Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:35:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7875 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #90 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:45:13 pm »

Tôi thở phào nhẹ nhõm cho cả hai, người hỏi cung và người bị hỏi, tên lính lê dương được phép rút lui. Trung sĩ y tá chỉ chỗ nằm cho tù binh rồi khép phòng lại. Cuộc rút quân bằng đường sông chia làm hai cánh. Một cánh xuống chiếc LCI có Đại tá Duque chỉ huy theo ngã Vàm Nao, một cánh khác xuống chiếc LCM há mồm, theo ngả Lấp Vò, Vàm Cống trở về Long Xuyên. Trung úy Labrousse cùng tôi đem anh tù binh bị thương cùng đi theo cánh này. Đó là người tù binh duy nhất mà cuộc càn quét đem lại. Dù sao quân ta cũng mất một. Tôi đang nằm trên mui chiếc LCM, mở mắt nhìn trời cùng nhiều binh sĩ, mang cả giầy để chen nhau một chỗ ngủ, thì bỗng nghe có tiếng "tõm". Năm sáu người ở cuối tàu vùng vẫy la hớt hải: "Có người rơi xuống sông!". Chiếc tàu vẫn tiếp tục rẽ sóng tiến lên. Kiểm điểm lại, một tên lê dương vừa khoe chiến công giựt giải quán quân bơi lội, đã lọt "tõm" xuống sông, nguyên cả áo quần quân trang nai nịt và cả đôi giầy cao cổ bó chặt hai ống quần. Thế là hết khoe tài bơi lội. Kỳ điểm danh sáng mai, sẽ vắng một mạng người, chết không kèn không trống. Một chết đổi một thương binh. Tỷ số được san bằng. Dù sao thương binh của ta vẫn sống và còn dịp may trở về với quê hương đất nước. Tôi nhớ lại gương mặt trẻ thơ, chỉ hơn thằng Xiềng của tôi chừng hai tuổi. Một thanh niên bị bắn xả vai, không sợ chết mà chỉ sợ chết bất thần không kịp hô tên Bác. Cử chỉ ấy bộc lộ khí phách anh hùng dân tộc của thanh niên miền Nam là một bài học lớn theo dõi suốt cuộc đời tôi. Được sự đồng ý của Trung úy Labrousse, tôi giao thương binh cho trạm quân y Long Xuyên ở đường Lê Lợi, dặn dò phải cho hưởng mọi tiêu chuẩn thuốc men để tù binh sớm bình phục.


Một tháng sau, vết thương đã lành miệng. Riêng cánh tay phải không cử động được, anh Nguyễn Văn Nhì được giải từ trạm quân y của Secteur Long Xuyên sang 2è Bureau Secteur. Tôi dẫn vào gặp Trung úy Labrousse, tôi giới thiệu: "Đây là người được lòng nhân đạo của Trung úy cứu sống". Labrousse mỉm cười khoái chí, đưa tay ra bắt, Nhì ngượng ngập chìa tay trái ra. Tôi hỏi Nhì:

- Anh còn cha mẹ không?

- Còn một bà mẹ.

- Anh không muốn viết thơ cho mẹ không?

Nhì lắc đầu. Tôi hỏi:

- Anh có biết đọc biết viết không?

Nhì lại lắc đầu. Tôi dịch lại cho Trung úy Labrousse nghe, rồi hỏi Trung úy:

- Chúng ta sẽ làm gì với tên được cứu sống này? (Tôi dùng chữ rescapé). Hắn không biết chữ, không thể bắn súng được nữa, chẳng lẽ chúng ta lại đem giam chú bé vào khám sau khi đã cứu mạng sống cho chú bé ấy sao? (Tôi dùng chữ gamin).

Labrousse suy nghĩ không đầy một phút rồi quyết định:

- Thôi, tha cho chú bé về quê với mẹ. Dù sao chú ta cũng không cầm súng bắn lại chúng ta được nữa. Vả lại, (Trung úy mím cười nhìn tôi) tôi thích những chiến sĩ cầm súng bắn lại tôi trước mặt, còn hơn là những kẻ cầm dao găm đâm vào sau lưng tôi.

Tôi hơi chột dạ, quay lại Nhì tôi nói:

- Ông quan Hai tha cho anh về với má đó, anh cảm ơn ông ta đi.

Lần đầu tiên tôi thấy mặt Nhì rạng rỡ lên, cúi người "Cảm ơn". Labrousse cũng trả lời "Tốt, tốt" bằng tiếng Việt đã học lóm được.

Từ đó đến nay, đã 38 năm rồi. Người làm ơn và người nhận ơn không còn bao giờ gặp nhau. Chiều dài của cuộc chiến tranh gần nửa thế kỷ, hai người đã ở xa nhau nửa vòng trái đất, chắc không thể nào nói đến chuyện tri ân. Dù sao tôi vẫn thấy tự hào đã nhìn thấy tận mắt những tình cảm tốt đẹp ấy. Anh bộ đội Cụ Hồ trước cái chết vẫn không quyên nhắc đến Bác. Viên sĩ quan quân đội viễn chinh Pháp trong chiến tranh vẫn không để mất tình người.


1/7/1951 - Một tin làm chấn động dư luận Secteur Long Xuyên. Trung tướng Chanson cùng với Thủ hiến Thái Lập Thành bị hạ sát trong một chuyến đi kinh lược thị xã Sa Đéc, thời kỳ đó là một S/Secteur trực thuộc Long Xuyên. Đại tá Duque đích thân phải đi Sa Đéc để báo cáo tình hình cho Sài Gòn biết. Năm Danh đi Sa Đéc để nắm tình hình, về kể lại: "Sa Đéc tổ chức đón tiếp rất long trọng, Chanson và Thái Lập Thành đang đứng trước hai hàng binh sĩ bồng súng chào, bỗng có một thiếu niên ôm một bó hoa lách hàng quân chạy đến gần. Có tiếng lựu đạn nổ, cả hai tên Chanson và Thái Lập Thành đều chết. Thiếu niên cũng chết luôn. Cả bộ máy mật thám và phòng nhì đều bất lực không thể ngừa trước và cũng không thể tìm ra nguyên nhân vụ mưu sát. Chỉ biết thiếu niên tên Út, đi ở làm con nuôi cho một sĩ quan Cao Đài: Trung úy Văn Thành Cao. Ban Quân báo Khu 8 lẫn Ty Công an Sa Đéc đều không có chủ trương đó. Hôm sau Đốc phủ Nguyễn Văn Tâm đích thân đến Sa Đéc để điều tra về nguyên nhân, tìm hiểu lai lịch vụ án, nhưng cũng chịu bó tay, cuối cùng ra lịnh cho đào mồ, mổ thây Út để xem lá gan bao lớn! Trong cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc ta đã xuất hiện biết bao nhiêu tấm gương anh hùng, liệt sĩ vô danh như thế, đem xương máu mình đổi lại độc lập tự do cho tuổi trẻ hiện nay.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #91 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:46:33 pm »

22/12/1951 - Kỷ niệm lần thứ 7 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là ngày đáng ghi nhớ nhất trong đời tôi. Tổ Đảng, cả 3 đảng viên được triệu tập bất thường ở trên lầu căn phố 36 Lê Lợi, Long Xuyên, và tất nhiên là tôi cũng được tham gia để làm nhiệm vụ thư ký của tổ Đảng như thường lệ. Đồng chí Phương Nam, bí số T.06. nhân danh Chi ủy viên của Chi 50, chủ trì cuộc họp, đồng chí Võ Văn Danh, bí số S.05 vừa từ cơ quan Chi 50 trở về ngày hôm qua. Đồng chí Lâm Thị Phấn, bí số V.29, tổ trưởng Đảng, và tôi Trần Hiến, bí số V.32, tham dự với tư cách Tổ trưởng điệp báo và là người ngoài Đảng. Đồng chí Phương Nam thay mặt Chi ủy đứng lên tuyên bố lý do cuộc họp bất thường của tổ Đảng. Tôi chắc mẩm là để kỷ niệm ngày thành lập quân đội. Đồng chí Phấn liếc mắt nhìn đồng chí Danh lấy trong túi ra 2 tờ giấy pelure màu xanh nhạt đã gấp tư, trịnh trọng cầm hai tay đưa cho đồng chí Phương Nam. Đồng chí Phương Nam mở giấy ra, sửa lại kính cận cho ngay ngắn, lấy giọng đọc vừa đủ cho ba người đứng kề bên, không để lọt ra bên ngoài biết. Trước khi đọc, đồng chí hướng vào tôi nói: "Đây là đảng văn của Tỉnh ủy Cần Thơ gửi cho đồng chí Trần Hiến với bí số là đồng chí 30".


Đảng Lao Động Việt Nam
Tỉnh ủy Cần Thơ
Thường vụ
Số: Đ.B/T.V.T.U      Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 20 tháng 12 năm 1951
   
   Kính gửi: Đồng chí
   (Nhờ Chi ủy Chi bộ Chi Q.B.50)

   Thay mặt Tỉnh ủy, chúng tôi gửi đến đồng chí lời chào "Thân ái và chiến đấu".
   Đồng chí 30.

Thừa lịnh Chánh ủy Phân Liên Khu miền Tây, chúng tôi phải tổ chức buổi lễ kết nạp đồng chí vào Đảng.

Nhưng xét thấy hoàn cảnh hiện tại của đồng chí cũng như của chúng tôi không cho phép, nên buổi lễ ấy phải tạm hoãn lại một thời gian sau. Vì nhiệm vụ công tác và quyền lợi của Đảng của Cách mạng, đồng chí cũng hiểu với chúng tôi trong điểm này. Chúng ta sẽ gặp nhau trong một hoàn cảnh khác.

Đồng chí 30

Sau khi nghiên cứu lịch trình chiến đấu của động chí, chúng tôi nhận thấy:

Đồng chí công tác với địch và sống trong hoàn cảnh phồn hoa đô thị mà không bị cảnh sống đó lôi cuốn, trái lại tinh thần của đồng chí luôn luôn hướng về Đảng, và nguyện vọng duy nhất là làm sao trở thành Đảng viên. Tinh thần đó chúng tôi nhận thấy nó biểu lộ trong công tác hằng ngày của đồng chí, luôn luôn tích cực phụng sự cho Đảng, biểu lộ trong cảnh sống hằng ngày của đồng chí và trong sự cố gắng học tập của đồng chí.


Một điểm mà chúng tôi đặc biệt chú ý, từ khi đồng chí tham gia Cách mạng đến nay đã lập được nhiều thành tích, mà những thành tích đó chỉ có Đảng và Cách mạng biết. Nhưng ở ngoài, đồng chí phải mang tiếng là người của địch, nhưng không vì thế mà làm cho đồng chí nản lòng, trái lại nó còn làm cho đồng chí tích cực với công tác, mà cũng chính nhờ nó mà làm cho công tác của đồng chí được địch tín nhiệm nhiều hơn, đồng chí thành công trong sự tín nhiệm của địch.


Sau khi nhận xét những điểm nói trên, mặc dù chưa tổ chức được lễ kết nạp, chúng tôi thay mặt cho Tỉnh ủy thừa nhận đồng chí là một Đảng viên dự bị kể từ ngày viết thư này.

Chủ trương của Đảng là tạm ngừng kết nạp Đảng viên mới, nếu có kết nạp thì chỉ những người có thành tích đặc biệt trong mùa thi đua. Đây là phần thưởng danh dự đối với đồng chí đã chiến đấu trong lòng địch và đã lập được nhiều công.

Đồng chí được kết nạp trong hoàn cảnh đặc biệt, nhiệm vụ của đồng chí càng phải đặc biệt hơn. Công tác hiện tại của đồng chí nó đã giúp cho Cách mạng rất nhiều. Với năng lực, với địa vị và với sự tín nhiệm của địch với đồng chí, chúng tôi thấy nó còn phải tiến bộ hơn nữa để giúp cho Cách mạng một cách đắc lực hơn nữa.


Muốn thế đồng chí phải nghiên cứu thêm để thực hiện cho được nhiệm vụ của Đảng đã đề ra cho đồng chí. Phải làm những gì mà những tên đại phản quốc đã làm để cho địch càng tín nhiệm đồng chí hơn nữa, phải thật cẩn thận không để một chỗ hở nào mà địch có thể nghi ngờ, trái lại buộc địch phải tín nhiệm, không được quả tả, phải nhận rằng kháng chiến còn dài, chúng ta phải bền chí chiến đấu cho đến khi nước chúng ta được độc lập, dân ta được giải phóng, mục đích của Đảng được thực hiện trên cõi đất này và trên toàn thế giới.

Đồng chí 30

Rất tiếc chúng tôi không gặp được đồng chí để xây dựng về tư tưởng và công tác. Bên cạnh đồng chí đã có rất nhiều tài liệu về Đảng, đồng chí hãy dùng tài liệu đó để học tập, tu dưỡng, trở nên một người đảng viên chân chính, trở nên một người chiến đấu viên rất đắc lực ở trong địch.


Từ trước tới nay đồng chí đã đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng trong ngành Quân báo, nay đồng chí lại đặt mình dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Chi Quân báo 50. Đảng bộ sẽ hướng dẫn đồng chí trong công tác chuyên môn cũng như trong sự sinh hoạt Đảng. Đó là điều kiện để cho đồng chí sẽ hăng hái và tích cực trong nhiệm vụ của mình.

Sau cùng, chúng tôi thành thật chúc đồng chí hăng hái chiến đấu lập được nhiều chiến công. Chúng ta sẽ gặp nhau trong một hoàn cảnh thuận tiện khác để thực hiện ý muốn của Đảng và đồng chí.

Chào Bolchevick

TM. Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Cần Thơ
- Nơi gửi:
- Đc.30
- CU.C50
- Lưu   

Ký tên
Bí thư
Lương Chí
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #92 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:48:15 pm »

Đứng lặng nghe đọc xong bức thư của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, mãi đến khi đồng chí Phương Nam đưa bức thư tận tay tôi, tôi vẫn chưa hết bàng hoàng. Thì ra mặc dù sống trong lòng địch, Đảng vẫn theo dõi thành tích và lối sống của mình. Các đồng chí trong tổ Đảng chắc đã hội ý trước với nhau, cố ý gây bất ngờ cho mình đây, và chờ mình phát biểu cảm tưởng. Tôi cố nén xúc động, chỉ nói được mấy chữ cảm ơn: "Tôi biết nói gì đây. Xin cảm ơn Đảng, cảm ơn các đồng chí". Đồng chí Phương Nam biểu tôi viết thư cảm ơn đồng chí Chánh ủy và nhắc cho tôi biết là Chánh ủy đặt Đảng danh cho tôi "Đặng Văn Chữ" để tưởng nhớ đến một đồng chí đã hy sinh trong lòng địch. Tôi nhận lời, và xin hẹn đến tối sẽ viết thư cảm ơn cấp trên. Cuộc họp tổ Đảng kết thúc gọn nhẹ, đồng chí Phấn đã dọn tôm khô củ kiệu ra để liên hoan nhẹ, ăn mừng ngày sinh lần thứ hai của tôi đúng vào kỷ niệm ngày sinh của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tôi nhìn bức thư, có chữ ký nhưng không có dấu son. Đảng ta đã rút vào bí mật nên không để lại con dấu. Nhưng niềm tin của quần chúng vào Đảng vẫn không hề mất dấu.


Với nguyên tắc hoạt động trong lòng địch, đồng chí Phương Nam khuyên tôi nên đốt bức thư ấy đi. Dầu sao đã có bản lưu ở Chi 50 và ở Tỉnh ủy Cần Thơ rồi. Tôi đốt bức thư mà vẫn luyến tiếc. Nếu sau này hai bản kia cũng mất thì sao? Hoạt động trong lòng địch, tất nhiên không nên để giấy tờ gì làm lộ tông tích mình là đúng. Nhưng sau này kháng chiến thành công, lấy gì để chứng minh đây? Không nên lo quá xa! Hãy lo sao cho mình làm tròn nhiệm vụ trước mắt cái đã. Không ngờ cuộc đời đã dạy tôi cần phải biết phòng xa. Mọi sự bất ngờ đều có thể xảy ra trong cuộc sống, ngay cả trong cảnh an bình.


Căn nhà cũ kỹ số 36 Lê Lợi thị xã Long Xuyên, một trong ba thị xã thuộc Zone Ouest trong những năm đầu thập kỷ 50 thế kỷ 20 (hai thị xã kia là thành phố Cần Thơ và thị xã Rạch Giá) trở thành trụ sở tổ Điệp báo đồng thời là tổ Đảng của Chi bộ đặc biệt 50, một chi bộ trực thuộc Tỉnh ủy Cần Thơ do đồng chí Bí thư Lương Chí trực tiếp chỉ đạo và Chi Quân báo 50 do anh Ba Nguyễn Văn Cự là Trưởng, Phan Thành Miêng và Nguyễn Huy Quỳnh là Phó.


Về mặt hệ thống chuyên môn trực tiếp chịu sự lãnh đạo của Ban Quân báo Khu 9 do anh Nguyễn Văn Phấn làm Trưởng ban. Cho đến hôm nay, 21/1/1989, tôi chưa hề gặp mặt đồng chí Phan Trọng Tuệ, người đã viết thư cho tôi nhân danh Chính trị Bộ chủ nhiệm Khu 9 yêu cầu tôi cung cấp bản đồ địch tình tỉnh Cần Thơ và âm mưu của bọn chỉ huy Pháp ở miền Tây phá hoại Thỏa Hiệp An 14/9, cũng chưa hề biết mặt đồng chí Lương Chí, Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, nhân danh Tỉnh ủy đã viết đảng văn kết nạp tôi vào Đảng ngày 20/12/1951. Dù sao, tôi vẫn biết ơn hai đồng chí đó đã bảo vệ chân lý và xác nhận cho tôi trong quá trình học tập chỉ thị 192 bảo vệ Đảng. Tôi chỉ biết điều đó sau khi đồng chí Dũng, Trưởng phòng Bảo vệ của Bộ Nội thương nắm chắc kết luận của Đảng đoàn và Đảng ủy Bộ Nội thương cuối năm 1974, nói cho biết. Có phải chỉ vì thủ tục kết nạp, hay vì có lý do nào khác? Dù sao tôi cũng thấy mình vô tình, hoặc vô ơn. Nhưng có lẽ như thế lại hay cũng nên, tránh những điều thị phi trong cuộc sống.


Căn nhà ấy, tầng, trệt là phòng tiếp khách rộng 30m2, có kê một đi-văng gỗ, 4 cái ghế "phô-tơi" và 1 cái bàn có mặt đá cẩm thạch hình bán nguyệt đặt sát vách, ở giữa phòng. Chỉ cần dẹp 4 cái ghế "phô-tơi" ra bên vách, phòng khách biến thành sàn nhảy khi cần. Rượu chỉ cần bày ra ở cái bàn bán nguyệt thay thế tủ buffet. Khách khứa có nhiều loại; quan Tây thường xuyên là Trung úy Labrousse, Trưởng phòng Nhì, sành món rượu Sauternes của xứ Bordeaux, nhà luôn có sẵn. Quan ta thì phần lớn là sĩ quan của quân đội bù nhìn, lui tới vì tình thân, bà con bên vợ, chỉ một lần trong năm 50: Đại úy Lâm Văn Phát, kéo theo Trung úy Vĩnh Lộc (năm đó, Phát và Vĩnh Lộc vừa đi học trường Saumur ở Pháp mới về đều bổ sung vào đơn vị Thiết giáp của quân đội bù nhìn). Tôi chỉ chú ý vào một tên trung úy trẻ tuổi tên Lê Ngũ Hiệp làm sĩ quan bù nhìn trong Mission de Liaison Hòa Hảo ở Long Xuyên. Tên này năng lui tới vì mê các cô Sáng và Xuân là liên lạc của Chi 50, bố trí trong nhà tôi viện cớ là bà con bên vợ của nữ đồng chí Phấn. Lê Ngũ Hiệp chỉ mới là Thiếu úy thường gặp Năm Danh lui tới nhà tôi, nên biết mặt.


Đến cuối năm 1952, sau khi tôi đã trở về Khu giải phóng, Năm Danh vẫn còn là liên lạc nội thành. Có một bận, Năm Danh đi ngang cầu Bắc Mỹ Thuận, gặp lúc quân lính bù nhìn đang làm ráp, bắt hết những người tình nghi, không giấy tùy thân. Năm Danh cũng bị bắt. Đến chiều khi Lê Ngũ Hiệp đến, thấy mặt Danh trong sổ bị bắt, liền ra lịnh thả Danh đi, không nói một lời. Tôi nghe Năm Danh thuật lại chuyện đó, thầm cảm ơn Hiệp, nhưng đến nay Danh đã không còn trên cõi đời, Lê Ngũ Hiệp chẳng biết mất còn, nhưng tình cảm ấy vẫn còn in đậm trong lòng tôi. Trong đoàn tháp tùng Phát còn có 2 thiếu úy quân đội bù nhìn nhưng nguồn gốc đạo Hòa Hảo, con ông một lính tập, điền chủ ở Cái Tắc, là Ủy viên Trung ương Phật giáo Hòa Hảo. Đó là Thiếu úy Lý Bá Phẩm và em là Thiếu úy Lý Bá Hương. Hôm đó, dọn món bún bò đãi khách, hai sĩ quan bù nhìn gốc Phật giáo Hòa Hảo nhìn nhau phân vân. Tôi chợt nhớ là đạo Phật giáo Hòa Hảo cữ ăn thịt bò. Tôi xin lỗi hai vị khách trẻ và nói thành thật: "Nhà không còn món gì khác, hai cậu tạm dùng mặn vậy". Thế là nể tôi, và có lẽ nể Đại úy em vợ tôi hơn, cả hai tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đều cầm đũa ăn ngon lành, vì có lý do để phá giới và vì sức hấp dẫn của vật cấm kỵ. Cần nói thêm: một ông ủy viên trung ương Phật giáo Hòa Hảo có lần đến xin tiền tôi tại nhà. Tôi vẫn hào phóng bỏ 400 đ vào phong bì để tặng ông, và đến lúc gần tập kết, ông có về Cái Tắc nhắn tôi ra để ông thăm. Tôi chỉ dặn dò ông có một câu: "Tôi đi ra Bắc chừng hai năm sẽ về. Ở nhà xin ông giữ sức khỏe sống lâu, dặn hai cậu đừng làm gì hại dân hại nước để sau này còn gặp nhau trong một gia đình". Ông gật đầu, rơm rớm nước mắt. Tôi tin là ông vẫn có nhớ lời tôi dặn. Nhưng hai cậu con ông có nghĩ gì đến đạo lý của cha ông? Đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông già không còn nữa, nhưng hai đứa con ông? Tôi chỉ biết một đứa lên Đại tá làm Tỉnh trưởng Định Tường, bị ta bắn trọng thương, may không chết. Thế đấy, cũng đủ kết luận một kiếp người và một đạo lý ở đời.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #93 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:49:09 pm »

Ở tại căn nhà đó, tôi cũng đã gặp nhiều tướng cướp Hòa Hảo khét tiếng, như Ba Cụt, Hai Niệm, như tên đội Hiền đến đánh cướp nhà tôi và được tôi tha chết. Mỗi người đều không có gì phải oán thán về cách đối xử của tôi, thậm chí có người còn ơn nghĩa. Tuy nhiên có một cuộc gặp làm cho tôi băn khoăn. Một hôm có cô thư ký riêng của Năm Lửa bước vào nhà tôi. Cô ta người Huế, lúc đó khoảng dưới 30 tuổi. Cô ấy trình bày hoàn cảnh khó khăn vì bị Năm Lửa nghi ngờ, vì trước khi vào làm với Năm Lửa, cô đã từng làm thư ký cho đại đội trưởng Bửu Vinh của Chi đội 18 đóng tại Sa Đéc, là bộ đội Việt minh. Cô khóc lóc xin cho về vùng Việt minh để kháng chiến. Tôi chỉ ngồi trinh sát để đồng chí Phấn tiếp chuyện cô ta. Đồng chí Phấn hỏi tôi:

- Thế nào, anh tính sao?

Tôi cũng suy nghĩ nhiều về giọt nước mắt của người đàn bà: chân tình hay cá sấu? Cuối cùng tôi phải mở cho cô ta một cánh cửa:

- Thôi đừng khóc nữa, vì tình đồng hương tôi thành thật khuyên cô: - Nếu cô đến tôi để hy vọng làm cho 2è B. Pháp thì đừng hòng, 2è B. sẽ trả cô trở lại với ông Tổng ngay. Còn cô muốn theo Việt minh thì chán gì ngõ để cô đi. Xe đò từ đây về Cần Thơ, chặng Ô Môn - Bình Thủy, không có Hòa Hảo, hỏi người dân nào lại không phải Việt minh. Còn hỏi tôi, sợ e cô hỏi lầm địa chỉ.

Cô từ giã ra về còn mếu máo:

- Phen này chắc em chết quá!

Sau này tôi có hỏi lại anh Bửu Vinh, thì quả cô ta đã có làm thư ký cho anh ấy hồi còn ở Sa Đéc. Biết thế nào được, nghề nghiệp buộc phải vô tình. Nếu cô ấy còn sống cũng đã ngoài 60, chắc cũng lượng thứ cho người đồng hương, bất đắc dĩ phải ngoảnh mặt làm ngơ trước cảnh ngộ người con gái sa cơ lỡ vận.


Nhà tôi ở cạnh đường cái, nhưng khách vào ra chủ yếu là các sĩ quan Pháp, bù nhìn, Hòa Hảo và phiên dịch nhà binh Pháp. Đối với số phiên dịch viên, tin tức và cũng không biết còn hay mất. Một anh là Ô Văn Hiền. Anh ta là Trung sĩ phiên dịch được đổi về S/Secteur Châu Đốc, khi đến trình diện ở 2è B. Secteur, chưa có xe về Châu Đốc, tôi mời anh lại nhà tôi nghỉ tạm. Sau bữa cơm thân mật có tính gia đình tôi đưa mấy tờ báo công khai ra cho anh xem, rồi cùng nhau bàn luận thời sự. Qua đó tôi hiểu anh vẫn có lòng yêu nước thương nòi, nhưng vì sinh kế phải xin vào ngành phiên dịch viên cho quân đội Pháp, hợp đồng 3 tháng ký lại 1 lần như tôi. Anh ta cho biết đã có vợ con, và đã từng làm phiên dịch cho bọn Nhật. Gia đình ở Quảng Ngãi. Mỗi khi anh về Long Xuyên báo cáo tình hình anh đều ghé tôi cả. Hồi đó ở S/Secteur Châu Đốc chưa có cơ sở của C.50. Tôi mạnh dạn nhờ anh ta giúp đỡ. Ban đầu báo cáo miệng, sau báo cáo viết, sau nữa báo cáo bằng mực nước cơm. Sau năm 1951, anh thôi luôn. Tôi cũng không tìm gặp lại anh. Dù sao, anh là người cho, tôi là người nhận, và cũng không biết cụ thể cơ quan tôi phục vụ. Hơn nữa, tôi đang được Labrousse tin dùng. Nếu Ô Văn Hiền còn sống, cũng đã ngoài 75 "cổ lai hy".


Trường hợp một anh khác. Cũng phiên dịch viên, nguyên là thầy giáo ở Sóc Trăng, gọi là thầy giáo Sanh. Anh ta là trung sĩ phiên dịch của đoàn B.C.E.O. được theo Đoàn về khám xét bắt bớ một người ở thị xã Rạch Giá. Đi ngang Long Xuyên, bọn sĩ quan phản gián (B.C.E.O.), Trung úy Barat và Thiếu úy Mas kéo nhau vào Câu lạc bộ sĩ quan Pháp ăn tối. Tan sở, nhìn ra thấy chàng Trung sĩ người Việt đứng bơ vơ một mình. Tôi liền mời anh về nhà tôi ăn cơm và nghỉ đêm. Tất nhiên, anh nhận lời mời. Bổn cũ soạn lại để tiếp khách đồng nghiệp. Cơm xong, đọc báo chung, bàn luận thời sự, hỏi thăng lương bổng, cùng nhận định mức lương phiên dịch viên chỉ bằng 1/10 lương của lính Pháp cùng cấp bậc. Được biết Sanh là thầy giáo, tôi cũng tự nhận mình cũng là thầy giáo dạy Taberd, rồi nói luôn:

- Tụi mình ở trong một ngành đi ngược lại những điều mình đã dạy dỗ học sinh. Nhớ lại bài học thuộc lòng của luân lý giáo khoa thư cụ đồ Thận: "Thương người như thể thương thân" nhiều khi mình cũng thấy xấu hổ với lương tâm.

Sanh nói:

- Thì mình cũng cố phiên dịch sao đúng nghĩa, đừng để "bút sa gà chết".

Tôi phụ họa theo:

- Làm sao lời mình nói ra đồng bào đỡ khổ thế là cũng tốt.

Hôm sau, chúng tôi cùng đi với đoàn B.C.E.O. về thị xã Rạch Giá. Tôi được Labrousse cử đi, vì S/Secteur Rạch Giá tuy đã giao cho 2è BVN quản lý, nhưng vẫn thuộc quyền Secteur Long Xuyên. Vì đoàn B.C.E.O. muốn trực tiếp thi hành phận sự, không cần thông qua cấp chỉ huy S/Secteur Rạch Giá do Thiếu tá Bùi Văn Hai cầm đầu. Chỉ cho biết khi sự việc bắt đầu tiến hành.
B.C.E.O. bắt đầu xét nhà và bắt người về điều tra tại văn phòng S/Secteur. Chúng chỉ tiến hành xét nhà đúng vào nửa đêm, không gây tiếng động. Hôm sau, có Đại úy Daugré chỉ huy B.C.E.O. ở Sài Gòn xuống. Hắn là một người tuổi ngoài 50, đầu tóc hói tận đỉnh. Tôi thầm so sánh, ước lượng sức lão không thể chịu nổi một quả thôi sơn của tôi đúng vào chỗ hiếm khi cần thiết. Bộ chỉ huy họp lại để nhận định tình hình. Đây là dịp để tôi quan sát đối thủ và cách làm việc của chúng.


Tối hôm ấy, chúng bắt một người trung niên tên là Huỳnh Thiện Môn, đem ra hỏi cung. Hết Trung úy Barat tới Thiếu úy Mas thay nhau hỏi cung, một chai Rum để trên bàn, một cây "ma trắc" bên cạnh, Trung sĩ Sanh làm phiên dịch. Tôi nằm trên lầu vẫn nghe tiếng rên la của người bị tra tấn, trằn trọc không ngủ được.


Đến gần nửa đêm, Sanh lên lầu thấy tôi còn thức liền nhờ tôi xuống thông ngôn giùm. Anh nói:

- Anh xuống giúp tôi. Tôi không chịu nổi, thằng Mas nó vừa nốc Rum vừa đánh Việt minh bắt phải khai thật!.

Tôi hỏi:

- Nó đã khai gì chưa?

- Nó chỉ nhận là em của Huỳnh Thiện Lộc.

Tôi nhận lời, trong đầu đã phác họa kế hoạch chữa cháy. Tôi xuống thấy Thiếu úy Mas đang cầm chai rượu mạnh rót vào cốc vại. Tôi bắt tay hắn. Bàn tay hắn khỏe, hơi nham nháp mồ hôi. Mặt hắn đỏ gay, bộ mặt phốp pháp cũng như toàn thân tràn trề sức mạnh một tên đô vật. Hắn còn nhỏ hơn tôi chừng năm tuổi. Tôi tấn công:

- Tôi sẽ chạm cốc với anh!

Hắn rót luôn phần còn lại của chai Rum ra một ly khác. Tôi đưa ly lên cao "Nous trinquons sec" (chúng ta uống khan vậy!), về tửu lượng, hồi đó tôi cũng là một địch thủ đáng gờm. Hơn nữa, trước khi xuồng lầu, tôi đã nuốt liền 2 viên aspirine để giã rượu. Chén chú chén anh "chúc sức khỏe" (à votre santé, à la vôtre), Mas thích thú vì gặp được kỳ phùng địch thủ, quay hẳn lưng về tên tù binh cần thẩm vấn Huỳnh Thiện Môn, cây ma trắc để lăn lóc trên bàn không còn buồn cầm đến. Cho đến lúc Mas gục hẳn trên bàn, tôi cũng chếnh choáng đến vực nó và dìu nó về phòng ngủ. Khoát tay cho tên lính giải Huỳnh Thiện Môn đi trở lại phòng tạm giam. Tôi suy nghĩ: "B.C.E.O. còn muốn gì đây? Nội cái tội là em của Bộ trưởng Canh nông Việt minh cũng đủ cớ để cho chúng cầm tù mọt gông rồi". Dù sao tôi cũng đã nhận mặt được bọn chúng và hiểu được phần nào thủ đoạn của chúng. Tôi không gom Sanh vào bọn chúng. Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết Sanh không thể là người Việt Nam đã mất hết lương tâm, vì anh đã là người có dạy học. Chú Tư Ngà sau này trở về hưu ở quê cũ, dãy phố 18 căn đường Lộ Mới ở Cần Thơ đã từng bị bọn B.C.E.O. giam cầm tra tấn, đã cho tôi biết cụ thể hơn về người phiên dịch đó lúc chú bị giam ở Tân Sơn Nhì: Hôm đó, chú bị giam chung phòng với Hai Quí. Trung sĩ phiên dịch Sanh đi ngang qua, biểu chú Tư Ngà đi theo kỳ lưng cho anh ta tắm, vào phòng tắm, Sanh dặn nhỏ: "Tụi bây đừng nói chuyện riêng với nhau to tiếng, vì bên vách phòng giam có đặt micro cả". Thế là anh vẫn có lòng tốt. Nhưng lòng tốt của con người cũng có giới hạn nhất định không thể vượt qua. Chúng tôi trân trọng những tấm lòng Ưu ái giữa bốn bức tường kín mít của quân thù. Cuộc chiến đấu trong lòng địch vẫn còn tiếp tục.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #94 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:50:40 pm »

CHƯƠNG 12
ĐOÀN PHẢN GIÁN CB.C.E.O.


1951 - 1952

Sau khi theo đoàn B.C.E.O. xuống S/Secteur Rạch Giá, tôi đã bước đầu thấy được tận mắt kẻ thù trực tiếp cần đối phó. Đó là Đoàn "Brigade de Contre Espionnage opérationnel (Đoàn phản gián hành động) của Bộ Tổng Tư lịnh Quân đội Pháp. Đó là một sáng kiến của Tướng De Lattre de Tassigny, để trực tiếp đối phó với các hoạt động tình báo. Công an của Việt minh đang gây nhiều lỗ rò (fuite) trong các Bộ chỉ huy quân sự ở các quân khu miền Tây (Zone Ouest). Tôi đã cảm nhận tình hình đó ngay từ khi có bức thư nặc danh tố cáo tôi sau chiến dịch Long Châu Hà II mà kết quả trực tiếp là Sáng phải mất việc. Đoàn phản gián của Bộ Tổng Tư lịnh Pháp đã trực tiếp hành động, cần phải cẩn thận nhiều hơn nữa. Và phải tìm hiểu nhiều hơn về đối phương để bảo vệ cơ sở, bảo vệ mình tốt hơn. Vịn vào cớ bị bệnh trĩ kinh niên, tôi xin phép Labrousse đi Sài Gòn để điều trị, nhân dịp nghỉ phép năm 15 ngày, tiêu chuẩn phép năm 1951. Labrousse đồng ý và nhân thể biểu tôi trả lại vũ khí để vào kho cho an toàn hơn. Một khẩu Mi-Mas và một súng ngắn local của bọn đầu thú đem ra hàng. Tôi thấy cũng hợp lý nhưng cũng suy nghĩ liệu Labrousse đã có nghi ngờ gì về lý do tôi trị bệnh chăng? Tôi phác thảo kế hoạch lên Sài Gòn. Được ở Sài Gòn dài ngày, tôi dự định thăm những người quen cũ của tôi, những bà con bên vợ, xong rồi mới đến Cây Mai trị bệnh trĩ tại nhà bà Lê Minh Đường, nổi tiếng về trị bệnh trĩ. Trước hết, tôi và nữ đồng chí Phấn đến đường Champagne (nay là Võ Thị Sáu) tìm đến nhà Thiếu tá Lâm Văn Phát ăn ở với bà Thu, con gái của huyện Kệ - một địa chủ lớn có nhiều điền ở Sóc Trăng. Biệt thự của bà Thu khá sang trọng, ngoài ra, bà vẫn có một cửa hàng bán điểm tâm "Les Prégogifébriques" tại ngã tư đường Gia Long và Charner. Bà Thu dẫn chúng tôi đến ăn sáng, kêu phở Bắc đãi anh chị chồng rồi đưa xe về nhà, dọn cho chúng tôi ở một phòng lịch sự, có điện thoại riêng ở trong biệt thự đường Champagne. Bà Thu cho biết là Phát đã được đổi ra miền Bắc, đang là chỉ huy một G.M. (Trung đoàn cơ động) hành binh ở vùng Ninh Giang (Hải Dương), bà Thu hiện đang ở một mình làm bạn với một thiếu úy nhảy dù tên Hùng. Cũng như với Phát, quan hệ Thu với Hùng cũng già nhân nghĩa, non vợ chồng.


Hai chúng tôi từ giã cô em dâu tạm, tìm ở nhà khác. Vợ tôi (đồng chí Phấn) dẫn tôi xuống Cầu Muối, vào xóm nhà lá tìm cậu Năm Sâm. Cậu Năm Sâm là em cùng cha khác mẹ với bà giáo Phận, quê ở Sóc Trăng, lên Sài Gòn từ tháng 4 năm 1948, làm công chức đánh máy ở Tòa Đô Chính Sài Gòn cho mãi đến ngày giải phóng. Mợ Năm tên Lộc, vốn ở Châu Phú (Châu Đốc) lên Sài Gòn, ở đợ, làm công nhân, xây dựng gia đinh, nhưng không có con. Hai vợ chồng cậu Năm ở một căn nhà lá chật hẹp trong xóm lao động, trước chợ Cầu Muối, rất vui mừng gặp chúng tôi, và sẵn sàng chia sẻ chỗ nằm nhường cho chúng tôi ở. Chật bụng chứ chật chi nhà!


Chúng tôi ở nhà cậu mợ Năm suốt thời gian trị bệnh, thấm thìa tình cảm giai cấp, chan hòa tình cảm gia đình. Hai cậu mợ ở một căn chòi lá cất giữa bao nhà lá khác của xóm nhà nghèo. Nền đất không đầy 9m2: cả bếp nước, cầu tiêu, hai cái giường tre ngăn đôi bằng một tấm liếp cót. Giường ngoài là nơi tiếp khách dành cho vợ chồng tôi, giường trong là nơi cậu mợ nằm. Không bao giờ cậu mợ than nghèo than khổ, cậu nói:

- Tụi mình có cái lều mà ở là sướng hơn thiên hạ rồi. Các cháu biết không, ở đây công nhân không có nhà ở, phải mướn một chỗ nằm 90 đ/tháng đa!

Lâu lâu mợ Năm làm công nhân hãng đồ hộp đem về một hộp trái cây khui ra cho chúng tôi ăn. Mợ nói:

- Giấu kỹ lắm đó, mới đem ra lọt cổng, thằng Chà gác cổng nó xét dữ lắm, công nhân nữ nó càng xét kỹ từ nách xuống háng.

Tôi hỏi thăm gia đình, mợ cho biết có một người anh là huyện đội trưởng Châu Phú đã bị bọn Hòa Hảo Hai Ngoán giết chết. Nhà ở gần chợ Cầu Muối, có một rạp hát bội nổi tiếng hồi đó là Tân Thành Ban, có cô Ba Bê, đào hát chuyên đóng vai kép. Cậu Năm Sâm mua vé cho chúng tôi, dân tỉnh lẻ, đến thưởng thức cho biết nghệ thuật ở Sài Gòn.


Tôi cũng được biết danh tiếng các đào hát nổi danh ở Sài Gòn hồi đó, cải lương có các cô Năm Phỉ, Phùng Há, hát bội có cô Ba Bê. Nhưng cái làm rung động tim tôi nhất lại không phải là tiếng đàn hát trong các rạp đồ sộ. Nhân một buổi cả nhà đều đi làm hết, tôi lần đi sâu vào trong xóm nhà lá, bỗng nghe tiếng hát "Tiểu đoàn 307" vang lên, tôi lần tìm tới chỗ. Một bác xẩm mù đang hát bài hát kháng chiến, với nhiều thính giả bao quanh. Một đứa nhỏ ngã nón đứng bên cạnh. Đột nhiên như có báo động, bác xẩm mù chuyển sang nói thơ Vân Tiên. Tôi vốn không biết âm nhạc, nhưng cảnh tượng đó làm tôi xúc động nhiều. Thì ra lòng dân ở xóm nghèo bất cứ lúc nào cũng hướng về kháng chiến, về Cách mạng. Chúng tôi tiếp tục đi tìm các địa chỉ quen thuộc ở Sài Gòn. Trở lại đường Champagne, chúng tôi vào thăm nhà của Thái Thúc Nha, chủ tiệm Alpha film ở đường Charner. Alpha film là một tiệm nhập cảng phim và máy ảnh từ Mỹ, có cả ảnh chụp hình màu, tiệm duy nhất có phim màu của Mỹ. Thái Thúc Nha là con của Thái Thúc Hoành, một quan lại triều đình Huế. Nha là nhà buôn lớn có đi lại thân thiện với Barat một viên cò lính kín, hiện đang phục vụ cho B.C.E.O. với cấp bậc trung úy. Nha lấy cô Agnès là em ruột của Tư Quí, nên cô Tư Phết lên ở nhà sau của Nha để đi bán vé rạp hát. Cảnh ở đậu nhà em rể của chồng cũng không có gì là thoải mái lắm. Nha vẫn nồng nhiệt tiếp đón chúng tôi, mở một chai Whisky ra đãi tôi. Thú thật tôi khá rành về rượu Tây, nhưng về hương vị rượu Mỹ lần đầu mới nếm, thấy hôi mùi bọ xít quá, muốn phun ra nhưng nể chủ nhà, cố nuốt và khen ngon. Mục đích của tôi là muốn hiểu thêm về tên Barai, nhưng hoặc do kín đáo, hoặc vì lý do nào khác, Nha không cho tôi biết nhiều về tên Trung úy B.C.E.O. ấy. Tôi gặp Tư Quí lần đó cũng ở nhà Nha. Một gia đình buôn bán lớn, gốc phong kiến lại có quan hệ với B.C.E.O. ấy. Thật đáng lo cho Tư Quí. Tuy không yên tâm, nhưng cũng không tiện nói ra, làm cho Tư Quí thêm hoang mang.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #95 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2026, 09:51:25 pm »

Trở về ngủ tại nhà cậu Năm Sâm, chúng tôi yên tâm hơn. Hôm sau tiếp tục đi kiếm những nhà quen. Tôi tìm được địa chỉ của Mai Chùy, người bà con ở làng, em ruột Mai Xuẩn, bạn tôi. Tôi chỉ biết anh đã đem cả gia đình đi Xiêm từ đầu năm 1946. Chùy lúc này đã lấy vợ, có nhà ở quận Phú Nhuận lúc đó còn hoang vắng lắm. Chùy đã làm sĩ quan công binh nhưng trong nhà cũng chỉ đủ ăn. Tôi gặp cả hai chị em cô Nguyệt và Huệ, con gái của anh Tư Bằng, bạn của Mai Xuẩn lúc còn làm Commis hãng Arsenal Pháp, hai chị em vẫn còn công tác phụ vận ở Sài Gòn. Cô Huệ cho tôi biết đang làm ở tổ chức công đoàn và sắp tới có thể chuyển về Sóc Trăng. Hai chị em vẫn tin tưởng ở tôi, mặc dù tôi mặc binh phục Pháp mang lon Chuẩn úy trên vai. Tôi đặt vấn đề thẳng với Nguyệt:

- Nếu khi nào anh cần ra vùng giải phóng, em có dẫn anh đi được không.

Nguyệt gật đầu nhận lời. Tôi quay sang Huệ:

- Còn Huệ, em về Sóc Trăng, nếu có khó khăn gì thì tìm tới anh. Tới Long Xuyên, hỏi tên anh thì ai cũng biết.

Và tôi đưa địa chỉ của tôi cho Huệ. Chúng tôi bắt tay nhau như một cái giao kèo tín nhiệm của những người đã từng hiểu biết nhau. Thế đấy cuộc sống trong lòng địch luôn luôn phải biết phòng xa, trân trọng những tình cảm có thể gặt hái được. Sau đó, quả Huệ có đổi đi Sóc Trăng, tập kết học ngành Y, thành lập gia đình, trở về thành phố Hồ Chí Minh, làm Giám đôc Bệnh viện Hồng Bàng, nay đã mất. Gia đình anh Tư Đặng vẫn ở trong căn nhà cũ kỹ ở bên rạch Thị Nghè, đối diện Sở Thú.


Chùy cho biết anh Mai Xuẩn ở Bangkok có viết thư về, và nay mai má của Chùy, bà Viên Phu cũng về Sài Gòn ở với Chùy. Tôi hẹn sẽ trở lại trong tuần sau. Yên tâm về nơi ở và đường dây để rút ra ngoài thành khi có biến, chúng tôi vào Chợ Lớn kiếm nhà thiếu tá Nguyễn Tri Long. Theo kế hoạch từ trước, khi thấy 2è B. có hồ sơ theo dõi Ngô Đình Diệm, tôi đã thảo luận trong tổ Đảng về kế hoạch của tôi định chui vào hàng ngũ Ngô Đình Diệm, vì biết rõ đây là lá bài của Mỹ chuẩn bị thay thế Pháp. Kế hoạch đó đã được tổ Đảng và Chi 50 chấp nhận. Tôi đã viết sẵn một bức thư cho Linh mục Thích và nhờ đồng chí Phương Nam, Chi ủy viên đưa về Chi 50 để cho người cầm tay ra Huế chuyển cho Cha Thích. Nếu được Cha Thích chấp thuận, tôi sẽ tìm cách trở về Huế. Thông qua Cha Thích, vốn là cha linh hồn (cha lựa chọn để xưng tội) của Diệm và đã từng cộng tác với Diệm trong lễ tấn phong Giám mục Ngô Đình Thục, nên tôi chắc kế hoạch sẽ được tiến hành thuận lợi. Tôi đến gặp Thiếu tá Long, vì được tin Long ở một căn phố trên đường Galliéni (nay là Trần Hưng Đạo), tiếp chúng tôi thân tình. Tôi ngỏ ý muốn theo Long ra Huế công tác, Long đồng ý ngay "Để tao ra đó đã, rồi sẽ xin mày ra theo sau". Tôi hỏi thêm về đoàn B.C.E.O. Long cũng không biết gì hơn ngoài những tin tôi đã biết. Kế hoạch ra Huế kể như bước đầu có thuận lợi. Tuần kế tiếp làm một bài thơ 4 câu để cảm ơn bà Lê Minh Đường. Bà cho đăng lên báo hằng ngày, có cả tên và địa chỉ tác giả nhằm mục đích quảng cáo.


Không ngờ bài thơ quảng cáo đó lại là bằng chứng chứng minh sự có mặt tôi ở Sài Gòn, trong lúc ở Long Xuyên, Labrousse lại nghi ngờ tôi đi vào vùng giải phóng. Trước khi trở về Long Xuyên, tôi lên Phú Nhuận một mình để thăm bà Viên Phu và hỏi tình hình làng xóm. Đã lâu lắm rồi, từ 6 năm nay, tôi không biết tin tức về mẹ, em gái và con trai tôi sống chết ra sao cả. Tôi không muốn cho gia đình tôi biết tôi đang làm việc cho giặc, sợ liên lụy đến người thân. Mặt khác, tôi phải gánh một trách nhiệm khá nặng nề không thể chia sẻ cho ai được. Tôi tin là dù sao, ở quê nhà, không ai nỡ bỏ ai đói cả. Điều đó đã thành tập quán tốt của dân tộc. Gặp bà Viên Phu, vốn tôi gọi bằng O, lúc tôi còn nhỏ, đã từng cho tôi ăn uống, tôi coi như một người mẹ ruột. Thấy tôi mặc đồ nhà binh Pháp, đeo lon vàng chói trên vai. O Viên cau mày nói thẳng: "Mi có biết mạ và con mi đang dắt nhau đi ăn xin khắp làng không, mà mi ăn sung mặc sướng rứa!". Tôi xấu hổ thật sự. "Hơn nữa, mi lại theo Tây phản lại cha ông mi!". Tôi xám mặt không dám cãi lại một tiếng nào. Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy khổ sở như lúc ấy. Tôi ráng lặng thinh nghe lời bà O xỉ vả, rồi sau hỏi thêm O tình hình cụ thể hơn. Thì ra, sau trận càn quét giữa năm 1951, cả làng bị giặc đốt sạch, em gái tôi, O Hợi, bị bọn Tây đem hãm hiếp, mẹ tôi phải dẫn thằng Xiềng con tôi đi xin ăn khắp các làng, lang thang, rách rưới. Không cần thấy tận mắt, tôi cũng hình dung được cảnh cơ cực đến thế nào rồi. Tôi cố nuốt nước mắt, đứng lên chào O Viên, ra về. "Mi tính răng?". Tôi chẳng biết trả lời sao cho phải. Đơn vị đang bị B.C.E.O. tấn công. Nhiệm vụ của tôi thật khá nặng, phải tìm cách vừa đánh giặc, vừa bảo vệ mình, vừa bảo vệ cơ sở. Thêm vào đó, còn hoàn cảnh gia đình không lẽ nhắm mắt làm ngơ?


Hôm sau chúng tôi mua vé xe đò trở về Long Xuyên để mong chờ họp tổ Đảng, nhờ các đồng chí giải quyết giúp. Đi ngang Cần Thơ, tôi không quên ghé thăm chú Tư Ngà (V.52), Trần Huy (V.35) và cô Nhụy (V.18) để báo động về tình hình mới: bọn B.C.E.O. đang dòm ngó miền Tây, cần cảnh giác và phổ biến một số địa điểm liên lạc khi cần rút gấp. Đặc biệt, tôi dặn dò Huy khi cần đi gấp thì đến ngay chùa Nữ ở Cái Khế, cầm 5 thẻ nhang rồi xin ni cô thêm 7 thẻ nữa. Ni cô sẽ dẫn xuống xuồng bơi về vùng ta kiểm soát. Đó là địa điểm bí mật, chỉ khi nào cấp bách mới sử dụng tới. Địa điểm đó do bà giáo Phận đảm trách, vì bà thường hay viếng chùa. Trao đổi thêm với Trần Huy, tôi biết từ ngày Michel Đức đổi về Cần Thơ, hắn tỏ ra hăng hái, và vừa rồi hắn đã dịch một số tài liệu Việt minh gửi về Sài Gòn, trong đó có vụ án hai vợ chồng Quận Bằng, chủ quận Bình Đại đi vào vùng giải phóng. Tôi hỏi Huy sao không thủ tiêu tài liệu đó đi, thì Huy nói là thằng Michel Đức chụp được tài liệu, đem dịch ngay. Tôi lo cho Huy vì vụ Quận Bằng trốn đi có liên quan đến cả Trần Huy và chú Tư Ngà. Nhưng hiện cả hai vợ chồng Quận Bằng vẫn còn ở vùng giải phóng, nên không đủ bằng chứng để buộc tội Huy, nếu bọn B.C.E.O. phát giác được.


Về đến Long Xuyên, họp tổ Đảng, tôi đem vấn đề gia đình ở quê lâm nạn báo cáo với tổ Đảng để xin ý kiến tập thể giải quyết. Tổ Đảng nhất trí cần phải đem gia đình, mẹ, em gái và con trai tôi vào tính toán tiền nong bao nhiêu nhờ Chi bộ giúp. Tôi tính toán khoản mua vé máy bay, trên dưới 10.000 đồng. Nữ đồng chí Phấn cho biết tiền lương tôi vừa lãnh đầu tháng được 3.000 đồng, còn thiếu khoảng 7.000 đồng. Đồng chí Phương Nam và Năm Danh chịu trách nhiệm báo cáo với Chi bộ C.50 bổ sung cho đủ số. Mấy hôm sau, Năm Danh trở về cơ quan báo cáo, các đồng chí đều tán thành việc rước gia đình tôi vào, và quyên góp đủ số tiền cần giúp đỡ để mua vé máy bay. Nhận được số tiền, kể cả tiền lương còn lại, đủ 10.000 đồng. Tôi liền gửi ngân phiếu cho Nguyễn Văn Hưng, nhân viên Ty An ninh Trung phần kèm theo một bức thư, nói rõ yêu cầu mua vé máy bay cho gia đình tôi vào Sài Gòn, và đánh điện báo cho tôi biết chuyến bay để lên đón. Hưng là con của ông chủ cũ của tôi tên Cáp, làm chủ sự Bưu chính Cửa Tùng hồi tôi còn nhỏ. Tối đã dạy cho nó học, nên nó không thể quên tôi, và sẵn sàng giúp đỡ. Tôi tin thế. Mặt khác, tôi viết thư báo cho Cha Thích biết gia đình tôi gặp nạn, nhờ Cha giúp cho tá túc lúc ở Huế chờ vé máy bay đã nhờ Hưng mua. Tôi tin chắc vào tình cảm và lòng nhân hậu của Cha Thích, nên yên trí chờ không cần thư trả lời.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #96 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 09:49:52 pm »

Sau Tết 1952, tôi nhận được điện từ Huế đánh vào, nói rõ chuyến bay đưa gia đình tôi vào Sài Gòn. Tôi cùng đồng chí Phấn lên Sài Gòn, ở nhờ nhà cậu mợ Năm Sâm ở Cầu Muối rồi thuê xe taxi lên Tân Sơn Nhất đón chuyến máy bay từ Huế vào. Tôi đứng ngoài cổng rào nhìn ra sân bay, đợi giờ sum họp. Trên máy bay bước xuống mẹ và con tôi cũng mặc theo lối nông thôn nhưng cũng lành lặn đang ngơ ngác nhìn quanh thì thằng Xiềng đã buông tay bà nội, vừa chỉ, vừa chạy: "Ba con đây nè, mệ ơi!". Nó đã lớn lên khác hẳn tôi hình dung. Xa cách 7 năm, nó vẫn nhận ra tôi, mặc dù tôi đã khác hẳn trước về ăn mặc và tư thế. Tôi giới thiệu vợ tôi cho mẹ tôi biết, rồi đưa gia đình tôi về ngủ ở một phòng trọ, hôm sau đi xe đò về Cần Thơ, vào thăm gia đình bên vợ tôi, rồi đưa về Long Xuyên ở với vợ chồng tôi. Thế là sau Tết 1952, tôi được sum họp cả gia đình tại căn nhà 36 Lê Lợi Long Xuyên. Cảm ơn Đảng, cảm ơn Chi bộ đặc biệt Chi 50 đã tạo điều kiện cho tôi có được niềm vui ngay cả trong lúc đang còn chiến đấu cam go nhất một mất một còn với quân thù. Tôi được yên tâm hơn để đối phó với những khó khăn do bọn B.C.E.O. đem lại: Ở Cần Thơ một số vụ bắt bớ đã xảy ra, nhưng chỉ dính líu đến mạng lưới của Tiểu ban quân báo của Tỉnh đội Cần Thơ. Mỗi lần chiếc xe Chevrolet bịt bùng sơn đen từ Sài Gòn xuống là y như đêm có bắt bớ một vài người về Sài Gòn để thẩm vấn. Ở Long Xuyên, mối quan hệ giữa sếp 2è B. Secteur, Trung úy Labrousse với tôi có phần dè dặt hơn trước. Qua một số sự việc, tôi liên kết lại để thấy sự tín nhiệm có phần giảm sút, sự kiểm tra có phần tăng lên. Sau khi Labrousse biểu tôi trả lại vũ khí tôi mượn để phòng cướp trước ngày tôi đi phép về, Trung úy không nói chuyện cho tôi mượn lại súng để phòng vệ nữa, tôi cũng làm ngơ luôn để bệnh trĩ trở về, y có ý ngờ tôi xin phép để ra vùng Việt minh, nên không tin là tôi lên Sài Gòn để trị trĩ. Tôi nhìn thẳng vào mặt sếp tôi, nói trâng tráo: "Vous voulez que je vous montre mon cul pour le constater de visa?". Tôi biết là câu nói có vẻ xấc xược, nhưng vẻ mặt tôi quả thành thật. Đít tôi vẫn còn phải băng bông, nếu cần tôi sẽ cởi ngay trước mặt hắn. Y thấy tôi nói quá trớn, vội rút lui hai tay xoa xoa không khí: "Assez, assez!".


Thế là tôi cần phải cảnh giác hơn nữa. Trong lúc đó, tôi cũng mời Labrousse đến thăm gia đình tôi mới ở Huế vào. Tôi giới thiệu mẹ tôi. Hắn cũng lễ phép cúi đầu bắt tay, nhưng mẹ tôi bản chất vốn nông dân đã sẵn ý ghét Tây thâm căn cố đế, nên không thể nào giấu nổi vẻ mặt khó chịu. Da mặt vốn đã nhăn nheo, co rúm lại. Sau đó, mẹ tôi nhỏ nhẹ hỏi tôi:

- Mi có nhớ ai đã giết ông nội mi không?.

Tôi mỉm cười giả lả với mẹ:

- Ôi! Chuyện xưa rồi, nhớ làm chi cho mệt đó, mạ ơi!

Thấy mẹ tôi vẫn u uất, tôi nói thêm:

- Mạ đã già rồi, đừng nghĩ nhiều. Con cháu được ăn sung mặc sướng là nhờ phước đức ông bà để lại đó, mạ ạ!

Coi chừng mạ tôi vẫn chưa thỏa mãn, gặp vợ tôi lại năn nỉ:
   
- Con ráng địch vận nó đi! - Hết năn nỉ người này lại năn nỉ người khác. Mẹ tôi lại năn nỉ thằng Dũng, con trai tôi:
   
- Mi không địch vận ba mi đi!

Thằng Dũng cũng lắc đầu:

- Con sợ lắm, mệ ạ!

Tôi biết mẹ tôi lần đầu tiên được ở nhà lầu, ăn uống sung túc khác hẳn hồi ở quê một trời một vực, nhưng trong lòng vẫn không vui vì thấy đứa con trai duy nhất trong gia đình, đã trưởng thành lại có chí hướng phản nghịch với cha ông. Dù sao, tôi vẫn tôn trọng nguyên tắc bí mật, không để hé nửa lời cho mẹ tôi đoán được thực chất việc làm của tôi. Quan Tây, quan ta vẫn tấp nập vào ra hằng ngày, uống rượu, nhảy đầm, nếp sống không có gì thay đổi.


Tôi đã gởi thằng Dũng1 (Sau này là nhạc sĩ Trí Thành, tác giả bài hát "Cây chông tre") cùng với ba em gái nó vào học trường tỉnh ở gần nhà. Và nhờ chú Long, con xã Mót ở bên cạnh nhà, làm y tá đến tiêm thuốc trị bệnh cho con Hợi, em gái tôi, và yên tâm không lo lắng gì về việc nhà. Năm Danh vẫn sống trong gia đình, với danh nghĩa là cậu Năm, em vợ tôi. Bỗng một hôm, vừa đi làm về, tôi thấy một tờ giấy đặt trên bàn. Tôi cầm đọc. Đó là bức thư từ biệt của thằng con trai để lại. Nội dung bức thư đại ý như sau: "Con là con nhà được cách mạng đào tạo, không thế nào sống chung với Việt gian, nên con đi tìm theo cách mạng, ba đừng tìm con nữa". Thư viết đầy trang giấy vở học sinh. Tôi hỏi thăm thì mẹ tôi nói, không biết nó đi đâu. Tôi chắc mẹ tôi cũng đồng ý cho nó trốn học tìm theo Việt minh. Hiểu tình hình phức tạp của vùng căn cứ Hòa Hảo, trong phạm vi 20km, không một người dân nào dám hé môi nói đến hai tiếng Việt minh, tôi đành phải nhờ đồng chí Năm Danh đi tìm nó về, tuy vẫn không tin vào kết quả. Trong ruột rối như lửa đốt, chiều tôi xin phép về sớm. Năm Danh ra đón tôi tận cổng báo cho biết đã tìm thấy nó ở bên kia sông Hậu, đang lang thang đến gần xóm nhà thờ, gần bến đò ngang. Tôi làm thinh, không nói nửa tiếng. Chờ cho mọi người ăn cơm tối xong, đến khoảng 9 giờ tối, tôi mới hỏi tội thằng "con trai bất hiếu, trốn học, bỏ nhà đi theo Việt minh". Tôi biểu hai đứa em gái nó ra sau vườn chặt về cho tôi mười cây roi dâu cỡ bự. Lát sau, hai chị em đem về cho tôi đủ số, nhưng kích thước còn nhỏ hơn đầu mút đũa. Tôi đặt 10 chiếc roi dâu lên bàn, bắc ghế dựa ngồi giữa bàn, kêu Dũng ra để hạch tội. Mẹ và em gái tôi, Năm Danh đều ngồi im nhìn tôi xử tội. Tôi đọc bức thư từ biệt của nó đã để lại cho tôi hồi trưa cho mọi người nghe, rồi gằn giọng:

- Dũng! Ra đứng trước đây cho tao hỏi. Mi viết thư này phải không?

- Dạ phải.

- Mi nói mi được cách mạng đào tạo, mi là Việt minh nên không sống chung nhà với cha mi là Việt gian phải không?
   
Vẫn đứng khoanh tay trước ngực, Dũng xác nhận:

- Dạ phải.

- Thôi được, mi hãy định nghĩa cho tao hiểu cách mạng là gì? Nói nghe lọt tai, tao tha tội cho, bằng không, tao sẽ đành cùn 10 cây roi này đa!

Tôi tưởng con tôi mới 15 tuổi đầu, nhà nghèo, không được học hành, sẽ lúng túng trước câu hỏi có tính chất sát hạch chính trị đó, không ngờ, Dũng cất cao giọng đọc thuộc lòng như một học sinh gặp câu hỏi trúng tủ:

- Cách mạng là lật đổ một chế độ cũ mục nát thối tha, để thay thế một chế độ xã hội mới công bằng hợp lý hơn.

Tôi cố kìm chế nỗi vui mừng, liếc nhìn cử tọa. Mẹ tôi, em gái tôi, vợ con tuy không nói tiếng nào, nhưng nét mặt đều rạng rỡ. Năm Danh cố giữ nụ cười đang muốn bật ra khỏi cái miệng móm. Riêng ba đứa em gái nhỏ, Bé, Gái và em vẫn ôm nhau nhìn đống roi dâu còn nằm im lặng trên bàn chưa đụng tới. Tôi gật đầu:

- Định nghĩa chưa dầy đủ lắm, nhưng cũng tạm được. Tha cho lần này, về coi lại bài vở, mai tới trường mà học. Lần sau muốn đi đâu phải nói cho cậu Năm mày biết để khỏi mất công tìm kiếm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #97 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 09:55:32 pm »

Tôi dặn riêng Năm Danh cần nói cho nó biết tình hình Hòa Hảo chống đối Việt minh, và ở đây là vùng của Hòa Hảo. Tôi cũng thấy ân hận là không tìm hiểu kỹ về những người thân trong gia đình, đã chịu bao nỗi khổ do cảnh nghèo đói áp bức bất công của chế độ cũ để lại. Có lần tôi đã hỏi Dũng:

- Tại sao con muốn thay đổi chế độ này đi?

Dũng trả lời dứt khoát:

- Con căm thù chế độ này!

Đó là tiếng nói của người con đã nói thay cả cho cha ông, cả ngàn đời từ trước. Nó có biết đâu, trong bộ áo nhà binh Pháp, ba nó cũng căm thù cái chế độ đó, không kém gì nó. Nhưng đâu dám nói ra, dù cả đối với con. Đối với mẹ tôi và em gái tôi, người đã bị thằng Tây đen hãm hiếp, thì không cần phải nói khổ. Nhưng mẹ tôi cũng đã nói cho tôi biết một phần cơ cực của mẹ đã gánh chịu, mà cái khổ nhất của mẹ là nghe tin đồn tôi làm cho Pháp, ủy ban xã đã truất phần đất công quận cấp cho tôi, theo lệ tục từ xưa để lại cho những trai tráng trong làng, may nhờ có anh Vịnh (Nguyễn Chí Thanh) can thiệp, Ủy ban xã mới nghe. Mẹ tôi kể: Ông Vịnh ghé nhà, nói với tao "Dì cứ an tâm, thằng Hiến không đời nào làm Việt gian mô, tui biết". Tôi hỏi tiếp:

- Thế anh Húng (Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên) thì sao.?

- Ông Húng thì qua ở bên Tỉnh đội, ông kéo thằng Dũng theo cho học và trước khi vô đây, còn dặn dò: Mi vô trong nớ, ráng địch vận ba mi nghe!

Nghe mẹ tôi kể, tôi thầm biết ơn bạn bè, đồng chí ở quê hương, tình bạn từ nhỏ trước sau vẫn không hề thay đổi. Phải chăng lý tưởng thanh niên được xây dựng theo chủ nghĩa cộng sản để làm chất keo gắn chặt tình bằng hữu đến suốt đời? Chúng tôi, những người nay đã ở tuổi "cổ lai hy" có thể khẳng định được điều đó. Tiếc thay, trong lúc kể chuyện gia đình tôi nghèo đói, mẹ tôi kể đến đoạn hai mệ cháu phải xách bị, gậy đi ăn xin khắp xóm làng. Có người nghe đã rỉ nhỏ vào tai tôi: "Đồ ăn mày!". Một cái tát tai rỉ máu tận đáy tim tôi, bắt buộc trái tim tôi phải tự khép kín vết thương đó lại. Vì tôi còn bao nhiêu nỗi lo âu vì cái tổ chức B.C.E.O. kia, vì thái độ của Labrousse cũng đã có ít nhiều thay đổi. Còn có thể chiến đấu trong tình hình vỏ bọc ngoài đã không còn che kín thân thế?


Tháng 6/1952, cái sẽ đến đã đến. Được tin Hai Quí, cậu công tử vườn ở Chắc Băng lên Sài Gòn ở nhà Thái Thúc Nha đã bị bắt. Tôi chắc là bị bọn B.C.E.O. Hai Quí là cán bộ Quân báo của Khu 9, đồng thời là em rể của vợ tôi, nên chúng tôi phải có trách nhiệm. Quí lại còn là cháu của chú Tư Ngà, và biết rõ chú Tư là hộp thư mật duy nhất giữa tôi và Trần Huy, giữa tôi và Chi 50. Không phải lần đầu tiên tôi làm việc này vì tình cảm đối với gia đình bên vợ. Đầu năm 1947, ở Cần Thơ, Phấn bị lính kín Tài vây bắt trong khi đang hội họp trong Hội Học sinh cứu quốc. Giải về sở Mật thám Cần Thơ, tôi đã đến xin bảo lãnh về để răn dạy. Năm 1950, Phúc hoạt động Quốc vệ đội Sài Gòn bị mật thám bắt giam ở bót Catinat. Tôi đã cùng Thanh Phong lên tận 2è Bureau FTVS hồi đó trong hãng Mic (thuốc lá) ở Chợ Lớn, gặp Thiếu tá Savany kể rõ sự tình, xin một danh thiếp gửi lại Sở mật thám Catinat, gặp Mai Hữu Xuân để xin bảo lãnh về Long Xuyên. Vì vậy, các nhân vật gọi là chóp bu của 2è B. và Mật thám Sài Gòn, tôi đều quen mặt, và các ngóc ngách giao dịch, tôi cũng đã khá thạo. Tuy nhiên, lần này tôi thấy lo hơn. Bàn tay bắt Quí là ai? Chúng tôi đến Cầu Muối tìm hiểu trước tình hình Quí bị bắt. Cậu Năm cho biết là bị thằng Barat đón đường bắt gần Mả Tây (nay là đường Hai Bà Trưng, công viên Lê Văn Tám). Chúng tôi lên gặp Tư Phết, ở nhà Thái Thúc Nha đường Champagne (đường Võ Thị Sáu bây giờ).


Thái Thúc Nha cho tôi biết rõ: "Hôm ấy, anh Hai Quí đang ở trong nhà tôi. Cò Barat xịch xe Jeep vào, đòi bắt tại nhà tôi. Tôi không cho, nói với Barat không được bắt ở trong nhà tôi. Nó làm thinh, chờ cho anh Hai ra khỏi nhà, nó lên xe đuổi theo". Tôi không hỏi thêm gì hết. Tình nghĩa đối với giai cấp tư sản cũng chỉ cần khi không thiệt đến quyền lợi riêng tư. Tôi quay xuống nhà bếp, hỏi cô Tư Phết: "Dì Tư có biết dượng Tư quen biết ai nhiều thế lực ở đây để nhờ bảo lãnh ra không?". Tư Phết nói có quen một tham mưu trưởng của Bảy Viễn ở Bình Xuyên. Nếu muốn cầu cứu anh ta thì Tư Phết sẽ đưa đi. Đến tối, Tư Phết thuê xe taxi đưa chúng tôi qua cầu chữ Y, biểu chúng tôi ngồi chờ trong taxi, lát sau, chừng 5 phút, Tư Phết trở ra xe, nói ông ta đi vắng, không có nhà. Chúng tôi đành thất vọng trở về, đến gặp cô Hélène ở đường Huỳnh Quang Tiên, là con của ông sếp khám lớn có biết Hai Quí, để nhờ theo dõi thăm nuôi Quí. Có nhiều dư luận đồn đại về nguyên nhân Quí bị Barat bắt. Nhưng tôi vẫn không dám tin vì chưa có bằng cớ vững chắc. Có điều có thể kết luận được tên cò Barat thường lui tới nhà Thái Thúc Nha, tức nhiên không lạ gì Tư Phết và Quí. Nha quen thân với Barat nhưng tại sao không giải cứu cho Quí là anh vợ được? Thật lắm vấn đề phức tạp, nhưng tạm thời có thể xác định: Hai Quí bị bắt, không phải do ta đã để tài liệu lọt vào tay bọn Pháp, mà chỉ là có đầu mối chỉ điểm cho B.C.E.O. cụ thể là Barat. Tài liệu do 2è B. Cần Thơ dịch chuỵển cho B.C.E.O. chỉ có báo cáo của Ty Công an Cần Thơ về vụ hai vợ chồng Quận Bằng trở về vùng giải phóng, không dính dáng gì đến hoạt động của Ban Quân báo miền Tây, nên tôi tin Quí có khả năng đối phó được với Barat trong việc hỏi cung. Dù sao cũng phải báo động cho chú Tư Ngà và Trần Huy biết để đề phòng. Tôi trở về Cần Thơ nói cho chú Tư Ngà và Trần Huy biết, rồi về Long Xuyên họp tổ Đảng để báo cáo tình hình và bàn biện pháp giải quyết.


Tháng 7/1952, chiếc xe Chevrolet bịt bùng sơn đen lại xuất hiện nhiều lần ở Cần Thơ. Năm Danh và chú Tư Ngà theo dõi thì B.C.E.O. có bắt thêm vào cơ sở dính vào mạng lưới của Tiểu ban Quân báo Cần Thơ. Tôi mượn cớ lên Sài Gòn để kiểm tra lại bịnh trĩ để khỏi di căn, mà theo dõi tình hình khai báo của Quí đến đâu. Trước khi đi, đã bàn bạc kỹ với Phương Nam và Năm Danh về Cần Thơ theo dõi động tĩnh của bọn B.C.E.O. hễ có gì thì nhờ ông Triệu, Trưởng đài VTĐ của Bưu điện Cần Thơ, dùng mật mã báo tin cho tôi biết theo địa chi Nguyễn Văn Sâm, planton Tòa đô chính Sài Gòn, vì hồi đó, phương tiện liên lạc hữu tuyến giữa các tỉnh đã bị cắt đứt.


Đúng ngày 15/7/1952, cậu Năm Sâm đi làm về đưa cho tôi một bức điện nội dung như sau: "Đã nhận được 52.000 đồng Sài Gòn gửi về. Nhờ hỏi mua giúp thêm 32.000m gabardine". Đọc xong bức điện, tôi thản nhiên nói với cậu Năm: "Bọn con buôn ở Cần Thơ nhờ cháu hỏi mua vải", nhưng lòng rối như tơ vò. Thế là V.52, chú Tư Ngà đã bị bắt. Mạng lưới của B.C.E.O. đã siết chặt gọng kìm, Quí sa lưới tôi không lo lắm, vì Quí là cán bộ của Ban, không hiểu rõ nội dung tài liệu điệp báo của C.50. Còn V.52 là cơ sở duy nhất làm hộp thư cho C.50 với tổ điệp báo do tôi phụ trách bao gồm cả Trần Huy ở Cần Thơ. Chúng tôi tức tốc trở về Cần Thơ ngay, gặp Phương Nam và Năm Danh để bàn cách đối phó với tình hình mới. Chú Tư Ngà bị bắt vào đêm 14/7/1952. Đúng là ngày kỷ niệm Cách mạng tư sản Pháp, phá ngục Bastillé năm 1789. Một oái oăm của lịch sử. Đúng vào ngày Cách mạng Pháp giải phóng cho các tù nhân chính trị bị giam cầm trong ngục tù, thì cũng là ngày bọn B.C.E.O. xông vào căn phố số 2 dãy 18 căn ở Lộ Mới ở Cần Thơ đẽ còng tay một chiến sĩ Việt minh để đem về Sài Gòn, tra tấn dã man không chút thương xót.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #98 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 09:56:35 pm »

Ngày hòa bình lập lại, tập kết trở về, tôi được chú Tư Ngà kể lại cho biết sơ trường hợp bi bắt: "Ngày 14/7, lúc nửa đêm, tôi nghe tiếng đập mạnh ở cửa trước, tôi vội chuồn ra cửa sau, thì nghe tiếng động mạnh ở cửa sau. Biết là cửa sau cũng bị lính kín bao vây. Tôi trở lại cửa trước. Bọn thằng Barat ập vào, dẫn tôi ra xe, tôi chỉ mặc quần đùi và áo maillot, xin lấy quần áo theo chúng không cho. Lên xe thấy đã có 2 người chờ sẵn: Phi và Điền cũng đang ngồi trong xe, có lẽ đã bị bắt trước tôi. Chúng tôi không nói chuyện với nhau được, vì có lính kín". Tôi biết Điền và Phi đều là nhân viên của Trung úy Bon, chỉ huy S.E.M. gọi là 2è B. vô hình, không có quan hệ công tác gì với chú Tư Ngà. Thế thì ai đã tố cáo chú Tư Ngà? Đến khi quyết định bắt chú Tư Ngà, B.C.E.O. chắc phải có nhiều nguồn tin khác. Tôi dặn Năm Danh tạm thời ở Cần Thơ để làm liên lạc, và mỗi khi có tin gì mới phải tức tốc trở về Long Xuyên cho chúng tôi hay. Tôi gặp Trần Huy, nói cho Huy hay để đề phòng, nhắc lại địa chỉ liên lạc khi có biến thì đến ngay chùa Nữ Cái Khế với 7 cây nhang xin vào lễ Phật, sẽ có người đưa về vùng giải phóng. Huy khẳng định lần nữa là không một tài liệu nào của Ban Quân báo Khu 9 lọt vào tay bọn Pháp, gần đây, chỉ có bắt được vụ án của Quận Bằng do Ty Công an Cần Thơ điều tra mà bọn Pháp đã bắt được trong một cuộc hành binh càn quét. Tài liệu do Thiếu úy phiên dịch Michel Đức dịch. Còn một tia hy vọng. Bọn B.C.E.O. có thể đang trong giai đoạn sưu sách bằng chứng. Và về mặt tài liệu điệp báo, tôi tin ở thủ đoạn nghiệp vụ của mình. Mặt mã chỉ có hai người giữ khóa: ở Chi 50 là Quỳnh xụi, ở tổ Điệp báo Long Xuyên chỉ có mình tôi là người sáng chế ra kiểu mã số thay đổi theo ngày âm lịch mà thôi. Mật mã lại được chép bằng mực hóa học, nếu dùng iode để phát hiện thì sẽ tẩy ngay. Tất cả đều do bàn tay tôi làm và ngụy trang dưới hình thức giấy bọc hàng thông dụng. Hơn nữa, chiến sĩ liên lạc, hộp thư đều không biết về các thủ đoạn, phương pháp nghiệp vụ của các điệp báo viên. Kẻ thù chưa thể khám phá ra các phương pháp tôi đã dùng, thì tài liệu không thể nào bị lộ được. Cùng hoạt động trong 5 năm liền, tôi hiểu rõ sự khôn ngoan của chú Tư Ngà để khỏi sa vào những cái bẫy giăng của bọn nhân viên phản gián điều tra.


Ngay trong ngày 15/7/1952, bọn B.C.E.O. đã giải cả 3 người bị bắt, trong đó có chú Tư Ngà, về ngay văn phòng chỉ huy B.C.E.O. đóng tại Tân Sơn Nhì, trong một cái hội trường lớn được ngăn lại thành phòng hỏi cung, phòng tạm giam. Chú Tư Ngà sau này cho tôi biết: Từ ngày 15/7 đến ngày 31/12/1952, chúng giam chú tại Tân Sơn Nhì, qua năm 1953 chúng mới có giấy giam tại khám lớn Sài Gòn, sau chuyển về khám Chí Hòa, suốt 6 tháng chúng thay nhau hỏi cung và tra tấn. Lân đầu tiên, thằng Barat hỏi cung chú, nó đánh chú bằng một thanh sắt gài cửa hể xương sọ, máu tóe ra, chú ngất lịm. Barat cho bỏ chú ra ngoài, đến nửa đêm tỉnh lại, nhìn ra thấy cánh đồng Tân Sơn Nhất bát ngát, nhưng không thể nào lê đi được. Người đầu tiên Barat cho chú Tư chạm mặt là Hai Quí đã bị bắt trước chú 1 tháng. Chú khai là làm "tằng khạo" cho Hai Quí. Hai Quí sai chú lên Cần Thơ để mua phụ tùng máy xay xát gạo cho nhà máy Đồng Lợi của Hai Quí ở Chắc Băng.


Chúng cho giam hai chú cháu chung một phòng.

Hai Quí bị đòn sưng vù cả mặt, cái bụng tím bầm, cố lê lại gần chú Tư nhắc nho vào tai: "Chú Tư ráng chịu đòn, đừng khai nghe chú". Bỗng có Thượng sĩ phiên dịch Sanh đi ngang qua, kêu vọng vào: "Này, thằng kia, đi ra theo tao, vào phòng tắm kỳ lưng cho tao". Chú Tư ngồi dậy đi theọ Sanh vào phòng tắm, Sanh nói nhỏ với chú Tư: "Tụi bây đừng nói chuyện với nhau, trong buồng giam có đặt máy ghi âm đó". Ngón tay cũng có ngón dài ngón ngắn, một lời rỉ tai, một tình cảm nhỏ cũng đủ để củng cố niềm tin cho các chiến sĩ bị giam cầm, tra tấn. Trong 6 tháng bị tạm giam dưới sự điều tra của B.C.E.O., chú Tư Ngà bị qua các kiểu tra tấn của bọn đầu trâu mặt ngựa Pháp cũng như Việt gian. Chú mang dấu vết những cuộc tra tấn đó từ đỉnh đầu đến hai bàn chân cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng trở về quê cũ Cần Thơ, gom góp số tiền dành dụng được 800 đồng, mua lại một căn nhà ở dãy phố 18 căn Lộ Mới, phố cũ tình xưa cho trọn nghĩa với quê nhà. Vẫn chung dãy với căn nhà số 2 xưa kia nằm phía trước ngõ, nay đã có chủ khác ở, vẫn lợp ngói âm dương, không trần bày biện vẫn đơn sơ như cách đây 40 năm, chỉ có một bộ ghế xa-lông gỗ và một bộ đồ trà kiểu cho đứa cháu họ cho là đáng giá. Chú đưa cho tôi coi thẻ thương binh


Giấy thương binh số J.T.2254.

   TRẦN PHƯỚC NGÀ. Thương binh loại A, thương tật loại 5/6.
   Vết thương chính: Vỡ xương đỉnh đầu, hai chân bị tra tấn, mùa rét bị tê.
   Ngày 10/5/1982


Thì ra, chú đã giấu thương tật để sau khi được trao trả sau Hiệp định Genève, vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội trên đường mòn Hồ Chí Minh, ở tiền tuyến cho đến khi đồng chí Đồng Sĩ Nguyên (Tư lịnh Đoàn 559) ra lịnh phải trả về hậu phương, vì không để cho một ông già đầu bạc phải xông pha lằn tên mũi đạn thay cho lớp trẻ. Trong căn phố nhỏ chú ở, cái đáng giá nhất là ba tấm ảnh treo trên tường, ở giữa, trên chiếc bàn thờ ông bà, là tấm ánh Hồ Chủ Tịch, vách bên trái là tấm ảnh một thượng úy, ngực cài huân chương, vai mang cấp hiệu, tuổi đã trọng nhưng nét mặt không khác mấy chú Tư Ngà vừa là trinh sát nội thành vừa là hộp thư bí mật cho Chi Quân báo 50 cách đây 40 năm. Và trước mặt chú, phía đối diện là ánh thím Tư, người vợ hiền quá cố buôn gánh bán bưng, vai mang túi vải ra chợ bán để lấy tiền nuôi chồng, nuôi con, để chồng rảnh tay hoạt động, và khi chồng bị bắt, đã lặn lội lên tận Sài Gòn, đến nhờ luật sư Nguyễn Hữu Thọ cãi hộ cho chồng. Ba tấm ảnh đó nói lên niềm tin và tình cảm thủy chung như nhất của người chiến sĩ vô danh sống và chiến đấu trong lòng địch, rất đáng tự hào, một Đảng viên chân chính.


Trong bọn ác ôn tra tấn chú, chú kể tên 4 đứa. Một là Trung úy Barat, nguyên là cò lính kín Pháp lai Ấn, đã đánh phủ đầu chú bằng thanh sắt chắn cửa gây nên vết thương trên đỉnh đầu còn để sẹo. Hai là thằng Mas, Thiếu úy có nút ruồi lớn bên má, bạ cái gì đánh cái đó, tính khí nóng nảy. Ba là thằng Thiếu úy Mỹ, nguyên là giáo viên trường tư thục Nam Hưng. Khi hỏi cung nó thường dùng thủ đoạn tra tấn tàu lặn, nghĩa là đổ nước có pha thuốc sát trùng "crésyl" vào họng người bị hỏi cung, đến khi nước vào đầy bụng lại lấy chân đạp vào bụng cho nước ứ ra đầy miệng. Chú Tư nhớ nhất là tính nham hiểm của Mỹ. Khi lính đưa nước crésyl tới để trộn vào thùng nước, lấy ly nước chưa đầy và màu thuốc sát trùng chưa đậm, Mỹ bảo đem crésyl nguyên chất đến, tự tay nó pha thêm cho đầy ly, nheo mắt nhìn qua ly rồi đưa cho lính đổ vào thùng nước. Tên thì Mỹ nhưng lòng dạ thì hiểm độc khó lường. Tên thứ tư lại là thằng cháu gọi bằng cậu, thằng ác ôn đó tên là Nhật, hồi đó khoảng 30 tuổi, con của hương quản Báu, gọi là Mười Báu có cái nhà ngói vườn tràm ở ngã tư Cạnh Đền. Vì là bà con nên không xa lạ gì chú Tư. Nó biểu lính lấy "ma-trắc" đánh vào gan bàn chân chú 200 cây. Hễ kêu đau thì xóa đi đánh lại, đếm lại từ đầu. Lần ấy chú chịu đánh 270 cây, hai bàn chân sưng húp không chịu nỗi. Nhưng cái đau hơn là tình nghĩa bà con bị thằng cháu mất dạy quên sạch!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #99 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 09:58:49 pm »

Tôi trở về Long Xuyên chưa được một tuần, một hôm, có một trung úy mang lon bạc trên cầu vai đến tìm tôi ở 2è B. Long Xuyên, và hỏi tôi:

- Có Thiếu úy Trần Huy ở nhà anh không?

Nhìn cái lon màu trắng tôi biết ngay đó là phù hiệu của loại sĩ quan quân cảnh. Tôi hói lại anh ta:

- Thiếu úy Trần Huy ở dưới Cần Thơ, sao ông lại hỏi tôi?

Nó trả lời:

- Vì Trần Huy nghỉ phép nói lên thăm anh, nên tôi lén hỏi anh, nếu có Trần Huy ở nhà anh thì nên trở về cơ quan ngay có việc cần.

Nghe Trần Huy bỏ trốn tôi mừng. Thế là thoát hiểm cho cả Huy và cho cả tôi nữa. Chiều hôm đó Năm Danh lên nói cho biết là B.C.E.O. đã đến khám nhà Huy, nhưng nhờ đã chuẩn bị trước, nên ngay chiều hôm ấy, Trần Huy đã bỏ nhà trốn qua Xóm Chài. Từ nhà Huy chỉ cần qua đò ngang là đã sang vùng Xóm Chài bên kia sông Cần Thơ. Chi 50 đang cho trinh sát đi kiếm Huy để rước về văn phòng cơ quan, sợ Huy rơi vào tay Hòa Hảo. Nghe Danh báo cáo, tôi thật sự yên tâm. Tôi chỉ phân vân một điểm là tại sao Huy không sử dụng địa chỉ liên lạc tôi đã trao cho để thoát thân an toàn theo con đường tôi đã tổ chức sẵn, mà tự chọn cách thoát thân. Phải chăng vì sự tình quá cấp bách cần phải thoát nguy ngay?


Chiều 27/7/1952, khi sắp hết giờ làm việc, Trung úy Labrousse gọi tôi đến và trao cho tôi một điện báo: Le nommé Trần Hiến doit se présenter au 2è Bureau de la Zone Ouest le 28/7/1952, 8 heures précises, pour affaire le concernant. (Tên Trần Hiến phải đến trình diện ở Phòng Nhì quân khu miền Tây vào ngày 28/7/1952, 8 giờ đúng, về việc liên quan đến nó). Tôi nhìn địa chỉ nơi gửi điện: Sài Gòn. Labrousse chăm chú nhìn tôi. Một cái nhìn gần gũi nhưng xa lạ. Một quãng cách tâm hồn không thể đo được. Tôi hiểu nỗi băn khoăn của Labrousse. Có thể nào người tin cậy nhất của hắn lại phản bội hắn chăng? Cuối cùng, Trung úy sếp của tôi cũng gượng mỉm cười buồn bã: "Sáng mai đúng 7 giờ, anh có mặt để đi cùng Trung úy sĩ quan mật mã (officier du chiffre)". Tôi quên mất tên chàng trung úy cận thị làm sĩ quan mật mã của Secteur Long Xuyên. Hắn là người ít nói nên được cấp trên giao nhiệm vụ bảo mật. Về đến căn nhà 36 Lê Lợi, tôi suy nghĩ khá căng thẳng, cuối cùng quyết định xin ý kiến tập thể tổ Đảng. Cả 4 đồng chí trong tổ đều có mặt tại nhà. Đồng chí Phương Nam, Năm Danh, nữ đồng chí Phấn và tôi ăn vội bữa tối, chuẩn bị 4 chai bia, một keo củ kiệu ngâm dấm với tôm khô đề phòng cuộc họp sẽ kéo dài suốt đêm. Cuộc họp kéo dài đến sáng. Chỉ xoay quanh một vấn đề: Tình hình đã đến mức báo động rồi. Liệu tôi có nên rút hay nên ở lại. Rút hay ở đều phải có phương án cụ thể.


Tôi lược qua tình hình trong tháng 7. Các cơ sở ở Cần Thơ đã bị bắt và khả năng B.C.E.O. có thể khai thác được, Trần Huy đã trốn thoát khỏi Cần Thơ, và cái công điện của Sài Gòn điện về Secteur Long Xuyên yêu cầu tôi có mặt tại Zone Ouest 8 giờ sáng ngày mai 28/7/1952. Phân tích về khả năng khai báo của các anh em bị B.C.E.O. bắt, tôi nói: "Trong số tài liệu 2è B. Cần Thơ chuyển cho B.C.E.O theo Huy nói thì không có tài liệu Quân báo, vì vậy phải loại trừ khả năng tài liệu Quân báo bị lộ. Trong số cơ sở bị địch bắt chỉ có hai người của Ban Quân báo là Hai Quí và chú Tư Ngà. Tôi tin hai người đó đủ sức để giữ bí mật cho tổ chức, và dù có muốn tố cáo tôi thì cũng chẳng biết nội dung cụ thể để tố cáo. Người duy nhất có thể tố cáo tôi chỉ còn là Trần Huy, nhưng Trần Huy đã thoát thân được thì tôi khỏi lo. Trong hai người, Trần Huy đã đi thì tôi phải và có thể ở lại. Hơn nữa, không thể bỏ rơi quần chúng (tôi nghĩ đến gia đình tôi)". Phân tích về các điện báo, tôi thấy rõ là về mặt hình thức, đúng là một cái điện văn giả. Lý do thứ nhất: không nói rõ lý do triệu tập. Lý do thứ hai: tôi vẫn là Chuẩn úy phiên dịch, tại sao lại không để rõ chức vụ mà chỉ gọi trống "le nommé" (tên). Lý do thứ ba: tại sao triệu tập tôi về Cần Thơ lại phải đánh đi từ Sài Gòn, hay là việc tôi xin đổi về Huế đã được Thiếu tá Long chấp nhận, và đã được Sài Gòn chuẩn y? Mọi lập luận của tôi đều ở chiều suy nghĩ tìm khả năng ở lại tiếp tục chiến đấu: "Còn nước còn tát".


Ba đồng chí Phương Nam, Năm Danh và Thanh Phong nhất trí là nên rút vì tình hình đã chín muồi, không thể trì hoãn được nữa, và bàn về phương án rút lui. Đồng chí Năm Danh liên hệ với Năm Nghinh để mua 4 vé xe đi chuyến sớm nhất. Đồng chí Phương Nam nói rõ sẽ xuống trạm Ô Môn để rút về Ba Mít, nơi văn phòng C.50 đang đóng tại nhà thờ Ba Mít. Ở Ô Môn, anh Nón là trạm trưởng, trạm ngụy trang bằng cái quán lá hớt tóc ở góc chợ Ô Môn, ngay trước cổng của đại đội binh lính Pháp đồn trú tại huyện Ô Môn. Phương Nam vạch sơ đồ cho tôi biết vị trí trạm liên lạc ở chợ Ô Môn. Tôi thấy cả công trình xây dựng từ 6 năm nay, nay bỗng sụp đổ. Như một người tiếc của, tôi đứng dậy nói:

- Các đồng chí đã cho tôi quyền quyết định tối hậu vì bản thân tôi. Tôi quyết định: các đồng chí cứ rút lui theo kế hoạch đến Ô Môn chờ tôi ở đó. Tôi sẽ đến sau. Tôi chưa rõ lý do triệu tập. Dù sao, chúng chưa đủ bằng chứng để bắt tôi. Đến 12 giờ trưa, tôi sẽ về trạm Ô Môn, lúc đó tôi đã hiểu rõ nội dung cụ thể để đối phó với tình hình. Bằng như đến 12 giờ trưa, các đồng chí không thấy tôi trở về trạm, kể như tôi đã bị bắt, mình tôi cá nhân chiến đấu, các đồng chí hãy rút về khu an toàn. Các đồng chí hãy tin tôi.


Cả ba đồng chí theo sự phân công đều rút đi, không cho những người trong gia đình biết. Nữ đồng chí Phấn dẫn bé Hoài Thanh theo để làm liên lạc cho gia đình khi cần thiết. Mẹ, Hợi, Dũng và Tùng Hương, Hoài Thương, vẫn còn ngủ say. Trước đó mấy ngày, Phấn đã gửi va-li và máy may Pfaff về cho bà cụ giáo ở Cần Thơ để đề phòng bất trắc, trong va-li ngoài áo quần còn có đồ nữ trang của vợ và các con tôi.


Tôi soạn lại bàn giấy, đốt bỏ những thư từ, tư liệu có liên quan đến các cơ sở mật, chỉ để lại trong hộc bàn những thư từ, danh thiếp của các quan chức Việt gian: thiệp chúc mừng, thăm hỏi của Trần Thiện Khiêm hồi đó là Trung úy tình báo của 3è B. VN đóng tại Rạch Giá, một cái thiệp của Đại úy Cảnh, Chef S/Secteur Rạch Giá có ghi: Kính biếu anh chị Hai 2 cà-ròn của biển còn tươi; một bức danh thiếp của Đốc phủ sứ Tỉnh trưởng Châu Đốc, để bừa bãi trong đám sách vở không có giá trị tình báo.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM