Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:10:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7861 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #70 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:10:30 pm »

Còn đối với An, sau khi đã trao đổi kỹ, tôi nói rõ yêu cầu công tác không giấu giếm úp mở: Kháng chiến cần có tin tức kịp thời, chính xác, ngoài chúng ta ra ở đây không còn có ai làm được công tác gian nan đó. An nhận lời và tự đặt bí danh là Tuấn Khanh. Đây là cơ sở Điệp báo đầu tiên của ta trong S/Secteur Long Xuyên và đã có phục vụ kịp thời cho yêu cầu chiến dịch Long Châu Hà II. Thế là, trong 6 tháng đầu năm 1949, thay vì nghĩ việc để tránh địch theo dõi, tôi đã đặt điều kiện để tấn cống vào vùng đất mới trên mặt trận mới: Mặt trận Long Châu Hà, vùng cấm địa của giáo phái Phật giáo Hòa Hảo. Qua Tiên, tôi đã đặt cơ sở vững chắc về liên lạc hằng tuần giữa Cần Thơ và Long Xuyên, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Cơ quan lại cử thêm cô Xuân với danh nghĩa là em vợ bà con, đến phụ trách công tác giao liên đột xuất từ tôi (ở Long Xuyên) về cơ quan quân báo tỉnh. Qua Danh, tôi đã có thêm Năm Nghinh, lái xe đò Thành Long, có thể sắp xếp chỗ nghĩ cho Xuân mỗi khi cần di chuyển hằng ngày, về liên lạc tôi có thể yên tâm, về mặt Điệp báo, tôi đã có Đội An, bí danh Tuấn Khanh, vừa là phiên dịch và là nhân viên đánh máy trong S/Secteur Long Xuyên, ở Secteur, có tôi đảm trách. Kể như thế là cả Cần Thơ và Long Xuyén, Chi 54 Tình báo Cần Thơ, cả hai Tổ A và B đều có cơ sở Điệp báo vững chắc. Tuy tôi đã bàn giao Tổ A (Cần Thơ) cho Trần Huy và chú Tư Ngà, nhưng trong thực tế, trừ những tin tức hành quân cấp bách, mọi tư liệu Điệp báo, Trần Huy đều gởi lên tôi để chuyển về cơ quan. Riêng Thanh Tùng (Thiếu tá Nguyễn Tư Long) tôi vẫn trực tiếp nắm. Vì anh ta không chịu tiếp xúc với bất cứ ai, ngoài tôi ra. Có lần tôi đã bàn giao cho đồng chí Phương Nam, kể cả mật khẩu liên lạc. Nhưng anh ra vẫn làm thinh, không phản ứng. Tôi có hỏi lại, anh ta lập luận như đinh đóng cột:

- Tao tin mầy thì tao nói cho mầy biết, chớ người khác tao đâu có tin, nếu nó nói bậy ra thì tao ở tù như chơi, hoặc ít ra cũng mất lương, mất chức.

Tôi hỏi lại:

- Tại sao anh tin tôi?

- Tao biết mầy là hạng không phải lừa thầy phản bạn nên tao mới tin mầy. Nhưng tao cũng báo cáo miệng với mầy thôi, mầy tin thì dùng, không tin thì thôi, chứ mầy đừng biểu tao viết lách gì hết. Vả lại, tao có hỏi thăm mầy cấp tin cho ai đâu?

Thế là tôi đành chịu. Và tôi càng thấm thìa tấm lòng thủy chung với Tổ quốc, với bằng hữu của những con người trí thức Việt Nam. Cũng vào dạo ấy, quân Pháp nhảy dù xuống Hòn Đất, phá hủy Binh Công Xưởng của Khu 9 đóng tại hang đá Mo So. Một cuộc hành quân nằm trong phạm vi của Zone Ouest, mà cơ sở Điệp báo của tôi không phát hiện kịp. Tôi hỏi Trần Huy không biết, tôi hỏi Long, Long bạo: Cuộc hành binh ấy đều do Z.O. chỉ huy. Nó chuẩn bị ở Sài Gòn, tập trung lính dù ở Tân Sơn Nhất rồi bay về Rạch Giá thả quân luôn có báo cáo cho Z.O. biết đâu! Trần Huy cũng thông báo kịp thời cho chú Tư Ngà biết là Z.O. sắp hành quân ở vùng Cồn Cù (Trà Vinh). Vì vậy công binh ta đã kịp đặt thủy lôi ở Vàm Kinh Ba Động, đánh chìm một LMC chở 300 binh sĩ Âu-Phi. Chú Tư Ngà còn cho tôi biết, Trần Huy đã giúp cho ông Băng, Quận trưởng quận Bình Đại cùng với vợ bé ông ta trốn ra vùng kháng chiến ở Cần Thơ. Tôi ngẫm nghĩ: có nên trách anh ta vì những việc làm yêu nước, thương nòi ấy không? Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm có ai dạy cho tôi về nghiệp vụ Điệp báo đâu? Chẳng trách sao có những việc làm tự phát, tự động miễn đem lại lợi ích cho kháng chiến. Cả tôi cũng thế thôi. Miễn sao đừng để lộ.


Năm 1949 là năm kết nạp đảng viên lần cuối cùng, trước khi Đảng đi vào bí mật. Nữ đồng chí Phấn được triệu tập về cơ quan để chuẩn bị kết nạp. Lúc đồng chí Phấn ra đi, tôi cảm thấy buồn, tự thấy mình bị bỏ rơi, nghĩ rằng có lẽ nếu mình làm anh kéo xe lôi thì đã được vào Đảng rồi. Tuy nhiên, tôi vẫn không nản chí. Trước mắt là phải đánh giặc. Đi chừng 3 tháng, nữ đồng chí Phấn về nhà, trong thời gian đồng chí Phấn vắng mặt, cơ quan đã phái chú Việt Bảo, một thanh niên 18 tuổi nhanh nhẹn ra Long Xuyên ở cùng tôi để giúp việc viết báo cáo. Nữ đồng chí Phấn nói lại cho tôi biết là, trong thời gian ở văn phòng cơ quan, có đồng chí Sáu Tề, trưởng Công an Cần Thơ đến làm việc với anh Tám Miêng yêu cầu Tình báo tỉnh Cần Thơ tích cực hỗ trợ công việc vận động giải thoát 2 đồng chí Công an tỉnh Cần Thơ (Minh và Thọ) vừa bị PSO bát giữ, cho dù phải tốn đến hai mươi ngàn đồng cũng được. Nữ đồng chí Phấn đã nhận làm công việc ấy, vì cô ta có quen nhiều nhân viên lính kín ở Sài Gòn, như Ngôn, Pierre làm tay trong. Đồng chí về Cần Thơ có đến gặp tên chủ sở lính kín là Gautheret, người thay thế cho Jacquemin đã về Pháp. Liền trong mấy tuần Gautheret ở Cần Thơ đánh xe lên Long Xuyên để hỏi cô Phấn. Nó hỏi thăm Ignatio, chủ sở lính kín Long Xuyên. Ignatio cho biết cô Phấn là vợ ông Hiến, nhà ở Bình Đức. Thế là y đánh xe qua Bình Đức nhưng không dám đường đột vào nhà tôi. Tôi được anh em cho biết, nói với đồng chí Phấn:

- Nó đã men lên đây tìm em, thế là cá đã cắn mồi. Thôi em cứ về Cần Thư để cho hắn gặp. Mọi việc thử tìm hiểu nó muốn gì, rồi tùy cơ ứng biến sau. Để Việt Bảo về Cần Thư với em, làm người ở pha trà tiếp khách phụ em.

Và, tôi dặn riêng Việt Bảo:

- Cậu biết tốc ký, pha trà xong cậu cứ đứng sau tấm liếp, ghi lại những câu của thằng mật thám nói, không cần ghi lời chủ nói, chỉ ghi lời nó nói thôi, rồi đưa lên đây cho anh.

Hai chị em lên xe Thành Long trở về căn nhà lá ở bên cạnh bót thầy Phận, nơi gia đình chúng tôi ở. ở Z.O. dư luận trong hàng binh sĩ Pháp, nói là Gautheret là một con cáo già thực dân, rất ghét nhà binh, nhưng cũng rất mực thanh liêm. Nhà binh Pháp không làm gì được hắn ta. Tôi tìm thiếu tá Long để hỏi cho biết lý lịch Gautheret và thái độ đối xử của nó đối với Việt minh. Long gật đầu, vì Long ở chung một khu phố với Gautheret. Hai căn lầu đối diện nhau, mở cửa sổ ra là thấy mặt nhau. Hai căn biệt thự ấy là nhà ở để dành cho các tên chủ sở mật thám Cần Thơ, hiện nay vẫn còn. Ngồi trong căn phòng tiếp khách của thiếu tá Long nhìn sang căn nhà của Gautheret ở, thấy rõ mồn một tôi hiểu ngay tính chân thật của câu chuyện Long kể với tôi: "Thằng Gautheret là một tên cáo già trong làng mật thám. Nó đã hoạt động ở Bắc Kỳ cả chục năm nay, nên quen thuộc cả phong tục tập quán Việt Nam. Tuy nhiên nó vẫn giấu không cho ai biết là nó nói tiếng Việt rất sõi. Có hai anh công an Việt Minh bị nó bắt, ban đêm nó kéo ra hỏi từng tên, không cần thông ngôn. Nó tự tay tra tấn lấy. Nó để sẵn cái nhíp xe trong phòng. Không nói thì nó cầm nhíp phang vào ngực, kêu la chẳng có ai lên lầu, mà lên cũng không ai dám xông vào cứu. Chỉ tao biết vì đối diện buồng nó nên phải đóng kín phòng lại để khỏi nghe. Nó hỏi cung một mình ban đêm. Có một chai rượu Rujn, uống xong, lại hỏi. Hình như nó thuộc đảng S.F.I.O ghét nhà binh. Bọn thằng Davenas cũng có hồ sơ của nó. Mầy tìm cách hỏi thằng Davenas coi". Theo ý kiến của Long, tôi cần phải tiếp xúc thêm với chuẩn úy Davenas thuộc Phòng An ninh Quân đội ở Z.O. Nhưng cần phải có kế hoạch và chọn thời cơ, sau khi nắm chắc tình hình.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #71 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:11:22 pm »

Hơn một tháng trời xa cách. Nhân ngày thứ bảy, nữ đồng chí Phấn trở về Long Xuyên báo cáo lại tình hình giao tiếp với Gautheret cho tôi rõ. Việt Bảo cùng lên theo, hai chị em đều khẳng định: "Thằng Gautheret chẳng những là một con cáo già, mà lại còn là một dê cụ nữa. Anh biết không, chẳng đêm nào nó chẳng bắt em phải tiếp chuyện, ở tới khuya hơn nửa đêm mới lên xe về. Báo hại Việt Bảo cũng thức khuya theo em để nấu nước pha trà, xong rồi lại vào trong buồng để ghi tốc ký. Thằng đó đúng là một tên cáo già. Nhiều lần em đuổi khéo nó vẫn sấn tới tán tỉnh: Nào là nó ghét Bảo Đại, ghét nhà binh Pháp, chỉ tin Chính phủ Cụ Hồ thôi. Nó nói có nhiều bạn bè trong hàng ngũ kháng chiến".

- Chỉ thế thôi sao?

- Còn nữa, nó có nói nó biết rõ Trung tá Rossignol, Tư lịnh phó Z.O. là một tay hạm cỡ bự, nó sẽ gởi báo cáo lên Cao ủy phủ, và nay mai bọn nhà binh sẽ biết tay nó!

- Chuyện gì vậy?

- Nó nắm bằng chứng trong tay là Rossignol đã ăn hối lộ của bọn Hoa kiều 4 triệu đồng, để cho chúng nó chở 4 tấn tôm khô từ Bạc Liêu lên Sài Gòn. Tôm khô là mặt hàng nằm trong danh mục cấm vận của Z.O.

Tôi nhìn Việt Bảo để chờ sự xác nhận. Việt Bảo gật đầu.

Thời cơ đã đến.

Tôi về Cần Thơ ngay tuần sau đó. Đến 5è B. gặp chuẩn úy Davenas. Anh ta trẻ tuổi hơn tôi, nhưng vẻ mặt đăm chiêu, luôn luôn vì công việc, lại đeo kính cận nên trông vẻ già trước tuổi. Sau cái bắt tay, tôi kéo anh ta về phía popote. Tôi kéo ghế ngồi rồi hỏi anh uống gì? Tôi hỏi, nhưng tôi biết chắc anh ta thích uống sâm-banh, nên đến gần quầy kêu mở chai sâm-banh. Biết anh chàng này thích uống sâm-banh bằng cốc vại, tôi ngồi im lặng để cho chàng ta nhấm nháp cái hương vị ngọt thơm một cách say đắm và cũng để cho men rượu tràn vào mạch máu cho tôi thêm dũng khí. Bởi vì chuyện tố cáo một chánh thanh tra sở mật thám 7 tỉnh miền Tây không phải là chuyện đùa. Dù sao, tôi cũng chỉ là "dân bản xứ". Thấy tôi chỉ im lặng, ra chiều suy nghĩ, Davenas đặt cốc rượu quá nửa xuống bàn, hỏi:

- Thế nào? Anh muốn gặp tôi có chuyện gì?

Tôi thận trọng ném trước hòn sỏi thăm dò:

- Tất nhiên là có việc muốn nhờ anh, nhưng không biết tôi có gõ nhầm cửa không đấy?

- Thì mầy cứ nói đi, tao nghe coi.

Tôi im lặng đắn đo:

- Không biết có nên nói cho mầy biết không? Không khéo mầy nói lại cho nó hay, lại mang vạ lây.

Davenas thấy tôi ngần ngại, liền nó rõ cho tôi biết chức năng nhiệm vụ nó đang mang nặng trên vai.

- Mầy biết không, dù câu chuyện bí mật đến đâu, mầy cũng đừng ngại, có việc tao phải báo cáo trực tiếp lên Trung tướng Bondis không thông qua chỉ huy Z.O. nữa đấy! Tao làm việc bảo mật mà.

- Thế mầy có theo dõi Gautheret không?

Davenas gật đầu:

- Mầy có biết nó là Cộng sản không? Hay ít nhất là có cảm tình với Cộng sản (Sympathisant communiste)?

- Mầy nói rõ đi!

Được khuyên khích, tôi thả luôn một mạch chả là đã nghiền ngẫm mấy hôm kỹ lưỡng rồi.

- Mầy biết không, trong lúc tao ở Long Xuyên thì vợ tao ở Cần Thơ, Gautheret không đêm nào không đến với vợ tao quá nửa đêm mới ra về...

Davenas gật đầu:

- Chuyện đó tao có biết.

Tôi sững sờ, vờ dáng điệu một anh chàng nổi máu ghen:

- Biết sao mầy không ngăn nó lại? - Rồi dịu giọng xuống - Mê gái thì ai mà không có, nhưng mầy có biết nó tán tỉnh thế nào không? Nào là tôi không thích Bảo Đại, không thích nhà binh Pháp, chỉ thích Hồ Chí Minh thôi. Đúng là giọng lưỡi Cộng sản chính cống! Nó còn nói cụ thể hơn. Vừa qua Trung tá Rossignol đã ăn hối lộ 4 triệu đồng để cho tư thương Hoa kiều chở 4 tấn tôm khô từ Bạc Liêu lên Sài Gòn, không bị chận lại. Nó nói là nó đã báo cáo vụ đó lên Cao ủy phủ, nay mai sẽ biết.


Davenas lật sổ tay ghi lia lịa. Cốc rượu đã cạn, câu chuyện cũng cạn theo. Để vớt vát trước khi bắt tay từ giã viên sĩ quan an ninh, tôi nói một câu để lấy lòng nó:

- Thôi, tôi nói vậy để anh biết, để bảo vệ an ninh quân đội thôi. Chứ vợ con tôi còn ở Cần Thơ, tôi cũng cần an toàn cho toàn thể gia đình. Tôi nhờ anh đó!

Davenas đáp:

- Tốt hơn hết là anh nên đem vợ anh về Long Xuyên cho chắc ăn, ít nhất là trong thời gian Gautheret còn ở Cần Thơ...

Tôi không rõ Davenas có báo cáo với Trung tá Rossignol không hay là trực tiếp báo cáo lên Trung tướng Bondis, chỉ huy lực lượng quân đội Pháp đóng ở miền Nam Việt Nam. Chỉ biết rằng, một tháng sau đó, Thanh tra mật thám Henri Ribes Chánh sở mật thám Châu Đốc được điều động về Cần Thơ thay thế Gautheret, tên này bị điều qua làm ở Sở Thương chánh (Douanes Saigon) không nằm trong lực lượng cảnh sát đặc biệt nữa. Chiều 30 Tết năm 1951, một mình ngồi uống cà phê ở khách sạn Majectic, y rút súng colt ra tự bắn vào bụng chết. Thua buồn hay là thua kiện, thất tình hay là thất sủng? Báo chí Sài Gòn không làm rùm beng về chuyện đó.


Mùa khô 1949-1950, Quân khu 9 tổ chức chiến dịch Lê Hồng Phong, tức là chiến dịch Long Châu Hà II. Đồng chí Võ Quang Anh, tham mưu trưởng Quân khu được phân công làm tỉnh đội trưởng Long Châu Hà để chỉ huy chiến dịch. Các trung đoàn 126 (Rạch Giá) và 128 (Hà Tiên) được sát nhập lại thành Liên-Trung 126-128.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #72 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:12:45 pm »

Chi Quân báo Cần Thơ (Chi 54) được chuyển thành Chi đặc biệt 50 do đồng chí Nguyễn Văn Cự làm Trưởng Chi, Phan Thành Miêng làm Phó Chi, Nguyễn Huy Quỳnh được điều động theo chiến dịch trong Ban chỉ huy. Về mặt chuyên môn Chi 50 trực thuộc Ban Quân báo Quân khu 9, về mặt Đảng là một Chi bộ đặc biệt, trực thuộc Tỉnh ủy Cần Thơ do đồng chí Lương Chí làm Bí thư. Tổ Điệp báo của Chi đặc biệt 50 nằm tại thị xã Long Xuyên, có nhiệm vụ nắm các cơ sở Điệp báo ở các thành phố Cần Thơ, Long Xuyên và mở rộng ra ở các thị xã khác khi có điều kiện. Trong 6 tháng đầu năm 1949, tôi đã hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ đó, đồng thời đã tổ chức được một cơ sở ở thị xã Châu Đốc: một Trung sĩ phiên dịch tên Ô Văn Hiền làm phiên dịch cho S/Secteur Châu Đốc. Anh ta nói với tôi là, trước khi làm phiên dịch cho Pháp, anh đã từng làm phiên dịch cho Nhật nên thấy rõ dã tâm của bọn xâm lược, dù da vàng hay da trắng cũng không khác gì nhau. Nhân thấy anh đến trình diện ở Secteur Long Xuyên trước khi về S/Secteur Châu Đốc, tôi mời anh về nhà nghỉ một đêm để chuyện trò tâm sự. Qua đó hiểu anh vốn có lòng yêu nước, nên tìm cách giúp dân, đồng bào đỡ khổ. Sau đó, cũng có một lần gởi báo cáo về tôi, nói về tình hình hoạt động của S/Secteur Châu Đốc. Dù sao, ở trong lòng địch, thêm một người bạn, bớt một người thù là quí giá gấp đôi, có khi là gấp bội. Về sau, tuy không nhận được báo cáo, tôi vẫn yên tâm tin tưởng vào người bạn nhất thời đó, không nỡ lòng nào phản lại tôi. Về mặt chuyên môn, tôi không còn nhớ chúng tôi đã cung cấp bao nhiêu tài liệu để phục vụ chiến dịch. Sáu này, tháng 12/1985, nhân gặp lại Việt Bảo, người thư ký, tốc ký kiêm trinh sát Chi 50 đã cho ra Long Xuyên công tác với tôi, trong Hội nghị tổng kết 40 năm ngành Quân báo thành lập tổ chức tại hội trường Quân khu 9. Việt Bảo có nhắc lại tên tài liệu mà Việt Bảo đã được tôi giao cho Việt Bảo chép lại là: "Implantation des forces supplétives au Secteur Long Xuyên" (Cấy các lực lượng bổ túc vào khu vực Long Xuyên) là tài liệu có ích cho chiến dịch Long Châu Hà II. Nhưng hình như Ban chỉ huy chiến dịch vẫn chưa hài lòng vì phương pháp đánh cắp tài liệu quá thủ công nghiệp của tôi: dựa vào trí nhớ để về nhà tái hiện lại, hoặc lấy cắp tài liệu trong tủ về nhà ghi chép lại rồi đem cất lại chỗ cũ. Chi 50 cho biết: phải lấy nguyên tài liệu gốc của địch mới đủ độ tin cậy. Tôi tự hỏi: độ tin cậy của tài liệu hay của con người? Tuy vậy, tôi vẫn cố gắng tìm cách đưa một nữ thơ ký đánh máy vào 2è B/Secteur để lấy cắp tài liệu gởi về cho Ban Quân báo Khu 9 theo yêu cầu của cấp trên. Đó là đầu năm 1950, thời kỳ Trung úy Labrousse sang thay cho Trung úy Michot về Pháp. Cô nữ thơ ký đánh máy ấy đó là Lâm Thị Sáng, được Labrousse đặt tên cho là Solange. Trong suốt quá trình chiến dịch, tài liệu của Secteur Long Xuyên được Solange đánh máy, đánh thừa một bản để gởi về Ban Quân báo Khu 9. Và ở Secteur Long Xuyên hằng ngày đều có bản nhật ký hành binh (Journal de marche) đánh máy và điện lên thượng cấp (Z.O.). Trung sĩ phiên dịch Phạm Ngọc An (Tuấn Khanh) cũng đánh máy thừa một ban đưa cho tôi để gởi về cho Chi 50, từ đó điện về cho Ban Quân báo Khu 9, theo xe Quân bưu của Tiên lái, hoặc theo xe đò Thành Long do Năm Nghinh lái, người liên lạc là cô Xuân hoặc Việt Bảo. Tất cả tài liệu điệp báo đều được chuyển về Chi 50 an toàn, từ đó điện hỏa tốc về Ban Quân báo Khu 9. Các đồng chí Quân báo đã xác nhận tin tức của chi 50 đưa về giúp cho tiến độ tiến quân của quân ta được nhanh hơn cả tin điện của Ban chỉ huy chiến dịch báo về hàng ngày cho Bộ Tư lệnh Quân khu. Những tài liệu đó đều được BTL Khu 9 triệt để khai thác. Tôi nhớ Tỉnh đội Long Châu Hà đã sử dụng một tài liệu tình báo do tôi cung cấp để làm truyền đơn xuyên tạc địch. Đó là bức diện mật do Secteur Long Xuyên đánh đi các S/Secteur báo tin để chuẩn bị đón một phái đoàn Cao Đài, có tên là "Mặt Trận Phục Việt" sẽ đi tuyên truyền cổ động ở khắp các tỉnh miền Tây nay mai. Trong truyền đơn thay chữ Cao Đài ra chữ Bảo Đại. Đó là tài liệu do cô Sáng đánh máy đưa một bản cho tôi, chưa có số. Tôi đã kịp thời xuống tận nơi phát hành tìm con số phát hành để điền vào trước khi gởi về cơ quan. Nhờ sáng kiến nhỏ đó khi tờ truyền đơn Việt minh được đưa về Secteur Long Xuyên để tìm ra thủ phạm đã đánh cắp tài liệu, tôi đã kịp thời đánh tan hoài nghi của Trung úy Labrousse về cô Sáng. "Những tài liệu từ bản đánh máy ra không bao giờ có ghi số phát hành, cần phải tìm kẽ hở ở nơi khác thôi". Từ năm 1948 đến 1950 đã có hai lần tài liệu điệp báo đưa về Khu 9 lại bị 2è B. phát hiện. Là người trực tiếp liên quan, tôi không giấu nổi thắc mắc: "Phải chăng do Đội Phản gián (B.C.E.O) của Bộ Tham mưu quân đội Pháp có tay chân ngay trong nội bộ ta, hay do công tác báo mật của Tham mưu Quân khu 9 có chỗ sơ hở?". Tôi nghĩ về giả thuyết sau nhiều hơn. Và, vẫn yên tâm công tác. Không cho cô Sáng biết tin đó. Đóng góp vào thành tích chung của Chi 50 còn có nhiều bộ phận khác, cá nhân khác. Vào một buổi chiều cuối năm 1949, một chiếc xe du lịch sơn màu nâu đồ xịch trước cửa 36 Lê Lợi, Bình Đức (Long Xuyên) nơi nhà binh Pháp bố trí cho gia đình ở đồng thời cũng là nơi hội họp của Tổ công tác điệp báo của Chi 50. Thời gian này cô Phấn bận theo dõi bám sát Gautheret ở Cần Thơ. Tôi ngạc nhiên thấy trên xe bước xuống hai người, chú Tư Ngà lái xe và cậu Phước Kiến, người học trò đã cùng tham gia vẽ bản đồ quân sự thành phố Cần Thơ tháng 8 năm 1946, theo yêu cầu của đồng chí Phan Trọng Tuệ Chánh ủy Khu 9. Chú Tư Ngà cho biết, cơ quan vừa phái Phước Kiến ra để chụp hình các đồn bót đóng từ Cần Thơ lên Châu Đốc, chú Tư Ngà phải mướn xe để chú lái cho cậu ta đi chụp. Phước Kiến đưa ra cho tôi một máy ảnh hiệu Foca còn mới, chụp được 36 pô là loại máy ảnh tốt nhứt hồi đó. Tôi thầm nghĩ: "để một cơ sở hộp thư mật đi với một thanh niên chụp hình đồn bót công khai thật là mạo hiểm". Nghỉ lại một đêm, cơm nước xong, tôi thay đổi kế hoạch: chú Tư Ngà lái xe trở về Cần Thơ, Phước Kiến ở lại cùng đi với cô Xuân như đôi tình nhân. Tiên lái một chiếc Jeep nhà binh, chở hai cô cậu đi. Đến gần bót dừng lại, kiếm chỗ ngồi chơi, Tiên sẽ chụp hình cho cô cậu làm kỷ niệm nhưng ống ngắm hướng về đồn bót, sau đó tôi nhận trách nhiệm in rửa gởi về Chi 50, để luôn máy Foca cho tôi sử dụng, kèm theo một khẩu Walter 6,35mm để tự vệ (loại súng đánh ghen của phụ nữ mà tôi không bao giờ dùng tới), cây súng đó tôi giao lại cho Tuấn Khanh giữ, khi Tuấn Khanh đổi về Sóc Trăng để tiếp tục công tác. Hòa bình lập lại, tôi hỏi thăm cơ sở cũ đã phục vụ cho chiến dịch Long Châu Hà II, thì chị Lang (Tiết Kim Lang) vợ anh Miêng, cho biết Phước Kiến lên Sài Gòn làm thầy giáo cho trường Charitas rồi đi đâu không rõ. Dù sao, anh ta cũng đã có hai lần, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến trong đơn vị Tình báo Cần Thơ. Còn Đội An (tức Tuấn Khanh) thì đứt liên lạc với kháng chiến, vẫn trong quân đội ngụy, lên cấp Đại úy, phụ trách Ban 4 của Sư đoàn 21, đóng tại Bạc Liêu, có nhà ở Sóc Trăng, có thêm vợ bé và 6 con. Cách mạng thành công, ngụy quân tan rã anh ngoan ngoãn vào trại cải tạo, không có một lời thanh minh về quá khứ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #73 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:13:34 pm »

Năm 1976, tôi đang công tác ở 59, Gia Long (Lý Tự Trọng). Chị vợ của Tuấn Khanh, đến tìm gặp tôi để xin giấy chứng nhận cho chồng. Tôi viết thư cho Ba Cự chứng nhận rõ sự cống hiến của Tuấn Khanh hồi 9 năm và đề nghị anh Ba Phấn, Trưởng Ban Quân báo Khu 9, xác nhận thành tích của Phan Ngọc An. Vợ của Tuấn Khanh đem giấy chứng nhận đến trại cải tạo, đưa cho chồng. Đồng chí sĩ quan trại cải tạo đọc giấy, hỏi An: "Thành tích của anh 9 năm như vậy, sao anh không nói cho tôi biết?". An chỉ trả lời: "Tôi nói ra thì chắc gì mấy anh đã tin tôi, còn cho là tôi nói xạo càng khổ thân tôi thêm". Thế là An đã được trả tự do cho về với gia đình, để nuôi vợ và 6 con. Anh làm nghề vá xe đạp, trước khu văn hóa Sóc Trăng. Năm 1983, tôi về Cần Thơ, hỏi địa chỉ của An, tôi mua vé xe đò xuống thăm An. Tôi gặp An đang ngồi vá xe, mặt mũi lem luốc dầu mỡ. Thấy tôi, An chùi tay vào ống quần rồi ôm lấy tôi. Chúng tôi nghẹn ngào nhìn vào mắt nhau. An dẹp đồ nghề, dẫn tôi về nhà. Bữa cơm chiều có thêm một dĩa thịt luộc, một xị rượu đế. An nói: "Buồn quá anh Hai à! Mỗi chiều nào làm về, em cũng có một xị rượu đế giải buồn. Tuy vậy, chúng nó rủ em vượt biên, em cũng không đi". Trong ánh mắt An vẫn nặng tình đất nước, gia đình. Tôi hói An: "Trong 20 năm trời An không bắt được liên lạc với ai sao?". An nói: "Có một lần đi tập huấn ở Châu Đốc, tình cờ tôi có gập lại thơ ký thanh niên ở Long Xuyên của anh (chắc là Việt Bảo), bốn mắt nhìn nhau, không ai dám nói lời nào cả. Việt Bảo cũng được cơ quan phân công ở lại hoạt động, nghe đâu Việt Bảo có liên lạc được với Ban địch tình Tỉnh ủy An Giang lúc anh dạy học tại Tân Châu, sau đó chuyển về dạy ở thị xã Châu Đốc cho đến ngày giải phóng miền Nam. Trước khi xuống Sóc Trăng tôi đã ghé thăm anh Tư Cơ, nguyên phụ trách ban hành động của cơ quan Tình báo Cần Thơ trong những năm 1948-1950. Năm 1954 anh lại được bố trí ở lại hoạt động. Anh xin vào làm một ông sư ở chùa Cái Vồn rồi cũng đứt liên lạc luôn. Anh cạo trọc đầu, gõ mõ tụng kinh hàng ngày và lại cũng tiếp tục ăn thịt chó mỗi khi vắng thiện nam, tín nữ, như một Lỗ Trí Thâm. Hòa bình lập lại, anh móc nối với anh Ba Phấn để tiếp tục phục vụ cho ngành, khi về hưu ở Phụng Hiệp với hai đứa con trai làm cán bộ thương nghiệp và mất ở đó năm 1984. Lúc tôi gặp anh, anh cho tôi biết thêm về hoạt động của ban hành động và thành tích của Hai Ngọc. Riêng về anh, anh cho biết anh không một giấy tờ gì dính túi, ngay cả giấy chứng nhận của anh Ba Phấn cũng mất hết.


Nói đến thành tích của cá nhân trong chiến dịhch Long Châu Hà II. cùng nên nhắc đến đồng chí Lâm Thị Phấn, biệt hiệu Thanh Phong. Sau khi làm xong nhiệm vụ bám sát Gautheret ớ Cần Thơ, nó bị đổi lên Sài Gòn, thì cô Phấn lên ở Long Xuyên, làm hậu cần cho Tổ công tác, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ địch tình. Lúc đó nhà tôi ở 36 Lê Lợi, một căn phố lầu hiện nay vẫn còn gần như nguyên vẹn, kể cả biển số và tên đường, gác trên là phòng ngủ và nơi làm việc của tôi, dùng để họp Tổ công tác. Phòng dưới là nơi tiếp khách, quan Tây, quan ta văn võ đều có cả. Chúng tôi cũng có tiếp khách Hòa Hảo, như Ba Cụt, Hai Niệm, v.v... Ba Cụt hồi đó còn là thiếu tá lực lượng bổ túc, đóng vùng Thốt Nốt. Hai Niệm là con đầu lòng của Hai Đen đại đội trưởng Hòa Hảo trước đóng ở Bình Thủy. Hai Đen chết, Niệm lên thay thế cho cha là Đại đội trưởng, kéo quân về đóng ở xã Vĩnh Trinh, trên kinh Xáng đi Ba Thê, cách thị xã Long Xuyên khoảng 7-8km. Hôm đó Hai Niệm cùng tham mưu trưởng Bửu, kéo đến thăm tôi. Viện lý do là Bửu nguyên là học trò cũ của cụ Giáo Phận, có quen biết gia đình nên đến thăm chị Hai. Nhân danh là bà chủ gia đình, cô Hai Phấn cũng rót rượu ra tiếp khách. Câu chuyện có tính cách xã giao. Nhưng mục đích của đôi bên lại trùng hợp nhau: Hai Niệm xin phép tôi cho chị Hai vào thăm đồn, tôi cũng nhân dịp để bố trí trinh sát thực địa phục vụ chiến dịch. Tôi mỉm cười bảo Hai Niệm và Bửu: "Nhưng hai cậu phải trả chị Hai về với tôi nguyên vẹn, đúng ba ngày tối đa!". Đúng ba ngày đồng chí Phấn về nhà nói với tôi: "Bọn thằng Niệm, thằng Bửu hình như muốn khoe súng, nén cho em đến kho súng xem thả giàn. Thích quá anh ạ!". Tôi hỏi: "Em thích gì?" - "Kinh Ba Thê cá lóc đầy nhóc, xuồng em đi ngang cá nhảy vào xuồng tùm lum, làm muốn té ngửa lận!".


Hỏi ra mới biết, cá trên kinh rất phong phú lúc bấy giờ cũng là một nguồn lợi lớn ở đất Ba Thê. Tất nhiên thành quả trinh sát của Thanh Phong được báo cáo ngay về Chi 50 vì đồn của Hai Niệm cũng là một mục tiêu của chiến dịch. Có lẽ là mục tiêu sau cùng kết thúc chiến dịch.


Tôi còn nhớ rõ, tiếng súng nổ râm ran khắp thị xã Long Xuyên. Một hiện tượng hiếm thấy từ trước tới nay. Tôi đi theo viên trung úy pháo binh để làm phiên dịch. Từng đợt lính Hòa Hảo từ trong kinh mang súng hớt hải chạy ra, có tên chỉ chạy mình không. Hai Niệm cũng hớt hải yêu cầu pháo binh tiếp viện: "Việt minh đã áp sát đồn Vĩnh Trinh rồi". Để đơn giản câu cú pháp, tôi dịch: "Les VM sont au porte de Vĩnh Trinh". Viên trung úy ra lịnh cho pháo thủ hai khẩu đội 88 ly, canh ngay vào vòng tròn khoanh bót Vĩnh Trinh và hô "Feu!". Tiếng pháo gầm vang. Một lát sau, một số lính Hòa Hảo cuối cùng chạy ra, khiêng theo bọn bị thương vì đạn pháo. Hai Niệm than: "Mấy ông ác quá lại bắn ngay vào đồn rồi!". Bọn sau cùng còn báo cáo: "Việt minh còn cách Long Xuyên 6km mà thôi". Ban chỉ huy Secteur rất hoang mang. Kiểm điểm lại ở tại thị xã Long Xuyên chỉ còn vỏn vẹn 15 tên Pháp từ lính đến sĩ quan. Ban chỉ huy liền xin ngay một chiếc tàu L.C.I. đến đậu tại bến Bungalow, cách nơi tôi ở khoảng 300m. Trung úy Labrousse bảo tôi: "Đêm nay nếu tình hình Việt minh đột nhập thị xã, thì chúng ta sẽ rút xuống tàu. Mầy cũng nên đưa cả gia đình xuống tàu để tránh Việt minh tấn công". Tôi trả lời:

- Sẵn sàng ngay, nhưng tôi sẽ cầm cự tới giờ chót. Nhà tôi chỉ cách bến tàu có 300m, rút cũng nhanh thôi.

Trong thâm tâm tôi chỉ mong có liên lạc của mặt trận để báo cáo tình hình để kịp thời phát huy chiến quả. Sau này vào Khu tôi có dịp hỏi lại đồng chí Nguyễn Chánh, Tham mưu trưởng. Đồng chí ấy bảo rằng:

- Mục đích của chiến dịch không phải là đánh chiếm thị xã, mà phải là giải phóng cho vùng Long Châu Hà khỏi ách chiếm đóng của Hòa Hảo. Qua chiến dịch, chúng ta đã giải phóng được 20.000 đồng bào.

Sau này về cơ quan họp, tôi được biết là Ban chỉ huy chiến dịch đã thưởng gươm vàng thi đua cho Chi đặc biệt 50. Riêng tôi, được cơ quan cấp một chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Mulco để kỷ niệm. Chiếc đồng hồ đó, tôi đeo theo mình ra Bắc. Năm 1962, con trai tôi, Trí Dũng, được lịnh đi công tác B. Tôi đã giao cho nó đeo làm kỷ niệm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #74 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:14:39 pm »

CHƯƠNG 10
CƠN BÃO TÁP


1950 - 1951

Mồng ba Tết 1950, Tổng lãnh sự quán Mỹ ở Sài Gòn chuyển thành Sứ quán Mỹ, báo hiệu Mỹ sắp thay thế vai trò của Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. 2è Bureau FTVS (Lực lượng quân đội Pháp đóng tại miền Nam Việt Nam) chỉ thị cho các 2è B/.Z.O. và Secteur phải sắp xếp lại các hồ sơ tình báo theo một mã số thống nhất, trong đó có mở thêm 2 hồ sơ mới: Theo dõi hoạt động của phái Tin Lành, đặc biệt là của Mục sư Walace, người Mỹ, ở Cần Thơ và một mục khác theo dõi hoạt động của Ngô Đình Diệm. Thế là quá rõ. Ở Z.O, Đại úy Nguyễn Tư Long được thăng hàm Thiếu tá, điều động về Sài Gòn, làm chủ bút tờ báo "Con thuyền vượt biển" thực chất là một bản dịch của tờ "Caravelle" là tờ báo hằng tuần của quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, về Cần Thơ lúc chia tay, Long bảo tôi:

- Hiến cũng có làm thơ cho báo "Giây đỏ". Năm nay, kỷ niệm báo "Con thuyền vượt biển" ra đời được một năm, Hiến có bài thơ gì hay không?

Tôi cười trả lời:

- Thơ thì cũng gắng làm được, nhưng liệu anh có dám đăng không?

- Hiến đã dám viết thì mình sợ gì không dám đăng!

Tôi liền làm ngay một bài thơ đường luật đưa cho Long:
   "Con thuyền vượt biển" tít mù khơi
   Ngôn luận đua bơi gắng kịp người
   Giấy trắng vẽ vời câu chính nghĩa
   Mực đen bôi lọ lũ vô loài
   Xông pha ải Bắc lèo chưa lộn (sau thấy lộ liễu quá tôi thay hai chữ "đang vững")
   Chèo chống trời Nam lái dễ lơi
   Mai mốt chi đây cơn sóng lặng
   Buồm xuôi gió thuận tiếng muôn đời..."


Tháng sau, bài thơ đó được đăng ngay trang đầu của tờ "Con thuyền vượt biển", có đề tên tác giả "Aspirant Trần Hiến - Long Xuyên". Tôi ngạc nhiên không tin ở mắt mình. Vì mỗi tờ báo đều có kèm bản dịch bằng Pháp văn đăng ở tờ "Caravelle". Tôi thấy Long đã "duyệt" nguyên văn câu kết "Buồm xuôi gió thuận tiếng muôn đời". Anh ta đã dịch ra là: "Il laisse derrière lui un sillage parfumé" (Nó để lại đàng sau một giòng nước thơm tho). Chưa hết: vài tháng sau đó, tôi nhận được một bức thư của một ông bạn phiên dịch viên ở Mimot (Campuchia) gởi đến khen bài thơ rất hay, và tỏ ý muốn kết bạn cùng tác giả. Tôi tiếc là ông bạn ấy ở ngoài biên giới, kết bạn bằng thơ họa qua lại thì quả là không có thì giờ, nên tôi im hơi lặng tiếng luôn... Mong bạn ấy hiểu cho nỗi khổ tâm của tôi về thái độ bất lịch sự đó.


Đầu năm 1950, chỉ huy 2è B. ở Secteur Long Xuyên có sự thay đổi: Trung úy Michot đã hết hạn 27 tháng ở Đông Dương được trở về Pháp, người thay thế Michot là Trung úy Labrousse. Khác hẳn Michot cả về hình dáng và phong cách, vóc người mập mạp, bộ mặt no tròn, đôi mắt xanh nước biển, tóc lượn sóng luôn luôn được chải, râu cạo nhẵn tỏ ra con người lịch thiệp phong lưu, tuổi chừng 25, nhưng trông có vẻ già trước tuổi. Labrousse là sĩ quan Pháp, nhưng ít thân thiện với các sĩ quan Pháp. Tôi nhận thấy ngay vẻ khác biệt đó. Các sĩ quan Pháp thường đeo huy hiệu chữ thập hai gạch ngang lấy làm hãnh diện, phô trương huy hiệu đảng phái "Đờ-Gôn" (De Gaulle). Labrousse không có, hay có mà không đeo? Một lính Pháp nguyên là hầu cận Labrousse, cùng với Labrousse đi chung một chuyến tàu sang Đông Dương đã tiết lộ cho tôi biết: "Lúc hắn ở Marseille, cấp chỉ huy phải vất vả lắm mới đưa được Labrousse xuống tàu sang Đông Dương. Một sĩ quan Pháp chống chiến tranh bẩn thỉu ở Đông Dương". Chi tiết ấy làm cho tôi thích thú và bắt đầu "nịnh bợ" để làm thân. Một sĩ quan Pháp ít thân thiện với đồng liêu, tất sẽ tìm cách thân thiện với cấp dưới hoặc cấp trên, nếu đồng quan điểm, trước hết là quan điểm chính trị. Nhưng Trung úy cấp trên của tôi thuộc phe phái nào? Trong số 15 đảng phái chính trị đang giành giựt quyền hành trong chánh phủ Pháp?


Trong một buổi dọn dẹp phòng riêng của Trung úy Labrousse, tình cờ tôi thấy một số báo Pháp để bừa bãi trên giường. Tôi xếp lại thành đống theo thứ tự, tôi ngạc nhiên, thấy tên báo "Aspect de la France" (Phong cảnh nước Pháp). Trên một tờ có in ở trong bìa chân dung của Bá tước de Paris, một trong hai thủ lĩnh hai nhóm Bảo Hoàng của Pháp. Thì ra ở Pháp, nước Cộng hòa Đệ Tứ còn tồn tại những nhóm người tôn thờ nền quân chủ của quá khứ, rơi rớt lại. Đọc báo chí Pháp, tôi hiểu rõ thêm lập trường Đảng Bảo Hoàng có điểm gặp nhau với Đảng Cộng sản Pháp: chống việc chính phủ Pháp đem quân sang Đông Dương. Tôi tự chọn cho mình một lập trường cần thiết để tiếp cận Labrousse hơn nữa. Tôi tự cho mình thuộc giòng quan lại Huế, từ cách ăn nói giao dịch, đều giữ vẻ quí phái, ít nhất là trước mặt Labrousse. Qua những buổi tâm sự, tôi được biết Labrousse người gốc xứ Bordeaux, nổi tiếng về rượu vang của Pháp, chưa vợ, vị hôn thê còn ở Pháp, thích uống rượu vang trắng, thứ Sauternes của tỉnh Bordeaux. Thỉnh thoảng đi Sài Gòn về cũng đem theo một cô gái làng chơi về Long Xuyên, nhờ tôi tìm nơi cho cô gái ở tạm để che mắt bọn sĩ quan Pháp, về chính kiến, tuyệt nhiên Labrousse không đả động gì hết. Sau khi dùng thủ đoạn "đá lên" không mấy ngay thẳng lắm, để gạt Thiếu úy Michel Đức ra khỏi sự tín nhiệm của Trung úy Labrousse, để Labrousse thuyên chuyển Đức về Z.O., thỏa mãn tham vọng "đá lên" của nó ở 2è B. Secteur Long Xuyên, tôi trở thành phiên dịch viên được trọng vọng nhất vì được nhiều người biết tiếng. Thư từ chỉ cần đề Aspirant Trần Hiến - Long Xuyên tức khắc bưu điện sẽ chuyển ngay đến nơi làm việc. Tỉnh trưởng Long Xuyên - Nguyễn Ngọc Thơ, đại diện Phật Giáo Hòa Hảo cũng kiêng nể, tự miệng những người ấy thốt ra. Và, tất nhiên Labrousse cũng biết.


Vì vậy, ông xếp 2è B. đi đâu cũng kéo tôi đi theo và tôi cũng xử sự như người anh lớn tuổi. Biết anh ta lập dị, ít giao du với đồng liêu người Pháp, tôi thường mời anh ta đến nhà chơi, tổ chức các bữa tiệc nhỏ để cho anh ta nhập cuộc. Mời đồng chí Phấn, lúc đó đã chính thức trở thành vợ tôi, không phải do sự chỉ định của cấp trên nào mà vì một thủ tục hành chánh. Hôm đó, sĩ quan O.D. (Officier de détails) hậu cần của quân đội Pháp, buộc tôi phải đưa giấy chứng nhận kết hôn mới chịu phát khoản phụ cấp cho vợ và 3 con, gần nửa số lương tháng. Chúng tôi tức tốc kéo nhau về Cần Thơ, nhờ chú Tư Ngà và Tám Dinh (đều là cơ sở của tôi) đến Tòa án Cần Thơ làm chứng. Một buổi họp chớp nhoáng, không đầy 15 phút, viên Trưởng Tòa, một thanh niên Pháp, đưa cho tôi tờ hôn thú, đúng thủ tục pháp lý để nộp cho O.D. Không có một xu tốn kém. Kể cả lệ phí hầu Tòa. - Không pháo, không hoa, không tiệc tùng, khách khứa và nói cho đúng, tôi cũng không nhớ ngày đó là ngày... nào!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #75 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:15:45 pm »

Tôi giới thiệu vợ tôi với Labrousse. Chúng tôi bảo nhau cùng tổ chức những buổi ăn gia đình có Labrousse tham dự. Về khả năng bếp núc, Elise có khả năng món bún bì và chả giò. Labrousse gật đầu khen ngon và lần lần biết bưng cả chén nước mắm lên... húp "Bon, bon c’est très bon!". Dần dần chúng tôi mời một số thiếu nữ Cần Thơ lên, giới thiệu là bà con cô cậu của Elise. Trong số đó có cô Lâm Thị Sáng, 18 tuổi, thơ ký đánh máy của 62è CR, vừa trẻ vừa đẹp, tất nhiên, tôi không rời mục tiêu "cài người để lấy tài liệu gốc" theo yêu cầu của lãnh đạo Ban Quân báo (sau này tôi mới biết đó là yêu cầu của đồng chí Tham mưu trưởng Võ Quang Anh). Thế là Labrousse cắn câu! Sáng được làm thơ ký đánh máy riêng cho 2è B. Secteur Long Xuyên và phục vụ cho chiến dịch Long Châu Hà II. Nhưng bỗng một hôm, Labrousse kêu tôi bảo:

- Thôi, sáng nay anh để cho Solange (biệt danh Labrousse đặt cho Sáng) ở nhà, khi nào có việc cần tôi sẽ gọi.

Bẵng luôn một tuần rồi hai tuần không thấy Labrousse gọi đến. Tôi liền hỏi thẳng:

- Thế nào, Trung úy có cần nữ thư ký đánh máy nữa không? Cho tôi biết.

Labrousse nhìn tội hồi lâu vào đôi mắt, rồi dẫn tôi vào phòng Thiếu tá Tham mưu trưởng Sedan, có cái tên đứng đầu bằng chữ M... (Masson?) Thiếu tá đã lớn tuổi, sắp được nghĩ hưu, vẻ hiền hậu, không nói gì hết, rút ở ngăn kéo ra, đưa cho tôi xem một bức thư nặc danh bằng tiếng Pháp đánh máy dầy hai trang giấy trắng. Tôi nhìn trước về cuối thư: không có chữ ký, tôi yên tâm. Nội dung thư: tố cáo 2è B. Long Xuyên đã để lọt tài liệu cho Việt minh biết để đánh vào vùng Phật Giáo Hòa Hảo Long Xuyên, làm cho lực lượng vũ trang Hòa Hảo bị nhiều thiệt hại, và đề nghị Bộ Tổng tư lệnh quân đội, nên thẩm tra lại nhất là Chuẩn úy Trần Hiến có bà vợ là Lâm Thị Phấn, con của một Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh Cần Thơ. Tôi thừa biết, thư nặc danh không có giá trị về mặt pháp lý, nên vẫn bình tĩnh đọc chậm rãi từ đầu tới cuối thư, có lúc còn thoáng mỉm cười, ở những thành ngữ có tính hài hước châm biếm, tỏ ý thưởng thức lối hành văn trôi chảy, đúng ngữ pháp, chứng tỏ một tay bút nắm vững Pháp văn.


Đọc xong, tôi ngước mắt hỏi:

- Các ông tính thế nào? Theo tác giả bức thư, rõ ràng tôi là một con người khả nghi.

Thiếu tá ôn tồn đáp:

- Nếu chúng tôi nghi ông, thì đã không đưa thư cho ông xem.

Tôi cảm ơn Thiếu tá về lòng tin cậy đối với tôi và nói tiếp:

- Nếu các ông tin tôi, thì không lý do gì lại cho Solange nghỉ việc?. Nhưng, tôi xem bức thư này không hẳn xuất phát từ Long Xuyên. Dân Hòa Hảo ở đây không có người nào viết nổi một bức thư bằng tiếng Pháp hay như vậy. - Tôi chép miệng - "Chúng ta chiến đấu trong một môi trường có nhiều kẻ thù. Quanh ta Hòa Hảo, Việt minh - và tôi liếc sang Labrousse - và kể cả không ít người Pháp, không ưa gì chúng ta!".

Ra về, tôi hỏi thêm Labrousse:

- Bức thư quí hóa đó được gởi tới bằng cách nào?

Labrousse cho biết:

- Cách đây hai tuần, Trung úy Francois từ Sài Gòn đích thân mang đến.

Francois là sĩ quan phản gián của Bộ Tổng tham mưu Pháp. Sau buổi họp đó, Sáng được cho thôi việc với trợ cấp 3 tháng lương. Tôi viết cho Sáng một cái đơn phản kháng, và sau đó được nhận vào làm việc ở bộ phận trợ cấp xã hội (Assistance sociale) ở Z.O. Và, Labrousse đưa cho tôi đọc một công văn phản đối bức thư nặc danh nói trên gởi lên Bộ Tổng tham mưu quân đội Pháp ở Sài Gòn, đại ý nói tôi là một người cộng sự đắc lực cho quân đội Pháp đã nhiều năm nay, lòng tin đã được thử thách. Số phận của bức thư chỉ đáng vứt vào sọt rác!


Trải qua cơn sóng gió đó, Trung úy Labrousse vẫn không hề mất niềm tin ở tôi, nhưng tôi cũng cần rút kinh nghiệm thêm trong công tác. Thận trọng không bao giờ có giới hạn trong công tác cả.

Trong 2è B. Secteur Long Xuyên tôi được phân công theo dõi bộ phận tuyên truyền (Section de propagande). Nhưng tổng hợp các báo cáo tháng của S/Secteur (Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Sa Đéc) gởi về để viết thành rapport moral (báo cáo chính trị) toàn Secteur thì bản thân Trưởng phòng, tức là Labrousse phải làm. Mỗi lần viết báo cáo thấy Labrousse khá vất vả, tôi mạnh dạn đề xuất tôi làm thay. Labrousse nhìn tôi để ước lượng khả năng, và đồng ý. Thế là, tôi gom tất cả các báo cáo lại, qui kết, xào nấu thành 3 trang đánh máy đưa lên cho Trưởng phòng xem. Y thích nhất câu kết luận cuối cùng của tôi: Mọi cuộc tuyên truyền chỉ có hiệu quả khi có sự kết hợp chặt chẽ với thái độ của các binh sĩ trong các cuộc hành binh. Labrousse đọc xong bản thảo của tôi, gọi tôi lại khen ngợi và đề nghị tôi sửa chữ de conserve thay chữ de concert (kết hợp). Tôi mỉm cười: "Tôi muốn dùng từ mới có trong tự điển Larousse". Và, tôi lật tự điển chỉ cho y xem, y gật đầu có vẻ thán phục. Kể từ ngày đó, mỗi khi trong 2è B. ai muốn hỏi chữ gì thì Labrousse chỉ về phía tôi: "Consultez notre dictionnaire vivant" (Hãy hỏi cuốn tự điển sống của chúng ta!). Nhưng đối với tôi cái vui nhất là tôi được đọc tất cả các báo cáo các S/Secteur gởi về hàng tháng để trước khi viết báo cáo cho Phòng nhì Secteur, tôi cũng đã tổng hợp gởi về cho Chi 50 để báo cáo về Ban Quân báo Khu 9. Tất cả không phải sao y nguyên một cách máy móc và dại dột như trước.


Sau khi trại giam Thốt Nốt bị phá vỡ từ cuối năm 1947, thì nhà binh Pháp ở Long Xuyên phải sung công rạp hát Nam Xương làm trại giam, kể cả Việt minh hay Hòa Hảo nam hay nữ đều nhốt chung vào đây. Hôm đó, tôi cùng Labrousse đến thăm trại giam mới thấy rõ hoàn cảnh cơ cực của anh chị em đó. Khoảng 300 người sống nheo nhóc trong một căn rạp với diện tích không đầy 200m2. Không mền, không chiếu nằm lăn giữa sàn lát gạch. Phụ nữ được dành riêng ở trên sân khấu, khoảng 10 chị. Hố tiêu là một cái thùng đặt ở góc rạp. Canh gác do lính Bảo an đảm trách. Cơm nước do tay cai ngục lãnh thầu, theo tiêu chuẩn do nhà binh Pháp qui định: 1 đồng/người/ngày cho mỗi tù binh. Khi chúng tôi đến thăm, anh em có nhiều yêu cầu, Labrousse biểu tôi ghi nhận để giải quyết sau. Tổng hợp các ý kiến, nổi lên 3 vấn đề bức thiết, anh em tù binh đòi:

1) Đừng cho anh em ăn gạo hẩm, khô mục.

2) Cho chiếu để lót sàn ngũ.

3) Cho luân phiên đi làm tạp dịch bên ngoài để hít thở khí trời trong sạch.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #76 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:07:28 pm »

Tôi dịch cho Trung úy Labrousse nghe. Trung úy giao tôi trọn quyền giải quyết trong khuôn khổ 1 đồng/người/ngày như đã qui định. Để giải quyết vấn đề ăn, tôi đột xuất vào khám, trong giờ viên cai ngục chở cơm tới. Trước mắt anh chị em bị giam giữ, tôi yêu cầu viên cai ngục xúc cho tôi một bát cơm với vài miếng khô. May sao, hôm đó cơm, khô đều bảo đảm. Tôi dặn chủ thầu: "Tôi sẽ kiểm tra thường xuyên nếu thấy cơm hẩm, khô mục, tôi sẽ giao người khác đấu thầu". Biện pháp răn đe thông thường đó tỏ ra có hiệu quả. Để giải quyết vấn đề chiếu, tôi đích thân qua gặp Nguyễn Ngọc Thơ, Tỉnh trưởng Long Xuyên, văn phòng ở gần cầu quay Bình Đức. Tôi biết Thơ là một điền chủ, có nhiều tham vọng, nhiều mánh khóe cũng tham ô như bất kỳ viên quan lại nào có chức có quyền ở chế độ cũ, nhưng không thuộc loại trắng trợn như Phán Ngọc, bán đuôi chuột cho nông dân nộp thuế để xây cất nhà ngói và đồng bào Long Xuyên đi ngang đều mỉa mai chỉ trỏ: "Nhà đuôi chuột". Thơ đặt thêm một loại thuế riêng gọi là thuế nhập thị, đánh vào các loại hàng bày bán ở chợ Long Xuyên. Tôi còn nhớ kỹ, mỗi mét vải phải tăng thêm 20 xu nạp lên cho tỉnh trưởng. Thấy tôi bước vào, Thơ đang ngồi sau chiếc bàn rộng, Thơ đưa tay ra bắt tay tôi, nhưng mắt nhìn phía cửa, làm tôi tưởng ai mới vào, tôi vội ngoái cổ lại nhìn. Thơ nhắc lại: "Anh Hiến, tôi chờ anh đó". Tôi chợt nhớ ra là viên Tỉnh trưởng này có tật lé mắt bẩm sinh. Nghe tôi nói đến để xin Tỉnh trưởng cấp phát chiếu cho 300 tù binh. Thơ lắc đầu:

- Tù binh là thuộc nhà binh Pháp đài thọ, anh biểu tôi lấy đâu ra tiền?

- Nhưng họ là dân chúng Long Xuyên, ông là Tỉnh trưởng nỡ để cho dân nằm không giường, không chiếu mà đành lòng sao?

- Nhưng anh cũng biết ngân sách của Tỉnh có hạn, có khoản nào cho vào việc đó đâu.

Tôi buộc lòng phải nói thẳng:

- Tôi có nghe người ta nói rằng, ông có khoản thuế nhập thị hai mươi xu một mét vải, ông có thể lấy vào đó được không?

Thơ nhìn tôi rồi nhanh chóng đổi thái độ:

- Thôi được, tôi chịu anh rồi đó!.

Thế là tuần sau đó ở trại giam, mỗi tù binh đều được một chiếc chiếu mới lót nằm.


Về yêu sách thứ ba, xin được luân phiên đi làm tạp dịch (corvée) tương đối dễ thỏa mãn. Tôi bắt đầu xin hai tù binh để dọn cái nhà số 36 đường Lê Lợi (phía Bình Đức) là một cơ sở dệt thủ công của một ông Kim Sơn nào đó đã bỏ đi. Nhà cũ kỹ quá, ván sàn đã bị tháo gỡ, nhưng được cái thoáng mát, kín đáo, tầng trệt chỉ có một phòng rộng rãi làm nơi tiếp khách, gác trên bề bộn những khung cửa. Do ván sàn đã gỡ đi nhiều nếu ai không biết lối đi sẽ lọt sàn rớt xuống tầng dưới. Tôi cho trổ lỗ châu mai gần trên trần nhà để có thể quan sát, bên dưới sàn nhà cho dọn đặt một cái giường ngủ, một cái bàn để làm việc vừa làm chỗ họp tổ công tác điệp báo, khá an toàn. Phía sau nhà có nhà bếp, cách nhà trên một khoảng trống độ 2m. Phía sau nhà bếp có cửa ra vườn với con đường nhỏ thông ra xóm sau. Cái vườn nhỏ nhà nầy chỉ có một cây vú sữa đỏ là cây duy nhất, nhưng đến mùa sai trái vừa ăn vừa cho cũng không hết. Lần đầu tiên, hai tù binh và một lính Miên được đến làm cỏ ở căn nhà đó. Tôi dẫn ra sau vườn chỉ vào cây vú sữa:

- Các anh dọn vườn đi!

Các anh tạp dịch ngần ngại nhìn quanh, không có một đám cỏ, không có một líp rau thì dọn cái gì? Tôi bảo:

- Hai anh thay phiên nhau lên leo cây, hái vú sữa chín ăn cho đã thèm, nhớ hái để dành phần cho chú lính, ăn đã rồi về, không mang theo trái nào về trại! Công việc chiều nay chỉ thế thôi. Tôi chỉ ước một điều: phải chi tôi được cấp một cái vườn có cây trái quanh năm.

Một hôm, ở Sài Gòn có đưa về một người có giấy giới thiệu là Thượng sĩ Lam Sơn, được phép đến nói chuyện với anh em tù binh ở các trại giam để động viên anh em ủng hộ chính phủ Trần Văn Hữu, đả đảo Việt minh, và nếu anh em nào muốn vào lính thì ghi tên. Giấy giới thiệu của 2è B. của F.T.V.S cấp. Thượng sĩ này nói chuyện với Labrousse, có tôi tham dự, anh ta tự giới thiệu là một đại đội trưởng trong hàng ngũ kháng chiến mới qui thuận, người vóc dáng trung bình, tuổi ngoài 30, nói giọng miền Bắc. Labrousse biểu tôi dẫn tên tuyên truyền phản bội ấy đến rạp Nam Xương (trại tù binh). Hồi đó, anh em trong trại giam đã biết ít nhiều về thái độ của tôi, nên cũng chăm chú nghe tôi giới thiệu diễn giả:

- Đây là ông Lam Sơn, một đại đội trưởng Việt minh mới về qui thuận triều đình nhà Nguyễn, à quên, xin lỗi về qui thuận chính phủ. - Nghe có tiếng cười rúc rích, tôi yêu cầu - Anh em im lặng để nghe ông Thượng sĩ nói chuyện với anh em, ông ta là người miền Bắc nên giọng cũng hơi khó nghe, tiếng nào lọt tai thì lọt, tiếng nào không nghe được thì để ngoài tai, cố gắng suy nghĩ tiếp, đừng làm ồn ào không cần thiết.

Tôi nói dứt lời, Lam Sơn cầm tờ giấy đọc thao thao bất tuyệt. Tôi ngồi im lặng nghĩ đâu đâu. Dứt bài diễn văn không một tiếng vỗ tay, không một lời phản đối và cũng không một ai ký tên xin đi lính. Tôi và Lam Sơn cùng lặng lẽ ra về ai đi đường nấy. Từ đó về sau, tôi không nhìn thấy và thực tế cũng không còn thấy bóng dáng tên phản bội ấy nữa.


Sau 30/4/1975, về Sài Gòn, tôi có dịp đọc tên một số sĩ quan cấp tá, tướng ngụy quân đi cải tạo, có phát hiện tên một tướng ngụy Lam Sơn, nhưng chưa hẳn là tên tuyên truyền phản bội ấy và cũng không cần tìm hiểu thêm nữa.

Nói về những tên phản bội hàng ngũ kháng chiến mà tôi đã gặp và lấy cung ở Cần Thơ cũng như ở Long Xuyên cho đến năm 1950, cũng không nhiều lắm. Tên Thanh (đã bị bắn), tên Lâm Quang Phòng (là đại tá ngụy quân hiện đang ở Mỹ) đến Lam Sơn (không rõ sống chết) và tên Quốc Thanh (họ Nguvễn hoặc Lê) nguyên là cán bộ Ban Ngoại vụ (do đồng chí Thanh Sơn lãnh đạo). Tên Quốc Thanh ra đầu thú ở S/Secteur Rạch Giá với 11 bao tải tiêu sọ (của gia đình bên vợ ở Hòn Chông cho). Trung úy Trần Thiện Khiêm, sĩ quan tình báo của 2è. BVN chiếm đóng S/Secteur Rạch Giá, dẫn lên trình diện ở Secteur Long Xuyên. Toàn bộ lời khai của hắn được tôi ghi chép và có báo cáo về Khu 9. Hắn, nguyên là dân Quảng Ngãi, làm quan hai Nhật, trong sắc lính Hai-hô, sau kháng chiến chuyển thành giáo viên quân sự Trường quân chính ta đóng tại Quảng Ngãi, rồi chuyển về Ban Ngoại vụ Nam Bộ lúc đó đóng tại Hòn Chông. Do bất mãn vì không được thăng quan tiến chức nên trốn theo giặc. Bọn Pháp cho ký tên vào truyền đơn lên máy bay rải vùng Rạch Giá, Hà Tiên. Sau đó, năm 1953, hắn lại trở về Hòn Chông, gặp Ban Ngoại vụ xin thú tội. Đồng chí Thanh Sơn có đánh điện về hỏi Chi 50. Tôi còn nhớ lời khai và hành động của Quốc Thanh, nên đã trả lời cho Ban Ngoại vụ biết. Sau đó đưa ra Tòa án quân sự, tước quân tịch, cho trở về thường dân. Có lẽ là trường hợp duy nhất tôi biết về một tên đầu thú theo giặc trở về chịu tội trước cơ quan, và được hưởng lượng khoan hồng của Tòa án quân sự.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #77 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:08:09 pm »

Miền Tây Nam Bộ dồi dào về lúa gạo hơn các nơi khác, nhưng trong những năm 1950-1951, cũng có lúc khó khăn, ở Rạch Giá lúc thời vụ thất bát, bộ đội phải ăn nếp thay gạo. Tỉnh ủy có chủ trương lúc ấy là cấm nhân dân nuôi vịt tàu, một số chiến sĩ cảm thấy mệt mỏi về tinh thần và thể chất, kéo nhau ra đầu thú tại Rạch Giá. Con số đó tuy không nhiều, nhưng rải rác mỗi lúc vài ba người, cộng lại cũng trên một tá! Tôi còn nhớ năm 1950, S/Secteur Rạch Giá đưa lên 8 người một lúc. Tôi hỏi chế độ đối với Việt Minh đầu thú, Labrousse bảo:

- Không có chế độ gì cả, cứ theo tiêu chuẩn cấp phát cho tù binh: 1 đồng/người/ngày.

Càng tốt. Lần đầu đến hỏi cung, có anh em xin thuốc lá. Tôi bảo:

- Chế độ cấp phát cho anh em chỉ 1 đồng/người/ngày, không có thuốc lá! Cố gắng nhịn vậy.

Đến bữa ăn, cho ăn chung với lính partisans Miên, bọn lính không cho mượn chén đũa. Phản ảnh lên, tôi bảo: "Thôi hãy chịu khó năn nỉ họ", về ngủ, cho 8 người một căn phòng 8m2 không có cửa sổ ở nhà ngủ Thiên Tân.

Hôm đó, Đặng Kiến Thiết, đại đội trưởng đại đội 1091, của tỉnh Cần Thơ, được chỉ định làm trưởng nhóm 8 người đầu thú đến 2è B. dẫn tôi đi xem tình hình ăn ở của anh em tù binh ở nhà ngủ Thiên Tân. Tôi đi trước, Thiết đi sau, vừa bước lên cầu thang, một chị gái điếm đang lui cui thổi lửa trong cái lò củi để nấu cơm, chị liếc xéo Thiết, nói: "Xí! Giỏi sao không ở trỏng mà đánh Tây, còn vác mặt ra đây làm chi?" Tôi nghe rõ mồn một, nhưng giả đò không nghe, nhìn vào mặt Thiết. Bộ mặt Thiết vốn ngăm đen, bỗng đỏ lên. Tôi hỏi: "Chị ta nói gì vậy?" Anh cũng nói lại cho tôi nghe với vẻ bực dọc. Tôi an ủi anh ta rằng ý chị ấy cũng là ý chung của dân thành phố Long Xuyên nầy. Thiết lặng thinh không nói gì. Tôi trình bày với Trung úy Labrousse và kiến nghị trong khi chờ lấy lời khai, nên giữ họ chung với tù binh. Thế là trong số 300 tù binh, một nửa là Hòa Hảo, một nửa là Việt minh và một tá là dân đầu thú. Một trại giam hỗn hợp ba thành phần đối kháng nhau.


Thời kỳ đó, đúng là thời kỳ Mỹ đang tìm cách hất cẳng Pháp và bọn Thủ hiến bù nhìn ở ba phần cũng đang tìm chỗ dựa. Ở miền Nam có dư luận: Bảo Đại cho Bửu Lộc làm Thủ hiến Nam phần thay chân Trần Văn Hữu. Ngay từ đầu năm 1950, Bửu Lộc đã mon men kinh lý Long Xuyên. Tỉnh trưởng Long Xuyên tiếp đón tại tư gia. Một chuyện bất ngờ xảy ra: Tại salon có một hàng chữ viết bằng than: "Đả đảo Bảo Đại" xuất hiện trên vách. Nguyễn Ngọc Thơ giận tím mặt, cho lính kín truy lùng thủ phạm. Không rõ ai mách cho Thơ biết là chính con trai ông ta viết. Ông kêu thằng con đến dằn mặt: "Mầy muốn theo Việt minh hả? Ừ mầy học cho giỏi đi, rồi tao cho theo, cỡ như mầy đi xách dép người ta thôi!". Chuyện đó do đồng chí Danh kể lại lúc còn ở Long Xuyên, ghi lại để thấy không chỉ ở Long Xuyên mà ở các nơi khác không ai thích Bảo Đại. Về phía Trần Văn Hữu, bọn 2è B. Sài Gòn hết sức nâng đỡ. Tôi nhận được một công văn mật của 2è B. ở Sài Gòn chỉ thị: cần phải tổ chức những cuộc biểu tình tính chất tự phát (meeting spontanné), trong các trại giam tù binh cũng đòi ủng hộ chính phủ Trần Văn Hữu. Tờ chỉ thị ấy tôi vùi xuống đáy ngăn kéo. Không biết sao, trong trại giam có người biết, các nơi khác đều có cuộc biểu tình đòi ủng hộ Trần Văn Hữu. Anh tù binh tên Sáu đưa lên một tờ đơn có vài chục người ký tên xin tổ chức biểu tình ủng hộ Trần Văn Hữu, tôi cũng nhận và ghim ngay vào công văn đến và biểu chờ. Tôi nhớ có vài lần tù binh gởi đơn như vậy, mãi mấy tháng sau đọc thông báo thấy ở nhiều Secteur khác đã tổ chức rầm rộ biểu tình trong trại giam, có nơi có xảy ra xô xát đến đổ máu. Tôi ý thức được âm mưu thâm độc của địch. Labrousse cũng đọc thông báo rồi hỏi tôi:

- Các Secteur khác đều tổ chức biểu tình ủng hộ Trần Văn Hữu, tại sao ở Long Xuyên anh không tổ chức biểu tình đi?

Tôi cười đáp tỉnh khô:

- Người Việt Nam có câu "Trâu chậm uông nước đục". Trước ta không làm, nay mới làm tốt cũng không được khen, rủi có xô xát đổ máu càng thêm phiền. Thôi cho im luôn.

Thấy Labrousse còn lưỡng lự, tôi nói thêm:

- Vả chăng như Trung úy biết, tôi gốc gác ở triều đình Huế, nay Việt Nam đã gom về một mối dưới quyền trị vì của quốc trưởng Bảo Đại, thì để lại Trần Văn Hữu làm gì, chính phủ Nam phần là cái quái gì? Trung úy biết không, nguyên tắc sống của tôi là: Trên trời phải có Chúa, dưới đất phải có vua, trong nhà phải có chủ. Bằng không thiên hạ sẽ đại loạn!


Giọng tôi chậm rãi mà chắc nịch. Labrousse quan sát tôi vẻ thích thú, phải chăng tôi đã đánh trúng vào nơi thầm kín nhất của người sĩ quan tình báo ấy? Dù sao, Labrousse cũng đã tin tôi. Và, ở trại giam Long Xuyên, không có biểu tình tự phát như ý Sài Gòn mong đợi. Tất nhiên, tôi không thể báo cáo tường tận mọi việc về cơ quan Quân Báo như những việc khác cần phải báo cáo thỉnh thị. Cái quyết định của người hoạt động trong lòng địch là tình huống có khi lường được, nhưng cũng có khi khó lường được trước. Cái đúng sai trong hành động một phần do năng lực, chín phần do định hướng lý tưởng cho cuộc đời ngay từ đầu quyết định.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #78 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:08:44 pm »

Duyên nợ của tôi với rạp hát Nam Xương cũng chỉ có thế thôi, không nhiều lắm, nhưng điều lý thú là đến năm 1956, tập kết ra Bắc, được quân đội cho chuyển sang học trường Kinh tế Tài chính Trung ương, đóng tại rạp hát Nhân dân ở Hà Nội, có đồng chí Hồng đến xin tôi giấy chứng nhận. Trong thời gian ở khám Long Xuyên đồng chí đã không khai báo gì cho địch cả. Cái đó thì tôi đã rõ, vì hầu hết các tù binh Việt minh, tôi đã hỏi cung, từ Cần Thơ lên Long Xuyên, không một ai khai báo một lời có hại cho tổ chức, cho cơ sở kháng chiến cả. Vì vậy, tôi sẵn sàng chứng nhận ngay. Đồng chí Hồng còn cho tôi biết thêm là cũng may hồi đó trong khám không tổ chức biểu tình ủng hộ Trần Văn Hữu, nên chi ủy trong khám cũng thở phào nhẹ nhõm, vì đã dự kiến tình huống sẽ có đổ máu để ngăn chặn âm mưu thâm độc đó. Đồng chí Hồng nói tiếp: Lúc đó tôi cũng ở trong chi ủy, đến lúc nghe anh đi rồi, chúng tôi có nhận định về anh như vầy: Ông Một Hiến đi rồi chúng ta như rắn mất đầu (có thể đồng chí Hồng quá coi trọng vai trò của tôi). Anh em thường nói: ông ta là một con người "Khẩu xà tâm Phật". Tôi phải cảm ơn các hình ảnh ấy, thực tế nếu không có vẻ hùng hổ bên ngoài thì cũng khó lòng đóng nổi vai trò Việt gian. Tôi không biết đồng chí Hồng nay ở đâu, còn sống hay chết. Dù sao, đó cũng là một tấm lòng, một sự an ủi lớn cho cuộc đời đầy góc cạnh của tôi. Đến năm 1975, tôi trở về Sài Gòn, đang dựng chiếc xe P.C. bên lề đường ở số 257 Nguyễn Văn Thoại, một người bận đồ xanh lá cây đến chào hỏi tôi và tự giới thiệu:

- Tôi là Châu, tù binh ở khám Long Xuyên đây, anh còn nhớ tôi không?
Quả là tôi không nhớ, nên hỏi lại:

- Bây giờ anh công tác ở dâu?

- Ở Tổng cục Xăng dầu Khu vực 2.

Chỉ thế thôi tưởng đâu sẽ tìm lại nhau, nhưng tôi cũng quên luôn. Năm 1981, trong lúc tôi đang ở trong nhà, 150 Trần Hưng Đạo, tìm cơ sở để mua cá HTXTT mà tôi làm chủ nhiệm, bỗng nhiên có một người nhận ra tôi, và nói:

- Anh còn nhớ tôi không? Tôi lúc đó đóng làm tư sản chở ghe mía bị bắt, sau nhờ anh mà được thả, tôi đã báo cáo về Khu.

Hỏi ra mới biết anh ta là Hoa, sau nầy là thượng úy có quen với con trai tôi lúc làm hậu cần ở R. Nhắc lại không phải để kể công lao, mà chính là tự rút cho mình một kết luận trong cuộc sống, để tiếp tục sống cho tốt hơn.

Đi đôi với các hoạt động quân sự, kẻ địch cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền tâm lý chiến, dùng tài liệu giả để xuyên tạc kháng chiến và dùng mọi cách để đánh vào nền kinh tế, tài chánh vùng kháng chiến. Dùng máy bay rải bạc Cụ Hồ giả, dùng bọn phản động, chủ yếu là bọn thương nhân người Hoa để đổi bạc giả tung vào vùng tự do. Một Hoa kiều bị bắt đưa vào 2è B. Secteur Long Xuyên, đi trên chiếc xe lôi, chở 3 bao tải đầy bạc Cụ Hồ giả. Qua hỏi cung, tôi được biết số bạc đó do một thiếu tá Pháp bán, hắn mua lại tại Chợ Lớn chở về nhà số 36 đường Phan Thanh Giản - Long Xuyên để chờ đưa vào vùng kháng chiến... Labrousse thấy không có gì để hỏi thêm, tha hắn về. Hai hôm sau, Ban hành động ở Cần Thơ cho biết hắn đã bị trừng trị ngay trước cổng Tòa án Cần Thơ, trên ngực còn một mảnh giấy ghi rõ tội trạng: "Phá hoại nền kinh tế". Một tên khác bị xử ngay ở chợ Cả Đài. Về Cần Thơ hỏi thăm các đồng chí tổ Điệp báo, tôi được biết thêm nhiều thành tích của Ban hành động.


Trong hai năm 49-50, các đồng chí chúng ta đã trừ được hai tên lính kín ác ôn khét tiếng: tên Nhạn, gốc là tên bói bài ra làm chỉ điểm viên cho Jacquemin, đã bị Hai Ngọc bắn chết tại hàng Bã đậu năm 1949, năm 1950, tên Tài do trốn Hòa Hảo trả thù sau vụ giết Ba Dò lên Sài Gòn làm việc. Nhưng hắn còn một vợ bé khá xinh ở Cần Thơ nên mỗi tuần phải đi xe đò về thăm. Nắm được qui luật đi lại của nó, tổ hành động của Hai Ngọc (Hai Ngọc và Tây) mang búa đứng chờ ở trước nhà ngủ Thanh Phong, đường Lộ Mới (tức XVNT hiện nay). Tài và vợ bé ngồi trên xe lôi. Hai anh Ban hành động bận đồ công nhân, tay cầm búa bước ra, đánh ngay một búa vào đầu tên ác ôn. Tài ngã chúi xuống, kêu "úi chà!" chiến sĩ ta bồi thêm một búa, còn nói cho đã giận:

- Mầy đánh người ta đến chết có kêu không?

Chị vợ quỳ mọp, chiến sĩ ta đỡ chị ngồi lên xe bảo:

- Ai làm nấy chịu, không việc gì đến chị.

Anh em từng bị bắt ở bót lính kín, có kể lại thằng Tài khét tiếng khát máu: Mỗi lần đến sở làm, đi ngang giữa hai hàng người bị bắt ngồi, chờ tới phiên hỏi cung, Tài đưa gót giày đá bên này một cái, bên kia một cái. Hắn oang oang: "Ngày nào mà tao không thấy máu Việt minh thì ngày đó tao ăn cơm không ngon". Hắn chưa được thấy máu mình đen hay trắng, đến khi nó cảm nhận được máu của nó thì máu trong óc đã trào ra còn đâu thời gian để ăn ngon cơm được nữa... Chúa Jésus có thể tha thứ cho Juda con người phản bội Chúa, nhưng đồng bào Cần Thơ không thể nào tha thứ cho những tên ác ôn khát máu đồng bào như thằng Tài. Ban hành động không chỉ diệt 2 tên tay sai ác ôn. Sau vụ việc tên Chánh mật thám Cần Thơ Gautheret (tự bắn vào đầu) vào đầu năm 1950, Sở mật thám liên bang Đông Dương không thể để cho Sở Cảnh sát đặc biệt miền Tây (P.S.O) một ngày vắng chủ, liền điều động viên Thanh tra tên Henri Ribes từ Châu Đốc về Cần Thơ thay thế. Chỉ vào khoảng không đầy 6 tháng, chưa kịp nắm tình hình, Ribes cũng bị hạ sát ngay trong xe Jeep, ở góc đường có nhà thuốc Bùi Văn Sách. Người chiến sĩ bắn chết tên cò Ribes ngay trong xe bằng 4 viên đạn súng lục là Hai Ngọc, tên thật là Huỳnh Văn, Ngọc, sinh năm 1925, nhà nghèo, phải vào chùa ở tụng kinh gõ mõ theo các sư đi cúng đám để độ nhựt. Lớn lên vào công tác trong đoàn Tình báo Cần Thơ, hoạt động trong Ban hành động đã có nhiều thành tích trong công tác trừ gian như đã kể trên.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #79 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:09:21 pm »

Hôm đó là ngày chủ nhật, Ribes vừa đi xem lễ 10 giờ ra về, dừng xe ở trước hiệu thuốc, đứng trên xe nói chuyện với một người quen dưới lề. Hai Ngọc đạp chiếc xe cuộc màu xanh đảo qua vài vòng, chọn lựa tư thế, quan sát địa hình xong, dừng xe lại bên cạnh chiếc Jeep, rút súng nổ liên tiếp 4 phát vào người tên cò lính kín Ribes đổ gục xuống lề đường, chết không kịp kêu lên một tiếng. Hai Ngọc ung dung đạp xe rẽ về ngả nhà Tư A, giấu súng xuống sàn nước nhà cơ sở rồi lần ngả sau đến núp mình trong đám cỏ rậm sau nhà thờ Cầu Xéo, đến quá nửa đêm mới lặn lội về đến cơ quan Ban hành động, người của Hai Ngọc ướt đẫm sương đêm. Trong vòng hai năm Hai Ngọc đã diệt được 2 tên ác ôn, một tên trùm mật thám. Chưa kịp được cơ quan tuyên dương thì đến ngày 12 Tết năm 1951, Ngọc đã sa lưới và hy sinh anh dũng, bị trúng đạn vào bụng tại Rạch Bần, do bọn biệt kích (Commandos) của Z.O. bắn, anh được chở về trạm Quân y ở Bệnh viện Cần Thơ băng bó lại, chờ đến sáng lính kín đến lấy cung. Đến nửa đêm, Ngọc đã vùng dậy tháo băng tự bứt đứt ruột tự sát, vào khoảng 4 giờ sáng. Dì phước dòng St Paul đang trực, bỗng nghe hô to khẩu hiệu "HỒ CHÍ MINH MUÔN NĂM". Dì chạy vào, thấy Ngọc ngã vật xuống, ruột bung ra ngoài, băng sổ ra, máu me đầm đìa. Trước khi chết, khoảng về chiều, Hai Ngọc đã hỏi ông già Tám mượn một con dao để gọt móng tay, và trối với ông Tám, lao công của bệnh viện "Nếu tôi chết nhờ Tám nhắn về trỏng, anh em đem xác tôi về". Lời trối của Hai Ngọc không thực hiện được, vì bọn Pháp đã cho đào huyệt chôn Ngọc tại nhị tỳ, gần bờ rào bệnh viện, có canh gác cẩn thận để rình bắt Việt minh đến lấy xác. Đám tang có một tiểu đội biệt kích đi kèm. Nhưng đến lúc hạ huyệt, viên sĩ quan Pháp chỉ huy biệt kích, cất mũ và nói với người bên cạnh: "C'est un héro!" (Đây là một anh hùng). Từ lòng cảm phục chân chính của một quân nhân Pháp, hoặc theo thói quen lịch sự của một người dân Pháp khi dự đám tang? Dù sao cũng là một sự tuyên dương mà chính đối phương phải thừa nhận.


Sau này, hòa bình lập lại, đồng chí Ba Phấn, Trưởng ban Quân báo Khu 9 ở cả hai thời kỳ, đã xác nhận thành tích Liệt sĩ Huỳnh Văn Ngọc, nhưng không tìm ra dấu vết hài cốt của anh. Năm 1984, đồng chí Nguyễn Văn Phấn về hưu, ở nhà số 61, XVNT Cần Thơ có mời chị Hai Ngọc đến nhà, tôi gặp chị và được chị cho biết: Anh chị đã có 8 mặt con, chú lớn làm công nhân Vũng Tàu. Chị thì bán hàng ở chợ Tham Tướng, và đồng chí Ba Phấn nói thêm: "Được nhân dân tín nhiệm chị được bầu vào Hội đồng Nhân dân Phường".


Từ đầu năm 1950, Chi 50 đã tăng viện cho tôi hai nhân viên. Một là Lý Trường Nhơn, hai là Lý Trường Thọ. Tôi thấy Tổ công tác nặng nề thêm, nên tôi tách Phạm Ngọc An (Tuấn Khanh) ra hợp với Nhơn, Thọ làm thành Tổ Điệp báo riêng, không dính líu gì nhau về nghiệp vụ. Nhơn và Thọ đều có tình bà con bên ngoại của Nguyễn Ngọc Thơ, Tỉnh trưởng Long Xuyên. Sau này, Tuấn Khanh theo đơn vị 19è BVN, Tiểu đoàn cơ động của Z.O. về đóng tại Sóc Trăng, thì Chi 50 có cử cán bộ khác theo dõi. Nhơn và Thọ không biết lý do gì lại vào binh sĩ ngụy quân, lại có mặt trong Tòa án binh Pháp xử những vụ án những nhân viên Quân báo bị bắt ở Cần Thơ năm 1952-1954. Hòa bình lập lại, cả ba đều là sĩ quan ngụy quân (An là Đại úy Ban 4 sư 21, Thọ - Thiếu tá trong trung tâm truyền tin 7 của Mỹ, Nhơn - Đại tá tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Bình. Cả ba đều đi học tập cải tạo, riêng An thì có giấy xác nhận của anh Ba Phấn, chứng nhận thành tích trong 9 năm kháng chiến chống Pháp). Đến nửa năm 1950, cơ quan cử ra tăng cường cho Tổ tôi hai đồng chí: Năm Danh (Võ Văn Danh) và Ba Phương Nam (Nguyễn Phương Nam, bí số T.D.6, nguyên là cán bộ Quân báo Khu 8, đã được Quân khu 8 giới thiệu sang Khu 9 để cùng phối hợp nắm địch tình của Z.O. có liên quan đến khu 8 để trực tiếp thông báo, báo cáo nhanh về Khu Cool. Nhắc lại một tình tiết khá buồn cười. Tôi hỏi Phương Nam:

- Tôi làm việc đó giúp anh, thì anh sẽ đổi lại cái gì?

Phương Nam trả lời:

- Tôi sẽ cho anh công thức mực bí mật của chúng tôi.

Thế là anh cho tôi biết sử dụng "ngũ bội tử" làm mực bí mật để chống lại công thức "Teinture iodée" của Pháp dùng để phát hiện mực bí mật của ta. Tôi nhớ lại một câu trong sách giáo trình "décriptement" (phát hiện mật mã) của 2è B. Pháp: "Toutes les encres magiques sont révélables à la teinture d'iode".


Còn nói về nghiệp vụ kỹ thuật Tình Báo tôi chỉ là loại ếch nằm đáy giếng, nên được tăng cường thêm hai đồng chí tôi thấy càng thêm sức mạnh. Thế là Tổ điệp báo chúng tôi thành lập được một tổ Đảng, bầu đồng chí Phấn (đảng danh Nhất Thanh) làm tổ trưởng, đồng chí Phương Nam, Chi ủy viên, thay mặt Chi bộ C.50 chỉ đạo công tác Đảng. Đồng chí Nguyễn Văn Danh, đảng viên. Tổ Đảng họp mỗi tháng một lần kể cả công tác chuyên môn và kiêm luôn thư ký tổ Đảng để viết báo cáo về cơ quan bằng mật mã, tuy là một quần chúng, tôi vẫn luôn luôn nhắc các đồng chí đóng Đảng phí mỗi tháng 1 đồng bất kể chức vụ lương bổng thế nào. Thật ra chi phí công tác chuyên môn, cơ quan cung cấp cho 300 đồng/tháng, nhưng tôi bàn với chị Lang (vợ anh Tám Miêng phụ trách thơ ký cơ quan) nên giữ lại để tăng thêm sinh hoạt phí cho anh em thương bệnh binh, còn toàn bộ tiền lương của tôi do Pháp trả, kể cả lương cơ bản và phụ cấp gia đình vào khoảng 800 đồng Đông Dương lãnh về xong, tôi giao tất cả cho nữ đồng chí Phân để lo toàn bộ chi phí cho công tác chuyên môn cùng như sinh hoạt gia đình. Lần nào cũng vậy, nhận tiền xong, đồng chí Phấn lật ví tôi ra xem, nhét lại 100 đồng và nói: "đề phòng đạp bể bánh tráng". Tôi hết lòng cảm kích về cử chỉ tế nhị ấy. Thật tình, trước tình hình công việc đa đoan, tôi không quan tâm đến đồng tiền, vì làm cho ra tiền, không phải mục đích cuộc sống của suốt đời tôi.


Một người dân nô lệ, ở tận đáy cùng của xã hội thực dân nửa phong kiến chịu ba tầng áp bức, từ ba đời nay, không ngừng đấu tranh để mong thoát khỏi cảnh xiềng xích, được mở mày mở mặt với năm châu. Và đó cũng là mục đích cuộc sống của những người lính Cụ Hồ từ thuở 9 năm, không phải chỉ có riêng tôi. Hơn nữa ở hoàn cảnh của tôi lúc đó làm ra đồng tiền thật quá dễ, cái khó là làm sao đừng để đồng tiền mua được lương tâm con người. Một chiến sĩ vệ quốc đoàn mà lãnh lương của giặc trong khi làm nhiệm vụ cho mình, tôi thấy đồng lương đó chỉ là một chiến lợi phẩm. Cá nhân tôi không có quyền vi phạm. Vì vậy, tôi thấy nhẹ người khi mỗi tháng lãnh lương về, giao lại cho đồng chí Phân trực tiếp có trách nhiệm phân phối, chi xuất.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM