Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:28:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7892 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #100 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 10:10:29 pm »

Xong tôi mặc bộ đồ nhà binh bằng Kaki gabardine sang trọng nhất, đeo lon Chuẩn úy lên cầu vai, chải tóc, xức nước hoa chanel vào hai bàn tay, chụp chiếc ca-lô màu xanh hơi lệch bên trái, rồi lững thững cuốc bộ đến Sở làm. Chiếc đồng hồ Mulco đeo tay chỉ 6 giờ 30. Tôi chững chạc bước vào Sở làm, mùi nước hoa sực nức như chuẩn bị sẵn sàng đi dự tiệc. Labrousse cũng đã đến sớm trước tôi, bắt tay tôi mỉm cười ra vẻ thích thú. Đàng hoàng, chững chạc, lúc nào cũng sẵn sàng như không có vẻ gì đã bị săn đuổi cả! Bỗng từ cầu thang bước xuống, một Thượng sĩ già vừa cầm tờ công điện huơ huơ trên tay vừa nói to lên với Labrousse:

- Thế là đã tìm thấy Thiếu úy Trần Huy rồi! (Enfin, le s/lieutenant Trần Huy est retrouvé).

Tôi giật thót mình như cố trấn tĩnh vui mừng đón nhận tin mới bằng một câu khôi hài rẻ tiền:

- Il a de la veine Trần Huy! Il a fait une belle promenade! (Trần Huy có gặp may. Nó đã đi chơi một vòng thỏa thích!).

Labrousse đưa mắt nhìn viên Thượng sĩ già ra vẻ dặn dò cảnh giác. Tôi bỏ ra ngoài. Labrousse nhắc tôi:

- Đừng để Trung úy mật mã phải đợi nhé.

Tôi gật đầu đưa đồng hồ lên:

- Còn 15 phút nừa, tôi đi uống cà phê về còn kịp chán.

Đầu óc tôi cần phải sáng suốt. Thực tế đã kết luận. Trần Huy bị bắt lại thì tôi hết phương chối cãi. Phải trốn ngay. Tôi ra bến xe trước chợ, ngay trước Sở làm. Chiếc xe đi Thốt Nốt chuyến sớm nhất sắp chạy. Tài xế đang quay manivelle hì hục. Xe quá cũ, máy quay hoài không nổ. Tôi đã dặn lái xe chừa tôi một chỗ, nên yên tâm ngồi uống tách cà phê bên quán nước gần đấy, suy tính kế thoát thân. Hay là ta đi qua đò ngang, đến nhà Ba Hoàng ở bên kia sông là cơ sở dự bị khi có biến. Đò ngang cũng gần chợ chỉ trong 3 phút là tới bến. Nhưng nếu ba đồng chí kia chờ ta ở Ô Môn, đến trưa không thấy xe nhà binh đi qua, tưởng ta còn ở Long Xuyên, sẽ trở lại Long Xuyên kiếm ta thì sẽ sa vào "bẫy chuột" chúng giăng sẵn. Được một đổi ba, thì không thể nói là thắng cuộc. Tôi đang hoang mang suy tính kế vẹn toàn thì Labrousse đã đến gần vỗ vai tôi: "Xe đang chờ anh, anh lên xe kẻo Trung úy đợi". Tôi sánh vai Labrousse, nặng nề trở lại cơ quan. Trước cửa một chiếc 4x4 (loại xe vận tải cỡ nhỏ thường dùng để chở khoảng trên dưới một tiểu đội lính) đang đậu. Trên xe có một lái xe, và 4 người lính Miên gian, một trung sĩ Pháp, súng ống đầy đủ. Trung úy mật mã mang kính cận thị cũng nai nịt quân phục như ra trận, bên hông sệ sệ khẩu súng ngắn Colt 12 còn nguyên trong bao kéo xệch chiếc ceinturon Mỹ với từng hàng lỗ bao quanh lưng.


Một sĩ quan chuyên giải mã những con số bí mật được lịnh áp giải một con người bí mật. Số phận ta phụ thuộc vào viên sĩ quan cận thị này đây. Tôi chủ động cất mũ, tiến tới gần chìa tay ra: "Bonjour mon lieutenant". Mặt viên Trung úy trắng bệch ra, miền cưỡng đưa tay ra bắt. Bàn tay gần như không có sinh khí. Tôi bắt chặt, mắt vẫn nhìn trân vào đôi tròng cận thị, miệng vẫn nở nụ cười thích thú. Cái bắt tay không chút xã giao, gần như thử sức nhau trước khi vào trận đấu. Tôi bắt tay từ biệt Labrousse. Dù sao viên sĩ quan trưởng Phòng Nhì này với tư tưởng bảo hoàng và hành động phản chiến vừa qua, đã giúp đỡ tôi nhiều trong công tác điệp báo ngoài ý muốn. Một cách nào đó, y là một đồng minh tạm thời, nửa bạn nửa thù của tôi. Nhưng đến nước này, y cũng không đủ tài để làm ô dù cho tôi hoạt động được. Tôi thành thật xiết chặt tay y: "Merci de tout ce que vous avez fait pour moi. Adieu, mon cher lieutenant, jamais je ne pourrais vous oublier" (Cảm ơn về tất cả những gì ông đã làm cho tôi, hỡi trung úy thân yêu, dù ở nơi nào tôi cũng không thể quên ông được). Đó là tình cảm chán thành của người cộng sản Việt Nam. Không thể nào quên ơn những người dù ở trong hàng ngũ quân thù nhưng đã có hành động giúp ích cho Cách mạng, dù là vô tình hay cố ý. Lòng tri ân vẫn là một đức tính truyền thống của giống nòi Việt Nam.


Đến khi lên xe 4x4, tôi thấy viên Trung úy mật mã đã giành lấy tay lái. Tên lái xe ngồi sang chiếc ghế bên phải, vốn là chỗ dành cho Trung úy. Tôi phải leo lên thùng xe phía sau. Đã có một Trung sĩ Pháp và 4 lính Miên gian, mỗi tên ôm một cây súng mút Anh. Thùng xe không chở gì ngoài tôi ra. Tôi lấy giọng hách dịch bảo tên lính Miên dời chỗ vào trong cho tôi ngồi phía sau, tôi ngồi buông thõng hai chân, đong đưa theo nhịp xe chạy. Phải tính sao đây? Xe ra khỏi thành Long Xuyên, chạy về hướng Cần Thơ. Ở đó, Trần Huy người bạn chiến đấu của tôi đã bị bắt. Cái chết đang chờ tôi trước mắt. Tôi bỗng rùng mình. Một luồng điện lạnh chạy dọc sau xương sống, từ dưới lên trên. Toàn thân như mất hết sức sống. Tôi gạt tên lính ngồi sau lưng tôi ra xa, và ngã lưng xuống tấm ván đòn dài làm băng cho khách ngồi, không kể gì tư thế trước mặt bọn lính áp tải, nhắm mắt lại. Bỗng nhiên những hình ảnh những Đảng viên tiền bối bị hy sinh diễn ra trước mắt tôi. Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đã oanh liệt hô vang khẩu hiệu trước khi ngã xuống. Đồng chí Trần Phú trước giờ chết còn ráng cởi áo để lại cho đồng chí mình mặc. Và mình cũng là đồng chí của các anh các chị đã đi trước mình, mà lại khiếp sợ cái chết đến thế này sao? Nghĩ đến đó, một luồng hơi ấm sưởi nóng trái tim tôi. Tôi như sống lại, đầu óc tỉnh táo hơn. Tôi ngồi phát dậy, vẫn hai chân đong đưa sau thành xe, suy tính mưu kế thoát thân. Tôi đặt ra phương án theo mức độ diễn biến tình hình.


Phương án một: Tìm cách thoát thân ngay trên đoạn đường Thốt Nốt - Cần Thơ. Con dường dài 62km này tôi đã đi lại nhiều lần ngay từ đầu năm 1949 lúc mới bắt đầu lập lại giao thông. Trừ những cầu đúc từ Thốt Nốt trở lên còn nguyên vẹn, cây cầu bị bom phá nát. Công binh Pháp phải xây dựng cầu tạm bằng ván. Đó là hai cầu Ô Môn và Sơn Trắng. Tôi chọn điểm nhảy xe là cầu Sơn Trắng, vì Sơn Trắng là vùng duy nhất có du kích hoạt động, dân cư đều theo Việt Minh, không có lẫn lộn Hòa Hảo. Đến cầu thế nào viên trung úy cũng phải dừng xe, sang số và chăm chú nhìn vào đầu xe cho chính vào tâm cầu, mới dám nhấn ga cho xe vọt qua. Đến vào thời điểm đó, tôi sẽ đổi chỗ với viên trung sĩ Pháp, tiếp cận gần Trung úy lái xe, đánh văng kính cận của y, và nhảy tùm ngay xuống rạch trước khi xe bị lật nhào. Nhảy tàu xe đang chạy, lặn lội dưới nước sông, nước biển tôi đã thành thạo từ tuổi thanh niên, nên tôi cầm chắc phần thắng trong tay.


Phương án hai: Nếu vì trắc trở nào đó không thực hiện được phương án một, tôi sẽ vẫn ung dung theo về Cần Thơ. Nhưng khi vào 2è B., tôi sẽ chủ động đi trước viên Trung úy mật mã, nhanh chân tiến thẳng vào văn phòng, vô cửa trước ra thẳng cửa sau, vượt qua 3 dãy lớp học, ra thẳng cổng sau, băng qua nhị tì đi về hướng Rạch Bần, tới điểm trạm liên lạc nội thành để xuống xuồng về Đầu Sấu. Địa hình địa vật ở trường Collège Cần Thơ nơi đóng bản doanh của Phòng Nhì tôi thuộc làu, và điểm liên lạc ở Rạch Bần tôi cũng đã biết trước. Đó là ưu thế của tôi so với viên sĩ quan áp tải. Hơn nữa, tư thế đĩnh đạc của tôi, không gợi cho anh ta ý thức cảnh giác. Tôi tin vậy.


Phương án ba: Dù sao cũng phải có phương án cuối cùng. Nếu tình thế không cho phép thực hiện được 2 phương án kia, tôi sẽ chiến đấu bằng trí, nếu cần thiết bằng cả sức mạnh của mấy thế võ ta đã dày công rèn luyện. Một đối một, tôi thấy không thua ai. Cùng lắm, là lấy mạng đổi mạng, như tôi thường tâm niệm, để đền ơn nước, quyết không để chúng bắt mình. Tôi đã thủ tiêu tất cả những tư liệu, đồ vật có thể làm chứng cho hoạt động của tỏi trước lúc dời chân ra khỏi nhà. Tôi mở ví ra, lục giấy laissez passer giả, vo tròn lại rồi vứt ra ngoài xe, không cho bọn lính biết.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #101 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 10:11:18 pm »

Bỗng chiếc 4x4 dừng lại bên cầu Ô Môn, nhường cho chiếc G.M.C. từ phía ngược lại, qua cầu. Thời cơ đã đến, tất cả các phương án đều nhường chỗ cho thời cơ trước mắt. Tôi cũng chờ cho chiếc xe G.M.C. qua cầu. Đến lúc trung úy cận thị dồn hết tâm trí về phía trước nhấn mạnh ga cho chiếc 4x4 vọt lên cầu, tôi ung dung thả hai chân xuống đất một cách nhẹ nhàng, vừa cởi nút quần vừa bước sang vệ đường, sau lưng chàng cảnh sát đứng gác đường, vừa vạch quần ra để chuẩn bị tiểu tiện, vừa đưa tay xua xua phía bọn lính ngồi trên xe, như một người đi nhờ xe từ biệt bạn đồng hành, không chút vội vàng. Chờ chiếc xe đã đến giữa cầu, không còn khả năng quay đầu hoặc lùi lại được, tôi sải từng bước dài trước mặt anh lính cảnh sát, đi thẳng vào chợ Ô Môn, chỉ cách chừng 10m. Đến góc chợ, có tấm vải căng đề "Hớt tóc", tôi bước thẳng vào lều. Mọi người đang ngồi chờ tôi, kể cả trưởng trạm. Tôi nói nhanh là, Trần Huy đã bị bắt, chúng ta phải dời ra khỏi chợ ngay, chúng sẽ bố ráp ở chợ. Phương Nam mau dẫn tôi đi trước. Các đồng chí khác nên tìm cách tản ra khỏi chợ. Năm Danh chịu trách nhiệm dẫn đường cho chị Hai và cháu bé theo sau. Nữ đồng chí Phấn lục trong cặp da đưa cho tôi một bộ đồ bà ba đen. Tôi trút bỏ không thương tiếc bộ áo quần nhà binh bằng Kaki gabardine đắt tiền còn mới, cởi giày, tháo galon, bỏ ca-lô vào một đống và đề nghị thủ tiêu tang vật. Xong, bước ra khỏi tiệm đi trước Phương Nam, ngang qua mặt anh chàng cảnh sát, đi dọc theo bờ sông Ô Môn về phía trong ngọn. Phương Nam lạch bạch bàn chân chữ bát, khệ nệ theo sau. Chưa đến bót Cao Đài, chúng tôi dừng lại xuống bến. Bác năm, một ông già tuổi gần 50 đang đứng cầm chèo lái sau chiếc xuồng nhỏ. Đó là bác liên lạc của trạm Ô Môn. Không nói một lời, Phương Nam dẫn tôi xuống xuồng. Bác Năm biết ý, đẩy mạnh đôi mái chèo, đi ngang qua bót Cao Đài về trong ngọn. Bót Cao Đài không xét hỏi gì. Đó là bót gác cuối cùng làm ranh giới vùng tạm chiếm của quân Pháp với vùng tự do. Khỏi bót chừng 300m, bác Năm ghé xuồng vào bờ. Phương Nam nói: "Anh đứng đây chờ tôi. Bác Năm sẽ chở tôi trở lại chợ để tìm cách chở những người khác ra". Tôi đứng trên bờ nhìn xuống, nắng sớm dọi vào mặt tôi tràn ánh nắng. Bác Năm nhìn tôi thương hại, vội lột cái nón lá cũ bác đang đội đưa cho tôi: "Chú cầm lấy mà đội cho đờ nắng". Tôi cảm ơn bác, đón nhận tình cảm đáng quí của bậc cha chú, như một tia nắng sưởi ấm lòng. Mười lăm phút sau, tôi thấy chiếc xuồng trở lại. Phương Nam cho biết chợ Ô Môn đang bị vây ráp. Năm Danh đã dẫn vợ con tôi tạm lánh qua cù lao. Phương Nam vừa ra khỏi bót Cao Đài, đã thấy các xuống khác bị chận lại, không cho ra khỏi thị trấn nữa. Bác Năm lại chở Phương Nam và tôi về Ba Mít, nơi bố trí văn phòng Chi 50.


Ngay chiều hôm 28/7/1952, ông Năm liên lạc lại chở ba người còn lại về. Thế là tổ Điệp báo đã trở về an toàn. Chúng tôi cảm thấy an toàn hơn bao giờ hết. Xung quanh mình chỉ toàn đồng chí, đồng đội, sống trong lòng đồng bào thân yêu, dù là họ đạo, nhưng vẫn là những người yêu nước, không sợ cạm bẫy của quân thù, không cần giữ mồm giữ miệng khi ăn nói. Riêng tôi vẫn thấy buồn, vẫn thấy chưa tròn trách nhiệm. Ra đi không kịp thông báo cho gia đình tôi biết, hiện mẹ, em và con tôi còn ở trong vùng kiểm soát của quân thù. Những đồng đội đang bị địch bắt tra tấn, số phận sẽ ra sao? Mạng lưới xây dựng trên 5 năm biết làm sao mà khôi phục lại được? Tôi cảm thấy như người lính bại trận trở về, tuy thân xác nguyên vẹn, nhưng vẫn rỉ máu trong tim, nhân Năm Danh trở lại Long Xuyên, tôi muốn viết thư cho Labrousse nói rõ việc tôi làm không dính líu gì đến mẹ, em gái và con tôi, nhưng Phương Nam ngăn lại, nói không cần thiết mà thêm phức tạp cho tôi. Tôi nghè lời không viết thư nữa. Dù sao người sĩ quan Tình báo bảo hoàng này cũng không đến nỗi hèn hạ bắt giam mẹ và con tôi, những người vô can. Tôi tin thế mà sự thật cũng là thế.


Văn phòng đóng ở nhà thờ Ba Mít ngay hôm sau dời về Trường Long, ở nhà chú Tư Chủ tịch xã. Chú Tư nghe nói tôi vừa nhảy xe trốn thoát về đây, vui mừng thật sự, cho giết chó đãi đơn vị một bữa. Tôi vốn không hề ăn thịt chó, chỉ nghe nói ở miền Bắc mới giết chó để ăn thịt, và có khi còn nuôi vỗ béo để làm thịt cúng giỗ ông bà. Trong kháng chiến, nhờ các chiến sĩ Nam tiến và một số cán bộ từ miền Bắc gửi vào, nên thịt chó đã trở thành món nhậu phổ biến, và dưới bàn tay khéo léo của dân Nam Bộ vốn sành các món ăn, nên đã cải tiến cách chế biến món thịt cầy rất hấp dẫn, nhờ món nước cốt dừa và nhiều gia vị khác như cari, húng lìu v.v...


Biết tôi không thích ăn thịt chó, anh Ba Cự gắp bỏ vào chén tôi miếng gan xào rất hấp dẫn: "Anh ăn đi sẽ biết, ngon hơn gan heo". Tôi ăn thử thấy không có gì khác lạ, chỉ sợ khác mùi vị, nôn ọe ra thì ê mặt. Bắt đầu từ đó, tôi không từ chối món đặc sản nào: rắn, rùa, chuột nướng. Khỏi chăn nuôi, chỉ cần đánh bắt. Thiên nhiên là kho vô tận. Câu cá, săn chuột, bắt rắn vốn là sở trường từ nhỏ của tôi. Trở về nông thôn, tôi trở lại cội nguồn.


Sau cuộc bố ráp ở Ô Môn không có kết quả, bọn B.C.E.O. vẫn còn cay cú. Tôi biết vậy, nhưng tôi tin tưởng lần này, chúng không thể nào bắt được tôi. Trong lúc trở về văn phòng, tôi có nói với Phương Nam: "Bọn chúng không đuổi bắt chúng ta đâu, bởi vì muốn đem quân vào vùng giải phóng, chúng phải có kế hoạch hành binh, xin ý kiến Secteur Cần Thơ, ít nhất cũng phải ba ngày sau mới làm được".


Hai ngày, sau bữa tiệc thịt chó nhà chú Tư Chủ tịch Trường Long, cuộc hành binh bố ráp qui mô Secteur đã xảy ra, với lực lượng 2 tiểu đoàn. Chúng thọc sâu 2 cánh xuống tận Bà Đầm, theo kinh xáng Ô Môn, rồi triển khai 2 tiểu đoàn bộ binh giăng hàng ngang lội ruộng trở ngược lại con lộ vòng cung Ba Xe - Cái Răng. Cuộc lội bộ lùng sục hai ngày. Chúng dùng củi trâm bầu đập chết bốn du kích xã Trường Long. Bắt người dân nào cũng hỏi thăm một người Huế nói tiếng trọ trẹ hiện nay ở đâu. Đơn vị C.50 chúng tôi bao gồm 30 đồng chí, chỉ có một khẩu Thompson, một điện đài và hồ sơ tài liệu vỏn vẹn trong một cặp da do đồng chí Trưởng Chi giữ. Lúc Ban chỉ huy nhận được tin trinh sát đưa về, thì chúng tôi đều nằm lọt trong vòng vây của địch. Với sự chênh lệch về lực lượng như thế, mọi ý định đánh phá vòng vây chỉ là hành động tự sát. Ban chỉ huy hội ý bàn phương án rút. Tôi nêu một ý kiến khá táo bạo: "Rút và chém vè gần bót Cái Tắc. Bọn giặc lội bộ đã 2 ngày sẽ không còn hơi sức để sục sạo quanh đồn bót chúng. Đó là nơi tương đối an toàn nhất". Đơn vị được phân tán nhỏ, đồng chí Đăng liên lạc được phân công dẫn đồng chí Phấn và cháu Hoài Thanh đi theo hướng đồng bào sơ tán, một số làm trinh sát bám theo đội hình quân địch. Đồng chí Ba Cự tìm nơi chôn khẩu súng Thompson duy nhất ở đống rạ ngoài đồng, đồng chí Tâm trưởng đài VTĐ giấu đài vào trong một vựa lúa nhà dân. Xong tất cả đều tay không đi sát hàng rào bót Cái Tắc, dựa vào hàng trâm bầu nhìn ra hướng quân địch đang nhếch nhác lê bước trở về đồn bót. Khi lệnh cá nhân chiến đấu vừa ban hành, tôi lách ra khỏi nhóm, ngồi xổm xuống ao seo bên cạnh bót, định tâm hễ có tên lính nào men tới theo hướng này thì sẽ chém vè xuống ao sen. Tôi đã nhắc các đồng chí khác: "Nếu rủi bị bắt, đừng ai nhìn nhận có quen tôi. Để mình tôi làm tôi chịu". Cũng may, bọn địch kéo dài theo con đường lộ đất dẫn thẳng về cổng đồn chỉ cách chúng tôi chừng 100m, dáng uể oải, chờ về nhà ăn nhậu, tắm rửa.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #102 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 10:12:24 pm »

Đã có tài liệu của cấp chỉ huy Zone Ouest dặn dò các đồn bót phải tích cực tuần hành quanh đồn bót trong lúc có xảy ra cuộc hành binh càn quét qui mô lớn. Nhưng tôi tin ở bót Cái Tắc, vì ở đó Trung úy Trần Thanh Phong là đồn trưởng đã có nhắn với bà cụ giáo Phận, mẹ vợ tôi, sẽ làm cơ sở kháng chiến, nếu bị bắt, tôi có cơ may thuyết phục được. Không ngờ nước cờ liều của tôi lại được việc. Kiểm điểm lại, trong cuộc hành binh càn quét đầu tháng 8/52, đơn vị C.50 đã bảo toàn lực lượng, bản thân tôi được an toàn. Cơ quan bố trí sắp xếp cho gia đình tôi ở nhà dượng Ba ở Trường Long, người bà con, đồng chí Phấn gọi bằng cô dượng Ba. Gia đình rất tốt đối với chúng tôi. Tiếc thay, từ ngày trở về Nam, tôi chỉ có dịp gặp cô Ba một lần ở nhà bà cụ giáo, 83 Hoàng Văn Thụ - Cần Thơ, gặp anh Ba Giáp cũng một lần nhân ngày giỗ cụ Lâm Văn Phận. Do điều kiện sức khỏe không đi lại được, nên tôi chưa có lúc nào đền ơn đáp nghĩa với bà con xa gần đã đùm bọc gia đình chúng tôi trong 9 năm chống Pháp. Thật là bạc nghĩa! Đến thăm chú Tư Ngà ở dãy phố 18 căn, chú cho tôi biết thêm về sự kiện ngày 28/7/52. Chú kể lại: "Hôm đó, từ Sài Gòn chúng chở chúng tôi về Cần Thơ cũng trên chiếc xe Chevrolet sơn đen bịt bùng ấy. Thằng Barat nói: "Chờ tới 11 giờ trưa, để bắt một tên ở Long Xuyên đem về rồi sẽ trở về Sài Gòn luôn". Chờ mãi đến 2 giờ chiều, không thấy động tịnh gì, Barat bỏ xe đi một lúc rồi trở về bực dọc, biểu lái xe trở lại Sài Gòn luôn, về tới Sài Gòn, hắn lấy một tấm hình của cậu cho tôi xem, rồi gằn giọng hỏi tôi:

- Mầy biết ai đây không?.

Tôi thản nhiên nói:

- Đó là ông Một Hiến làm thông ngôn cho 2è B.   Long Xuyên, ai mà không biết!

Barat bảo:

- Hắn bị bắt rồi!

Tôi không trả lời, nhưng mừng thầm trong bụng: "Còn lâu tụi mầy mới bắt được Trần Hiến!". Vì cứ suy diễn cũng rõ: Nếu nó bắt được cậu thì cần chi phải đem hình ra hỏi. Cứ cho người đối chứng là biết ngay".

Tôi thầm cảm phục chú lanh trí, và cũng rõ là trong nửa tháng tra tấn, chúng vẫn chưa khai thác được gì nơi chú Tư cả.

Nhân dịp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng 8, C. 50 tổ chức kỷ niệm tại xã Trường Long, trao bằng khen tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cho nữ đồng chí Lâm Thị Phấn và tuyên dương công trạng của tôi toàn phân Liên Khu miền Tây.

Toàn văn như sau:

Q.Đ.Q.G.V.N
Phân Liên Khu MT
Bộ Tư lệnh
Số:53/QĐKT      Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BỘ TƯ LỆNH PHÂN LIÊN KHU

Chiếu Quyết định số 55/QDNB-52 ngày 13/1 /1952 của Bộ Tư Lệnh Nam Bộ thành lập Bộ Tư Lệnh Phân Liên Khu miền Tây.

Chiếu đề nghị của Phòng Tham mưu P.L.KM.T,

Xét vì ông Trần Hiến, nhân viên của Chi Quân báo 50:

- Đã biết dùng địa vị của mình trong quân đội Pháp mà cứu nước.

- Đã xây dựng được cơ sở điệp báo trong lòng địch, phát triển và duy trì được trong một thời gian rất lâu.

- Cung cấp được nhiều tài liệu đúng đắn về địch tình.

- Thoát khỏi nanh vuốt của giặc Pháp một cách anh dũng để bảo toàn được tánh mạng.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1:
Tuyên dương công trạng của ông Trần Hiến, nhân viên Chi Quân báo 50 trong toàn Phân Liên Khu miền Tây về những thành tích kể trên.

Điều 2:
Quyết định này được đăng trong tất cả các báo chí, thông tin thuộc ngành quân sự Phân Liên Khu miền Tây.

Điều 3:
Ông Tham mưu trưởng, Trưởng phòng Chính trị, ông Hiến chiếu quyết định thi hành.

                        Ngày 28 tháng 8 năm 1952

Nơi gửi:
- Phòng Tham mưu
- Phòng Chính trị
- Ông Hiến (Chi QB50)
- Chi Quân báo 50
- Văn khố      TM Bộ Tư Lệnh Phân Liên Khu miền Tây Chánh ủy
(Ký tên và đóng dấu)
Nguyễn Văn Vịnh
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #103 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 10:13:50 pm »

Tháng 9/52, tôi được về khu, đóng ở rạch Cái Chanh, và được gặp đồng chí Nguyễn Văn Vịnh và đồng chí Nguyễn Chánh, Tham mưu trưởng PLKMT. Hai đồng chí đã pha sữa cho tôi uống. Sữa thì tôi không lạ gì, nhưng lạ là vì thái độ thân mật của cấp trên đối với cấp dưới, chân tình, cởi mở, khác hẳn thái độ của bọn sĩ quan Pháp đối với binh sĩ.


Tôi đã tìm hiểu qua về thái độ của hai đồng chí đối với nội dung công tác của tôi, nên cũng yên tâm. Thấy tôi đưa bàn tay lên mũ chào theo kiểu nhà binh Pháp (của đáng tội, đã có ai dạy cho tôi kiểu chào của Vệ quốc đoàn ra sao đâu!) hai đồng chí đã mỉm cười và chỉ ghế mời tôi ngồi. Tôi chẳng bỏ thói quen đánh giá người đối thoại. Đồng chí Vịnh là người trầm tĩnh, vẻ mặt trắng trẻo nho nhã. Tôi đã nghe nói trong năm 1950, lúc có nhiều cán bộ quân đội bỏ ngũ, đồng chí đã viết thư riêng gọi từng đồng chí trở lại, kể từ cán bộ cấp trung đội trở lên. Còn đồng chí Nguyễn Chánh, thì người lùn, chắc, có hàm răng đen, nói giọng Khu 4, nghe nói trước ở mặt trận Lào trở về, có vẻ chất phác như một nông dân. Nghe tôi thuật lại việc tôi thoát hiểm như thế nào, đồng chí Nguyễn Chánh vui chuyện cũng kể cho tôi nghe chuyện thoát vây của đồng chí trong trận giao thông chiến ở Mỹ Tho năm 1947. Sau khi đốt xe đoàn "cong-voa" xong, xe nồi đồng chạy tới cứu viện, bắn đạn lửa làm cháy cả cánh đồng rạ phía sau quân ta. Đồng chí Chánh đã có sáng kiến lăn mình vào bùn ở dưới mương, nhờ đó đã dẫn bộ đội ta xông qua đám rạ cháy, thoát hiểm. Sau đó vài hôm, tôi lại được tiếp một cán bộ tuổi còn trẻ, khoảng dưới 25, có vẻ như là thư ký riêng của một cấp trung ương nào đó. Tôi không cần hỏi tên cũng như hỏi cấp nào sai anh đến. Tôi chỉ tin ở sự giới thiệu của Ban Quân báo Khu. Tôi nói thẳng với anh ta: "Thôi, nếu tôi nói ra thì nhiều lắm, anh ghi không xuể đâu. Căn cứ vào những điều anh đã được biết về tôi qua thẩm tra lý lịch, có gì chưa rõ, anh cứ hỏi, tôi sẽ nói để anh ghi lại". Theo kiểu vấn đáp, tôi làm việc với anh ấy hết một ngày. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Dù sao tôi chỉ vận dụng trí nhớ thuật lại cuộc đời, khỏi mất công sáng tạo để đối phó như hằng ngày sống làm việc bên cạnh địch. Chân lý là cụ thể bao giờ cũng chiến thắng.


Đến lúc Chi bộ Ban Quân báo Khu 9 tổ chức lễ kết nạp đảng viên mới, đồng chí Bí thư Đảng ủy văn phòng Khu đứng lên đọc quyết định công nhận tôi là đảng viên chính thức kể từ ngày 20/6/1952.

Hồi nhỏ, tôi tâm đắc nhất câu hát khách trong các tuồng cổ:
   Lao xao sóng vỗ ngọn tùng,
   Gian nan là nợ anh hùng phải vay!

Nếu được phép người xưa, tôi xin thay chữ "gian nan" bằng chữ "đấu tranh". Đấu tranh với thù trong giặc ngoài, đấu tranh nội bộ, đấu tranh với bản thân. Đó chẳng phải là món nợ suốt đời của những người cộng sản?

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn của người cán bộ điệp báo mặc dù hồi đó tôi được hoan nghênh như một người chiến thắng, nhưng riêng bản thân tôi, tôi thấy mình như một người lính thất trận. Với một tổ chức phản gián đồ sộ của De Lattre de Tassigny, một người tình báo gà mờ như tôi đành phải thúc thủ. Chỉ đến lúc Năm Danh đi Long Xuyên nắm tình hình về, tôi mới được phần nào an ủi. Sau lúc tôi thoát nạn, bọn B.C.E.O., nhất là thằng Barat tức tốc lục xét căn nhà 36 Lê Lợi - Long Xuyên, không thấy gì, chỉ thấy danh thiếp Đại úy Cảnh Phân khu (Sous-Secteur) Rạch Giá gửi tặng tôi 2 cà-ròn của biển, chúng xuống ngay Rạch Giá trói mèo viên sĩ quan bù nhìn lại chở lên Sài Gòn tra hỏi. Đại tá Le Duque đánh xe lên Secteur Long Xuyên, ra lịnh cho Labrousse đốt tất cả hồ sơ tài liệu của 2è B. do tôi quản lý, và ra lịnh thả 12 tên đào ngũ Việt Minh bị giam ở khám Nam Xương. Viên Trung úy cận thị áp tải tôi bị phạt 2 tháng "arrêt de rigueur" (Kỷ luật phạt giam của sĩ quan, chỉ ngồi trong phòng làm việc, cấm đi chơi trong 2 tháng). Sau này, tôi gặp lại Lý Trường Nhơn, Đại tá ngụy đi học tập cải tạo được tha về, nguyên cũng bị dính líu trong vụ án đó nhưng được tha bổng. Nhơn nói với tôi: "Thằng Barat hồi ấy mà bắt được anh thì nó sẽ ăn tươi nuốt sống anh. Nó hăm anh mẽ răng đó".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #104 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 10:15:36 pm »

CHƯƠNG 13
NHƯ CÁ GẶP NƯỚC


1952 - 1953

Vốn nông dân, bao năm sống lặn lội ở thị thành, nay được trở về sống với nông thôn miền Tây Nam Bộ, tôi cảm thấy như đứa con hoang được trở về với mẹ, trong vòng tay êm ấm của những người thân. Quân với dân như cá với nước. Hoạt động ở thành phố, tôi như cá nằm trong chậu, vẫn nhờ nước mà sống nhưng cuộc sống vẫn tù túng. Nay thoát khỏi chậu, rơi vào dòng kinh xanh, mặc lòng tung tăng bơi lội. Đồng bào, đồng đội, đồng chí của tôi sẵn sàng chỉ bảo, giúp đỡ thoát khỏi mọi thiếu thốn khó khăn.


Sau khi nghe chúng tôi báo cáo về hoàn cảnh kinh tế của gia đình (chỉ còn 3.000 đồng tiền lương tháng 7/52, và còn một mẹ già, em dại, 4 con cần đem vào vùng giải phóng), hai đồng chí trưởng phó Ban Quân báo Phân liên khu miền Tây nhìn thấy trước những khó khăn của chúng tôi, mặc dù tôi không nói ra, đã quyết định cho chúng tôi nghỉ phép 6 tháng để lo việc gia đình, và cấp cho chúng tôi 32 giạ gạo, xuất từ kho gạo hậu cần của Khu. Tôi cảm động vì lòng ưu ái của cấp trên, nhưng vẫn thắc mắc về con số 32. Phải chăng hai đồng chí muốn dùng con số đó là vì vô tình buột miệng hay có ý nhắc nhở tôi luôn luôn nhớ đến nhiệm vụ điệp báo của mình? Xem cái quyết định tuyên dương công trạng của tôi, đồng chí Kinh dặn dò: "Anh nên giữ kỹ cái giấy này, sau này sẽ có ích cho anh đấy" và đưa cho tôi mượn cây súng các-bin mang theo để tự vệ. Tôi thấy rõ sự tín nhiệm của cấp trên đối với tôi qua cử chỉ đó.


Trở về Trường Long (Cần Thơ), cơ quan Chi 50 đã cho liên lạc ra thành phố Cần Thơ để đón gia đình tôi vào. Cơ quan giao cho đồng chí Hai Tòng là Trưởng trạm liên lạc ở Đầu Sấu chịu trách nhiệm lo việc đó. Anh Tòng sau này về Sài Gòn tổ chức một tiệm phở ở chợ Thái Bình, tôi và Trí Thanh có tới thăm, được anh đãi 2 tô phở khá ngon, còn nhớ mãi. Tôi chở thẳng gia đình tôi về ở nhờ điền của anh Hai Tắng ở rạch Đường Sân (Chắc Băng). Hai Tắng đối với tôi vừa là đồng đội vừa là bạn bè. Chính anh đã đồng ý nhận tôi vào công tác ở Sát Gian Đảng trong lúc tôi còn bí về con đường đi kháng chiến. Không cần thông báo trước, Hai Tắng và cả bà vợ cũng ân cần tìm chúng tôi, mặc dù xa nhau đã 5 năm. Cơ ngơi anh Tắng ở Đường Sân hồi đó cũng có bề thế. Tuy không phải loại đất điền chủ cỡ Hai Quí, nhưng cũng có điền trang, vườn tràm, đìa cá. Bà Xã Trực, mẹ anh Tắng vẫn còn, ở ngôi nhà ngói với em trai Tắng là Năm Bình, làm Chủ tịch xã. Hai Tắng làm thịt con chó mực, và thấy chưa đủ, còn bắt thêm một con rắn hổ mang về làm thêm đĩa thịt rắn xé phay, nấu thêm một nồi cháo rắn để đãi bạn. Lần đầu tôi được ăn thịt rắn xé phay trộn với bắp chuối, và ăn cháo rắn ngon lành hơn cả thịt gà. Vào đầu những năm 50, những món ăn đặc sản ấy chỉ có thể tìm thấy ở vùng kháng chiến miền Tây, ở vùng tạm chiếm đô thị rất khó tìm.


Ông Xã Trực, thân sinh của Hai Tắng, bị lính Hòa Hảo giết năm 1945. Bà mẹ cũng là mẹ chiến sĩ, nên trong nhà luôn luôn có bộ đội ăn ở. Hơn nữa, tính Hai Tắng phóng khoáng, nên thích kết giao. Các anh chỉ huy đều có đến ở nhà Tắng, và nhờ Tăng giúp đỡ ít nhiều. Đối với tôi, Tắng vẫn giữ ấm tình đồng đội và tình cảm bạn thân, nên sẵn sàng chu toàn cho gia đình tôi để tôi an tâm công tác. Gia đình Hai Tắng nhường cho tôi hai liếp dừa để làm nền cất một căn nhà lá cho gia đình tôi ở. Sẵn tràm và lá chúng tôi (Tắng, tôi và Dũng) chỉ bỏ ra ba ngày công là làm xong căn nhà lá nhỏ ở dưới bóng cây còng, trong ngọn rạch Đường Sân, trông rất nên thơ. Từ lúc xa làng cho đến nay, đây là lần đầu tiên, nhờ tình bạn, tôi đã có được một căn nhà tự tay mình dựng nên, tuy không thể nào bằng nhà người khác, nhưng còn lành lặn hơn căn nhà tranh tôi đã sống hồi nhỏ ở quê nhà. Mẹ, em và con tôi cũng yên tâm về nơi ở mới, và sớm thích nghi với cuộc sống mới. Ở đây không sợ bị địch ruồng bố, lâu lắm mới có một chuyến máy bay đảo qua. Để lo cho cuộc sống của gia đình, thằng Dũng con trai tôi, lo việc cấy cày để làm ra hột lúa cho gia đình. Ruộng thì có đất của anh Hai Tắng cho không, trâu và cày cũng của Hai Tắng cho mượn. Chúng tôi yên tâm lên đường trở về cơ quan công tác.


Bỗng một hôm, nhân đi công tác, đảo về thăm gia đình, tôi ngạc nhiên thấy vắng bóng thằng Dũng. Tôi hỏi thăm mẹ tôi. Mẹ tôi nói tỉnh bơ:

- Hắn đi bộ đội rồi.

Tôi không ngạc nhiên, nhưng bực bội:

- Nó mới 15 tuổi, ai cho nó đi bộ đội?

- Tao biết mô, hắn đang cày ngoài ruộng, nghe tiếng trống tòng quân, tháo cày bỏ đi, cày đang bỏ ngoài đồng đó.

Tôi trông cậy vào nó để thay tôi nuôi mẹ và em tôi cho tôi rảnh tay đi công tác, không ngờ nó đặt tôi vào chuyện đã rồi.

- Răng mẹ lại cho hắn đi, ai nuôi mẹ?

Mẹ tôi đủng đỉnh trả lời:

- Hắn có lông có cánh, cho hắn bay nhảy với đời. Mi tính coi, lúc mi theo cách mạng, ai cấm cản mi, thì hắn cũng rứa thôi. Còn tao già rồi, sống răng cũng dặng, hai mẹ con kéo nhau đi mót cũng đủ ăn, lo chi!

Tôi hỏi thăm Hợi, em gái tôi. Hợi nói:

- Đúng đó anh ạ, lúa trong bồ còn đầy, chưa đụng tới. Em đi xin rượu ngon về nuôi dấm bán cho bà con cũng đủ ăn!

Tôi dòm cái tĩn dấm chua để dưới gầm giường, ra sau bếp, cái bồ lúa của cơ quan cho hồi tháng 9 vẫn còn nguyên chưa suy suyển, mới yên tâm xuống xuồng chèo đi công tác. Ông nội, cha tôi ở dưới suối vàng chắc hắn yên tâm. Đứa cháu đích tôn của các cụ vẫn tiếp tục truyền thống, tiếp bước cha ông. Đang chiến tranh, con đường còn dài. Tôi đẩy mạnh đôi mái chèo cho chiếc xuồng ba lá rời bến cây còng. Mẹ nó, người vợ đầu của tôi cũng là một tay chèo khá. Một mình một chiếc đò ngang đưa khách sang sông Cửa Việt, vừa chèo vừa cao giọng hò mái đẩy, trêu ghẹo anh bồi đang tay xách nách ôm ổ bánh mì gói báo, và hai chai rượu vang mang về cho ông Cố đạo ở nhà thờ Mai Xá: "À ơi! Quốc gia thủy thổ anh đây... à ơi! Anh ham chi hai chai rượu chát, ba ổ bánh mì... à ơi! Dang tay đánh thiếp khổ làm ri hỡi trời... à ơi!". Một giọng hò đã một thời làm xao xuyến lòng tôi. Phải chăng lòng yêu nước cũng có gien trong mọi người Việt Nam vốn là người nghèo khổ tự lâu đời?
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #105 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2026, 10:16:21 pm »

Sau trận càn Ô Môn, Bà Đầm, cơ quan Chi 50 phải dời về gần cảng kinh xáng cụt Xà No, giáp với Kinh Ngang. Tôi được anh Ba Cự, Trưởng chi giao nhiệm vụ nắm hồ sơ các cơ sở nội thành, thay cho Quỳnh xụi. Sự phân công mới buộc tôi phải tìm hiểu về tổ chức bộ máy Chi 50 đóng ở nhà anh Bảy Bí thư xã. Anh Bảy là một cố nông, tính tình chất phác, dễ gần. Ban chỉ huy Chi 50 có ba người: Nguyễn Văn Cự - Chi trưởng, Phan Thành Miêng - Chi phó và Nguyễn Huy Quỳnh - Chi phó. Mật mã có Thanh Xuân (thanh niên có tên con gái). Điện đài có Tâm râu và Lợi (Ba Lược). Đánh máy có Lân. Cán bộ nghiên cứu địch tình có tôi, vợ tôi, Phương Nam và Trí (Khu 8 về), cán bộ liên lạc nội thành có Năm Danh, Ba nhỏ, Phước bé, Năm Dung (nữ, chị Đức). Chi 50 có 5 trạm liên lạc. Trạm số 1: Đầu Sấu do Hai Tòng làm trạm trưởng. Trạm số 2: Ô Môn do Nguyễn Văn Trầm - trạm trưởng, và Hồng Tiếp. Trạm số 3: Cái Răng (cây số 10) do Ba Tải - trạm trưởng và Hằng. Trạm số 4: Cái Tắc do Châu - trạm trưởng và Chín Chắc - Còn Năm Danh có nhà ở Kinh 8 Cái Sắn, đặt trạm số 8 do Năm Danh phụ trách để nắm các cơ sở còn sót lại như Hai Đèn (Lâm Thành Thọ) ở Thốt Nốt và anh Hữu, một nhà thầu khoán ở Long Xuyên. Phương tiện liên lạc giữa trạm và Chi chủ yếu là dùng xuồng ba lá có đóng ván che kín mũi, để cho khỏi ướt tài liệu lúc trời mưa. Đồng bào biết rất rõ là xuồng của chúng tôi, đặt tên là "những chiếc Jeep của Chi 50". Trong đội ngũ chiến sĩ liên lạc, còn có những chiến sĩ mới tuyển về sau là các thanh niên nông dân như Tốt, Tân, Định, Dương do tôi tuyển dụng và tổ chức kết nạp. Toàn thể cơ quan trên dưới 30 người nhưng phần lớn thời gian đều đi công tác, chỉ ở lại văn phòng chừng 5, 6 người. Chúng tôi ăn cơm tập thể, phân công trực nhật để nấu cơm. Sinh hoạt phí mỗi người được cấp phát hằng tháng ba giạ lúa để chi tiêu, sinh hoạt hằng ngày. Cá, của, ốc, rau muống là thực phẩm thiên nhiên có sẵn. Chỉ cần có dự trữ muối, mắm là "thực túc binh cường", không sợ thiếu hụt.


Tôi nhớ lại lần đầu tiên được họp đại hội Chi bộ cơ quan Chi 50, tại nhà anh Bảy - Bí thư xã. Có mặt 16 đồng chí. Tôi cứ nghĩ là họp chi bộ ở vùng tự do thì chắc tranh luận phải sôi nổi lắm, vì không có mật thám dòm ngó. Sau khi làm lễ chào đảng kỳ, tuyên bố lý do, báo cáo kết thúc nhiệm kỳ trước, giới thiệu đề cử chi ủy mới trong đó có các đồng chí Cự, Quỳnh và Châu. Châu là trưởng trạm liên lạc Cái Tắc. Tôi phê bình đồng chí Châu là vi phạm chính sách của Đảng và Chính phủ. Tôi chỉ ngay 2 chai rượu Dubonnet và Rhum Saint James của đồng chí Châu đang xách giao cho một chiến sĩ giao liên để gửi về Khu. Tôi nói:

- Chúng ta đang kháng chiến gian khổ, Đảng ngăn cấm dùng xa xi phẩm, tại sao đồng chí Châu lại cho rượu Tây lọt vào Khu?

Đồng chí Châu bảo là gửi về theo yêu cầu của một cán bộ ở Khu 9. Tôi bốp chát đập lại:

- Dù có Hồ Chủ Tịch vào, có yêu cầu chiêu đãi ngoại giao, Đảng đã cấm thì cũng không thể vi phạm được!

Mọi người đều lặng thinh, không ai tranh luận với tôi cả. Tuy nhiên, đến lúc bỏ phiếu thì đồng chí Châu vẫn đắc cử Bí thư chi bộ. Cái đáng quí là đồng chí Châu không để tâm đến thái độ gay gắt của tôi trong cuộc họp chi bộ, mỗi khi ra trạm công tác, vẫn lo cơm nước, chèo xuồng đưa tồi đến tận cơ sở dịch hậu.


Tôi ngỏ ý muốn đem mấy đứa con tôi vào vùng giải phóng, nhưng ngại vì rạch Đường Sân quá xa cơ quan, không có trường để học. Anh Ba Cự liên hệ với đồng chí Bảy Bí thư xã, xin cho tôi 20 công ruộng vắng chủ, và một miếng đất biền để cất nhà cho tôi ở Kinh Ngang. Đám ruộng 20 công ở ngang kinh, ngay trước mặt nhà. Xin chùa đốn trâm bầu làm cột nhà, xin dân đốn lá để lợp. Anh em đơn vị tiếp tay dựng nhà, phát cỏ, cấy lúa che tốt. Nước ngọt ở kinh chảy vào ruộng không phải tát. Chờ đến mùa gặt, cùng nhau xúm lại gặt đập đem về. Vợ tôi nuôi thêm 3 con heo, 1 bầy vịt đẻ, thế là kinh tế gia đình sung túc. Tôi nhớ mãi hình ảnh Hoài Thương, cháu bé gái của tôi, 9 tuổi, ở trần lặn hụp suốt ngày dưới kinh đề mò trứng vịt đẻ rơi. Ra miền Bắc cháu được Đảng và Chính phủ cho học đại học tài chánh, chuẩn bị đi B, thì đã bị bệnh chết ngày 17/1/70 tại bệnh viện C. Trong những di vật còn lại của nó, tôi còn giữ lại kỹ chiếc bị đỏ bằng nhựa trong đó có tấm băng tang đen đó lúc Hồ Chủ Tịch qua đời, và tấm ảnh cũ kỹ của người mẹ kế khá vô tình!


Trong trận "chạy giặc" của gia đình tôi, chúng tôi biết ơn đồng bào cô bác miền Tây Nam Bộ đã cưu mang giúp đỡ trước hết là bạn bè, đồng đội, đồng chí thân thương, là cơ quan Quân báo Chi 50. Hòa bình lập lại, nằm đếm tính đốt ngón tay, trong số 37 người của cơ quan, trừ đi 2 người bỏ ngũ, một đại tá, một trung tá ngụy đi học tập cải tạo được tha về, mà tôi cũng đã có gặp, còn lại 35 người kể vào loại trung niên, có 9 người bị địch bắt, bị tù tội giam cầm, tra tấn năm lần bảy lượt, vẫn trung thành với sự nghiệp cách mạng, còn sống là 19 người (cho đến Tết Canh Ngọ 1990), kể như 50%, 6 người có thể còn sống nhưng không tìm ra địa chỉ (Xuân, Châu, Tất, Tốt, Định, Dương). Còn 10 người đã lìa trần: Miêng, Trí, Chắc trong chống Mỹ ở lại miền Nam và hy sinh trước ngày miền Nam giải phóng. Danh (12/11/86); Đức (1955 ở miền Bắc); Thọ (Hai Đèn) ở Ô Môn; Ba Tải ở Cần Thơ; Hai Tòng ở thành phố Hồ Chí Minh; Ba Nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh; Hữu ở Long Xuyên. Chỉ riêng anh Tám Miêng được chứng nhận là liệt sĩ, bị bắt ở tù Côn Đảo và chết ở Sài Gòn ngày 6/7/69 (22/5 âm lịch). Vợ con anh phần lớn là đảng viên cộng sản, vẫn tiếp tục sự nghiệp cách mạng của anh để lại.


Năm 1953 mở đầu bằng một trận giao thông chiến vang dội tỉnh Sóc Trăng. Trong trận phục kích gần Bố Thảo, quân ta bắt được một đại úy chỉ huy 5è BVN và một thiếu úy mới ra trường. Còn viên thiếu tá chỉ huy phân khu Sóc Trăng Dương Văn Đức đã trốn dưới giề lục bình và chạy thoát. Viên đại úy bị ta bắt sống tên là Hoành, nguyên là thiếu sinh quân (enfant de troupe), được biên chế vào 5è BVN từ giữa năm 1946. Tôi đã tiếp xúc anh ta tại Cần Thơ, lúc đến trình diện Secteur để đổi về Sóc Trăng. Hoành là con của Cai tổng Vàng, một địa chủ ở Núi Sập xã Thoại Sơn tỉnh Long Xuyên Tôi đang công tác ở Cần Thơ, thì được điện của Ban Quân báo gọi về tham gia đoàn công tác điều tra tù binh. Đến kinh 8, Chắc Băng, nơi có quân y viện của khu, gặp ngay đoàn có anh Hai Kinh, Trưởng Ban Quân báo Phân Liên Khu làm trưởng đoàn, và anh Sơn Xuyên, nguyên là một cựu sĩ quan quân đội Pháp (khố đỏ) cấp hàm adjudant, tham gia cách mạng năm 46. Vui chuyện, anh Sơn Xuyên cho tôi biết là lúc Leclerc vừa đến Sài Gòn, đã triệu tập anh em cựu binh sĩ ở Đông Dương lại: anh được giao một cái radio, anh mang chiếc radio đi theo kháng chiến luôn từ đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #106 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 08:57:05 pm »

Thế là đoàn điều tra tù binh gồm 3 người: Tù binh Hoành bị thương ở cột sống, được đưa về quân y viện điều trị. Chúng tôi vào một nhà nông dân, nơi Hoành được dành riêng để cho Hoành nằm. Anh em chiến sĩ nằm ở sau bếp, có nhiệm vụ canh gác và thay nhau lấy cơm nước cho Hoành ăn, vì vết thương chưa lành. Thuốc pénicilline và sữa của đồng bào tiếp tế cho quân y viện cũng được dành phần cho Hoành. Thức ăn còn hơn cả khẩu phần chiến sĩ và cán bộ ta. Anh tù bình ấy không than phiền gì về cách đối xử của ta. Chỉ có một lần, trẻ em lối xóm xúm vào dòm ngó qua sân trước, anh ta quát to lên, thậm chí còn chửi rủa nữa. Tôi hỏi thăm về gia đình anh ta: anh ta cho biết là có 6 con, tôi hỏi anh muốn viết thư về cho gia đình không? Anh gật đầu. Hôm sau, trong giờ hỏi cung, trẻ em lối xóm lại xúm vào, anh ta lại quát mắng ầm lên. Để cho anh ta quát mắng xong, trẻ em ra đi hết, tôi hỏi anh ta: "Anh Hoành nè! Anh có thấy cán bộ chúng tôi không bao giờ to tiếng với trẻ em không?". Anh ấy thừa nhận là tôi nói đúng, và anh ta cũng lấy làm lạ về điều đó. Tôi giải thích cho anh thấy rõ, là vì chúng tôi làm cách mạng không chắc gì đã hưởng được cho đời mình, mà là để cho lũ trẻ nhỏ sau này hưởng, trong đó có 6 đứa con của anh đó. Anh làm thinh, nước mắt lưng tròng. Từ đó, mỗi khi trẻ em đến quấy rầy, anh không la mắng nữa. Trong cuộc hỏi cung dưới hình thức trao đổi thoải mái, Hoành cho biết Bộ Tham mưu Pháp muốn thực hiện kế hoạch Alexandry (Plan Alexandry). Viên tướng quyền tư lịnh quân đội Pháp vạch ra là sẽ mở một đường bộ xuyên từ Sóc Trăng sang Long Mỹ, Vị Thanh đến Rạch Sỏi (Rạch Giá) để chia cắt miền Tây, cô lập vùng U Minh, căn cứ địa kháng chiến Nam Bộ. Tôi chỉ tham gia đoàn điều tra tù binh đến nửa chừng, thì được điện của Chi 50 gọi về Cần Thơ có việc cần kíp, có cơ sở nội thành muốn gặp tôi. Sau đó, tôi được Phương Nam cho biết là Hoành được trao trả ở Cà Mau, sau Hiệp định Genève. Phương Nam lúc đó là sĩ quan Liên Hiệp đình chiến của ta ở Cà Mau, bàn giao tù binh cho quân Pháp, có kiểm soát quốc tế! Trước mặt sĩ quan kiểm soát quốc tế, Hoành đã thừa nhận là được quân đội Việt Minh chữa chạy thuốc thang và săn sóc đối xử rất tốt.


Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1984, tôi có trở về Long Xuyên, gặp được Năm Nghinh, 1 cơ sở cũ của tôi, làm Trưởng phòng Thương binh xã hội thị xã Long Xuyên, cho biết thêm: Đại úy Hoành được trao trả về Long Xuyên mổ bò làm tiệc chiêu đãi ở nhà lồng chợ, đã vô cùng tán dương thái độ cư xử của Việt Minh. Tất nhiên, anh ta không thể nào phủ nhận chân lý. Nếu còn sống anh cũng đã trên 80 tuổi. Chỉ mong 6 đứa con của anh tiếp tục biết ơn Cách mạng và cùng toàn dân tiếp tục sự nghiệp xây dựng Tổ quốc hôm nay và kế tiếp.


Tôi cuốc bộ, băng đồng, lội sông gần 3 ngày để vượt qua 100km từ kinh 8 Chắc Băng về đến Kinh Ngang, nơi Chi 50 đóng. Anh Cự cho biết là có một ông già Phật giáo Hòa Hảo ở Long Xuyên về Cái Tắc nhắn gặp tôi cho bằng được, nên phải điện cho tôi về tiếp. Mà phải ra Cái Tắc để gặp ông ta, chứ ổng không vào được. Tôi tức tốc ra vùng du kích để đón khách. Chi 50 cho tôi mượn một chiếc xuồng ba lá, hai chiến sĩ trinh sát (anh Nhã và Dương) thủ 4 trái lựu đạn mãng cầu theo tôi. Chúng tôi chèo xuồng đến điểm hẹn là khu vườn Cả Bảo, cách bót Cái Tắc 4km. Đến giờ hẹn, tôi nhận rõ ông già là ông Một ở Cái Tắc, hồi ở Long Xuyên, tôi đã từng giúp tiền, ông ấy ở trong Trung ương hội Phật giáo Hòa Hảo, có 2 đứa con đang đi học trường sĩ quan Đà Lạt là Lý Bá Phẩm và Lý Bá Hương. Gặp tôi, ông mừng lắm, ôm lấy tôi. Hỏi mục đích, ông cho biết là chỉ nhớ muốn gặp mặt cho thỏa lòng thôi, ông lo sợ tôi có việc gì không khéo bị Việt Minh xử lý. Tôi nói cho ông cậu yên tâm (vì bà Phấn kêu bằng ông cậu), rồi dặn dò ông cậu ráng giữ vững sức khỏe, khuyên đồng bào Phật giáo Hòa Hảo đừng nên hiềm khích với Cách mạng, và sau này hai cậu con ra trường, nên khuyên hai cậu đừng bắn giết đồng bào, làm lành lánh dữ như Phật thường dạy. Ông cậu gật đầu.


Tháng 3 năm 1953, Ban Quân báo phân liên khu miền Tây có chủ trương thay đổi tổ chức, chia cán bộ Chi 50 thành 3 cánh trinh sát cả khu. Đồng chí Ba Phấn và Hai Kỉnh triệu tập cán bộ Chi về Ban để bàn cụ thể việc chia cánh. Sau cuộc họp, Chi 50 được chia thành 3 cánh trinh sát của Ban. Cánh A phụ trách các cơ sở Quân báo ở Cần Thơ do đồng chí Cự làm trưởng, Quỳnh là phó. Cánh B phụ trách các cơ sở ở Rạch Giá, Long Xuyên do đồng chí Miêng làm trưởng, Hiến là phó. Cánh C phụ trách các cơ sở ở Sóc Trăng, Bạc Liêu do đồng chí Phương Nam làm trưởng, Trí là phó. Sau đó mỗi cánh đều họp riêng để triển khai công tác.


Tôi còn nhớ rõ, cánh B bao gồm các đồng chí: Phan Thành Miêng - chỉ huy trưởng, Trần Hiến (tôi) - chỉ huy phó. Cán bộ có Lâm Thị Phấn, Võ Văn Danh, Nguyễn Văn Bê, Lê Bê Xê, Nguyễn Văn Tiến đều là đảng viên, họp thành một chi bộ đặc biệt, trực tiếp huyện ủy An Biên, lúc đó đồng chí Kiên Giang làm Bí thư huyện ủy, đóng tại Thứ 11. Đồng chí Kiên Giang sau này về Ban nông nghiệp Trung ương. Cuộc họp tại kinh Dài đã bầu ra một Ban chi ủy gồm có đồng chí Miêng làm Bí thư, đồng chí Tiến và đồng chí Hiến (tôi) làm Chi ủy viên. Đồng chí Tiến sau này tập kết, chuyển sang nhiều cơ quan, năm 1985 đồng chí vẫn còn công tác làm Giám đốc xí nghiệp cơ khí quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Các trinh sát viên gồm có: Tấn, Bảy, Long, Trưng, Lực, Bo. Nhiệm vụ chủ yếu của cánh là làm trinh sát ngoại tuyến và nắm lại các cơ sở nội thành. Trong 7 đồng chí đảng viên chỉ có 2 đồng chí ở nội thành: đồng chí Bê và đồng chí Danh, lâu lâu lại về họp chi bộ, báo cáo hoạt động của địch, qua các cơ sở phản ảnh lại.


Trong 4 tháng, cánh B đóng tại huyện An Biên, chúng tôi đóng quân chủ yếu là đối diện với đồn Rạch Sỏi, ở kinh Dài, sống với đồng bào hằng ngày đi chợ Rạch Giá, nhưng vẫn được đồng bào hết lòng che chở. Một chuyện làm cho tôi nhớ mãi: Một hôm, Tấn, một trinh sát viên trẻ, gốc Cao Lãnh, thèm cà phê quá, nên sang quán cà phê bên đồn Rạch Sỏi uống lén đơn vị, chẳng may bị bọn lính bắt đem vào đồn. Tôi được tin, đứng ngồi không yên. Ba ngày sau, nhờ Trưởng ấp bảo lãnh, Tấn được thả về. Tôi hỏi. Tấn đáp gọn: "Em thèm cà phê quá!". Tôi không nói gì thêm, nhưng từ đó Tấn không bao giờ tự động chèo xuồng sang sông để uống cà phê nữa. Sau này tôi không gặp lại Tấn lần nào nữa, nghe đâu Tấn có làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, mang quân hàm đại tá, đến nay cũng đến tuổi về hưu. Trong 4 tháng đóng quân ở kinh Dài, chỉ có một lần có tin trinh sát báo là bọn Hòa Hảo bên Rạch Giá kéo quân sang cướp phá. Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng để đón chúng. Là chỉ huy trưởng, tôi nhảy xuống xuồng đi trước, nhưng Long - một trinh sát trẻ - chận tôi lại, nói: "Anh phải đi sau, để tụi em ra trước, vì tụi em còn trẻ". Long sau này cũng tập kết, chuyển ngành, học đại học, hồi kết làm ở Sở Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí Minh, nay cũng về hưu, ở số 30 Ngô Thời Nhiệm. Tôi kể lại để biết ơn tấm lòng đồng bào Rạch Giá, biết ơn tấm lòng đồng đội mến yêu. Trong số trinh sát viên ở cánh B, cùng tập kết và chỉnh huấn cải cách ruộng đất năm 1955, có Lê Bê Xê làm tiểu đội trưởng của tôi trong tiểu đội học tập cải cách ruộng đất và tôi là học viên phải báo cáo điển hình cho toàn đơn vị góp ý. Lê Bê Xê sau này học đại học kinh tế kế hoạch, hồi kết được bố trí làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá thành phố Hồ Chí Minh. Nay cũng đã nghỉ hưu.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #107 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 08:58:46 pm »

Kiểm điểm lại trong số 13 đồng chí ở cánh trinh sát B, trừ 4 đồng chí ở lại miền Nam: đồng chí Miêng đã hy sinh ở Sài Gòn tháng 7/1969, đồng chí Danh chết năm 1986 ở Cần Thơ, 2 đồng chí Bảy và Lực ở lại làm thường dân, không rõ sống chết ra sao, còn lại 9 đồng chí thì đồng chí Bê, Bo, Tấn, Trưng không biết tin tức nay ở đâu, và cũng không có điều kiện để thăm hỏi, và 5 đồng chí khác thì cũng chẳng khác gì hơn. Biết làm sao được khi tuổi đã về già. Ít khi gặp nhau để ôn lại việc cũ, hỏi thăm ai còn ai mất?


Tháng 7/1953, cánh B được rút về Ban Quân báo Khu để tăng cường cho các đơn vị khác. Tôi được bố trí trở lại Cần Thơ để nắm tình hình, củng cố lại các cơ sở nội thành.

Cuối năm 1953, Phân Liên Khu miền Tây mở hội nghị Quân báo, học tập tài liệu Quân báo nhân dân. Hội nghị mở tại Rạch Cái Bần, huyện Trần Văn Thời. Tất cả cán bộ Quân báo toàn Phân Liên Khu đều về dự đông đủ. Đồng chí Tư lệnh Dương Quốc Chính chủ trì hội nghị, dự thảo luận cùng tổ với tôi. Tôi cũng đã tìm hiểu qua về đồng chí Tư lệnh. Các đồng chí ở Ban cho tôi biết đồng chí là một đội viên tuyên truyền giải phóng quân ở Việt Bắc, vẻ người khắc khổ, có hàm răng vẫu chìa ra như cái mái hiên, có tên là Lê Hiến Mai, có vợ là đại biểu quốc hội tỉnh Bạc Liêu, thường sống chung trong một tam bản có mui, thường được anh em gọi là anh Tám. Theo tài liệu của 2è B. thì đồng chí Dương Quốc Chính được trung ương cử về Nam để thay thế tướng Nguyễn Bình đã chết. Nhưng về thành tích ở Nam Bộ, chưa có nhiều bằng tướng Nguỵễn Bình. Hội nghị Quân báo Phân Liên Khu có lần bị máy bay "cổ cò" đến bắn phá, lúc đó chúng tôi đang đánh chài dưới sông Rạch Bần. Chiếc máy bay tạt ngang bắn một loạt đạn xuống rạch, chúng tôi kéo chài lên được 13 con tôm càng xanh to lớn. Máy bay bắn phá cũng không ngăn cản được anh em đua nhau đi cải thiện. Rạch Bần có tiếng có nhiều tôm càng xanh và cá chẻm, loại cá thơm thịt nhưng hay chém rách chài, nên chỉ câu cần là kết quả tốt hơn.


Nửa chừng hội nghị, có tin địch theo đường thủy tấn công vào Thới Bình và kinh xáng Tà Keo. Từ Rạch Bần, hội nghị phải giải tán để kéo nhau về kinh Công Nghiệp (bên kia sông Ông Đốc). Bộ Tư lệnh điện cho Tiểu đoàn 307 kéo về đánh chận địch ở kinh Bảy Háp, diệt được một chiếc LMC.


Nhân cuộc hội nghị Quân báo lần đó, tôi mới biết mặt thêm các cán bộ Quân báo nguyên ở Khu 8 cũ về: anh Phan Thanh Khiết, anh Phạm Thế, anh Vũ Hoài Linh. Anh Khiết sau này ở lại miền Nam hy sinh trên chiến trường Bến Tre. Còn các anh Trực, Thế, Linh tập kết trở về đều có gặp mặt cả. Nhân có cuộc càn quét qui mô khá lớn ở vùng Bạc Liêu, tôi hỏi Phương Nam có được tin báo trước không? Phương Nam gật đầu. Tôi nghĩ đến cơ sở Tuấn Khanh, và yên tâm phần nào về hoạt động của cơ sở duy nhất còn lại trong lòng địch.


Trở về Cần Thơ, tôi củng cố lại các địa bàn hoạt động. Dựa vào trạm Cái Tắc, do đồng chí Châu làm trạm trưởng, chúng tôi thường xuyên vào ra các vùng Long Thạnh và Cái Tắc, đồn trưởng là trung úy Trần Thanh Phong, người Thạnh Phú (Bến Tre), một sĩ quan tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt, khóa sau Lâm Văn Phát. Bà cụ Phận, mẹ vợ tôi, dựa vào sự quen biết với Phong nên vào ra Cái Tắc dễ dàng, và vào điền của cô Nuôi (một địa chủ béo mập) để thăm chúng tôi. Tôi cũng thường xuyên đi lại con đường đó để nắm chắc địa hình.


Đó là con đường nhỏ men theo bờ rạch, chạy dài ra kinh xáng Phụng Hiệp cách đồn bót không xa lắm (khoảng 300 m). Trần Thanh Phong cũng nằm trong dự kiến của tôi, giao cho bà giáo Phận làm liên lạc móc nối, nhưng chưa có đóng góp gì đáng kể. Tôi đang suy nghĩ kế hoạch thông qua Trần Thanh Phong để nắm đồn Cái Tắc, từ đó đến tổ chức các cơ sở khác ở Cần Thơ một cách vững chắc. Đang mải mê suy nghĩ, bỗng đụng đầu vào toán lính Miên trong đồn kéo nhau ra tuần tra. Ngẩng lên nhìn thấy ló dạng cái mũ "commănđô" (mũ mềm giống mũ TNXP ngày nay), tôi vội lách mình qua hàng rào chè tàu, một phụ nữ đứng tuổi đang múc từng thìa cơm bón cho con ăn, ngồi ngay trước cửa trống. Tôi bước vội vào nhà, chẳng cần chào hỏi, định chuồn ra cửa sau để thoát, nhưng gian nhà lá tối om, vài mét là ra đường có bọn lính tuần tra đang kéo tới. Biết tôi đang muốn tìm chỗ trốn, chị chủ nhà chỉ ngay cho tôi cái chỏng tre rộng, một nách mang con tay kia với lấy chiếc chiếu đắp lên người tôi. Tôi biết ý, nằm im trong chiếu. Cũng không nói một lời, chị đổ ngay bát cơm xuống nền nhà, ngay đầu giường tôi nằm, hốt một nắm tro trong cái cà-ròn đổ lẫn vào cơm canh dưới đất, rồi ôm con ngồi trước cửa. Nằm trong chiếc chiếu, qua kẻ hở của tấm chiếu manh, tôi theo dõi từng động tác của chị chủ nhà và đoán ra cách ứng xử của chị. Một cái đầu lính commănđô ló vào hỏi chị một tràng tiếng Miên! Đứa trẻ vẫn còn khóc có lẽ vì ăn chưa no, chị cũng trả lời bằng một tràng tiếng Miên, trong đó tôi nghe rõ một tiếng "Cô-lê-ra" (choléra) tức là thổ tả. Tên lính rụt đầu, thối lui. Vài ba tên lính khác lần lượt vào hỏi cũng được chị xác định là "cô-lê-ra!". Không một tên nào dám táo gan bước vào trong căn nhà có người mang bệnh thổ tả, mửa cơm nước ra tràn nền. Đám lính tuần tra đi khuất, chị lặng lẽ đến dở chiếu ra, nách vẫn ẵm con, chỉ ra ngoài cửa: "Đi rồi, chú đi đi". Tôi lặng lẽ chấp hai tay xá chị, bước thoắt ra ngoài thầm nghĩ: có lẽ chị không rành tiếng Việt, nói ít còn hơn. Tôi về đến trạm, thuật lại câu chuyện thoát hiểm nhờ ơn một phụ nữ có con, nhà có hàng rào chè tàu, đồng chí Châu cho biết đó là nhà vợ lính Miên, chồng chị là lính ở bót Rạch Gòi. Tài ứng xử thông minh, lòng nhân ái của một người vợ lính Miên đã cứu tôi thoát khỏi tay địch, nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa nhận lỗi về chính bản thân mình! Hoạt động bao năm trong lòng địch, thân tôi không chỉ ở cảnh cá chậu chim lồng, mà là cá nằm trên thớt, bị hăm dọa dưới lưỡi gươm Damoclès treo lủng lẳng trên đầu, đến khi thoát khỏi, như cá quẩy khói thớt rơi xuống dòng kinh xanh, vẫy vùng trong nước trong, sông trong tình cảm của đồng bào, đồng đội, đồng chí thân thương, thoát khỏi vòng vây ráp của quân thù lần nữa. Ân nghĩa đó nặng tình cá nước, không thể nào quên!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #108 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:01:04 pm »

CHƯƠNG 14
SAU ĐIỆN BIÊN PHỦ


7/5/1954

Chiến thắng Điện Biên Phủ, dấu ấn thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến 9 năm của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, chấm dứt chế độ thuộc địa hàng trăm năm mà chúng áp đặt vô cùng khắc nghiệt trên đất nước Việt Nam nói riêng và trên toàn cõi Đông Dương nói chung, đồng thời cũng chấm dứt bản án của 18 "bị cáo" được đưa ra xét xử trước Tòa án quân sự Pháp ở Tổng hành dinh Đại tướng Tổng tư lệnh quân lực Viễn Đông, hòm thư 50.727.


Sau đây là bản án lịnh mà mỗi bị cáo có mặt đều nhận được tại Tòa án binh Pháp, mà ông Nguyễn Văn Nhiều bán sạp sách báo tại chợ Cần Thơ những năm 50, đã có nhã ý tặng lại cho tôi giữ làm kỷ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (Hiện nay ông Nhiều ở số 60 đường Hùng Vương, gần bến xe Cần Thơ), và dưới đây, tôi xin trích dẫn tóm lược bản cáo trạng:

Cabinet du Juge
d'instruction militaire      RÉPUBLIQUE FRANCAISE
Ordonnance de non lieu
et renvoi devant      Tribunal militaire aux Armées du QG du Genéral Cdt en Chef des Forces Armées en E.O
Séant à S.P.50.727
le Tribunal militaire      
O.I.No 792 du 31/12/52
O.I.No 179 du 24/3/53
O.T.No 712 et 402 des 24/11/52
st 26553      Nous, Rebuffet, Capitaine de Justice militaire aux Armées du QG du GCC des F.A.E.O
   
nculpations directes
   - Vu la procédure instruite contre les nommés:
   1- Lê Ngọc Cầu, décédé le 8-2-1953
   2- Lê Đăng Khoa, en liberté provisoire...
   3- Nguyễn Văn Nhiều, en liberté provisoire...
   4- Trương Hữu Điền, détenu maison Centrale Saigon...
   5- Nguyễn Hữu Qui, détenu maison Centrale Saigon...
   6- Trần Phước Ngà, détenu maison Centrale Saigon...
   7- Trần Huy, détenu maison Centrale Saigon...
   8- Nguyễn Văn Bằng, en fuite
   9- Lê Thị Phước, en fuite
   10- Trần Văn Hòa, en fuite
   11- Trương Hữu Sơn, détenu maison Centrale Saigon...
   12- Bùi Huỳnh Nhụy, en liberté provisoire...
   13- Trương Ngọc Xuân, en liberté provisoire...
   14- Lâm Thị Sáng, en liberté provisoire...
   15- Trương Hữu Nghĩa, en liberté provisoire...
   16- Lý Trường Nhơn, en liberté provisoire...
   17- Trần Hiến, en fuite
   18- Lý Trường Thọ, en liberté provisoire...
   ...
   - Vu le réquisitoire de M.Le Commissaire du Gouvernement en date du 6-5-1954,
   - Vu l'article 2 du code d'instruction criminelle,
   - Vu l'article 177 du Code de justice militaire...
   - Attendu que les faits sus-mentionnés constituant les infractions prévues et permies par les articles 76-3 et 83-4 du Code pénal, 19 et 217 du code de justice militaire.

Renvoyons Lê Đăng Khoa, Nguyễn Vãn Nhiều, Trương Hữu Điền, Nguyễn Hữu Quí, Trần Phước Ngà, Trần Huy, Nguyễn Văn Bằng, Trương Hữu Sơn, Bùi Huỳnh Nhụy, Trương Ngọc Xuân, Lâm Thị Sáng, Trương Hữu Nghĩa, Lý Trường Nhơn, Trần Hiến, Lý Trường Thọ devant le Tribunal militaire aux armé pour y être jugés conformément aux lois.
Fait à notre Cabinet à

S.P. 50.727
Le 7 mai 1954
Signé: Rebufîet


Bản cáo trạng được ông Biện lý ký tên đúng vào ngày quân ta chiếm được Điện Biên Phủ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #109 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2026, 09:02:31 pm »

Như thế là trải qua hai năm giam cầm, tra tấn, chết đi sống lại nhiều lần, cuối cùng với chiến thắng Điện Biên, vụ án điệp báo Cần Thơ, Long Xuyên cũng đã được ra tòa án quân sự quân đội Pháp xét xử.


Trong danh sách 18 người bị đưa ra toà, ngày 6/5 chúng đã lọc lại, loại ra 3 người được miễn tố:

1) Lê Ngọc Cầu đã chết ở trại giam bệnh viện Chợ Quán ngày 8/2/1953, anh Cầu là một chiến sĩ Công an thành Cần Thơ, vào làm cho bọn S.E.H. (Sở nghiên cứu Lịch sử) tên gọi công khai của tổ chức Tình báo Cao ủy phủ Sài Gòn, cũng bị bọn B.C.E.O. bắt và bị ốm nặng, phải vào nhà thương Chợ Quán và chết tại đó.

2) Lê Thị Phước.

3) Trần Văn Hòa.

Hai người này có tên trong hồ sơ của Nguyễn Văn Bằng, Quận trưởng Bình Đại, trốn ra vùng giải phóng. Hồ sơ của Công an Cần Thơ do bọn Pháp bắt được trong một cuộc bố ráp bất ngờ, và cũng giao cho B.C.E.O. làm tài liệu truy tố. Cả 3 người đều vắng mặt, nhưng do Nguyễn Văn Bằng làm Quận trưởng nên có bằng cớ. Còn 2 người kia không có bằng chứng minh xác minh nên không thể đưa ra xét xử vắng mặt được.


Do vậy, ra Tòa chính thức có 15 người, trong đó có 2 người vắng mặt: Nguyễn Văn Bằng và Trần Hiến. Ông Quận Bằng không phải là nhân viên điệp báo nhưng do chán cảnh phồn hoa, dẫn vợ bé ra vùng giải phóng, nhờ chú Tư Ngà và Trần Huy chỉ đường cho khỏi bị bắt lại. Trước khi ra vùng giải phóng, ông Quận trưởng đã đưa vợ bé lên Sài Gòn ăn chơi 3 ngày cho thỏa thích, xong mới đánh xe Jeep về Cần Thơ, theo ngã Bình Thủy, bỏ xe, cùng vợ bé và anh tài xế dẫn nhau đi vào vùng giải phóng có quân du kích hoạt động. Chiếc xe bị du kích Bình Thủy tháo gỡ bánh xe và dầu máy. Cả 3 người bị Công an ta giữ lại xét hỏi. Hồ sơ đó lưu lại ở Công an Cần Thơ, sau này bọn Pháp đi bố bắt được nên chuyển cho bọn B.C.E.O. truy cứu. Vụ đó tôi có được nghe chú Tư Ngà thuật lại sau khi đã đưa quận Bằng đi trót lọt. Tôi làm thinh, không khen cũng không chê, vì là việc đã rồi, tiếc là không biết trước để ngăn cản lại. Cũng cần nói thêm rằng, Công an Cần Thơ xét hỏi quận Bằng xong, thấy có đủ bằng cớ là ông muốn đưa gia đình ra vùng giải phóng nén đã đưa 3 người xuống kinh 8 Chắc Băng, được vào làm Liên Việt xã. Cách mạng không hề có thành kiến với người ngay, dù là quận trưởng, tỉnh trưởng của địch.


Theo cáo trạng, trong 15 người bị đưa ra Tòa, thì có 7 người không có tội danh hình sự, chỉ nêu là có hành vi có phương hại đến quốc phòng. 7 người khác được nêu tội danh chống lại an ninh bên ngoài của quốc gia (crime contre la sôreté extérieure de 1'État)

Riêng mình tôi bị truy tố với 3 tội danh: (xin dịch lại cụ thể như sau)

Tội danh: Đào ngũ sang hàng ngũ địch.

Trần Hiến, vì đã:

Trong quân đội (Nam Việt Nam), ngày 1 tháng 8 năm 1952, đào ngũ theo địch.

Tội danh: Làm thất thoát quân trang.

Trần Hiến, vì đã:

Trong quân đội (Nam Việt Nam), ngày 1 tháng 8 năm 1952, biến thủ hoặc làm thất thoát một số quân trang đã được cấp cho để sử dụng.

Tội danh: Phản bội.

Trần Hiến, vì đã:

Từ 1950, trong khoảng thời gian không có ấn định, trong thời chiến, ở các vùng Cần Thơ và Long Xuyên (Nam Việt Nam), trong lúc đang là Chuẩn úy phiên dịch phục vụ trong quân đội Pháp, tự ý tham gia vào một công cuộc làm tan rã tinh thần quân đội hoặc quốc gia nhằm mục đích làm thiệt hại cho cuộc phòng thủ quốc gia.


Xét vì các hành động nói trên là phạm vào các điều khoản 76-3 và 83-4 của Bộ luật Hình sự, điều khoản 19 và 217 của Bộ luật Quân pháp.

Phiên tòa được xử vào ngày 8 tháng 5 năm 1954, tại Tòa đại hình ở số 131, Maréchal De Lattre (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Ngồi ghế biện lý buộc tội là Emil Barat, viên cò lính kín, trung úy B.C.E.O. đã trực tiếp điều tra vụ án ngay từ đầu. Một không khí khác thường bao trùm phiên tòa đại hình. Những bị cáo và các quan tòa đều đã biết rõ chiến thắng Điện Biên và đang chờ đợi Hiệp ước đình chiến sắp ký kết nay mai, nên người buồn nhất có lẽ là viên Biện lý Barat, một tên Tây lai ác ôn khét tiếng trong hàng ngũ cò lính kín ở Sài Gòn hồi đó. Hầu hết đều được tha bổng, chỉ còn lại 4 người: Trần Hiến, tử hình khiếm diện, Quí, Ngà, Sơn, 4 năm tù (đã ở được 2 năm) nên được ghi vào danh sách trao trả tù binh sau Hiệp ước đình chiến Genève. Vào khoảng giữa năm 1955, tôi gặp lại chú Tư Ngà và Hai Quí ở E55, trong đoàn tù binh được Pháp trao trả, lúc đó đang được tập trung phân loại tại Sầm Sơn.


Ngày 21/7/1954, báo, đài vừa loan tin Hiệp định Genève đã được ký kết, chúng tôi được lịnh phải chuyển hướng công tác theo tình hình mới. Đồng chí Ba Cự trưởng Chi 50 giao tôi nhiệm vụ đi truyền đạt mệnh lệnh mới cho trạm 8 ở cánh B. và phải cấp tốc trở về trước ngày 7/8/1954.


Đang giữa mùa khô, các cánh đồng đều đã được gặt hái cả, cho phép đi bộ băng đồng một cách dễ dàng. Từ cơ quan Chi 50 đóng ở Kinh Ngang, ngã năm Sóc Trăng, đến trạm 8, Tân Hiệp, bên kia lộ Cái Sắn (Rạch Giá) nhìn vào bản đồ, chỉ 80km theo đường chim bay. Tôi đã có lần chèo xuồng ba lá một mình lên công tác năm 1953 rồi, nên đã thuộc đường đi. Trong mình đang bị thấp khớp, tôi kiếm một cây gậy tầm vông để chống đi đường, băng qua kinh xáng Xà No, nghỉ chân ở nhà thờ Thác Lác - ông từ ở nhà thờ đó là cơ sở trú chân của trạm giao liên - lại chống gặy băng đồng qua kinh xáng Thị Đội đến kinh tám, cách bót Tân Hiệp 2km về phía đông, tại một quán cơm cho khách muốn sang lộ Cái Sắn phải chờ đêm tối có du kích đưa đi. Năm Danh về trước tại trạm theo đường công khai, nên đã đến quán cơm chờ tôi ở đó. Chúng tôi còn phải chờ thêm hai đêm nữa mới vượt qua lộ Cái Sắn được. Báo, đài công khai đã nói đến Hiệp định đình chiến đôi bên đã ký kết xong, nhưng quân đội Pháp đóng ở miền Nam vẫn không có chủ trương gì mới để thi hành đình chiến. Đêm ngày các đồn bót vẫn tổ chức tuần tra, vây ráp đề bảo đảm không cho Việt Minh đến gần đồn bót, và để bắt gà vịt của đồng bào. Vì vậy, qua lộ ban đêm cũng phải có du kích án ngữ trước ở hai đầu bót.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM