: "Chú đi đường đó dẫn về bót Hòa Hảo, đừng vô đó, nó chặt đầu đa". Tôi giật mình: "À, thì ra Ba Gà Mổ cất bót ở đây khi mới về đầu Tây mà mình không hay biết". Tôi hỏi nhỏ chú bé: "Vậy muốn đi vào Miễu Ông thì phải đi đường nào?". Chú bé dẫn tôi đi vòng quanh bót, ra khỏi phạm vi kiểm soát của chúng, chú chỉ bảo tôi lùm cây xa trước mặt: "Chú cứ nhằm lùm cây xanh xanh đó mà đi, đó là Miễu Ông...".


Tôi mừng rỡ từ biệt em bé, quên cả cảm ơn. Đi gần nửa đường sực nhớ lại: Mình thật vô ơn. Một em bé tuổi 15 chăn trâu, có lẽ chưa được đi học mà còn biết tìm cách giúp cho người qua đường, khỏi đi lạc vào bót Hòa Hảo, lại còn chí dẫn đường đi qua khỏi bót, thế mà mình chẳng màng hỏi tên họ để cảm ơn. Chỉ biết mình không nhớ đến người khác, thật là vô tình. Đi đến Miễu Ông, đúng vị trí tọa độ, một thanh niên đến hỏi giấy tờ. Tôi nói: "Chú dẫn tôi đến gặp Tám Miêng". Tôi theo chân chú ấy đến cuối vườn trong một gian nhà lá. Như mọi lần làm việc xong đến nửa đêm, dưới ngọn đèn dầu leo lét. Anh Tám bảo tôi nên ở lại gần đến sáng hãy ra về. Không có giường nằm chúng tôi ôm nhau ngủ dưới đất. Trong đêm, anh Tám cầm đàn ghi-ta đánh bài "Tình đồng chí" cho tôi nghe. Thế là tôi ngủ thiếp đến sáng. Nhớ lại, nay đã 40 năm rồi, mỗi khi nghe bài hát "Tình đồng chí" tôi lại nhớ đến anh Tám, với túp lều tranh đậm đà tình nghĩa anh em!


Tôi nhớ rất rõ, khi tôi về nhà ở số 9 dãy 18 căn, thì vợ tôi đang ôm bụng co quắp trên giường. Thấy tôi về nhà, cậu Chùy cho tôi biết: chị ấy đang bị dịch tả (choléra). Tôi lập tức đem vợ tôi đến bác sĩ Du, ông khám rồi bảo tôi đem về, ông lắc đầu: bất trị. Nghe thấy vậy, tôi liền bảo cậu Chùy đem ngay ba đứa con ở tạm nhà của Dinh, không cho về nhà sợ lây. Tôi bước lên giường, ôm vợ tôi vào lòng, nhìn vẻ mặt gầy gò của vợ tôi, tôi thấy lòng quặn thắt. Đến giờ phút chót của vợ tôi, tôi cũng không được nói ra lý do vắng mặt của tôi cho vợ con biết: "Đi theo anh, tưởng đâu em sẽ đỡ khổ hơn, ngờ đâu phải bỏ mình nơi đất khách! Một đứa con trai, một người vợ cần mẫn đều theo nhau về với ông bà". Nhớ tới thằng con trai đã được rửa tội, để mong cho em yên nghỉ trên thiên đường, tôi hỏi vợ: "Em có muốn được rửa sạch tội trước không?". Một cái gật đầu nhẹ. Tôi làm phép rửa tội cho vợ tôi. Thấy vợ tôi mở mắt nhìn tôi, nước mắt lưng tròng, tôi nói trước: "Em cứ yên tâm đi trước, anh lo cho các con rồi sẽ đi sau. Em về báo cáo lại với cha, ông; anh không bán nước theo Tây đâu! Hồn em có linh hãy theo giúp đỡ anh làm tròn nhiệm vụ". Mắt vợ tôi hình như mở to ra bốc lên tia sáng tàn lụi. Trong cơn đau khổ, tôi vuốt mắt cho vợ tôi. Lúc đó vào 10 giờ sáng ngày 15/4/1947. Ngày lễ Phục sinh của Chúa lại là ngày buồn khổ trong gia đình tôi. Bà con lối xóm rắc đổ vôi bột vào quan tài và xung quanh vách, cùng chia nhau lo việc đám tang. Chiều và tối hôm đó, tôi bắc cái ghế dài nằm song song với quan tài, trằn trọc suốt đêm không nhắm mắt. Cả căn hộ, chỉ độc một người nằm cạnh người chết! Tôi lấy cái áo dài trắng để dành từ lâu ra để đưa đám vợ tôi về nơi an nghỉ cuối cùng. Thuê người xây xi-măng và làm bia nơi mộ phần ở nhị tỳ Cầu Xáng Cụt.


Hòa bình lập lại, tôi trở về Cần Thơ, thì nhị tỳ đã cất nhà san sát, hỏi thăm chẳng còn biết nơi nào. Trả giá cho 30 năm chiến tranh: một con, một vợ đã nằm lại vĩnh viễn nơi mảnh đất miền Tây: 11/1945 Mỹ Tho, 4/1947 Cần Thơ, những cột mốc của cuộc đời kháng chiến của tôi. Đám ma không kèn không trống...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #55 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:12:40 pm »

Theo sau chiếc quan tài, chỉ có tiếng khóc của ba đứa trẻ thơ và chị vú, thút thít khóc thầm, không có bà con lối xóm giúp đỡ, tôi cũng chẳng biết xoay xở làm sao. Xoay quanh cái chết của vợ tôi, cũng không ít lời bàn ra tán vào, do đã xảy ra chuyện bắt ghen ở nhà cô Nhụy (TH 18), hơn nữa, hôm vợ tôi chết, lại là lúc tôi vắng nhà, cái đó chẳng giấu giếm được ai. Vợ tôi lại chết bất đắc kỳ tử chỉ trong vòng nửa ngày. Có người nói tôi vì mê gái nên đầu độc vợ. Mối quan hệ tay ba: Hiến, Phấn, Nhụy thường được châm biếm dưới mắt mọi người lối xóm, và cả trước mắt bọn sĩ quan binh sĩ Pháp, như là một mối quan hệ của một hạ sĩ quan mê gái. Đó là tấm bình phong tôi tự chọn cho mình. Vì vậy hôm sau ngày vợ tôi mất, khi thuật lại rõ tự sự cho anh em binh sĩ nơi làm việc biết đúng tới từng chi tiết, chỉ trừ chi tiết tôi đã vắng nhà trong đêm, thì hạ sĩ Zédenberg đã thốt lên một tiếng: "C'est providentiel" (thật là trời giúp). Ý muốn nói tôi được bớt một kỳ đà cản mũi trong quan hệ xã hội. Tất nhiên, không nói ra. Anh em trong đơn vị công tác đều mừng cho tôi. Bà giáo Phận săn sóc mấy đứa con tôi, để cho tôi rảnh tay công tác. Đùng một cái, một hôm đại úy Nogret cho gọi tôi lên văn phòng 2è Bureau Zone Ouest. Đại úy đem chuyện vợ tôi chết không xin giấy phép mai táng bịnh viện Cần Thơ ra hỏi tôi. Đúng là một sơ suất về thủ tục hành chính. Nhưng ngày vợ tôi chết nhằm ngày chủ nhật và hôm sau, ngày thứ hai, đưa đi chôn lại là ngày lễ Phục sinh, bịnh viện đóng cửa không làm việc, nên khi chôn cất xong, không ai chú ý đến vấn đề tờ giấy phép xin chôn cất khi người chết đã nằm dưới nấm mồ. Thấy công việc không chỉ đơn thuần là giải quyết vấn đề thủ tục, nhận thiếu sót là xong, tôi liền đề nghị em vợ tôi là Mai Chùy lên để đại úy đối chiếu. Mai Chùy cũng xác nhận vợ tôi chết vì bệnh dịch tả và đã đem đi bác sĩ xin điều trị là bác sĩ Du. Nogret cho mời cả bác sĩ Du người đã khám cho vợ tôi, để đối chất. Bác sĩ Du cũng xác nhận đúng là bị bịnh dịch tả hết phương cứu chữa, nên cho đem về nhà. Thì ra, trong lúc tôi vắng nhà, vợ tôi đi đánh bài tứ sắc một đêm ở nhà trung sĩ Dung, phiên dịch viên của đại úy Nogret. Đến sáng, lục cơm nguội ăn với dưa leo, uống nước lã. Nghe Chùy kể lại, tôi hiểu ngay nguồn tin của Nogret do Dung báo cáo. Tôi không giận trung sĩ Dung, mặc dù biết chắc là Dung đã báo cáo với Nogret, vì tôi hiểu Dung là một người hút á-phiện và nhà hắn chứa cờ bạc. Nhưng trong quá trình công tác, chưa thấy có hành động gì đáng nghi của một công chức cạo giấy. Chú Tư Ngà cũng xác nhận như vậy. Nhưng qua sự việc đó, tôi lại càng thận trọng hơn đối với đại úy Nogret. Đã ba lần hắn để ý đến tôi, mỗi lần mỗi nghiêm trọng hơn, có tính chất thành kiến. Tôi nhớ lần đầu tiên, hình như vào tháng 9/1946, khi đang công tác dưới quyền của hắn, hồi đó tôi đang tập tành xài theo sĩ quan Pháp ở thuộc địa, cũng tập hút thuốc bằng ống vố, tôi sắm một cái ống vố thật sang trọng, giá đúng 100 đồng, cốt bằng gỗ bruyère, đót bằng ngà voi. Kể như cả Cần Thơ chỉ có một cái thôi! Đang lập bập thích thú ống vố say sưa đầy thuốc Half & Half của Anh thơm phức, bỗng thấy Nogret đến gần đang vê điếu thuốc cuốn tổ kèn. Hắn nhìn tôi nghiêm khắc: "Trần Hiến, tu es si laid avec tagrosse pipe" (Trần Hiến ạ, tao thấy mầy quá xấu với ống vố to bự của mầy). Chiếm cảm tình với thượng cấp, tôi không ngần ngại vất ngay ống vố qua cửa sổ: "Pour vour faire plaisir, je ne fume plus en pipe". Và tôi đã giữ lời hứa đó. Zédenberg thấy tiếc quá, phóng qua cửa sổ lượm đem vào đặt lên bàn. Tôi nhìn Zédenberg thông cảm: "Mày giữ mà dùng". Thì ra, đối với Tình báo viên công việc là công việc. Đừng hòng tình cảm để mong được bỏ qua những sơ xuất của mình.


Vào nửa cuối năm 1947, ban chỉ huy Zone Ouest, đã cho tổ chức một trại giam tù binh (Internés-militaires) ở Thốt Nốt, lấy cái vựa lúa của bọn Nhật để trống từ lâu. Có lẽ đó là trại giam đầu tiên theo qui ước tù binh để tạm giam những người bị bố ráp trong các cuộc hành binh đưa về Zone Ouest. Những người bị đưa về giam hầu hết ở các phân khu Sóc Trăng, Rạch Giá đưa về. Ở Cần Thơ có một trường hợp duy nhất làm tôi còn nhớ mãi. Đó là một cậu bé tên là Nguyễn Văn Nhâm (cũng trùng tên với cậu Nhâm, tự Hai) đã nói ở trên. Chỉ có khác là tuổi trên giấy tờ chỉ có 13 tuổi, và cũng bị bắt vì có thủ một trái lựu đạn trong túi quần. Hôm đó, tôi ngạc nhiên vì thấy sở lính kín dẫn sang một cậu bé với một hồ sơ dầy cộm, nhưng không có dòng bút chì đỏ của Cluset phê bên cạnh. Tôi hỏi tại sao không đưa ông quan năm xem như mọi trường hợp được gọi là "quân khủng bố", viên chức áp tải nói: "Tôi không rõ". Tôi đọc kỹ hồ sơ hỏi cung của sở lính kín. Tóm tắt như sau: Nhâm 13 tuổi, không cha, không mẹ, bị bắt vì trong túi quần có trái lựu đạn, hỏi thì còn nói rằng có người mướn ném, ném xong về lãnh tiền công là 5 đồng. Hỏi ai mướn. Em chỉ địa chỉ một thợ may. Bắt anh thợ may hỏi, anh này không quen biết Nhâm. Vì không kết luận được ai là chủ mưu, nên sở lính kín đưa qua Phòng Nhì để hỏi cung. Tôi hỏi địa chỉ Nhâm bảo ở cầu Bắc. Nếu cần em sẽ dẫn đến nhà em ở. Chúng tôi, Zédenberg cùng tôi, dẫn Nhâm lên ngồi xe Jeep, đi đến gần khúc của qua cầu Bắc. Dọc đường ngồi trên xe, tôi tranh thủ hỏi em tại sao lại khai báo cho anh thợ may làm gì, nếu lỡ anh bị bắt giam oan thì sao? Em bảo: "Anh ta mướn em 5 đồng thật mà. Hôm ở sở lính kín em còn đòi nợ ảnh 5 đồng, mà ảnh chưa trả". Tôi phì cười, dịch lại cho Zédenber nghe anh cũng phì cười như tôi. Đến ngã tư cầu Bắc, Nhâm nhìn dáo dác hồi lâu, rồi mới chỉ chỗ xe dừng. Xe dừng lại chúng tôi đi tới, đi lui hồi lâu mà chẳng vào nhà nào cả. Tôi vẫn bình tĩnh theo Nhâm không nói gì, Zédenber hỏi: "Sao, không nhớ chỗ ở à?". Tôi hỏi lại Nhâm, Nhâm đáp thản nhiên: "Bị lính kín đánh đến mờ mắt không nhìn rõ". Mười lăm phút sau, Nhâm chỉ vào một gian nhà lá. Một cụ già đứng ở cửa nhìn ra, nói: "Tôi có biết thằng nhỏ này là ai đâu?". Hỏi lại Nhâm, Nhâm đáp: "Tại họ thấy tôi bị bắt không dám nhìn đó thôi", về tới văn phòng, chúng tôi báo cáo tình hình lại cho đại úy Fallon rõ. Tôi cũng nhún vai đành chịu: "Chỉ là một nhóc con, chẳng lẽ đưa ra pháp trường cho công chúng thấy chúng ta bắn trẻ con một lần nữa sao?". Hay là có cái C.I.M (Camp des internés militaires) Thốt Nốt, chúng ta đưa vào đấy cho chú bé đủ thời gian suy nghĩ việc làm của mình. Đại úy đồng ý với đề nghị của tôi. Dù sao, ở tù còn hơn bị bắn. Mà xử bắn chú bé 13 tuổi quả chẳng răn dạy được ai.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #56 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:38:51 pm »

Ba Dò bị thủ tiêu. Ban ám sát của Hòa Hảo bị giải tán, nhưng việc tống tiền cướp của trong nhân dân thành phố Cần Thơ không phải vì thế mà chấm dứt. Hôm đó sở lính kín đưa đến một thanh niên, mặc áo bà ba đen, với một tập hồ sơ đã hỏi cung sẵn. Tôi không còn nhớ rõ tên hắn. Trường hợp bị bắt: do bị đồng bào tố cáo hắn thu đảm phụ quốc phòng cho Việt Minh. Tang vật: một tập biên lai đảm phụ quốc phòng đánh máy. Tôi đọc kỹ tiêu đề các biên lai: Quân khu 9, Tiểu đoàn 536. Hai điểm làm tôi phân vân, một là từ trước đến nay, chưa có bao giờ đồng bào tố cáo cán bộ Việt Minh cả, hai là trong danh bạ các đơn vị bộ đội mà tình báo địch nắm chưa có phiên hiệu nào giống như thế. Các đơn vị công tác thành cũng không có số hiệu đó, Ban Tình Báo Cần Thơ mang phiên hiệu 4/181. Vốn tính cẩn thận, tôi hoãn đến chiều cuộc thẩm vấn, về nhà, tôi nhờ chú Tư xác định lại tên đơn vị. Trước giờ làm việc buổi chiều, chú Tư cho biết: văn phòng cho biết, không có đơn vị nào có số hiệu như thế và cũng không có đơn vị nào được phân công đi góp đảm phụ quốc phòng cả. Trên đường đến sở làm, tôi quyết định thái độ: để thượng sĩ Laurent hỏi cung, tôi chỉ làm nhiệm vụ phiên dịch. Hỏi: "Anh ở đơn vị nào?". Đáp: "Tiểu đoàn 536". Hỏi: "Đơn vị anh đóng ở đâu?" - "ở trong Khu". Tôi thét lên: "Láo!". Rồi không kịp để cho nó né tránh, hai tay tôi dang thẳng ra, hai bên xòa rộng hai bàn tay, những ngón tay khép chặt với nhau, với một thế võ bất ngờ, tôi tát mạnh vào hai lỗ tai tên bị bắt: hai giọt máu nhỏ ri ra từ đôi tai của nó. Trước con mắt kinh ngạc của Laurent, người hỏi cung, không để cho tội phạm hoàn hồn, tôi nói ngay: "Khôn hồn hãy dẫn ngay đến chỗ ở mày liền!". Thế là nó ngoan ngoãn vâng lời. Đến Cầu Xéo, nó chỉ chiếc ghe lường đang đậu sát với các ghe khác. Tôi và Laurent xuống. Trong ghe không có gì hết! Lật tấm ván lên, ớ dưới còn nằm lăn lóc một củ khoai lang cắt đôi. Đưa lên cho mọi người xem: một con dấu khắc sẵn, còn in mực đỏ, tôi đọc: "Quân khu 9, Tiểu đoàn 536". Đúng là con dấu in trên tập "Đảm phụ quốc phòng". Công việc đến đây kết thúc. Con cáo đã lộ nguyên hình. Là mội trò chơi của Jacquemin hay của Ba Gà Mổ? Không quan trọng, chỉ cần biết trắng đen. Kẻ thù của chúng ta đâu phải có hai tên ấy?


Tôi nhớ, một buổi chiều chưa đến 6 giờ, một chiếc xe Jeep dừng lại trước cổng. Đại úy Nogret một mình ngồi trên chiếc xe bước xuống vào gặp ngay tôi: "Trần Hiến, mày đi với tao" - "Đi đâu?" - "Rồi mày sẽ biết". Tôi lên xe ngồi băng sau, chưa biết đi đâu, xe quanh lại đường Pasteur, đến dừng ngay trước Sở Cảnh sát đặc biệt Cần Thơ, ở bên hông trường College. Vào Sở Cảnh sát, Nogret dẫn tôi vào gian phòng rộng rãi ở phía sau, đó là gian phòng hỏi cung. Tôi nhìn vào, trước mặt tôi ngồi trên một vũng máu, một chị phụ nữ, đầu tóc rối bời, đang gục đầu. Nogret chỉ ngay vào tôi. Chị ngẩng đầu nhìn lướt qua tôi rồi lắc đầu. Tôi cũng nhìn chị không chớp. Đúng là người tôi chưa hề thấy mặt lần nào. Phản ứng tự vệ đến ngay với tôi hơn là sợ sệt. Lên xe trở về cơ quan. Ngồi trên xe, tôi chất vấn ngay: "Ông đem tôi đi đến Sở Mật thám chỉ có bây nhiêu thôi à?" - "Vì tao muốn biết mày có gặp mụ ta ở đâu không?". Tôi đáp lại: "Có thể tôi có gặp nhưng tôi không nhớ rõ. Ông biết tôi ngồi ở cửa 2è B, vào ra hàng ngày tiếp hàng trăm người, họ nhớ tôi thì dễ, còn tôi làm sao nhớ hết từng gương mặt mỗi người?". Đến cổng, tôi nhảy khỏi xe, không chào hỏi chạy xộc một mạch vào phía sau, nơi làm việc của hai đại úy Lotte và Fallon. Tôi lặng lẽ gỡ hai cái galon thượng sĩ trên cầu vai, đặt lên bàn: "Tôi trả galon lại cho các ông. Thế này thì nhục quá. Tôi không làm nữa!". Tôi thuật lại đầu đuôi câu chuyện đi "dạo mát" với đại úy Nogret, rồi kết luận: "Đem một hạ sĩ quan quân đội Pháp cho mụ Việt Minh nhìn mặt! May mụ ta lắc đầu chớ gật đầu thì hai ông tính sao? Lẽ nào đại úy bỏ tôi vào tù không xét xử? Tôi nói thật, cách xử sự như thế không xứng đáng với tư cách một sĩ quan Pháp chút nào cả!". Hai đại úy nhìn tôi cười: "Nogret nó làm, chứ tụi tao có làm như thế đâu. Thôi, mày cài lại galon để tao nói lại với Nogret cho!". Tôi cài lại galon, chào hai đại úy rồi rút lui. Đã đến giờ phải về. Dù sao không bắt được tay, day được trán thì ta vẫn còn bám trụ. Rút lui thì ai sẽ làm nơi đây thay ta! Vào được đây làm không phải dễ dàng chút nào.


Chỉ vài hôm sau đó, sở lính kín lại đưa đến người phụ nữ đó cho tôi lấy khẩu cung. Tôi nhìn cô ta vẻ mặt tiều tụy quá, nhưng đôi má vẫn bầu bĩnh, nhan sắc vẫn còn đầy đặn. Tôi nhớ lại hình ảnh cô ngồi trên vũng máu, cô vẫn quay sang nhìn tôi và lắc đầu. Chúng nó muốn gì nơi người phụ nữ này? Đọc qua hồ sơ tên Trần Thị Tuyết, đơn vị công tác: Công an Xung phong, bắt được trong người mang giấy khen của Ban Binh vận Việt Minh. Cuối hồ sơ có giấy khen thưởng của Ban Binh vận Cần Thơ cấp cho chị Trần Thị Tuyết, vì đã có thành tích địch vận được hai súng trường Anh. Tôi không hỏi chị điều gì thêm. Tập hồ sơ dày cộm đủ quá rồi, chứng cứ thừa để cho Cluset kẻ hàng chữ đỏ nếu đưa lên đặt dưới mắt nó. Trẻ con nó chẳng tha thì đàn bà nó cũng chẳng kể. Áo quần tả tơi, đi không muốn nổi, phải vịn vào tên lính dẫn đường. Đại úy Fallon ở trong phòng bước ra, nhìn thấy cũng bắt đầu tỏ vẻ ái ngại. Chụp được thời cơ, tôi liền tấn công luôn: "Đại úy thấy họ, họ đã khai thác thêm, rủi có bề nào đùn tiếng ác tra tấn tù binh đến chết cho quân đội Pháp gánh chịu đó!". Đại úy hỏi tôi: "Thế mày tính sao?". Tôi nói ngay: "Tốt nhất là đem cô ta đến trạm quân y làm công việc của họ đã, nếu thấy cô ta có thể chịu được sẽ đem về lấy cung cũng không muộn. Dù sao, nhân viên của Jacquemin cũng đã săn sóc cho cô ta mấy tuần nay rồi". Fallon nghe lời tôi. Tôi giành lấy trách nhiệm dẫn cô ta đến trạm quân y, gặp đại úy bác sĩ, tôi dặn: "Đây là nữ tù binh Việt Minh, bị cảnh sát săn sóc quá đặc biệt, đại úy Fallon bảo tôi dẫn đến nhờ bác sĩ điều trị giùm để sớm được hồi phục, may ra cô ta có ích cho quân đội ta". Tôi biết đại úy là một bác sĩ trẻ, mặc dù có bộ râu quai nón để dài đến ngực, nhưng bác sĩ có lòng nhân hậu. Bác sĩ cũng là người đã cứu chữa cho đứa con trai duy nhất của anh Tư Quý được thoát khỏi bịnh thương hàn. Suốt một tháng trời, đứa trẻ sơ sinh nằm lăn lóc trên nôi. Bác sĩ đã tận tình kê đơn thuốc, chích thuốc cho đến khi khỏi hẳn mới thôi. Tuy mang quân hàm đại úy quân y nhưng chỉ làm nhiệm vụ trưởng trạm quân y Cần Thơ, săn sóc người bịnh, không phân biệt đối xử. Một thầy thuốc tốt hiếm có. Một tháng sau, Trần Thị Tuyết xuất trạm quân y, gửi trả lại cho 2è Bureau. Gương mặt hồng hào béo tốt. Đại úy Fallon nhìn thấy rõ hài lòng. Tôi tranh thủ ngay: "Đại úy có thấy sự kỳ diệu này không? Sở lính kín bàn giao cho chúng ta một mớ giẻ rách, nhờ ơn đại úy, chúng ta đã trả lại cho cô ta hình dáng con người. Rất tiếc là phải tống giam trở lại khám lớn. Chúng ta còn có cách nào khác tốt hơn không?". Đại úy ngước mắt nhìn tôi, chờ câu gợi ý. Tôi nói bâng quơ như vừa bất chợt một ý nghĩ thoáng qua. "Hay là chúng ta thuyết phục cô ta làm việc cho chúng ta?". Đại úy chớp mắt: "Ừ, nếu thế thì hay quá, mày thử dò xem". Tôi chào đại úy, dẫn Trần Thị Tuyết sang phòng bên cạnh.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #57 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:39:59 pm »

Đời tôi đây là lần đầu tiên và có lẽ là lần cuối tôi phải làm cái việc trái khoáy, là thuyết phục một người ra làm việc cho Phòng Nhì quân đội Pháp, có lẽ cũng là lần đầu tiên, tôi thấy công việc ấy không phải là dễ. Tôi thử buông câu: "Ông quan ba nói rằng nếu chị chịu làm việc cho ông ta, thì chị được tự do ngay, chị chịu không?". Bốn mắt nhìn nhau: "Thế nào chị trả lời đi!" - "Không!". Câu trả lời sắt thép ấy tôi thấy người phụ nữ này biết lựa chọn giữa cái tự do và cái lắc đầu để khẳng định quyết tâm. Tôi dè dặt gợi ý: "Hay là chị cứ "ừ" đi một tiếng, tôi sẽ báo cho ông quan ba cho chị ra về. Rồi mỗi tuần chị cứ viết tin đưa đến, viết sao mặc chị, tôi sẽ dịch lại nộp lên ông ta. Chị đồng ý không?". Lại lắc đầu "không". Tôi điều chỉnh lần nữa: "Thôi thì thế này, tôi sẽ viết bản tin thay chị, chị cứ chép lại bản tin của tôi, tôi dịch lại đưa lên ông ta, được không?". Lần này thì cô ta gật đầu. Tôi thở phào nhẹ nhõm, bước vào gặp đại úy Fallon mặt tôi tươi tỉnh hẳn, Fallon đoán được là sự thuyết phục của tôi đã thành công: "Cô ấy đã nhận lời, mỗi tuần sẽ nộp một bản tin. Đại úy thấy không, người Việt Nam không phải là kẻ vong ân, bội nghĩa". Đề cao tính ân nghĩa của dân tộc, tôi thấy mình đã lạm dụng danh từ, vội im bặt. Fallon cùng tỏ ra rộng lượng, viết cho một giấy thông hành tạm để Trần Thị Tuyết đi đường khỏi bị làm khó dễ. Thế là hàng tuần, vào sáng thứ sáu, tôi đọc những bản tin các nơi khác gửi đến, lựa chọn một số tin tức "vô thưởng vỏ phạt" xào nấu lại, viết cho Trần Thị Tuyết một bản tin Tình báo mới nhất, để cho cô ta chép lại, rồi từ đó, tôi dịch ra bằng tiếng Pháp kèm theo, để trình bày lên đại úy. Chừng hai tháng sau, cô nhân viên tình báo "bất đắc dĩ" đó thú thật: "Em thấy làm như thế này mãi không ổn lắm, có cách nào xin ông quan ba tha hẳn em về có được không?". Tôi bảo cô làm một tờ đơn xin phép đi Sài Gòn chữa bịnh về phụ khoa, rồi từ đó đi biệt luôn không về Cần Thơ nữa. Vậy là ổn... Cô làm theo lời tôi.


Năm 1984, tôi trở về Cần Thơ để viếng cụ Lâm Văn Phận vừa mới mất. Tôi gặp anh Mười Mạnh, nguyên là gác khám Cần Thơ, anh cho biết là Trần Thị Tuyết có nhắn: khi nào gặp tôi thì cho bà biết để đến thăm. Nghe đâu bà ta đã về ở Kinh thứ 11 ở An Biên (Kiên Giang). Tuổi cao, đường xa, địa chỉ mơ hồ. Thôi đành vậy, gặp nhau trong ký ức. Tình cảm rộng bao la. Tôi còn nhớ mãi cái lắc đầu của cô gái năm xưa...


Ai đã từng công tác trong lòng đô thị, cũng đều ao ước được thở không khí tự do ở vùng giải phóng. Từ ngày bị cấp trên khước từ nguyện vọng ra mặt trận cầm súng bắn trực tiếp vào quân thù, tôi thấy thèm khát cuộc sống ở bên ngoài đô thị, nên tìm mọi cách để thoát khỏi lồng, dù trong chốc lát, nhân dịp những ngày lễ lớn của ta, ngày 19/5/1947, mượn cớ đi góp lúa ruộng, tôi tìm về đến văn phòng cơ quan để báo cáo công tác. Vừa đến nơi, nhác thấy một dãy người, khoảng 40 người, đang ngồi để trình giấy tờ tùy thân. Thì ra, họ là hành khách đi chuyên xe đò Phụng Hiệp, bị chận lại vì đã có lịnh cấm xe đò, cấm chợ nhân dịp lễ 19/5 sinh nhật Cụ Hồ.


Trong đám hành khách ngồi có hai phụ nữ, tôi đã gặp tiếp chuyện trong phòng khách với đại úy Fallon tại Cần Thơ. Tôi vội vàng ngồi vào hàng như mọi người khác, để chờ đến lượt trình giấỵ. Chúng tôi không nói gì với nhau cả. Cơ quan nấu một nồi cháo lòng và xương, trưa đến, múc cho mỗi người một tô, khách cũng như chủ. Tôi làm việc với anh Mười Lời, thủ trưởng cơ quan, và dặn anh cố ý tìm hiểu lai lịch của hai phụ nữ ấy, nếu cần thì giữ lại. Hôm sau, trở về Cần Thơ, bước vào phòng đại úy Fallon, tôi giật mình thấy hai phụ nữ trong phòng đại úy. Thấy tôi bước vào, họ chỉ ngay tôi và nói đã bị bắt trong cùng chuyến xe đò với tôi, trạm kiểm soát Việt Minh ở Phụng Hiệp. Sợ tiết lộ bí mật cơ quan, tôi cải chính: "Ba Mít", rồi nói thêm: "Hai chị ở địa phương khác tất cả không rành địa lý bằng tôi đâu. Đó là Ba Mít". Cũng may, hai cô không tranh luận và đại úy Fallon cũng bỏ qua, vì khi ra đi tôi đã xin phép trước với đại úy về thăm Ba Mít để góp lúa ruộng. Đến ngày lễ 2/9/1947 nghe đồn năm nay làm lễ lớn lắm nên tôi xin tổ công tác của tôi, ba người, tôi, Thanh Hương và Thanh Phong kéo nhau đi bộ. Xa xa đã nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên các hàng dừa. Tôi đứng sững lại, đưa tay lên vành mũ trắng chào, nước mắt vòng quanh. Đã gần hai năm nay, tôi không có dịp nào nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng thân thương của tổ quốc trên nền trời lồng lộng. Cả đoàn cũng thông cảm. Lễ được tổ chức khá rầm rộ, cách xa Cần Thơ không đầy 20km. Một chiếc Morane bay liệng trên cao có tính chất thám thính. Bộ đội thay phiên nhau canh gác tứ phía. Đồng bào đến rất đông, đủ mọi lứa tuổi. Tôi cứ lo thầm, nếu chúng thả một quả bom thì thật tai hại. Đúng là một ngày hội của quần chúng. Đi ngang qua một quán nước bên đường, tôi thấy một bàn tay ngoắt tôi vào. Đến gần, nhìn thấy má Ba, một bà già hay lui tới xóm 18 căn nơi tôi ở, và đã từng bị thằng Tài lính kín bắt đánh lòi tròng con mắt, nó giam giữ 3 tháng mới thả cho về. Má Ba nói nhỏ vào tai tôi: "Ông à, ở đây đồng bào có nhiều người biết ông đấy, nhưng vì họ tốt nên không ai nói ra đấy thôi" - "Cảm ơn má đã giúp con điều đó. Má đã động viên con trong suốt bao nhiêu năm con công tác trong lòng địch". Má Ba, sau này tôi được biết, cũng công tác trong ngành, là má của Quỳnh xụi. Tập kết ra miền Bắc, con mắt bị thằng Tài đánh chột đã hành hạ má suốt cuộc đời! Má đã mất ở nhà 40, Đoàn Trần Nghiệp - Hà Nội, trước ngày miền Nam được giải phóng (tên má là Nguyễn Thị Ngọc Bích).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #58 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:40:44 pm »

Nửa cuối năm 1947, quân khu miền Tây (Zone Ouest) có hai chủ trương lớn: một là giao bớt quyền trị an cho phe dân sự, vì vậy đã cử một thiếu tá người Việt lên làm tỉnh trưởng Cần Thơ, thay cho Guilbot. Viên tỉnh trưởng đó là Albert Tình, người Việt nhưng quốc tịch Pháp, chân ướt chân ráo mới nhận chức đầu tháng 10, chưa đầy một tháng đã bị Việt Minh bắt trên đường đi Cầu Nhiếm, được giáo dục rồi tha về đầu tháng 12, rồi được Zone Ouest trả về Sài Gòn, đưa Guilbot trở về vị trí tỉnh trưởng. Khi đến Zone Ouest, Albert Tình còn mặc bộ đồ bà ba đen, khư khư giữ cái nón lá trên đầu, để bước vào ban chỉ huy Zone Ouest chứng tỏ mình vẫn còn cốt lõi Việt Nam. Chủ trương thứ hai là: tổ chức trại tù binh ở Thốt Nốt. Trại được thành lập vào đầu tháng 8 do một trung đội của C.E.M (đại đội tham mưu) tổ chức canh phòng, kinh phí trích từ quỹ khẩu phần của tù binh, mỗi đầu người một đồng. Trại đặt ngay trong cái vựa lúa của bọn Nhật bỏ trống, nền lót gạch 20x20, mái lợp lá, bao quanh trại là dây kẽm gai sơ sài, chỉ cần lấy tay vạch mạnh cũng có thể luồn qua một cách dễ dàng! Tôi đến Thốt Nốt vào tuần đầu tháng 12/1997. Theo lịnh của đại úy Fallon, tôi phải điểm lại danh sách tù binh. Vì từ khi thành lập đến nay, chưa thấy có báo cáo nào gởi về phòng. Trước khi đi, tôi đem theo 20 tút thuốc lá Gaulois để phát cho tù binh mỗi người một gói. Đó là thuốc tiêu chuẩn của tôi và Fallon cho thêm cho đủ số lính mỗi người một gói. Sơ bộ con số tù binh kiểm tra không quá 180 người. Lần đầu tiên tới đây, tôi quan sát địa thế. Trại ở phía rìa thị trấn, nên không có dân cư bao quanh. Nếu tù binh trốn thoát thì cũng khó bắt lại được. Tôi đưa giấy công lịnh cho viên trưởng trại là một trung sĩ Pháp. Chừng hai tiểu đội canh gác là lính Miên gian. Tôi đối chiếu danh sách xong rồi, nói với trung sĩ, sẽ hỏi chuyện từng người. Hỏi đến một nữ tù binh: chị ấy, tôi đã đọc hồ sơ từ lúc ở Rạch Giá gửi lên: Nguyễn Thị Tạo. Chức vụ: Tổ trưởng Tình báo huyện Hồng Dân. Bị bắt với một đống tài liệu hồ sơ liên lạc giữa đồng chí Nguyễn Văn Hoàng, Trưởng ban Tình báo Quân khu 9 với chị Tạo. Tất nhiên tôi chỉ tóm tắt hồ sơ để chuyển lên trại. Chị Tạo đứng trước mặt tôi, một phụ nữ độ tứ tuần, gầy ốm, răng hô, không đẹp thể chất, nhưng lộ vẻ hiên ngang bất khuất. Tôi nhìn chị khá lâu. Chúng tôi là đồng đội cùng một nhiệm vụ, nhưng không thể nào làm gì khác. Chắc chị cũng hiểu cho tôi. Tôi dùng thủ đoạn khích bác để nói với chị. Tôi nói chậm rãi: "Tôi, chị, chúng ta là con nhà Tình báo...". Tôi nhìn lại, đôi mắt chị chăm chú nhìn tôi. Tôi nói thật: "Nếu Việt Minh mà bắt tôi trong trại giam này thì tôi đã thoát ra từ lâu. Trại chỉ lợp lá, quanh rào chì gai mong manh, không có mìn, lựu đạn. Phía đông thì chợ búa không nói, còn phía tây thì giáp địa phương tỉnh Long Xuyên, phía bên sông thì Lai Vung, phía trong trước mặt là thôn xóm nông dân không có Hòa Hảo. Nhưng thôi việc ai nấy làm. Tôi chỉ nhờ chị làm giúp cho một việc: tôi có đem theo đây 20 tút thuốc lá. Chị là phụ nữ không hút thuốc, tôi nhờ chị phân phát cho anh em tù binh, mồi người một gói. Có sẵn hộp quẹt đây tôi để cái tập diêm quẹt này cho chị dùng". Nói xong, tôi nhìn chị hồi lâu, rồi quay lại nói với viên trung úy Pháp: "Công việc tôi đã hoàn tất. Tôi để thuốc lá của đại úy Fallon cấp phát cho tù bình mỗi người một gói, nhờ chị này phân phối".


Noel 1947, chiều hôm đó tôi đứng trước cửa sở trò chuyện với đại úy Fallon về không khí ngày lễ giáng sinh năm ấy, và chuẩn bị để ăn "Réveillon" tối nay. Bỗng có tên lính dẫn đến một người trạc tuổi tôi, theo sau có Nguyễn Đăng Dinh, là người cháu cùng quê, vừa được nhận làm phiên dịch cho cơ quan liên lạc Phật giáo Hòa Hảo của Pháp tại Cần Thơ. Dinh xin cho người bị bắt giảm tội. Tôi nhìn hồ sơ thấy tên Nguyễn Văn Mẹo, trung đội trưởng dân quân du kích. Thấy trên mặt Fallon có vẻ phân vân, tôi mạnh dạn gợi ý: "Hôm nay là ngày Chúa giáng sinh, có lẽ đại úy cũng nên làm một việc gì đế ban phước lành và tạ ơn Chúa". Đại úy mỉm cười và nhìn tôi nói: "Ừ nhỉ! Thôi tha quách cho nó làm phước".


Chuyện đã lâu quá tôi không nhớ. Mãi đến năm 1976, về Cần Thơ vào thăm Dinh, thấy một bác già, trèo cây bẻ dừa, mời tôi uống nước. Tôi hỏi ra mới biết là anh Sáu Mẹo, anh vợ của Dinh, người được thả về năm 1947.

Lễ phục sinh năm 1947 còn đem lại niềm vui khác cho trại giam tù binh Thốt Nốt. Nhân dịp lễ, trưởng trại giam cho các tù binh xuống bếp tổ chức một bữa ăn liên hoan. Anh em tù binh dưới sự lãnh đạo của chị Tạo đã ùa vào phòng cướp súng đạn rồi chạy xông ra cửa lớn, chạy ra đường cái, cho đến khi có viện binh đến, số tù binh trốn thoát đã gần phân nửa. Một trung đội lính mới đến thay quân, bủa ra bao vây chỉ bắt được chị Tạo. Chị đã bị trọng thương, vì đã lãnh trách nhiệm đoạn hậu để cho anh em rút lui nhanh. Chị đã hy sinh anh dũng, đồng bào Thốt Nốt đã chôn cất chị và lập miếu thờ. Nhân sự kiện đó, bọn Pháp đã giải tán luôn trại tù binh Thốt Nốt. Những tù binh còn sót đưa về trại tù binh ở Mỹ Tho.


Tết Mậu Tý năm 1948, chúng tôi tổ chức công tác tổng kết năm 1947. Tôi chọn ngày 30 tết, ngày 9/2/1948, làm mâm cơm cúng ông bà tất niên, để mời anh em đến tham dự cho hợp pháp. Vì căn nhà lá cất sát bên hông bót bọn Pháp chỉ cần dòm qua cửa sổ là thấy mọi việc. Khách dự hôm đó gồm tất cả thành viên trong tổ công tác: Tư Quý cán bộ Tình báo Khu, nhân danh con rể gia đình bà giáo về thăm mẹ vợ ăn tết, cũng được mời tham dự. Một tấm ảnh Bác cầm điếu thuốc nơi tay tôi đã rút ra từ đống tài liệu Việt Minh bọn Pháp bắt được, chụp cỡ 4x6 được đặt tựa vào bình trà, một tấm ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Một phút mặc niệm chiến sĩ trận vong. Xong, tôi báo cáo kết quả công tác của tổ năm 1947, nói rõ thành tích từng người, và kết quả khen thưởng vật chất của cấp trên trong dịp tết: một góc heo quay và một tạ nếp do liên lạc mang đến, tôi báo cáo khoảng 15 phút, xong mọi người ngồi vào ăn chung với nhau rất thân mật đầy vẻ tết gia đình.


Đó là lần báo cáo công tác tổng kết đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, thành tích ngắn gọn nhưng đáng giá: phá vỡ một ban ám sát Hòa Hảo, đập tan trò hề tổ chức pháp trường của bọn Pháp, gây men cho tù binh tổ chức vượt phá trại dẫn đến quyết định của dịch giải thể luôn trại tù binh Thốt Nốt chỉ mới thành lập mấy tháng. Khẳng định thành tích cá nhân: nếu không có công lao tập thể đóng góp thì không thể nào có được thành tích xứng đáng ấy...


Quả đúng thế! Năm 1947, quân Pháp tấn công ra miền Bắc, nhưng ngay trên chiến trường miền Nam, trên mảnh đất Cần Thơ, đồng bào không ngớt làm thất bại âm mưu thâm độc của chúng, không để chúng ăn ngon ngủ yên. Những chủ trương lớn của ban chỉ huy Zone Ouest như thiết lập pháp trường xử bắn công khai những người hoạt động trong lòng địch chỉ bắt đầu bằng một thiếu niên vị thành niên, làm thất nhân tâm ngay trong hàng ngũ của chúng, và kết thúc bằng xử bắn một tên phản bội làm tay sai cho chúng, do đó hàng ngũ Việt gian ngày càng hoang mang thêm. Chủ trương sử dụng giáo phái Hòa Hảo để kềm kẹp nhân dân đã bị công chức nội thành phản đối, rốt cuộc phải ra lịnh thủ tiêu tên trưởng ban ám sát, làm cho cả bọn phải giải thể, chủ trương giao chính quyền vào tay người Việt, đã lựa chọn một thiếu tá dân Tây làm thí điểm, bị quân ta bắt giáo dục và tha về, chủ trương thành lập trại giam tù binh ở Thốt Nót, cuối cùng bị anh em trong trại giam tổ chức phá vỡ trại trốn thoát, trại giam giải tán luôn. Những chiến công đó là thành tích chung của đồng bào và chiến sĩ Cần Thơ không thể nào khác được.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #59 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:41:39 pm »

CHƯƠNG 8
TỔ ĐIỆP BÁO


Năm 1948, thành phố Cần Thơ kháng chiến đã sang năm thứ ba. Nhưng xét về mặt chiến tranh bí mật, chúng tôi vẫn còn mò mẫm, về tổ chức cũng như nghiệp vụ tình báo. Về mặt tổ chức, từ "Sát giản đảng" sang "Đoàn Tình báo thành bộ" đến nay đã cắt thành hai bộ phận. "Ban hành động" mà nòng cốt là tiểu đội Việt và tiểu đội Hoàng do anh Tư Cơ làm trưởng. "Ban tình báo" lấy nòng cốt là Tiểu đội Thanh, mà trong đó tôi có nhiệm vụ chính, tổ chức lại thành Tổ điệp báo. Nói trắng ra, là làm gián điệp cho Việt Minh. Mà không phải một mình làm và tổ chức cho những người khác cùng làm. Thật ra không đơn giản. Tiểu đội Thanh còn sót lại làm công tác tình báo cho đến cuối năm 1947 là ba người: tôi, Thanh Đình (bí số 32), Lâm Thị Phấn (Thanh Phong) bí số 29, Bùi Thị Nhụy (Thanh Hương) bí số 18. Trong năm 1947, Bùi Thị Nhụy tổ chức thêm Sơn, lấy bí số H.S.21. Tư Quý đề nghị với cơ quan bổ sung thêm Trần Phước Ngà, lấy bí danh Việt Hà, bí số 52. Từ khi Phấn bị tên Cảnh tố cáo liên lạc với tôi đem tin tức cho Việt Minh, thì chúng tôi nhất trí không để cho chị Phấn làm liên lạc nữa, chỉ còn Nhụy và Trần Phước Ngà làm liên lạc và hộp thư. Để đảm bảo liên lạc kịp thời, có khi tôi phải đi, có lúc nhờ bà giáo Phận đi, nhất là những khi có bố ráp quanh vùng. Tôi nhớ vào khoảng đầu năm 1947, một tiểu đoàn thuộc 151e RE1 bên Pháp mới sang được lịnh điều đi hành quân hai ngày bố ráp quanh các xã Bình Thủy, Giai Xuân, tôi cũng được chỉ định theo cuộc hành quân ấy. Cấp bách quá, tôi liền "hở" tin tức ấy cho bà giáo biết và tin cho cụ giáo Phận nếu ở vùng đó thì nên dời đi nơi khác. Bà giáo tức tốc đi ngay. Cuộc hành quân kéo dài 2 ngày. Kết quả: không bắt được người nào, ngược lại, hai người lính Pháp bị trúng nắng lội sình không nổi, phải dùng cáng thương khiêng đi. Bên ta, bà giáo vì hối hả băng đồng ban đêm để đưa tin cho kịp, bị rắn cắn, may không việc gì. Kiểm điểm lại trong số cơ sở có làm cho quân đội Pháp ở Cần Thơ, ngoài tôi ra, còn có Trương Hữu Sơn, tức là H.S.21 làm trung sĩ phiên dịch cho 2è Spahis, là chồng của Bùi Thị Nhụy, và tôi đã giao cho Bùi Thị Nhụy trực tiếp lấy tài liệu chuyển sang cho Trần Phước Ngà, làm hộp thư liên lạc. H.S.21 đã đánh cắp được một tài liệu đánh máy quy định rõ các đường chính ở Cần Thơ, giao cho từng xe nồi đồng tuần tra ban đêm khi có báo động và lúc bình thường cứ cách hai tiếng thì tuần tra một lần. Tài liệu ấy đã kịp thời được khai thác trong năm 1948, trung đoàn 122 của ta đã đột nhập thành phố Cần Thơ vào tận bệnh viện Đa khoa mang đi một số thuốc tây và dụng cụ y tế, làm chủ tình hình trong hai tiếng đồng hồ, rút lui an toàn. Cơ sở thứ hai là Nguyễn Đăng Dinh. Tôi đặt biệt hiệu là Thanh Lâm, trung sĩ phiên dịch Mission de Liaison Hòa Hão (Zone Ouest). Dinh nguyên là cháu gọi tôi bằng cậu (nó là con ông chú thúc bá của tôi). Tính tình rụt rè nhút nhát nhưng hay thương người.


Có việc gì khó khăn, Dinh thường hỏi tôi cách giải quyết. Làm với văn phòng liên lạc Hòa Hảo. Có một lần, Ba Gà Mổ chuyển đến cho Pháp một danh sách 300 công chức cứu quốc. Dinh hỏi ý kiến tôi. Tôi bảo: "Cháu cứ để nguyên trong ngăn kéo, khi nào viên thiếu tá Pháp hỏi đến sẽ đem ra dịch". Ba tháng sau, Dinh lại hỏi: "Nó vẫn chưa hỏi đến, làm thế nào hở cậu?". "Cháu đem nhét chung thùng thanh toán giấy loại bỏ đổ đốt đi". Dinh làm theo lời chỉ dẫn. Thế là có việc gì khó, Dinh đến hỏi tôi. Khi tôi đổi lên Long Xuyên thì Dinh lại đổi về Bạc Liêu, không còn làm phiên dịch nữa. Cơ sở thứ ba, tôi đặt nhiều triển vọng là Nguyễn Tư Long, xuất thân là một trí thức, tốt nghiệp kỹ sư canh nông. Đã từng làm Chủ tịch UBHC thị xã Thủ Dầu Một, làm thiếu úy phiên dịch cho quân đội Pháp, lúc này đã lên đại úy, vợ là cô giáo Tiếp, không con. Bị bịnh động kinh, hay giật da mặt, méo miệng khi nói chuyện. Có đọc sách kinh điển về chủ nghĩa Mác và thường được dự các cuộc họp hội ý các sĩ quan tham mưu Pháp, khi có chủ trương cấp quân khu. Long đã giúp đỡ tôi cứu cô Phấn khỏi lời tố giác của tên Cảnh. Và, đầu năm 1948, anh ta lại cho tôi biết là Bộ tư lệnh Pháp ở miền Nam đã phát hiện có những kẽ hở ở Zone Ouest làm cho tin tức lọt vào vùng Việt Minh kiểm soát và đang tích cực củng cố lại nội bộ ban chỉ huy. Quả đúng như vậy: một viên sỹ quan tình báo, đại tá S.James được điều về Zone Ouest (miền Tây) thay cho đại tá Cluset, sĩ quan chỉ huy Phòng Nhì và Phòng 5 của Secteur Cần Thơ cũng được thay thế lần lượt. Đại úy Fallon hết hạn ở Đông Dương được trở về Pháp và sau này điều đi Algérie, thay vào đó là trung úy Lacroix được điều từ tiểu khu Rạch Giá (S/Secteur Rạch Giá) lên làm trưởng Phòng Nhì Secteur Cần Thơ. Phòng 5 thì có chuẩn úy Davenas ở Sài Gòn về thay cho đại úy Lotte. Davenas quân hàm hạ sĩ quan, nhưng có việc gì liên quan đến an ninh quân sự thì được trực tiếp báo cáo lên trung tướng Bondis, Tư lịnh quân đội Pháp miền Nam, không nhất thiết phải thông qua Zone Ouest. Vì vậv bọn sĩ quan Pháp đều vị nể. Hiểu được tình hình đó, tôi càng thận trọng hơn công tác chuyên môn, tối ngày chỉ ngồi làm việc ở trong phòng, không bao giờ bước chân vào phòng lưu trữ hồ sơ mật, không bao giờ sờ mó đến bàn máy đánh chữ, hoặc lân la hỏi chuyện với người đánh máy để cho mọi nhân viên đều có thể nhìn thấy rõ hoạt động của mình không có gì phải che giấu cả. Tác phong ấy giúp cho tôi giữ kín vỏ bọc ngoài. Lacroix cũng là một sĩ quan trẻ, mặc dù vẻ mặt già dặn, có một bộ râu quai nón trông vẻ đạo mạo, hắn là con trai của Đô đốc Lacroix đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Trung Cận Đông. Cùng đi với Lacroix có một thiếu úy phiên dịch, không ai khác hơn là Trần Huy, người mà tôi kết bạn ở đồn Chắc Băng. Huy gặp tôi rất mừng rỡ, xiết chặt tay nhau. Tuy nhiên tôi vẫn thận trọng. Cách nhau trên một năm, từ một phiên dịch dân sự anh đã trở thành sĩ quan phiên dịch, hơn hẳn tôi một cấp. Tôi trao đổi với chú Tư Ngà. May sao, Huy cũng biết chú Tư hồi còn ở Chắc Băng. Tôi đề nghị chú Tư móc ráp lại. Huy nhận công tác ngay, khi biết tôi là đầu mối. Tôi đặt cho Huy bí danh Thanh Hà, bí số 15. Huy là phiên dịch viên tin cẩn của Lacroix, nên được sử dụng để đánh máy các tài liệu mật. Đó là một thuận lợi lớn trong công tác điệp báo. Thế là, trong ban tham mưu Pháp, chúng ta đã có 4 sĩ quan phiên dịch, nhờ vậy, những tin tức các cuộc càn quét của địch ở quy mô, cấp quân khu đều được biết trước để kịp thời đối phó. Tôi nhớ, năm 1948, công binh ta ở Cần Thơ đã đánh chìm một tàu LCM ở Vàm Nao, năm 1949, một ICM khác bị đánh chìm ở Ba Động (Trà Vinh), với cả đại đội binh sĩ Pháp. Những thành tích đó đều nhờ Huy cung cấp tin tức. Năm 1954, tập kết ở sầm Sơn, tôi đã được nghe đồng chí Bùi Sĩ Hùng, nguyên Tham mưu trưởng Vĩnh Trà, đến bắt tay tôi và nói. Tỉnh đội chúng tôi đóng ở cù lao Minh, lúc ở cù lao Bảo, mỗi khi giặc tiến đánh chúng tôi đều được Quân báo Khu 9 cho biết trước 3 ngày, nhờ vậy mà tránh giặc được. Hễ chúng đánh vào Minh, thì chúng tôi chạy sang Bảo, và ngược lại, vẫn xoay như đèn cù (động chí Bùi Sĩ Hùng, sau này là giáo sư, thầy thuốc nhân dân, Giám đốc bệnh viện Phụ sản TP.HCM). Tất nhiên lời khen đó không phải riêng tôi, mà của chung ngành Quân báo trong thời kỳ trứng nước, trước hết là của các anh em trực tiếp hoạt động: Thanh Tùng, Thanh Hà.v.v...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM