Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:41:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7879 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #80 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:09:54 pm »

Đã từ lâu tôi ước ao được trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tôi đã để lỡ cơ hội lúc còn tuổi thanh niên có bạn bè chí cốt khuyên mình. Tự kiểm lại cũng phải. Lúc đó mình chưa chín. Nhớ lại câu nói của anh Vịnh (tức Nguyễn Chí Thanh) mắng mình: "Mi là thằng đầu bò, bần cố nông mà không có quan điểm giai cấp". Cũng đúng. Vì vậy thời kỳ hoạt động cách mạng từ 2/9/1945, mới thật sự là giai đoạn tự giác cách mạng giải phóng dân tộc, đáng ghi nhớ. Về mặt ý thức hệ, cho đến tháng 4/1947, tôi vẫn còn nửa tin có Chúa, nửa tin có Ông Bà. Nhưng sau cái chết của vợ tôi (15/4/1947) lại bị Nogret thẩm vấn một cách oan ức. Tôi thấy không thể tin ở sự công minh của Chúa trên cõi đời nầy được, nhất là trong công tác Tình báo. Đối với một kẻ thù nham hiểm cần phải có một tổ chức chặt chẽ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước dân tộc mới đánh bại được. Cũng từ quan điểm đó, tôi đã mạnh dạn trước câu hỏi Nogret (1946): "Chúng mày thấy Việt minh hơn ta ở điểm nào?". Trong lúc bộ hạ Nogret còn phân vân, tôi đáp không do dự: "Việt minh hơn hẳn ta (quân Pháp) ở vấn đề tổ chức". Nogret gật đầu thừa nhận. Làm việc ở phòng nhì không hiếm tài liệu sách báo Việt minh để đọc, nghiên cứu, dịch thuật cũng từ đó. Lý luận giai cấp, lý luận cách mạng của tôi cũng được mài sắc thêm và ghi chặt vào tâm khảm: "Không có lý luận cách mạng, thì không có phong trào cách mạng. Không có giai cấp tiền phong thì không có Đảng tiền phong". Có lẽ trong tổ Đảng Chi bộ 50 hồi đó, tôi là một quần chúng nắm vững lý luận cách mạng cũng như các nguyên tắc tổ chức Đảng hơn các đảng viên Tổ Thanh/Chi bộ 50. Không trách họ được. Điều kiện hoạt động bí mật trong lòng địch, không cho phép các đồng chí ấy được cái may mắn như tôi. Cũng vì vậy nên vào cuối năm 46, nhân dịp Thanh Nguyên cùng tôi ra vùng kháng chiến (hình như ở rạch Tràng Tiền). Thanh Nguyên hỏi tôi có muốn vào Đảng Dân Chủ không? Nếu muốn sẽ cùng anh tìm gặp anh Châu  (hình như là Xứ ủy Dân Chủ) để xin gia nhập. Không tiện thổ lộ thầm kín của lòng mình, dù đối với bạn thân. "Thôi mình chỉ muốn độc lập, không muốn vào Đảng phái nào cả". Hai Tắng (Thanh Nguyên) nhìn tôi thông cảm, không rủ rê nữa.


Tôi biết rõ thời kỳ đó (năm 1950) Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố đóng cửa. Đợt năm 1949, đồng chí Phấn được gọi về Ông Đèo để kết nạp, là đợt vét trước khi Đảng đóng cửa. Tôi mừng là ít nhứt tiểu đội Thanh cũng có một người nhận được vinh dự đó. Nhưng tôi cũng suy nghĩ về phần mình: không được vào Đảng. Thế là hết hy vọng! Thôi thì ta cứ nhắm theo tiêu chuẩn đảng viên mà sống và hành động làm một người ngoài Đảng, hết lòng vì Đảng mà chiến đấu cũng tốt. Tuy vậy, đôi lúc nằm bên cạnh vợ (đồng chí Phấn) tôi cũng tâm sự: có lẽ nếu anh là anh đạp xe lôi thì dễ được Đảng tin tưởng hơn. Cũng may, công việc dồn dập, không cho phép tôi giữ mãi những phiền muộn trong lòng. Dù sao Chi bộ 50 cũng đã chấp nhận yêu cầu của tôi từ trước: xin Chi bộ cử ai ra đây một Chi ủy viên để trực tiếp lãnh đạo công tác điệp báo. Tôi xin lấy đầu tôi đảm bảo, an toàn tính mạng cho đồng chí ấy. Yêu cầu ấy đã được đáp ứng: chẳng những tôi có một Chi ủy viên lại có một tổ Đảng bên cạnh để giúp đỡ. Là một tổ trưởng chuyên môn được sinh hoạt Đảng nhưng còn ở ngoài Đảng. Tôi chỉ đặt rõ vấn đề trước tổ Đảng. Vì mỗi tháng chúng ta chỉ họp một lần có chuyên môn và cả nội bộ. Vì vậy, tôi đề nghị:

- Về công tác Đảng tôi chỉ có quyền đề nghị, không có quyền biệu quyết. Nhưng về công tác chuyên môn tôi có trách nhiệm báo cáo tình hình khó khăn, thuận lợi để xin ý kiến tổ Đảng. Nhưng tôi xin có quyền quyết định tối hậu. Tổ Đảng đều nhất trí tán thành. Và, quả thật, tổ Đảng cũng như từng đảng viên đều là cố vấn đắc lực của tôi trong công tác chuyên môn, giúp đỡ, bảo vệ tôi trong công tác và cuộc sống. Và niềm tin vào tình cảm cách mạng của tập thể đó đã tạo nên những thành quả sau này trong công tác điệp báo của tôi.


Trong những người đó, hiện nay đồng chí Danh trẻ tuổi nhất, đã không còn nữa. Trước ngày đồng chí mất, tôi đã được gia đình nhắn tin: Danh đang hấp hối, đang chờ tôi. Hỡi ơi! Lúc đó tôi đang bị thấp khớp cấp tính, mắt cá sưng phù không đi được! Đành phải lỗi hẹn với người em. Cậu Năm Danh, chắc các con tôi vẫn còn nhớ. Tôi còn nhớ rõ, Năm Danh với thành phần nông dân, trình độ văn hóa chưa hết cấp 3, thân hình chưa đầy 1m55 với đôi mày xách ngược, vẫn xông xáo đi vào các vùng đầy nguy hiểm, không chút do dự. Danh sống chung cùng gia đình, coi như em vợ, vừa làm liên lạc, trinh sát vừa bảo vệ tôi, phát hiện những kẻ khả nghi cho tôi biết.


Về mặt tổ chức rút kinh nghiệm ở Cần Thơ, tôi đã tổ chức thêm những địa điểm dự phòng khi bất trắc, Danh đã giúp tôi làm việc đó. Ở đầu vào thị xã Long Xuyên, tôi có cái lều tranh của anh Năm Nghinh, một lái xe đò chuyên nghiệp, lái xe Thành Long, ở bên kia sông, phía gần bến đò, tôi có nhà anh Hai Hoàng, vùng PGHH Nguyễn Giác Ngộ, có thể làm nơi ẩn trú khi tổ chức ở Long Xuyên bị phá vỡ. Tôi đã xin giấy 2è B do Trung úy Labrousse cấp phát cho cả hai. Thực tế tin tức do mình tôi phịa ra.


Một địa điểm thứ ba nữa là nhà chị Tư, vợ Chín Đức (Lê Trí Đức vợ là Đỗ Thị Phận) số 3 Lý Thường Kiệt, nay là 308 Lý Thường Kiệt, đang kháng chiến ở vùng giải phóng Rạch Giá. Ở ngay nhà 36 Lê Lợi làm nơi hội họp tổ Đảng khi cần thiết. Nhà chị Tư cũng là nhà đồng chí Phương Nam tạm trú tại Long Xuyên. Sau giải phóng, đồng chí Phương Nam cũng làm giấy xác nhận cho anh chị Chín Đức. Hiện nay anh chị đã sang sống với con gái ở Úc, vì ở quê nhà anh chị đã già, không đủ sống. Tôi nghe có đồng chí đã nói: "Đói thì cạp đất mà ăn, không nên bỏ Tổ quốc mà đi". Nhưng tôi vẫn tin, anh chị Chín Đức dù ở đâu cũng không quên căn nhà sàn lót ván mọt ăn dựng trên ao tù nước đọng quanh năm ấy. Thực tế dù muốn cạp đất mà ăn cũng không có chỗ tìm ra đất để cạp! Tuy nhiên nhớ cảnh quê hương, anh chị đã xin trở về nước ngày 17/1/1989.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #81 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:10:30 pm »

Thời kỳ năm 1950, cả S/Secteur Rạch Giá và S/Secteur Sa Đéc đều trực thuộc Secteur Long Xuyên. Vì vậy những cuộc hành binh ở hai S/Secteur đó đều tập trung tài liệu bắt được về 2è B. Secteur Long Xuyên để sàng lọc. Các phiên dịch viên đều bu vào lục soát các bao bố hồ sơ Việt minh. Do có ý thức từ trước nên tôi chỉ lướt qua đầu đề giành lấy về mình những tài liệu quan trọng nhất. Trong tài liệu S/Secteur Rạch Giá đưa về, tôi phát hiện thấy một đống hồ sơ lý lịch cá nhân có ảnh chụp từng người. Kiểm tra lại, đó là hồ sơ nhân sự của Đại đội thành Rạch Giá bị bắt tại xã Vĩnh Thanh Vân (Rạch Giá). Có đến khoảng trên 20 lý lịch có dán ảnh. Tôi suy nghĩ: tay nào chỉ huy công tác thành cũng khá chủ quan khinh địch, hoạt động thành mà cũng bắt chiến sĩ chụp ảnh dán vào lý lịch kê khai đủ cả ba đời! Tôi nhét cả tập hồ sơ vào ngăn kéo để dành trả lại cho cấp chỉ huy đơn vị ấy. Mang cả tập hồ sơ dây cộm đó trả lại cho cơ quan nguyên vẹn, Danh đã làm công việc đó trót lọt "Châu về hợp phố". Một lần khác, tôi lật trong đống tài liệu, bắt gặp một bản "Tổng kết chiến dịch Cầu Kè" dầy cộm, gần 300 trang đánh máy, đóng lại thành tập, có chữ ký của các cấp chỉ huy tham dự, cũng do Danh mang về giao lại cho Chi 50. Nhưng đáng nhớ là tài liệu Ty Công an thị xã Sa Đéc. Tài liệu có đầy đủ hồ sơ lý lịch và địa chỉ của 26 mật hộ viên của Công an thị xã Sa Đéc. Tôi tìm cách ngâm tôm trong ngăn kéo, chờ khi nào Labrousse hỏi đến sẽ kéo ra dịch dần. Trong lúc đó đồng chí Phương Nam bàn với Danh, sang ngay Sa Đéc kiếm gặp từng hộ để báo động trước và định cách đối phó. Một hộ bỏ ra 300 đồng nhờ Danh mua lại hồ sơ. Tôi mỉm cười, nếu mua thì mua cả 26 hồ sơ, mua một cái nhằm nhò gì! Tôi thấy trong đống hồ sơ có hồ sơ Bác sĩ Ngởi (người mà tôi đã nhìn thấy bổ cam cho con gái mời các sĩ quan 6è RIC lúc bọn 2è. Bataillon đổ bộ đánh vào Sa Đéc năm 1946).


Tôi suy nghĩ, trong cuộc kháng chiến toàn dân lâu dài này, mọi người đều có cơ hội đóng góp công sức của mình, không loại trừ ai cả! Dù sao, cũng là một gia đình trí thức. Lâu ngày Labrousse không hỏi đến, tôi cho toàn bộ vào thùng đốt giấy vụn. Thời gian chiến dịch Long Châu Hà II có cuộc vận động để cho PGHH, phe Nguyễn Giác Ngộ (Quản Ngượt) trở lại chiếm đóng vùng Chợ Mới. Có một hôm, tôi thấy có hai sứ giả của Huỳnh Văn Trí (Sư thúc HH) cầm giấy giới thiệu của Tiểu đoàn 356 (Tiểu đoàn Mười Trí) đến gặp Labrousse, trong hai người có một người biết nói tiếng Pháp, nên tôi khỏi vào làm phiên dịch. Gặp chừng 20 phút, Labrousse ra nói tôi làm giấy laissez-passer cho hai sứ giả về Cái Vồn để gặp Năm Lửa. Tôi không quan tâm đến hoạt động của Quản Ngượt, một tên quản khố xanh thời Pháp thuộc, nên không cần theo dõi kỹ. Chẳng bao lâu thấy có những cuộc hành quân của Năm Lửa vùng Mỹ Hội Đông để vơ vét lúa ruộng, và mấy lần viên Trung tá Soreau chỉ huy Secteur Long Xuyên muốn tìm gặp Năm Lửa và Năm Lửa cứ trốn tránh mãi. Ngồi trên chiếc ghế bành dang chân ra cho tên lính đánh giày, Năm Lửa cầm cái bàn chải đánh răng nhúng cosmétic chăm chú vuốt lại hàm râu ngạnh trê, tiếp tôi ở Tổng hành dinh Hòa Hảo ở Long Xuyên (Bình Đức, gần bờ sông Hậu), vừa cười vừa nói: "Ông coi tôi với ông quan Năm như hai người chạy vòng quanh cối xay. Tôi về Cái Vồn, ổng lên đây, tôi lên đây ông ấy về Cái Vồn. Thôi lúa thóc gặt hái xong xuôi ta lại tổ chức hội nghị". Tôi hiểu khá rõ, viên "tướng dốt" Hòa Hảo nầy, qua tài liệu tình báo của Lacroix, qua những nguồn tin đáng tin cậy của ta, trong "Mission de liaison Hòa Hảo" và qua những trận đụng độ nẩy lửa giữa các nhóm Hòa Hảo với nhau để giành quyền giựt thu lúa ruộng của nông dân, để phân chia khu vực chiếm đóng, chia xẻ tiền trợ cấp hàng tháng của quân đội Pháp cho lực lượng bổ túc. Cuộc hội nghị được tổ chức tại một nhà ở cù lao Ông Hổ (Mỹ Hội Đông) để bàn giao địa bàn chiếm đóng lại cho lực lượng Nguyễn Giác Ngộ đã tổ chức khá linh đình, có rượu sâm-banh, có món ăn tàu, như cháo Hải Sâm, chè Yến xào, chạo tôm bọc vi cá, mà lần đầu tiên tôi được nếm tới. Nhưng tôi không còn có tâm trí nào đế thưởng thức các hương vị của từng món ăn. Đầu óc tôi làm việc khá căng thẳng, vừa nghe để nắm ý từng quan khách vừa dịch cho Đại tá Duque nghe để chuẩn bị câu giải đáp thích hợp. Quan khách tham dự vào khoảng 100 người, toàn Ban tham mưu Sa Đéc, các Ban tham mưu Năm Lửa, Nguyễn Giác Ngộ đều có mặt. Khách Sài Gòn xuống có Đại tướng Lê Văn Ty, Tổng tham mưu trưởng quân đội bù nhìn. Chức tư lịnh đều thuộc quyền của Pháp. Lực lượng bổ túc đều thấp hơn quân lực bù nhìn cả về chức vụ cũng như lương bổng, mặc dù cấp bậc ngang hàng.


Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ cũng có mặt. Đại tá Duque đứng lên nói vài lời động viên lực lượng bổ túc của Ngộ và khuyên PGHH giữ đoàn kết để chống Việt minh. Tôi cố huy động vốn dự trữ về tiếng Pháp để dịch đúng từng câu, cho đến khi tiếng vỗ tay nổ ra tôi mới biết là nên kết thúc vì ai cũng muốn được ăn hơn là nghe nói nhảm. Xong tiệc, khách đều được mời xuống chiếc ca-nô của Tỉnh trưởng Thơ cùng Ngộ đi dạo một vòng quanh khu vực huyện Chợ Mới, trước khi ra về. Vì ca-nô chật, nên Quản Ngượt đứng sau lái, bên cạnh tôi. Hai bên bờ kinh rải rác có bàn thờ và trần điều, vài ba ông chức sắc đạo Hòa Hảo đứng túc trực như đã có sắp đặt trước. Họ nhìn xuống ca-nô có vẻ hiếu kỳ hơn là trọng vọng. Ngộ đưa tay chỉ lên bờ bảo tôi: "ông thấy đó, họ mong đợi tôi về như là mong mẹ đi chợ". Tôi cười xã giao, trí óc tôi nhớ lại trong sổ tay mà Trung tá Soreau để lật ngửa trên bàn giấy hồi ban sáng ở văn phòng chỉ huy Secteur Long Xuyên. Trong trang sổ nhỏ, Soreau chỉ ghi gọn một câu: "Nhớ 20.000 đ cho Nguyễn Giác Ngộ" (20.000$ pour Nguyễn Giác Ngộ). Đúng là món quà mẹ mìn Pháp cho đứa con cưng quản khố xanh mang quân về đầu thú. Tôi chăm chú nhìn. Đứng gần, với cái nón lông chim chằm theo nón Huế, có chóp bạc, với chòm râu dê phất phơ trước gió, với cái áo the dài phủ đầu gối, với cái quần trắng phủ trên đôi giày hạ, tôi trông Ngộ giống như một viên cai tổng hồi trước ở quê tôi đang đi đốc thúc thu thuế thân, hoạnh họe với dân, xun xoe trước quan. Thói đời và thói tục cũng khá ăn sâu, bén rễ vào phong cách con người đó.


Vụ mùa vừa gặt xong, lúa gạo đã bị Năm Lửa đem ghe lườn chở hết về Cái Vồn, để lại cho Ngộ cánh đồng trơ gốc rạ, chỉ còn hy vọng ở vụ mùa sau.

Trước cuộc hội ngộ giữa Lửa - Ngộ bắt tay nhàu, Secteur Long Xuyên cũng đã cho mở cuộc hành quân càn quét ở làng Hòa Hảo, nơi Thánh địa Tổ đình của Huỳnh Phú Sổ. Cuộc càn quét cũng khá hòa bình, không có tiếng súng nổ. Tôi cùng Labrousse vào trong một căn nhà lá dừa nước, năm gian khá bề thế, trở mặt về phía Vàm Nao. Chủ nhà là một cụ già nông dân, râu đen dài và rậm, vẻ phương phi khỏe mạnh. Hỏi ra mới biết là Huỳnh Công Bộ, gọi là Hương Cả Bộ, cha đẻ của Huỳnh Phú Sổ. Cuộc càn quét diễn ra khá êm đẹp, không đốt nhà, giết người cướp của, nhưng vẫn bắt theo 40 người, trong đó có cả Huỳnh Công Bộ, vài ngày sau, tất cả 40 tín đồ PGHH kể cả ông Gả Huỳnh Công Bộ được thả về; vì xét ra không có cớ gì giam lại những người nông dân hiền lành kia nhưng vì một lẽ khác quan trọng hơn là do nhà hát Nam Xương đã chật ních không thể nhốt vào đâu được. Việc làm đúng lẽ phải đó lại gây uy tín thêm cho tôi. Đồng chí Danh cho tôi biết: Đại diện Huê (đại diện PGHH ở Long Xuyên) nói: "ông ấy" (chỉ tôi) là một Phật sống. Thật ra do tình thế bắt buộc, chứ chẳng phải do tấm lòng nhân đạo bác ái của một ai, càng không phải của riêng tôi. Nhưng trong môi trường hoạt động như thế của tôi, dư luận ấy vẫn có lợi cho nghiệp vụ tình báo của tôi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #82 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:11:11 pm »

Chuyện đã đến phải đến. Tôi cũng lấy làm lạ, từ hai năm, bước chân vào vùng đất lạ 80% Hòa Hảo, 20% các giáo phái Thiên Chúa, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa v.v .. mà tôi vẫn sống yên lành, không bị ai quấy nhiễu. Hằng ngày vẫn 4 lượt đi về với chiếc xe đạp Alcyon sơn màu đen cũ kỹ của cụ Giáo gác không trên giàn bếp, được hạ xuống sơn phết tu sửa, tân trang lại làm phương tiện đi lại, từ đường Lê Lợi sang cầu Đúc (cầu Henri Rivière) quẹo về chợ Long Xuyên, dừng chân trước dinh Tỉnh trưởng cũ là nơi có sở làm để đến tan giờ làm việc, lại lững thững đạp xe về, mắt vẫn đảo nhìn quanh trước khi lên yên. Ở Cần Thơ, tôi chưa bao giờ cảnh giác đến vậy vì yên trí có sự đùm bọc của đồng bào, từ bến xe, tiệm cà phê, quán phở đâu đâu cũng trao đổi những tin tức kháng chiến thắng lợi gần như công khai. Còn Ban hành động, thậm chí cả Công an xung phong kể như người nhà. Còn ở Long Xuyên không khí khác hẳn. Đồng bào đi chợ, đi xe đò không ai hở miệng nói Việt minh hoặc kháng chiến, sợ bị thiệt thân. Cũng trong năm 1950, có hai sự cố làm tôi cảnh giác thêm. Một hôm Labrousse biểu tôi qua hỏi cung một tên thanh niên bị bắt và bị tra tấn ở sở lính kín Long Xuyên mà tên chánh mật thám là tên Tây lai I-pha-nho từ đời ông nội. Hắn cũng có vẻ mặt khá đẹp trai, tròn trịa, hắn tên là Ignatio, vợ hắn đang chung dãy nhà với chúng tôi, nguyên là vợ một chủ tịch Việt minh đi theo kháng chiến. Tôi nhìn lên cửa sổ, vợ tôi đang cùng vợ Ignatio sánh vai cùng nhìn qua cửa sổ. Bên dưới cửa sổ, một cảnh tượng rùng rợn làm tôi thót tim, hai tên lính kín đang đè một thanh niên, khoảng chưa tới 20 tuổi, lấy miếng khăn lượt chằng cái đầu và bịt cái miệng há hốc của nạn nhân xuống chiếc ghế dài, đầu ngửa ra sau, một tên khác vác một thùng sắt tây đầy nước xà phòng đổ nước vào miệng, mũi nạn nhân. Thanh niên quẫy người vặn mình, những tiếng ặc ặc sặc nước nhưng rõ ràng không thể tránh khỏi đòn tra tấn mà chúng gọi là "cho đi tàu lặn" đó! Bất nhẫn quá, tôi thét lèn: "Thôi, đủ rồi". Mọi người ngừng tay. Riêng tên đổ nước còn tiếc rẻ "Ông Một ơi, nhằm nhò gì tụi nó, cho mười thùng nữa nó cũng chưa chịu cung khai". Tôi cầm lấy bản khẩu cung của Ignatio đã làm, để một lát cho thanh niên ọc hết nước trong bụng ra, rồi tôi chậm rãi hỏi:

- Đây là chữ ký của anh?

- Phải

- Anh ở bộ đội Ba Cụt?

- Phải
   
- Anh có tham dự trận phục kích giết chết ông quan Tây?

- Dạ có

- Thế là rõ.

Trong người tôi hai ý nghĩ đang giằng co. Cứu người hay không cứu người? Tôi liếc nhìn chàng thanh niên ấy không phải là Việt minh để tôi có thể tập trung trí tuệ tìm cách giải thoát, như tôi đã làm ở Cần Thơ! Ở đây, chỉ là một lính của Ba Cụt, một tên tướng giặc sớm đầu tối đánh. Cái cố gắng duy nhất của tôi đối với chàng thanh niên bất hạnh đó là tôi đã ngăn không cho bọn đầu trâu mặt ngựa trong sở lính kín Long Xuyên tra tấn chàng ta, để chờ chỉ thị của Đại tá chỉ huy Secteur.


Ngay sau khi Secteur ra lịnh cho giải tội phạm về giao cho Trung úy chỉ huy Quartier Thốt Nốt giải quyết. Tôi hiểu ngay: một kiểu hành quyết lén như Trung úy Massart chỉ huy lính đầu đỏ ở Cần Thơ thường làm ở Tham Tướng. Chỉ 15 phút sau, đại diện Huê đã tìm đến hỏi tôi. Thấy gương mặt sần sùi đầy mụn của viên đại diện PGHH ở Long Xuyên vừa ló vào cửa phòng, không đợi hỏi, tôi đã nói trước: "Giải về Thốt Nốt rồi, đi mau may còn kịp". Tôi không sợ bị Labrousse khiển trách là: để lộ "Secret militaire" (bí mật quân sự) mà chỉ sợ tổ Đảng phê bình hữu khuynh trong công tác chuyên môn.


Sự cố thứ hai, cũng xảy ra vào buổi sáng. Tên lính Pháp chuyên môn xin làm đầu bếp cho bọn sĩ quan Pháp ở Long Xuyên sắp đến ngày xuống tàu trở về Pháp. Từ khi bước chân sang đây, hắn chỉ năn nỉ cấp chỉ huy được khỏi ra trận, dù không thăng cấp cũng không ham, chỉ mong được bảo toàn tánh mạng để trở về quê hương nguyên vẹn. Hắn làm đầu bếp, suốt thời gian hơn hai năm, tuổi chưa đầy 30 mà mập tròn, bụng phệ và đi đâu cũng khệ nệ cái ceinturon bằng vải bạc Mỹ với khẩu súng colt 12 còn mới nguyên ở bên mình. Hôm ấy, sáng sớm hắn đi chợ, đi ngang cầu đúc, khẩu súng hấp dẫn kệ nệ bên hông, một thanh niên 15-16 tuổi, bận quần đùi, tay cầm dao con chó, bỗng xông đến đâm vào bụng hắn, định giựt khẩu súng, bọn lính Miên đi đàng sau xông tới xúm bắt hung thủ. Tên lính Pháp được chở đến trạm quân y, vết dao đâm thủng bụng chỉ 2cm, lòi mỡ, không có phương tiện phẫu thuật, cho xe cấp cứu chở về Cần Thơ, chỉ hôm sau được tin hắn đã chết! Tôi được Labrousse phái đến đồn lính đóng ngay đầu cầu đúc, bên phía Bình Đức. Cái lô-cốt cũ kỹ xây từ thời Tây bằng đá lúc mới sang đây. Bước vào sân dòm thấy một đám lính Miên, đang bu quanh một chú bé nằm sóng soài trước cửa. Người ta chỉ cho tôi. Tôi đến gần, nhìn chú bé sắp chết, hai tay chân xõng xoài dang rộng, cái ngực còn nhấp nhô thoi thóp, nhưng nhìn lên đầu, tôi cố kềm không cho xúc cảm lộ ra ngoài mặt thật đáng thương tâm. Bê bết máu, cái đầu bị các viên gạch đập vào, xương sọ nát ra từng mảnh, còn bó chặt lại nhờ lớp da và mái tóc xanh bê bết máu. Một tên lính hung ác còn lấy viên gạch gõ vào đầu từng nhịp. Một tên khác lấy ngón trỏ xỉa vào theo đà nhân của ngón tay. Miệng đầy máu và nước giải. Con mắt mở trừng không hề mấp máy... Thấy tôi ngồi xuống, bọn lính đều ngừng tay. Không một tiếng rên la khe khẽ, tôi hiểu ngay: mọi cảm giác không còn nữa! Sự nhấp nhô ở lõm ngực chẳng qua là phản xạ của thân con ếch bị chặt đầu. Hỏi cung gì nữa? Hỏi ai đây? Tôi rất ghét cái tục lệ cho "cho một phát súng làm phước" (Coup de grâce) của bọn đao phủ Pháp. Nhưng trong lúc đó, tôi ước ao được cho em bé một viên đạn vào đầu cho sớm về chầu tiên tổ. Nhưng tôi biết tôi không hề mang súng lúc ra đường. Một thói quen tốt vì tôi đã xác định rõ: Người chiến sĩ Tình báo chỉ có thể căn bản chiến thắng quân thù bằng tâm trí mà thôi. Có súng chỉ gây tư tưởng ỷ lại, thiếu cảnh giác. Tôi về báo cáo lại cho Labrousse biết: "Tôi không lấy được khẩu cung vì đó chỉ là cái xác chết! Không rõ họ tên quê quán, đảng phái, nhưng chắc chắn không phải là Việt minh vì Việt minh không làm liều mạng như thế!". Trước lịch sử, những oan hồn đó không thể bị ghép tội. Họ chỉ là nạn nhân, không thể là tội nhân. Mài sắc cảnh giác là khẩu hiệu nằm lòng của người Tình báo viên. Nhưng không phải là không có lúc sơ hở, nhất là lúc ở nhà có vũ khí bên mình.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #83 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:11:47 pm »

Hôm ấy, vì theo sự phân công trong Tổ để đảm bảo bí mật tuyệt đối mọi báo cáo về cơ quan (kể cả nội bộ) đều phải do tôi viết ra toàn văn ghi mật mã, và chép bằng mực bí mật (lúc đó là ngũ bội tử) ngụy trang dưới một hình thức nào đó thích hợp cho người mang đi, đốt sạch các bản thảo, bóp vụn tro cho vào bếp lò, không thể nhờ một ai khác làm giúp được. Bản khóa mật mã do tôi sáng chế, thay đổi hằng ngày, chỉ có hai người được biết: Tôi và Huy Quỳnh. Vì vậy, mỗi khi có tài liệu quan trọng của địch, tôi cần nhớ nội dung nguyên bản bằng tiếng Pháp (có bản đọc qua vai Labrousse) về nhà lầm lì không chào hỏi ai, không ăn cơm, lên lầu một mình, đóng sập ván đậy cầu thang gác, lấy giấy bút ra, cố tái hiện lại nguyên văn, rồi cặm cụi dùng mật mã ghi lại toàn bộ, xong mới thở phào nhẹ nhõm. Vì cách làm việc như thế nữ đồng chí Phấn cũng rất quan tâm bồi dưỡng sức khỏe cho tôi, và coi chừng cửa cho tôi đừng ai quấy rầy. Hôm đó, sau một lúc đầu óc căng thẳng làm việc cho đến 12 giờ khuya mới xong, tôi uống một cốc sữa đã pha sẵn, rồi cầm lấy khẩu súng lục phòng thân, giở nấc thang xuống nhà dưới, đặt súng dưới gối, mặc đồ, ngủ một mạch bên cạnh đồng chí Phấn. Đồng chí Danh, như thường lệ ngủ bên cạnh cửa trước; đối diện với chiếc đi-văng gỗ chúng tôi nằm. Khoảng gần 2 giờ sáng, bỗng Danh đến lay tôi dậy:

- Anh Hai! Có trộm cạy cửa.

Mắt nhắm mắt mở tôi bảo Danh:

- Ôi kệ mẹ nó, để cho nó lục cơm nguội, chứ có gì mà lo mất.

Nói xong tôi tiếp tục ngủ. Chỉ một phút sau, Danh kéo tay tôi:

- Anh Hai ạ, có cướp!

Tôi vớ ngay khẩu sung dưới gối nhỏm dậy lắng tai nghe, có tiếng cạy cửa phía sau, cửa thống xuống nhà bếp, Danh cùng tôi bước nhẹ ra phía sau. Nhà bếp cất ngay phía sau, bề ngang bằng gian trước, cách gian trước một cái sân lộ thiên, rộng chừng 3m, cái cửa xuống nhà bếp rộng cỡ 2m50 bằng ván sao. Cái cửa cũ nhưng khá chắc. Hai cánh cử khép lại, có chốt sắt cài dưới, có thanh gỗ cài chắn ngang cho chắc chắn. Tuy nhiên, do căn nhà xây cất lâu năm, cho nên hai cánh cửa teo lại, nên tạo ra kẽ hở lớn, ở trong nhìn ra thấy ánh trăng. Có bóng ai thấp thoáng qua lại ở sân sau, tôi thấy cửa rung rinh và một bóng đen che kín vệt sáng trăng che phía dưới cửa, tôi chĩa súng ngay bóng đen bên ngoài, áng chừng ngay đúng ngực, con người đang cậm cụi cạy cửa. Danh cũng ngồi cạnh tôi, giằng khẩu súng muốn bóp cò, tôi nhẹ nhàng gạt tay Danh ra, vừa lặng lẽ suy tính: Nên hay không nên bóp cò? chừng một phút trôi qua, cửa có mòi lung lay. Chợt câu: "Thêm bạn bớt thù" của Bác Hồ, làm tôi lóe lên một quyết định táo bạo: Không! Vả chăng nếu kẻ gian có bật cửa vào nhà, thì tôi và Danh cũng sẵn sàng đánh bại chúng bằng tay không và thế mạnh của người chủ nhà, quen thuộc địa hình địa vật. Những thế võ cổ truyền về đao, côn, quyền học lóm luyện tập từ nhỏ vẫn chưa có đất dùng, nên tôi không ngại. Danh cùng có biết năm ba thế qua cử chỉ ứng phó lanh lợi của chú ấy hằng ngày. Hơn nữa Danh đang nắm trái lựu đạn trong tay, lực lượng kẻ thù không làm cho hai tôi lo sợ. Nhưng nữ đồng chí Phấn đâu? Vợ tôi dã lẹ làng vào trong buồng đóng cửa lại ngay từ đầu. Tôi hiểu tâm trạng đó của người phụ nữ. Đánh với kẻ gian trong nhà mình, nắm chắc phần thắng trong tay cũng không phải là thượng sách. Tôi chợt nhớ cái cầu thang lên gác thượng, ở cái ban-công dòm xuống sân lộ thiên. Tôi nắm tay Danh kéo về phía cầu thang, hai anh em lên thang gác, vợ tôi ló đầu ra cửa dòm ra cũng leo theo. Cả ba đã lên lầu trên, mở cửa ra ban-công. Tôi và Danh bò ra ngoài. Trăng sáng vằng vặc. Qua khoảng cách của các trụ lan-can dòm xuống, thấy rõ bóng dáng người đi lại dưới sân. Chúng tôi đang ở thế thượng phong ngay ở trên đầu chúng. Không nên giết người, tôi tự nhủ và hô to lên: "Đứng lại, giơ tay lên!". Hô xong, có lẽ chúng chưa kịp nghe rõ tiếng hô từ đâu vọng tới, tôi nổ luôn một phát chỉ thiên vào mái ngói nhà bếp "đoành". Sau tiếng nổ vài bóng người chạy vào trong bếp, để phóng ra sau mảnh vườn nhỏ, chỉ có đơn độc một cây vú sữa đỏ và một con đường độc đạo dẫn ra cầu tiêu và cái mương. Sau tiếng nổ, Danh cũng vụt luôn trái lựu đạn mãng cầu, Danh đã mở chốt an toàn cầm sẵn trên tay phải. Trái lựu đạn vòng qua nóc nhà bếp rớt xuống sau vườn, không có tiếng nổ, Danh xuýt xoa tiếc rẻ, trong lúc tôi mừng thầm. Tôi ước lượng khoảng cách của đường lựu đạn đi, và thầm khen cánh tay nhỏ thó nhưng gân guốc của người trinh sát khá thành thạo.


Nghe tiếng súng nổ và tiếng hô, cả xóm đều kêu nhau thức dậy. Đồng bào vẫn thường xuyên nơm nớp lo sợ lính Hòa Hảo vào cướp của. Chúng tôi thức tới sáng và tìm hiểu nguyên nhân, dự đoán hậu quả của biến cố mới. Không lẽ đại diện Huê lại phái người vào cướp của một người mà hắn cho là hiền như Phật sống? cũng không lẽ bọn ăn cướp lại không thăm dò trước tài chủ có tiền của gì đáng kể để vơ vét? Ở Long Xuyên chúng tôi sống khá đạm bạc, lối xóm đều biết. Hay là bọn 2è B. vô hình của thằng Trung úy Lebon? Trong lúc còn nghi ngờ, đừng vội kết luận. Đúng 5 giờ sáng hàng xóm đến hỏi thăm tình hình. Tôi rót nước mời uống, căn dặn mọi người đừng ra phía sau nữa vì còn trái lựu đạn chưa nổ.


Anh lính công binh Pháp ở đồn gác Bungalow (Cầu Tàu) trước nơi tôi ở không xa đến hỏi thăm và ra phía sau vườn dò tìm trái lựu đạn. Không đầy 5 phut, anh ta phát hiện trái lựu đạn nằm chình ình trên đống bùn nhão sát bên dường nhỏ dẫn ra cầu tiêu. Tôi ước lượng khoảng cách với ban-công chừng 40 bước, nếu nổ ắt bọn cướp có người toi mạng! Tôi không khen Danh về điều đó. Trước khi đi đến Sở, tôi phân công Danh đi tìm cho ra thủ phạm, và tìm được thì mời ngay về nhà. Tôi dặn: "Cậu cứ nói là ông Một Hiến mời uống rượu thôi". Hẹn cho Danh thời gian một tuần. Phần tôi đến Sở làm báo cáo cho Labrousse biết là tôi bị Việt minh tổ chức ám sát hụt và xin phép đem theo một cây mi về nhà tổ chức tự vệ cho cả khu phố, thể theo nguyện vọng đồng bào ở khu phố tôi, Labrousse tán thành và không nói cho tôi biết là hắn cho tổ chức một trận vây ráp nhỏ tối hôm đó, để quét sạch những phần tử khả nghi ở khu phố. Cuộc càn quét tiến hành vào 2 giờ sáng. Âm thầm lặng lẽ, binh lính đi quanh các vườn, không đập cửa một nhà nào, không một tiếng súng, không một người nào bị bắt. Tôi thầm cảm ơn Trung úy Labrousse về cuộc hành quân hòa bình ấy. Và, tất nhiên bà con khu phố cũng yên tâm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #84 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:12:39 pm »

Chỉ hai ngày sau vụ ăn cắp hụt, Năm Danh đã cho tôi biết rõ thủ phạm: Hắn tên là Hiền, đại đội trưởng đại đội Hòa Hảo Năm Lửa. Hắn được đặc phái hoạt động ở thành phố Long Xuyên, và đến đây nhắm trước hết vào khu phố tôi để tống tiền, cướp của. Ngay tối hôm đó, Hiền đến nhà tôi để uống rượu theo lời tôi mời. Tôi mở rộng cửa chờ hắn. Trên bàn có sẵn một chai rượu Rhum Saint- James và 4 cái ly nhỏ. Một con người còn trẻ, không có vẻ gì là tướng cướp, cỡ tuổi Năm Danh thôi. Tôi mời hắn ngồi, hắn dạ rồi rón rén ngồi xuống ghế bành, đối diện tôi. Tôi rót ra 2 ly rượu đưa lên môi. Hắn cũng cầm ly nốc cạn. Hắn có vẻ cũng hiền như tên hắn thật. Tôi chỉ hỏi hắn một câu:

- Tại sao anh chọn nhà tôi mà đánh trước?

Hắn trả lời:

- Tôi cho nhà ông giàu và không có súng!

- Thế sau khi biết tôi có súng thì sao?

- Tôi cho là ông nhân đức, nếu ông bắn ngay thì tôi chết rồi.

- Đúng vậy, hồi anh đang vào tới ngạch cửa, mũi súng của tôi chỉ còn cách ngực anh năm phân, chỉ cần bóp cò. Nhưng anh biết tại sao tôi không bóp cò? Tôi nghĩ ngay sáng mai vợ con anh sẽ ôm xác anh mà khóc than. Và, tôi nghĩ xa hơn chút nữa: Cảnh đồng bào chém giết lẫn nhau, máu chảy ruột mềm. Ông bà ta thường nói vậy, anh có nghĩ như tôi không?

Anh ta gật đầu. Tôi rót đầy hai ly rượu rồi tiếp:

- Tôi mời anh đến uống với tôi chén rượu, chỉ cần anh nhớ kỹ cho điều này: anh tên Hiền, đừng làm chuyện gì ác, mỗi khi làm gì ác thì nên nhớ tới vợ con họ kêu la than khóc để dừng tay. Lần sau, nếu anh có gì cần gặp tôi, cứ tới gõ cửa trước, tôi sẵn sàng mở rộng cửa đón anh như hôm nay.

Tôi cầm ly rượu đưa lên, hắn cũng cụng ly với tôi. Từ ấy về sau, tôi không gặp lại người bạn rượu đó nữa. Dù sao, tôi cũng tin chắc, dù không phải là bạn, Hiền cũng không thể nào trở thành người tiếp tay cho kẻ thù của tôi nữa.

Để đảm bảo an toàn nơi ở cũng là nơi hội họp của tổ Điệp báo ở 36 Lê Lợi, tôi tiến hành thực hiện phương án bảo vệ tổ Đảng đã thông qua. Khu phố tôi ở, có hai gia đình có cảm tình với kháng chiến: ông Hữu một thầu khoán người Nam Định và ông Đốc, chủ sở lúa gạo cũng người miền Bắc. Tôi bàn với lối xóm mỗi tuần, đến chủ nhật là tổ chức ăn cơm chung một bữa, luân phiên từng nhà, riêng tôi vì nhà neo đơn, không có người nấu, dọn nên được miễn, nhưng phải có bổn phận tổ chức an toàn cho khu phố. Tôi nhận lời và đã giao việc đó cho Danh, Năm Danh sang bên kia sông tuyển chọn một thanh niên 19 tuổi tên Xê, về ở cùng tôi, lo việc canh phòng bảo vệ an ninh cho khu phố. Vũ khí lấy ở số súng bọn đầu thú đem ra nạp cho 2è B. Thực tế cũng chỉ một tiểu liên Mas và một súng Rouleau tôi đã đem về nhà. Khẩu Rouleau đã nổ phát đầu tiên để đẩy lùi tên Hiền khỏi vào cướp phá. Còn khẩu tiểu liên Mas tôi chưa biết tính năng tác dụng ra sao cả. Mang vác thấy nhẹ, băng đạn cũng nhỏ, nhưng nghe nói khi bấm cò, nổ lần 3 phát. Tôi đem ra thử ở ban-công nhắm vào ngọn lá sung trên cây bên nhà ông phán Phẩm ở bên cạnh. "Đoành" chỉ một cái nhít đầu ngón tay, ngọn lá từ từ rơi.


Tôi nghĩ bụng súng nổ chính xác một phát là được. Và, cất súng luôn, đó là phát súng cuối cùng tôi bắn ra, trong 4 phát súng, tôi đã bắn trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, với mục đích duy nhất là để thử súng. Phát súng đầu tiên là để thử cây Mauser, được sửa lại làm súng săn của Trung úy Cousson. Tôi nhắm vào cuống dừa, bắn đứt cuống dừa rụng trái, chó sủa vang. Tôi giật mình làm cho chó sủa, tất đồng bào hoang mang. Từ đó tôi trả lại cho Cousson không mang súng nữa, đó là vào đầu năm 1946. Lần thứ hai cơ quan (Chi 50, Cần Thơ) giao cho tôi cây Walter 6.35 (loại súng đánh ghen) để tự bảo vệ. Tôi chưa biết công dụng, nên đem bắn thử xuống nước, nhân dịp đi đánh cá trước dinh Tỉnh trưởng Long Xuyên. Tôi nhắm vào một chiếc lá trôi, cách chân chừng 3 bước, viên đạn nổ, nhưng chiếc lá vẫn trôi lững lờ. Thế là nòng hoặc nút ruồi cần phải chỉnh lại. Tôi giao cho Tuấn Khanh (An) chỉnh và giữ luôn để tự vệ. Tôi nghĩ, nếu cần tự vệ, thì An cần hơn mình. Từ ấy, An giữ luôn cây Walter. Sau này, gặp lại An năm 1983, An còn nhắc lại tôi về cây 6,35 đó. Ít nhất, nó cũng nằm yên cho đến khi hai miền hết giặc. Thứ ba là cây Rouleau tự tạo bắn bằng đạn Carbine, của một tên đầu thú mang nộp, tôi đã nổ một lần lên trời để thử và cũng để đuổi cướp. Thế là hết, một chiến sĩ tình báo mút mùa mà chỉ 4 lần nổ súng để thử súng mà thôi, thì kể ra cũng xoàng thật! Biết sao, tôi không phải là con người vũ khí luận, không ham súng, đừng nói tới là cầm súng dọa bắn ai!


Vào khoảng đầu Thu năm 1950, tình hình Mỹ can thiệp vào miền Tây ngày càng trắng trợn hơn, nhiều địa chủ ở Rạch Giá, có nhiều ruộng đất vùng giải phóng, vẫn đem giấy tờ lên Sài Gòn bán quyền truất hữu cho Mỹ. Tiếng vang về cuộc biểu tình chống Mỹ của sinh viên Sài Gòn vẫn vang dội xuống Long Xuyên. Một cậu con trai của con ông đốc Hanh nghỉ học ở Sài Gòn về Long Xuyên kể: chính cậu ta đã đâm một nhát dao găm vào lưng viên thiếu tá Pháp, ngồi trên xe jeep cản ngăn cuộc biểu tình. Sáng hôm ấy, vào khoảng 8 giờ, một sự kiện mới lạ chưa từng có đã xảy ra ở Long Xuyên, ngay lúc chợ đang nhóm, một chiếc trực thăng hạ cánh ngay miếng đất trống bên cạnh chợ, trong trực thăng bước ra hai sĩ quan Mỹ, cao lòng khòng, bận áo quần kết liên (combinaison) rảo bước tiến về ngôi nhà ban chỉ huy Secteur đang ở, Đại tá Duque và Thiếu tá Masson đang đợi, cùng nhau sánh bước lên lầu, vào văn phòng của Đại tá khép kín lại. Tôi đang cùng Labrousse nhâm nhi chai Sauterne ở Câu lạc bộ sĩ quan cùng nhìn ra đều thấy và cũng tò mò muốn rõ mục đích đến Long Xuyên của chúng. Khoảng 2 giờ sau, hai sĩ quan Mỹ xuống lầu lên trực thăng bay thẳng luôn trước con mắt ngơ ngác của mọi người. Masson vào popote (CLB) lại bàn chúng tôi ngồi xuống, tôi, theo phép lịch sự, gọi bồi mang đến 1 chai Sauterne nữa, rót vào ly của Thiếu tá tham mưu trưởng. Mặt Thiếu tá già đang bừng bừng sắc giận. Ông ta văng tục một câu cho hả: "Les Américains sont des vrais salauds" (Bọn Mỹ là đồ đểu giả thật). Tôi cầm ly rượu nốc một hơi để vuốt giận. Tôi không nhớ hết câu chuyện giữa hai người, nhưng không quên nội dung chính của nó: Thiếu tá cho biết một trong hai sĩ quan là Đại Lá Collins và y đã kết thúc hội nghị bằng câu kết luận như sau: "Người nông dân Việt Nam cày cấy, người Pháp các anh canh gác, còn người Mỹ chúng tôi khai thác". Sau này tôi tìm hiểu thêm trong báo chí có nhiều tên Collins đến Sài Gòn trong thời gian đó: Đại tướng Collins, đặc phái viên Chánh phủ Mỹ Đại sứ Collins, và có Trung tá Cornein tình báo viên, có thể tham mưu trưởng Pháp nhầm lẫn cấp bấc Mỹ, nhưng nội dung thì không sai. Đúng là thái độ xấc xược kiêu căng của nhà giàu ỷ tiền của.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #85 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2026, 08:13:31 pm »

Cách không lâu sau đó, ông đốc Hạnh mời tôi sang nhà chơi (nhà sát cạnh vách) và cho biết Nguyễn Ngọc Thơ, có nói: ông quan năm Soreau có giao cho ông Thơ sáu triệu đồng để mở khu dinh điền Cái Sắn (gần Tân Hiệp - Rạch Giá) và Thơ giao lại cho ông đốc bốn triệu để làm việc đó. Tôi nhìn thấy âm mưu đen tối của bọn Mỹ nên dặn dò: "Ông Tỉnh trưởng ăn 2 triệu ngon ơ! Còn 4 triệu giao cho ông để chịu ăn đạn Việt minh thay ông ta. Phải coi chừng!". Tuy vậy khu dinh điền Cái Sắn vẫn tiến hành theo ý đồ của đế quốc Mỹ, không có ông Hanh nhúng tay vào.


Không cần phải thông minh, qua các sự việc diễn biến như trên, tôi cũng biết rõ Mỹ sắp nhúng tay cụ thể mảnh đất miền Tây đầy béo bở. Và, trước sau gì cũng phải có một cuộc càn quét lớn để thực hiện ý đồ lập doanh điền Cái Sắn của Mỹ. Cái Sắn là tên thường dùng để gọi con kinh đào nối liền Long Xuyên với Rạch Giá. Nhưng cụ thể ở chỗ nào thì tôi cũng không rõ, chỉ áng chừng từ Tân Hiệp trở ra ngã ba Lộ Tẻ Cái Sắn. Tôi cố sức theo dõi mọi biến động trong Secteur Long Xuyên. Nhưng vô ích, chỉ một thay đổi nhiệm vụ: Thiếu tá Masson được về Pháp, đến thay thế ở chức vụ tham mưu trưởng có một sĩ quan ở Paris sang, tốt nghiệp trường sĩ quan tham mưu: Đại úy Limousin. Con người tầm thước, tuổi dưới 30 "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao", ăn mặc đúng mốt Paris, áo quần cắt may ở hiệu Adam's. Đại úy sau nhiều lần đi về Trà Vinh - Long Xuyên rồi đáp máy bay đi Hà Nội trở về. Mấy ngày sau Đại úy đưa xuống cho Labrousse xem một bản sơ đồ Bunker hình tam giác kiểu lô-cốt được tướng De Lattre cho xây dựng ở miền Bắc và lô-cốt áp dụng vào miền đồng bằng có kiểu cây dừa nước như ở tiểu khu Trà Vinh. Trung úy Labrousse đưa cho tôi xem cả bản vẽ và lời chú thích bên dưới như trên và biểu tôi in ra thành 100 bản.


Thế là, phải dùng đến Ronéo. Tôi xin một tên tù binh ra để làm công việc quay Ronéo và sử dụng vào công việc tạp dịch. Tôi hiểu ngay là quân Pháp sẽ có những cuộc hành binh để lập thêm đồn bót kiểu tam giác, nhưng ở đâu và lúc nào thì cần phải điều tra thêm. Vùng có dừa nước nhiều trên bản đồ Secteur Long Xuyên không thiếu, trừ vùng Bảy Núi. Tôi bàn với Phương Nam và Năm Danh: nên tăng cường trinh sát trên con đường Cái Sắn để hỗ trợ thêm. Năm Danh có nhà ở Tân Hiệp, ở Thốt Nốt, chúng tôi có anh thợ nhà đèn, gọi là Hai Đèn, tên thật là Lâm Thành Thọ.


Quán cà phê ở chợ và anh Hai Mi làm sở lính kín đều là người tốt, cơ sở của Năm Danh tổ chức đều đáng tin cậy cả. Anh Hai Đèn lớn hơn tôi 10 tuổi, là người công nhân đã treo cờ đỏ sao vàng trên cột trụ điện căng ngang sông Hậu Giang năm 1947, nhân dịp lễ 2/9, làm cho bọn Z.O. phải huy động chiếc LMC lên để gỡ, lá cờ bay phấp phới ngay giữa giòng sông. Anh đi tập kết, vào làm thợ điện cho Nhà hát Nhân dân, được kết nạp Đảng, đến sau ngày giải phóng, trở về Thốt Nốt và mất ở đó năm 1984. Anh Hai Mi có đứa con trai, nghe lời Năm Danh cho theo Hòa Hảo Ba Cụt làm vệ sĩ, để làm cơ sở cho ta, nhưng tiếc thay đã chết năm 1953 ở Bảy Núi trong trận đánh với Trịnh Minh Thế (theo lời thuật của Năm Danh). Lịch sử không thể ghi chép số phận từng con người một, nhưng rõ ràng từng việc làm nhỏ của mỗi người đã khuất, đều là những viên gạch xây dựng nên nền Độc lập cho đất nước hôm nay, điều mà tôi vô cùng tâm đắc, luôn khắc ghi tận đáy lòng mình.


Noel năm 1950, hôm đó là một chiều nắng đẹp, Labrousse đến cơ quan sớm đón tôi và dẫn tôi vào phòng riêng của Trung úy, cách nơi làm việc không xa. Do đặc điểm công tác, sĩ quan Tình báo được cấp một phòng riêng biệt, gian phòng ấy khoảng 18m2, phía sau có một vườn hoa nhỏ. Cửa phòng vừa mở ra, Labrousse chỉ cho tôi cái bàn và chiếc ghế, biểu tôi ngồi và nói:

- Hôm nay tôi nhờ anh một việc, anh chép cho tôi những khẩu hiệu này vào giấy đủ 200 tờ để tôi cho vào 200 bao thơ chúc mừng năm mới bạn bè ở Pháp. Anh có thể dành cả buổi chiều để làm việc đó giúp tôi. Khẩu hiệu tôi đã thảo sẵn rồi, cứ thế mà chép.

Tôi liếc nhìn bản thảo vỏn vẹn có 6 câu:

- Vive le Comte de Paris! (Bá tước Paris muôn năm)

- Vive le parti monarchique! (Đảng Bảo Hoàng muôn năm).

- Vive la France (Nước Pháp muôn năm).

- À bas les Interventionistes Américains! (Đả đảo bọn can thiệp Mỹ).

- À bas De Gaulle! (Đả đảo Đờ Gôn).

- Retour immédiat du corps expéditionnaire en France (Rút ngay quân đội viễn chinh về Phap).

Tôi đọc lại lần thứ hai, rồi dè dặt hỏi:

- Liệu bớt đi hai khẩu hiệu cuối được không?

Labrousse lắc đầu:

- Non, cứ để nguyên xi như thế!

Nói xong, Trung úy bước ra ngoài, khép cửa lại, để mặc tôi ngồi suy nghĩ, trên bàn có một chồng 200 bao thơ và danh thiếp chúc Tết, 200 tờ giấy pelure rọc khổ nhỏ đang chờ tôi. Một sĩ quan tình báo theo phái Bảo Hoàng, hay một thủ đoạn thâm độc của phòng nhì Pháp? Dù sao tôi cũng phải thủ thế trước. Chép xong 6 khẩu hiệu, tôi vò nhỏ bản nháp của Labrousse viết, nhét sâu vào đáy túi quần sau. Xong, vào cầu tiêu ở góc phòng, đốt giấy trong giỏ, rồi xách xô ra sau vườn, mở vòi lấy nước vào dội sạch cầu tiêu. Nếu Labrousse có đòi lại bản nháp, thì tôi sẽ chỉ vào đống giấy vụn đã đốt thành tro còn trong giỏ.


Hết giờ làm việc, Labrousse về phòng riêng, nhìn thấy công việc, Trung úy khen tôi viết chữ tốt, không hỏi bản thảo. Tôi khỏi phải nói thêm. Tôi hiểu là chúng tôi không thể tố cáo lẫn nhau được. Thế là đủ. Đọc báo Pháp, tôi cũng chắc bụng hơn. Năm 1951, có tổng tuyển cử ở Pháp. Thế là rõ, thế là tôi có bạn đồng minh mới trong hàng ngũ đối phương, dù là tạm thời, những vẫn có ích.


Sau ngày 1/1/1951, Ban tham mưu Secteur Long Xuyên liên tiếp có mấy cuộc họp. Tôi đoán già đoán non về cuộc hành binh sắp tới. Labrousse đi họp về đưa cho tôi cái cặp giấy bảo tôi coi rồi góp ý sau. Trong phòng, từ khi Thiếu úy Michel Đức đổi về Cần Thơ, thì mặc nhiên tôi là được có cấp bậc cao hơn hết, sau Trung úy Trưởng phòng nhì, nên anh em không ai ganh tỵ cả. Tôi bắt đầu mở cái cặp giấy ra xem: Kế hoạch hành binh "Bão táp" (Plan d'opération "TEMPÊTE"). Cố giấu vẻ sung sướng, tôi thong thả xem từ đầu chí cuối, từ từ ghi từng con số, từng địa danh, từng đơn vị, thậm chí từng mũi tên trong bản đồ vào trí nhớ. Phải giữ cho nét mặt thật bình thản! Đọc nhẩm cho thuộc làu, không ghi chép, không động đến giấy bút. Trưa về, tôi chạy một mạch lên tầng trên, cố gắng tái hiện lại những gì đã đọc suốt buổi sáng, sợ quên sót.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #86 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:40:13 pm »

Đã gần 40 năm qua, trong trí nhớ tôi vẫn còn in đậm nét kế hoạch hành binh "Bão táp"; lực lượng tham dự: 3 trung đoàn bộ binh cơ động, 2 tiểu đoàn bộ binh cơ động (BMEO), 2 tiểu đoàn bộ binh Bắc Phi, 2 chi đoàn xe lội nước (Escadrons de Crabes), trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3 (3è RAC), Đoàn giang thuyền số 3 (3è Flottille fluviale). Những đơn vị này thuộc khu vực Z.O. Còn trên các bản đồ quân sự tỷ lệ 1:100.000, những mũi tên đỏ xuất phát từ các nơi đều tập trung vào một điểm: Tràm Chẹt (Giồng Riềng). Một mũi tên đậm nét nhất, bắt đầu từ Rạch Sỏi, điều đó phù hợp báo cáo của trinh sát, Năm Danh đã cho biết từ nửa tháng nay, các chủ thầu đều chở cát, đá về đổ ngay bót Rạch Sỏi. Thế là ý đồ hành binh của giặc đã rõ, toàn bộ lực lượng cơ động của Z.O. đều được huy động để tấn công vào vùng giải phóng của ta, nhằm yểm trợ cho kế hoạch đóng đồn bót, trước tiên là Tràm Chẹt. Tôi viết ngay báo cáo về Chi 50 và đề nghị Phương Nam về ngay cơ quan để trình bày cụ thể. Riêng trong bản kế hoạch còn thiếu hai điểm chưa được rõ: 1) Thời điểm xuất phát chỉ ghi J và H (ngày và giờ), đến trước giờ xuất phát mới phổ biến cho cấp chỉ huy rõ để bảo mật. 2) Danh sách cấp ban chỉ huy cuộc hành quân cũng chưa được nêu ra. Tất cả nỗ lực của tôi lúc ấy chỉ còn tập trung vào hai điểm nêu trên, trước hết là địa điểm là thời điểm xuất phát. Chỉ còn 3 tuần nữa là đến ngày Tết Tân Mão (1951), theo kinh nghiệm bản thân từ trước tới nay tôi có thể xác định là quân Pháp chỉ mở những cuộc càn quét trước Tết hoặc sau Tết. Vì huy động vào ngày Tết binh sĩ người Việt sẽ mất tinh thần. Năm Danh đi Rạch Giá về cho biết: gạch, đá, cát đã giao hết cho đồn Rạch Sỏi. Các chủ thầu đã nhận xong tiền. Tôi gặp Labrousse báo là tôi còn 15 ngày phép năm 50 chưa nghỉ, nên xin phép được nghỉ năm kể từ ngày mai, Trung úy Labrousse giật nảy mình:

- Không được đâu, anh và tôi đều có nằm trong danh sách đã hành binh. Đại tá đã quyết định rồi!

Tôi năn nỉ:

- Mẹ vợ tôi ốm, đã cho cậu em lên đón về, tôi chỉ là phiên dịch. Trung úy chỉ người thay tôi cũng được mà!

Labrousse suy nghĩ một lát rồi quyết định:

- Thôi, thế này nhé, anh cứ về thăm bà già đi, nhưng nhớ đến ngày 19/1, đúng 9 giờ phải có mặt tại điểm tập kết, ngã ba Lộ Tẻ đi Rạch Giá. Không được phép vắng mặt.

Tôi vờ năn nỉ:

- Trung úy cũng biết đi xe đò ngày giờ thất thường lắm, tôi không dám hứa đâu.

- Tant pis pour vous. C'est la discipline militaire. Vous risquerez le conseil de guerre! (Mặc kệ anh, đó là kỷ luật nhà binh, vi phạm phải ra trước Tòa án binh đấy!).

Tôi lặng lẽ cúi đầu như mở cờ trong bụng. Thế là sếp của tôi đã giải đáp ngay câu hỏi hóc búa trong đầu tôi. Ngày J và giờ H đã được tiết lộ một cách kín đáo. Tình báo do từ cửa miệng một Trưởng phòng Tình báo cung cấp, nhiệt thành, chính xác trăm phần trăm.


Ngày 19/1/1950, Phương Nam lái chiếc xe Renault 4 cv. chở tôi từ Cần Thơ lên ngã ba Lộ Tẻ Cái Sắn, dọc dường từ Bình Thủy lên, các xe GMC chở đầy lính Âu-Phi đổ một dãy dài. Đúng 9 giờ kém 5 phút, tới điểm hẹn, nhìn xa đã thấy chiếc Commancar đỗ sẵn. Trên xe có 4 sĩ quan: Trung tá Soreau, Đại úy Limousin, Trung úy Richard trưởng phòng 3 và Trung úy Labrousse, trưởng phòng 2 Secteur Long Xuyên: Toàn bộ Ban chỉ huy cuộc hành binh "Bão táp". Đoàn xe lội nước đang chờ sẵn dưới đám ruộng lúa chín vàng ở bên tay trái. Phía tay phải dưới kinh Cái Sẵn nước chảy xuôi dòng, đoàn giang thuyền trang bị súng 20 ly đang tắt máy thả trôi xuôi về Rạch Giá, 2 khẩu pháo 88 ly đã bố trí nghếch nòng về phía kinh Thị Đội: Trận "Bão táp" bắt đầu từ ngã ba Cái Sắn và tôi đã đi theo kế hoạch đã định, đúng như kế hoạch tội đã báo cáo về Khu 9. Nếu như Bộ Tư lịnh Khu 9 kịp bố trí lực lượng thì kể như toàn bộ quân cơ động của Z.O. đều dẫn vào chỗ chết, trong đó có cả tôi. Tôi nhớ lại hai câu thơ xưa:

   "Khẳng khái quyên sinh dị
   Thung dung tựu tử nan"

Để tự động viên mình, bất giác, trước khi buông tay từ giã Phương Nam, đang ngồi sau tay lái, tôi nói những câu từ biệt cuối cùng:

- Cậu Ba ạ! rủi tôi có chết tụi nó sẽ chôn tôi dưới cây thập tự ác trên mộ với giòng chữ "Mort pour la France". Tôi nhờ cậu nhổ phứt nó đi và thay vào đó bằng một ngôi sao vàng trên nền đỏ. Đừng quên, kẻo sau này con cháu nó đi ngang sẽ nhổ nước miếng vào nấm mồ tôi đó.


Tôi thấy Phương Nam rút kính cận xuống lau lau, không đáp. Labrousse thấy tôi đến đúng hẹn, y bắt tay tôi thật mạnh, chiếc Commancar đi đầu đoàn xe, dừng lại tại bót Rạch Sỏi cho triển khai đội hình. Tôi biết trước thế nào cũng bị phục kích và gài lựu đạn, nên tiến bước rất cẩn thận, theo đúng dấu chân người đi trước. Lấy làm lạ là chỉ có mấy tiếng súng thưa thớt, và những tiếng lựu đạn nổ đó đây. Trên cánh quân tôi theo, có một trung úy công binh, xuống rửa bùn lấm giày dưới rạch, vừa bước chân lên tấm ván cầu bị trúng đạp lôi, rơi tùm xuống rạch chìm ngủm. Suốt một ngày mới đến chỗ hội quân: "Tràm Chẹt" nằm trên lộ nối liền Rạch Sỏi với Giồng Riềng, bên cái cầu đúc đã bị phá hủy từ đầu kháng chiến. Đó làm điểm xây dựng cái lô-cốt hình tam giác đầu tiên ở Nam Bộ. Khi lân la đến làm quen với anh lính Âu-Phi đang sử dụng điện đài, thấy thông báo kết quả cuộc hành binh trong ngày có 47 chết vì lựu đạn gài, tôi cũng có phần hả dạ. Nhìn lên tấm giấy mật mã dán trên nắp điện đài, tôi sao lại toàn bộ mật mã "đất đối không" (Conversation Terre-air) ghi tiếng lóng trong khi sử dụng. Tôi còn nhớ kỹ hai tiếng: Thay vì người chết thì điện là "cái cuốc", bị thương gọi là "cái cào". Tôi chỉ mong sao khỏi bị biến thành cái cuốc hay cái cào trong báo cáo kết quả cơn "Bão táp". Trong mấy ngày hành binh, điều đáng mừng là nhân dân các vùng lân cận đã kịp thời di dời khỏi vùng chiến sự, đến ngày giáp Tết, các đơn vị thủy quân mới đem đến 12 tù binh và một đống giấy tờ. Đảo mắt nhìn qua là hồ sơ của huyện ủy An Biên. Lúc này Ban chỉ huy: Trung tá Soreau và Đại úy tham mưu trưởng cũng chuẩn bị để trở về Long Xuyên. Tôi vịn vào đó cũng xin với Labrousse để về Cần Thơ ăn Tết, vì tôi còn ba ngày phép năm 1950 chưa nghỉ hết. Labrousse ý không muốn xa tôi nên nói:

- Đâu được, đang giữa cuộc hành binh ai cho nghỉ phép.

- Không thì tôi sẽ trốn về.

- Trốn thì phải ngồi tù.

Tôi chìa tờ giấy xin phép ra:

- Tôi xin ký tên chịu ngồi tù trước vậỵ!

Thấy tôi cương quyết. Labrousse nhượng bộ cho một chiếc xe cam nhông và 4 người lính Miên đưa từ Rạch Sỏi về Long Xuyên với lý do áp tải 12 tù binh và đem đống tài liệu huyện ủy An Biên về luôn. Labrousse dặn tôi:

- Sang năm mới Tết xong, Đại tá sẽ cùng Tỉnh trưởng Long Xuyên sẽ trở lại đây. Anh nhớ cùng về nhé.

Tôi hỏi:

- Các ông ấy đi bằng gì?

- Sẽ có ca-nô đón tại Rạch Sỏi.

Tôi gật đầu chia tay, trong lòng phơi phới... Xe về đến Long Xuyên. Tôi nói với 12 người bị bắt:

- Thôi Tết đến nơi mà phải ngồi trong khám thì cũng khổ thật. Nhưng biết sao được. Cứ yên tâm chờ qua Tết, ông quan Hai về mới xét trường hợp từng người được. Cứ tin tôi. Các anh sẽ được thả thôi. Nhưng tôi không có quyền ký giấy thả các anh ngay bây giờ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #87 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:40:46 pm »

Tôi nghĩ bụng: Tết đến mình về Cần Thơ ăn Tết, cũng phải để lại chút ít niềm vui cho người khác.

Chiều 30 Tết tôi về tới Cần Thơ, cả nhà đang chuẩn bị ăn Tết. Trong căn nhà lá cất dựa bên căn nhà lớn bên phải 37 Paul Emery đang là căn cứ của Giang thuyền (Flottille fluviale), tôi gấp rút viết báo cáo, ghi rõ nội dung bản mật mã qui ước đất đối không và ghi thêm ngày Trung tá Soreau và Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ trở lại Tràm Chẹt, có ca-nô đón chờ tại Rạch Sỏi. Xong qua nhà chú Tư Ngà, đề nghị chuyển cấp tốc về Đầu Sấu để trạm có liên lạc đưa ngay về văn phòng Chi 50. Chú Tư Ngà vui vẻ đi liền. Hẹn nhau tổng kết năm vào ngày Mồng 2 Tết, như mọi năm vào dịp Tết Nguyên Đán.


Sau 3 ngày ăn Tết, tôi trở về Long Xuyên, lên gặp Trung tá Soireau để xin đi nhờ xe về Rạch Sỏi. Soreau đem tôi qua ngồi cùng xe với Tỉnh trưởng Thơ, vì bên xe Trung tá có đại úy Limousin cùng đi. Tôi liếc nhìn thấy Đại úy vẫn diện bộ đồ cắt đúng mốt A Dam's, trên túi vẫn dắt cây bút máy Parker 51 vàng chói như mọi lần, chiếc cặp da đen bóng lộn cầm tay, như một sĩ quan tham mưu thường có. Lần này Đại úy đã kịp sắm thêm và đem theo bên mình một cây súng hai nòng, một cần câu máy, một cái vợt cá bằng nylon để giải trí. Một ước mơ rất hòa bình. Chiếc xe của Tỉnh trưởng đi sau. Đến Rạch Sỏi, đúng là có hai Vedette của đoàn giang thuyền đang đậu ở bến chờ khách. Thấy Soreau và Limousin bước xuống giang thuyền thứ nhất, tôi lẩn tránh vào một tiệm cà phê bên đường nhìn ra. Sau vài lần gọi tôi không được, Soreau khoát tay ra lịnh cho giang thuyền tách bến. Tôi bước ra, Nguyễn Ngọc Thơ hỏi tôi đi đâu để ông quan năm gọi mãi không có. Tôi nói có nghe nhưng bận mải uống cà phê, để đi sau với ông càng thích hơn. Xem chừng Nguyễn Ngọc Thơ cũng không vội vã gì, "Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau" có gì mà phải vội. Khoảng chừng 15 phút bỗng một tiếng nổ lớn vang dội nước dưới rạch tràn lên bờ. Nguyễn Ngọc Thơ tái mặt hối hả lên chiếc Traction avant bóng lộn, biểu tài xế quay về ngay Long Xuyên. Ông ta còn ngoắc tôi biểu cùng lên xe trở về. Tôi lắc đầu vì cảm thấy mình còn lưu luyến tình hình chiến sự. Vả chăng cũng không muốn lỡ hẹn với Trung úy Labrousse. Lần này mà bỏ về thì thật là phạm tội đào ngũ, không ai tha thứ được. Tôi bước xuống chiếc vèdette thứ hai, bàn với viên hạ sĩ quan Pháp chỉ huy, cho giang thuyền trở về Tràm Chẹt là "hành dinh tiền phương" của cuộc hành binh "Bão táp". Phải một lúc sau khá lâu, người hạ sĩ quan Pháp mới chịu quay trở về Tràm Chẹt... Giang thuyền chạy đến một khúc ngoặt hẹp thấy một thiếu úy công binh đang cùng đám công binh làm nhiệm vụ thu dọn chiến trường. Được biết là: chiếc giang thuyền trúng phải thủy lôi, Trung tá Soreau bị gãy cả hai chân, Đại úy Limousin bị nổ banh bụng, chiếc Parker 51 vẫn còn lấp lánh ở túi ngực. Xác được trực thăng chở luôn về Sài Gòn. Sau đó, có lịnh Sài Gòn cho bàn giao công việc xây cất đồn Tràm Chẹt cho Thiếu tá Bùi Văn Hai chỉ huy 3è BVN và S/Secteur Rạch Giá lo liệu. Nhưng cái bunker tam giác đó niềm tự hào của Đại tướng De Lattre de Tassigny cũng tồn tại không lâu. Vào năm 1952, nó bị D410 ta tấn công bằng mã tấu và san bằng. Người chỉ huy tấn công tiêu diệt đồn Tràm Chẹt nghe nói là anh Chín Thảo, tức Phạm Ngọc Thảo, nguyên là Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ, tôi cũng tin chắc là như vậy. Và chỉ có ở Ban Quân báo Nam Bộ mới nắm, và nghiên cứu kỹ bản sơ đồ lô-cốt tam giác nửa chìm, nửa nổi, không có góc tử giác (góc chết) và cả 3 cạnh đều chi viện hỏa lực cho nhau khi bị tấn công.


Tôi có thể tổng kết trận càn "Bão táp" như sau: Phía dịch 47 người bị lựu đạn gài, trong đó có một Trung úy công binh, hai người trong ban chỉ huy trận càn bị thủy lôi, một là Trung tá Soreau, hai là Đại úy Limousin (chỉ huy và tham mưu trưởng). Tổng cộng 49 người chết. Phía ta: 12 người bị bắt và bị giam ăn Tết trong khám, đến khoảng mồng 7 Tết Labrousse trở về Long Xuyên, tôi làm giấy trả tự do cho họ vì không đủ bằng chứng buộc tội họ.


Tôi chỉ ân hận một điểm, toàn bộ kế hoạch và âm mưu của Mỹ và Pháp trong trận càn "Bão táp" đã nắm được, nhưng sao ta không tập trung toàn lực để đánh một trận cho đáng công? Năm 1952, khi về Khu 9, tôi đã nêu thắc mắc ấy lên đồng chí Nguyễn Chánh lúc đó là Tham mưu trưởng Khu 9, thì được đồng chí giải thích như sau: "Lực lượng các tỉnh lúc đó đang phân tán về huyện, xã để xây dựng, củng cố phong trào dân quân, phát triển rộng mạnh du kích chiến tranh không kịp tập trung về để đánh dịch". Tôi nửa tin nửa ngờ: chắc các đồng chí ở trên đối với tôi cũng cùng chung ý nghĩ đó, khi nhận được tin tức điệp báo của V.32. May mắn sao trong trận "Bão táp" đó tôi trở về nguyên vẹn, và cho đến hôm nay, đồng chí Phương Nam khỏi phải mất công đi tìm hài cốt của tôi để thực hiện những lời trăng trối lúc chia tay!


Ở miền Tây Nam Bộ, xưa nay thiên nhiên ưu đãi không hề có trận bão táp nào, chỉ đến năm 1951, chủ nghĩa đế quốc Mỹ kết hợp với chủ nghĩa thực dân Pháp mới bày vẽ ra một trận càn "Bão táp". Nhưng "Thiên bất dung gian" cơn bão táp đó bạn phát bạo tàn, rốt cuộc cũng chỉ là một "cơn bão táp trong một cốc nước lã" như một tục ngữ Pháp đã nói rõ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #88 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:42:56 pm »

CHƯƠNG 11
CHIẾN DỊCH QUỐC HƯNG

1951

Thị xã Long Xuyên cách thành phố Cần Thơ 62km. Đường bộ chỉ mới được nối lại từ đầu năm 1949, lúc tôi mới bắt đầu đặt chân vào vùng đất thánh của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, và tình cờ trong chuyến đi đầu tiên đó, tôi đặt được đường dây liên lạc qua anh Tiên, hạ sĩ lái xe thơ của nhà binh Pháp. Nhưng đến năm 1950, Tiên phải đổi theo đơn vị về Sóc Trăng cùng với An, Trung sĩ phiên dịch ở 5è BVN. Công việc liên lạc phải nhờ tới cô Sáu Xuân, với danh nghĩa là bà con của chị Hai Phấn (vợ tôi) lên thăm, với nghề nghiệp là thợ may đang xin việc làm.


Một hôm, trên đường đi trở về Cần Thơ, để chuyển một công văn mật đã được ngụy trang tờ giấy emballage, bị bọn cướp chặn lại ở Thốt Nốt, và cô Xuân bị bọn cướp dẫn đi. Tôi được tin báo, hội ý với các đồng chí trong tổ Đảng, ai nấy cũng bàng hoàng, nhưng vẫn chưa tìm được phương cách giải cứu. Đồng chí Danh được phái về Thốt Nốt để điều tra cho biết thêm tình hình, nếu cần thì gặp anh Hai Ni, xếp lính kín ở thị trấn Thốt Nốt, vốn có cảm tình với Danh từ trước. Danh đi về cho biết là Xuân bị bọn Ba Cụt bắt. Thế là tôi yên tâm về phần tài liệu. Ba Cụt không đủ trình độ để khám phá tài liệu ba lần ngụy trang của tôi. Hơn nữa, vì Ba Cụt tuy vẫn được bọn Pháp phong hàm Thiếu tá lực lượng bổ túc, nhưng vẫn không có quan hệ mặn mà với bọn Pháp. Bọn Pháp ở Long Xuyên còn nhớ kỹ câu chuyện Ba Cụt đã phục kích bắt và chặt đầu một Đại úy Pháp trong trận càn ở rạch Trà Ếch, đã mở một cuộc truy lùng trong 3 ngày ở tiểu khu Thốt Nốt, dồn ép Ba Cụt phải ra hàng, và cho đóng bót ở Bằng Tăng, ở giữa Thốt Nốt và Ô Môn, trên bờ sông Hậu, ngay tại quê hương Ba Cụt. Xuất thân từ một đứa ở chăn trâu, không được học hành, lớn lên kết nghĩa anh em với Năm Lửa, rồi chặt một ngón tay ly khai với Năm Lửa, dẫn binh lính về đóng ở Cờ Đỏ, cướp lúa của nông dân và chặn cướp các xe đò, trấn lột hành khách.


Trong những tên tướng cướp Hòa Hảo, Ba Gạt nổi tiếng là một tên cướp tráo trở, sớm đầu tối đánh. Bọn Pháp vẫn biết vậy, nhưng vẫn làm lơ. Tôi cũng biết vậy nhưng chưa nghĩ ra cách nào khác để giúp đỡ các nhân viên liên lạc khỏi bị đạo quân ô hợp Hòa Hảo bắt giữ. Do vị trí công tác trong 2è Bureau Secteur Long Xuyên, tôi đã tiếp xúc hầu hết bọn tướng cướp Hòa Hảo ở miền Tây Nam Bộ, từ viên tướng một sao Năm Lửa tức Trần Văn Soái chỉ biết độc nhứt một chữ ký tên Soái dưới các văn bản, mệnh lệnh do các tên Tham mưu Phú, Cường viết. Từ viên Đại tá Hai Ngoán, tên thật là Lâm Thành Nguyên gốc gác Huê kiều, trân thủ ở Cái Dầu trên đường Long Xuyên lên Châu Đốc để chặn xe đò, ghe buôn để thu thuế mãi lộ, đến viên cựu Quản khố xanh tục danh là Quản Ngượt, lấy tên Nguyễn Giác Ngộ mà bọn Pháp đã thu phục về trấn thủ vùng Chợ Mới vào đầu năm 1950. Những tên tướng đó chỉ là một lũ lưu manh lợi dụng danh nghĩa Phật giáo Hòa Hảo để lừa gạt tín đồ làm lính đánh thuê cho quân đội Pháp, để ăn chặn tiền lính, vơ vét tiền bạc lúa gạo nhân dân đế làm giàu. Riêng Ba Cụt, tên thật là Lê Quang Vinh, không có hành dinh cố định, hoạt động vùng Ô Môn - Thốt Nốt, nên dù muốn tiếp xúc cũng không dễ dàng. Tôi chỉ có một lần gặp Ba Cụt do hắn ta đến gặp tôi, sau lần tôi bị cướp hụt, tại nhà ở 36 Lê Lợi - Long Xuyên. Hắn nhỏ hơn tôi vài ba tuổi, vóc dáng thanh lịch, cười nói có duyên, không thiếu phần lễ độ. Hắn lễ phép gọi tôi là anh Hai rất chi nhã nhặn, tự xưng là em, tôi cũng thích thú, nhưng vẫn không mất cảnh giác với ý đồ muốn kết thân của hắn. Sau lần gặp tại nhà riêng, tôi không còn thấy mặt mũi hắn lần nào nữa. Nay bỗng nhiên nghe Sáu Xuân bị tay chân của Ba Cụt bắt, tôi thấy phân vân. Một tên tướng cướp đã muốn kết thân với tôi, tại sao lại bắt người nhà của tôi để làm gì? Lúc đến nhà tôi, hắn đã thấy rõ nhà tôi trống trải, ngoài 3 cái ghế dựa cũ kỹ và chiếc đi-văng gỗ mộc, chẳng có cái gì đáng kể cả. Vả chăng, tên đội Hiền cũng đã tán tụng tôi, vì đã tha chết cho nó, thì Ba Cụt muốn vuốt mặt lại không nể mũi hay sao? Vì vậy tôi yên tâm cho tính mạng Sáu Xuân. Nhưng biết đâu bọn bộ hạ của Ba Cụt làm ẩu? Cách vài ngày sau đó, bọn bắt cô Sáu Xuân nhắn tin lên cho bà giáo Lưu ở cách nhà tôi một ngõ hẻm, nói rằng cô Sáu Xuân khai là em vợ ông Một Hiến, nên chúng đòi ông Một Hiến phải chuộc tiền chúng mới thả. Tôi hẹn ngày gặp chúng tại nhà bà giáo Lưu. Đúng hẹn, tôi gặp một tay thanh niên ăn mặc gọn gàng, tôi hỏi hắn muốn bao nhiêu? Hắn đòi 10.000 đ. Tôi cười:

- Em về hỏi lại chú Ba Cụt thì biết nhà tôi có đủ tiền chuộc không, nói với chú Ba rằng tôi nhắn là con Sáu Xuân nó lên ở nhờ nhà tôi để học may, nhà nó nghèo lắm. Liệu chú Ba có kiếm được đám nào khá, gả giùm nó giúp tôi. Chú về nói lại với chú Ba, liệu chú Ba có muốn vuốt mặt không nhìn anh Hai nữa không? Chú về đi, nói đúng ý tôi cho chú Ba biết.


Anh chàng ra vẻ hơi chột dạ. Chiều hôm đó, Sáu Xuân được thả về với túi xách còn nguyên vẹn, cả các gói quần áo bọc trong tấm giấy emballage mà tôi đã viết tài liệu báo cáo mật vào đó. Thấy Sáu Xuân vẻ mặt tiều tụy, tôi chỉ hỏi một câu: "Chúng nó có làm nhục em không?". Đôi hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng trên đôi gò má. Tôi cũng lưng tròng. Sau đó, tôi báo cáo với cơ quan rút Sáu Xuân về văn phòng, để công tác liên lạc cho đồng chí Năm Danh lo liệu. Không phải tôi không tin Sáu Xuân, nhưng tôi không thể nào tin được bọn lâu la của Ba Cụt. Từ năm 1951, Sáu Xuân không còn trong đường dây liên lạc Cần Thơ - Long Xuyên, về Cần Thơ, Sáu Xuân kết hôn với bác sĩ Trương Đình Du, và sau ngày giải phóng, cả hai vợ chồng đều kéo nhau sang Pháp.


Năm 1951, Ba Cụt đóng bót ở Bằng Tăng, bọn lính Hòa Hảo thường kéo nhau ra đánh cướp xe đò trên quãng đường Ô Môn - Thốt Nốt, giả dạng là Việt minh, trên mũ ca-lô dán hình ngôi sao trên miếng giấy đỏ cắt mỏng, để hành khách tưởng là du kích Việt minh đánh cướp. Tôi đã là nạn nhân của một vụ cướp xe đò. Hôm đó, tôi cùng các đồng chí Phấn và Năm Danh ngồi xe đò về Cần Thơ đến khoảng gần Thơm Rơm, bọn lính Hòa Hảo núp bên đường chìa súng bắn vào lốp xe, xe phải dừng lại. Một tên còn trẻ cầm cây Thompson lên xe chĩa vào ngực tôi, mắt láo liên nhìn vào chiếc đồng hồ vàng đeo trên cổ tay tôi. Tôi biết ý, cởi chiếc đồng hồ đưa cho nó, nhìn ngôi sao vàng trên nền đỏ dán trên ca-lô của nó, tôi vụt hỏi: "Anh ở đại đội nào?", đồng chí Danh đưa mắt nhìn tôi và lắc đầu. Tôi hiểu ngay, vội ngăn đồng chí Phấn lại. Lần đó, tôi mặc thường phục, cái cặp da đựng bộ quân phục Pháp để vào băng sau đã bị một tên cướp xách đi rồi. Hành khách xuống xe đứng hàng dọc ở phía Ô Môn. Tôi nhìn lại thấy bọn cướp kéo nhau qua đồng về phía bót Bằng Tăng. Đúng là lính của Ba Cụt không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi cùng đoàn hành khách vào đồn pháo binh ở Ô Môn, gặp viên Trung úy Pháp chỉ huy khẩu đội pháo 88 ly, tôi vắn tắt trình bày vụ cướp xe đò và chỉ con đường rút lui của bọn cướp. Trên bản đồ đã có khoanh vòng tròn những vùng cần pháo kích. Tôi chỉ ngay vòng tròn khoanh vùng Bằng Tăng. Viên Trung úy pháo binh ra lịnh nã ngay 10 viên đạn pháo 88 ly vào vùng đó, chỉ cách Ô Môn chừng 5km trên bờ sông. Hôm sau, đồng chí Năm Danh cho tôi biết là chừng 4, 5 lính Hòa Hảo đóng ở đồn Bằng Tăng bị thương vì đạn pháo, chở về bệnh viện Cần Thơ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #89 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:44:16 pm »

Tôi không phải là người hiếu sát, nhưng cần phải cho Ba Cụt biết cái trò giả dạng Việt minh đi cướp xe đò không thể lừa gạt được ai. Đạn pháo Pháp một lần nữa lại rót trúng vào đồn bót Hòa Hảo.

Cũng vào những tháng đầu năm 1951, nhân dịp về Cần Thơ để trao đổi công tác, tôi được biết Lacroix sang Pháp đã trở về nhận chức Trưởng phòng nhì của Zone Ouest 2è Bureau Zone nay chuyển sang chiếm một lớp học của trường Collège Cần Thơ làm văn phòng Tham mưu Zone Ouest. Lacroix, viên sĩ quan Tình báo thay đổi khác trước cả diện mạo lẫn cấp bậc. Vai mang quân hàm Đại úy, hàm râu đen tươi tốt đã cạo nhẵn, vẫn lịch thiệp như trước, Lacroix chìa tay cho tôi bắt, nhưng tôi nhìn mặt sếp cũ của tôi từ năm 1948 đã khôn khéo tống tôi lên Long Xuyên. Là sĩ quan Tình báo thuộc loại "con ông cháu cha" (Cha của Lacroix là Đô Đốc chỉ huy hạm đội Pháp ở Cận Đông), được đi tu nghiệp về, chắc chắn có nhiều bản lĩnh mới, nghiệp vụ mới. Nhìn vào cái cằm cạo nhẵn của Lacroix tôi hỏi:

- Hẳn Đại úy cùng sang Đông Dương một chuyến với Đại tướng De Lattre de Tassigny?

Đại úy gật đầu. Tôi nhớ lại một giai thoại về viên Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp. Một sĩ quan Pháp ở Long Xuyên đã kể cho tôi biết: De Lattre vừa sang Đông Dương nhìn thấy một Đại úy Pháp có hàm râu dài bó hàm, liền ra lịnh: "Je te donne 10 minutes pour m’ôter cette barbe" (Tôi cho anh 10 phút để thanh toán hàm râu ấy). Hẳn đó là Đại úy này đây. Tôi có phần thầm phục kỷ luật của quân đội Pháp, và biết thêm tác phong độc đoán của viên Đại tướng chỉ huy tối cao của quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, nhưng không nói gì trước mặt Lacroix. Đại úy hỏi tôi:

- Vous avez des bonnes nouvelles à Long Xuyên? (Anh có tin tức gì mới ở Long Xuyên không?)

- Non, mon Capitaine, à Long Xuyên nous n’avons rien à faire avec les Hòa Hảo. (Không, thưa Đại úy, ở Long Xuyên tôi không có gì làm với bọn Hòa Hảo cả).

Đại úy tỏ ra thông cảm với sự nhàn rỗi của tôi, nói tiếp:

- Trái lại ở đây chúng tôi làm không hết việc với bọn Việt minh. Anh biết không, nay mai chúng lại sắp mở chiến dịch Quốc Hưng ở địa bàn Sa Đéc. Ta đã huy động sẵn 3 R.T.A (Trung đoàn Bộ binh Bắc Phi) để bao vây chúng, cho chúng một trận nên thân.

Tôi uống từng lời của Đại úy, hết sức chăm chú và mong mỏi được nghe thêm lời vàng ngọc. Nhưng Lacroix chỉ nói có bấy nhiêu, chữ chiến dịch Quốc Hưng tôi nghe nói, theo âm thanh tiếng Pháp "chin zic Cuc Hung" nên chỉ đoán mò phần nào. Nhưng quả là rất quí giá. Tôi vờ thán phục cấp trên, trong lòng đã phát ra phương án đối phó. Đối với một nguồn tin do một sĩ quan Tình báo chuyên nghiệp của đối phương cung cấp cho một người đã bị tình nghi từ trước, tôi hết sức dè dặt. Một là tin giả. Trong trường hợp ấy, tôi hoàn toàn có khả năng kiểm tra lại. Hai là tin thật. Chỉ có một lý do duy nhất: nguồn tin ấy không phải do mạng lưới Tình báo của Lacroix cung cấp. Hẳn là Lacroix muốn thông qua tôi để làm thất bại Tình báo của một đồng nghiệp trước sự đánh giá của cấp trên. Sau này, chính xác là ngày 14/5/1989, tôi được Vũ Hoài Linh xác minh: Một tình báo viên của Vĩnh Long có cho biết là tận mắt thấy Đại úy De la Bigne, Chef 2è Bureau Vĩnh Long, có cầm trong tay bản kế hoạch chiến dịch do đồng chí Xuyến ký tên có dấu son đỏ chói. Cũng có thể nhân dịp gặp lại tôi, Lacroix muốn trổ tài ba hoa trước cấp dưới. Dù sao, tôi vẫn không bỏ lỡ cơ hội. Về Long Xuyên, tôi hội ý ngay với đồng chí Phương Nam, nguyên là cán bộ Quân báo của Khu 8, một mặt tôi vẫn báo cáo về Chi 50, mặt khác tôi cử ngay Năm Danh sang trực tiếp liên hệ với Ban chỉ huy chiến dịch Quốc Hưng, để kịp thời đối phó. Cũng may, Ban Quân báo Khu 8 đã cử đồng chí Khiết về theo dõi chiến dịch. Bánh tét đã gói, các đơn vị đang lục đục kéo về tham gia chiến dịch Quốc Hưng đã kịp thời rút ra khỏi vùng tập kết, nhân dân đã kịp thời sơ tán để tránh vùng sắp bị càn quét. Ngay hôm sau, tôi được lịnh cùng Trung úy Labrousse xuống tàu LCI cùng Ban chỉ huy Zone do Đại tá Duque cầm đầu, rẽ sóng Vàm Nao chạy về hướng sông Cổ Chiên, neo ở bờ sông Nha Mân để chỉ huy cuộc càn quét lớn do Lacroix đã thông tin cho biết trước. Lần đầu tiên, nguồn tin do một sĩ quan Tình báo Pháp tình cờ cho biết lại có độ chính xác cao, và có tác dụng thiết thực bất ngờ. Ba trung đoàn lính Bắc Phi RTA (Régiment des tirailleurs algériens) đóng vùng Vĩnh Long đã được huy động, nhằm mục đích bao vây và tiêu diệt 3 Tiểu đoàn Việt minh: 308, 311, 312 theo tin tình báo sẽ tập kết ở vùng giáp ranh Vĩnh Long - Sa Đéc để triển khai chiến dịch Quốc Hưng.


Ban chỉ huy cuộc càn quét lên bờ vào nhà dân để kiếm thức ăn tươi. Dân đã kịp thời sơ tán. Các mái nhà lá trống trơn. Cuộc càn quét cấp tốc chỉ tiến hành trong một ngày, mỗi binh sĩ phải mang theo khẩu phần lương khô để ăn trong ngày, bánh biscuit lạt của Ba Lan và đồ hộp của Mỹ. Tôi nhìn thấy Đại tá Duque phấn khởi lượm được mấy quả trứng gà còn sót trong ổ, gà mẹ đã biến đâu mất, Đại tá đập vỏ, nút sống không cần luộc, đôi mắt lim dim. Đại úy Lotte là sĩ quan Trưởng phòng 5 đang cắt một trái chuối chín thành nhiều khoanh nhỏ, chia cho các bạn đồng hành theo kiểu ăn đều chia đủ. Labrousse cùng tôi nhấm nháp mãi biscuit lạt với thịt hộp trong khẩu phần mang theo. Vào khoảng 14 giờ, một tên lính Pháp từ chiếc LCI mang lên cho Ban chỉ huy một bức điện mật: S/Secteur Châu Đốc thông báo khẩn cấp: yêu cầu Z.O. chi viện, bộ đội Việt minh đã áp sát gần Châu Thành, có khả năng đột nhập Châu Đốc. Đại tá Duque triệu tập các sĩ quan chỉ huy, ra lịnh cho rút quân. Ban chỉ huy kéo xuống tàu LCI. Tôi và Labrousse đang ngồi, bỗng thấy một lính lê dương dẫn một bộ đội Việt minh bận đồ đen, bước lên tàu, vừa đi vừa đánh, súng khoác sau vai. Tôi thấy anh bộ đội bị thương ở bả vai, bị đánh chúi mũi xuống đất. Tôi chưa kịp lên tiếng can thiệp, thì Trung úy Labrousse đã điểm mặt tên lính lê dương: "Assez! Il   est interdit de maltraiter les blessés" (Thôi, không được đánh người đã bị thương!), rồi biểu tôi đi theo để hỏi cung. Vừa đi tôi vừa hỏi tên lính lê dương:

- Tại sao anh đánh nó, anh không biết công ước quốc tế Genève đã cấm đánh tù binh sao?

Tên lê dương đáp, vẻ còn giận dữ:

- Tại sao nó lại hét Hồ Chí Minh muôn năm?

Tôi hỏi lại anh bộ đội:

- Tại sao anh hô khẩu hiệu làm gì để nó đánh anh?

- Tôi thấy nó dẫn tôi ra đằng lái, sợ nó đạp xuống sông, chết không kịp hô.

Tôi nhìn kỹ người bộ đội. Người này cao không đầy 1m60, vừa ra khỏi tuổi thiếu niên, bộ mặt còn non choẹt, vết thương ở bả vai bên phải phá ra phía sau thành một vết lớn chứng tỏ bị súng trường bắn gần, máu còn rỉ ra. Dẫn xuống phòng Quân y, tôi nói với viên Trung sĩ Y tá:

- Hãy băng bó cẩn thận cho chú bé này, nó sẽ có ích cho chúng ta, có morphine hãy tiêm cho nó ít mũi.

Viên y tá lấy cồn, kẹp, bông gòn, ngoáy sâu vào vết thương. Chú bé nhăn mặt, nước mắt chảy ròng ròng. Tôi động viên:

- Mình là vệ quốc đoàn mà khóc à?

Chú ta nín bặt, nghiến răng lại, chịu đau. Tôi làm thủ tục hỏi cung:

- Anh tên gì?

- Nguyễn Văn Nhì, tuổi 17.

- Ở đơn vị nào?

- Địa phương quân.

- Phiên hiệu?

- Không có.

- Vũ khí, à quên, súng anh để đâu?

- Khi bị bắt, liệng xuống rạch rồi.

- Tại sao bị bắt?

- Ở lại đoạn hậu cho đại đội rút lui.

- Rút về đâu?

- Không biết.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM