Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:16:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền  (Đọc 2984 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 10 Tháng Tám, 2026, 09:19:50 pm »

- Tên sách: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
- Tác giả: Nhiều tác giả
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2009
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


Tổ chức thực hiện:
   - Đại tá ĐỒNG KIM HẢI (Chủ biên)

Với sự tham gia của các đồng chí:
   - Trung tướng GS-TS. NGUYỄN NGỌC THANH
   - Đại tá Nhà báo HÀN THỤY VŨ
   - Đại tá PHẠM HỒNG THỤY
   - Thượng tá ThS. TRẦN THANH HẰNG
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 08:29:17 pm »

LỜI GIỚI THIỆU


Tôi và cố Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Thiện), nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, vốn có mối quan hệ thân tình từ thời trai trẻ khi cùng nhau chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 320 - Đại đoàn Đồng Bằng trong kháng chiến chống Pháp.


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp đến những năm tháng làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia và khi trở về cuộc sống đời thường, tuy mỗi người một nhiệm vụ, một công việc, không thường xuyên gặp nhau, nhưng chúng tôi vẫn dành cho nhau những tình cảm tốt đẹp của tình bạn, tình đồng chí, đồng đội.


Đồng chí Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng mỗi khi có dịp nhắc nhớ về anh, nhất là khi được đọc cuốn sách do chính những đồng chí, đồng đội, người thân đã từng sống, chiến đấu, công tác, ghi lại những kỷ niệm sâu sắc về anh như: Trung tướng Vũ Cao, Trung tướng Đặng Quân Thụy, Trung tướng Đặng Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại, Thiếu tướng Hồ Văn Sanh, Đại tá nhà báo Hàn Thụy Vũ, Đại tá Phạm Hồng Thụy, Đại tá Trần Bá Điềm... được "gặp lại" anh qua một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn báo chí nhân ngày toàn thắng 30-4 những năm trước đây, đã cho tôi cảm nhận các tác giả đều dành một tình cảm mến phục, tiếc thương anh, một cán bộ lãnh đạo của Đảng, một vị tướng tài năng của quân đội ta đã có những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân, của nước.


Tôi rất tiếc, với trọng trách của đồng chí Lê Ngọc Hiền, nguyên là Phó Tổng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Tư lệnh Mặt trận 719 - Đại diện Cơ quan Bộ Quốc phòng nước ta thời kỳ làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp, trước khi về cõi vĩnh hằng đồng chí chưa có một cuốn hồi ký ghi lại những hoạt động chiến đấu, những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy tác chiến đa dạng, phong phú của đồng chí gắn với lịch sử xây dựng, trưởng thành của quân đội ta.


Nhưng cũng chính vì vậy, cuốn sách do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân dày công tổ chức với sự cộng tác, thể hiện tình cảm yêu mến, quý trọng qua các bài viết của các tướng lĩnh, đồng chí, đồng đội đối với người đã mất cùng với di cảo - những bài viết của anh được sưu tầm, giới thiệu càng trở nên có ý nghĩa, mang đậm tính nhân văn sâu sắc, góp phần khắc họa, phản ảnh nhân cách, chân dung Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, có tác dụng giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội, mang lại cho bạn đọc nhiều xúc cảm mới và bổ ích.


Với ý nghĩa đó, tôi xin chia sẻ và trân trọng giới thiệu cuốn sách đến đông đảo bạn đọc.

VŨ OANH
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 08:31:56 pm »

TÓM TẮT TIỂU SỬ
THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN
(1928-2006)

(Tóm lược Lời điếu do Đại tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đọc tại lễ truy điệu Thượng tướng Lê Ngọc Hiền ngày 26-4-2006. Tư liệu do gia đình cung cấp)



Đồng chí Thượng tướng Lê Ngọc Hiền tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Thiện, sinh năm 1928 tại xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, trú tại số 11 ngõ 30 Lý Nam Đế, Hà Nội - Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.


Sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù đã được các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng vì tuổi cao, bệnh nặng đồng chí đã từ trần hồi 15 giờ 8 phút ngày 18 tháng 4 năm 2006 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Sinh ra trong một gia đình tiểu thương, trên quê hương giàu truyền thống cách mạng. Lớn lên lúc nước nhà đang chìm đắm dưới ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột của lý trưởng cường hào, đồng chí đã nuôi chí căm thù bọn quan lại và sự bất công của chế độ thực dân, phong kiến, sớm giác ngộ cách mạng. Mới 16 tuổi, vừa học xong trung học đồng chí làm công tác in và phát hành báo Độc Lập. Tháng 3 năm 1945, tham gia học Trường Quân chính kháng Nhật, rồi đội viên đội công tác xây dựng cơ sở đường giao thông từ chiến khu Việt Bắc về Hoà Bình. Tháng 8 năm 1945, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Sau đó, đồng chí nhập ngũ vào Quân đội và công tác liên tục cho đến khi nghỉ hưu.


Quá trình công tác, từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 2 năm 1955, đồng chí đã được giao đảm nhiệm các cương vị từ cán bộ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn;

- Tháng 3 năm 1955, được bổ nhiệm Cục phó Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.

- Tháng 8 năm 1957, đồng chí được cử đi học quân sự ở Trung Quốc.

- Tháng 10 năm 1960, được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.

- Tháng 8 năm 1962, đồng chí được cử đi học tại Học viện Vô-rô-si-lôp Liên Xô. Tháng 11 năm 1964 về nước giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến; năm 1967 được điều vào chiến trường Trị Thiên (B5) phụ trách Phó Tư lệnh mặt trận trực tiếp ở Chỉ huy sở tiền phương.

- Tháng 8 năm 1970, đồng chí được điều vào làm phái viên của Bộ Quốc phòng tại Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (mặt trận B2), giữ chức Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Miền.

- Tháng 8 năm 1972, Tham mưu phó Miền, kiêm Tham mưu trưởng Đoàn 301 (tiền thân Quân đoàn 4 hiện nay).

- Tháng 12 năm 1974, đồng chí được Nhà nước bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí giữ chức Tham mưu trưởng Chiến dịch.

- Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đồng chí được bầu vào Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, tháng 3 năm 1982 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 12 năm 1986 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đồng chí được bầu lại vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí là đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII (1981-1985).

- Tháng 12 năm 1987, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (Bộ Tư lệnh 719). Tháng 5 năm 1988 là Phó đại diện Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Campuchia; sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, đồng chí tiếp tục giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 8 năm 1995, đồng chí đã nghỉ hưu.

Năm 1958 đồng chí được phong quân hàm cấp Thượng tá; năm 1965 thăng quân hàm Đại tá; năm 1974 thăng quân hàm Thiếu tướng; năm 1980 thăng quân hàm Trung tướng; năm 1986 thăng quân hàm Thượng tướng.

Hơn nửa thế kỷ phục vụ cách mạng, 61 năm tuổi Đảng, 50 năm công tác trong Quân đội, là cán bộ lão thành cách mạng, trưởng thành từ chiến sĩ đến khi là một Tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí Lê Ngọc Hiền luôn thể hiện lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ hy sinh và thiếu thốn, được giao giữ nhiều cương vị từ cán bộ đại đội, đến cán bộ sư đoàn, đồng chí luôn là người chỉ huy mưu trí, sáng tạo và quyết đoán, chỉ huy đánh thắng nhiều trận, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên các cương vị Cục trưởng Cục Quân huấn; Cục trưởng Cục Tác chiến, rồi Phó Tổng Tham mưu trưởng, đồng chí đã nghiên cứu, tham mưu, chỉ đạo huấn luyện quân đội, kịp thời bổ sung cho các chiến trường, chiến đấu thắng lợi.


Khi được giao nhiệm vụ trực tiếp vào tham gia chỉ huy chiến đấu ở các chiến trường, trên các cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Miền. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, tài thao lược của người chỉ huy, đồng chí đã cùng Bộ Chỉ huy mặt trận, Bộ Tham mưu Miền, chỉ huy, chỉ đạo các đơn vị chiến đấu, giành nhiều thắng lợi trên các mặt trận. Hình ảnh anh Bảy Hiền còn để lại tình cảm sâu sắc trong lòng cán bộ, chiến sĩ Mặt trận B2. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ huy mưu trí, sáng tạo, cùng quân và dân nổi dậy tiến công trên khắp các chiến trường, hiệp đồng chặt chẽ tiến công giải phóng thành phố Sài Gòn, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối.


Với tinh thần quốc tế cao cả, đồng chí có nhiều đóng góp giúp đỡ cách mạng của hai nước bạn Lào và Campuchia; đặc biệt, trên cương vị là Tư lệnh mặt trận, với bản lĩnh và kinh nghiệm thực tiễn, đồng chí đã cùng Bộ Chỉ huy hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giúp nước bạn Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng cơ sở chính trị, góp phần to lớn vào việc giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng, mang lại hòa bình cho đất nước Ăng Co. 


Với cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí đã có nhiều công lao trong xây dựng cơ quan Tham mưu chiến lược, chỉ đạo nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Được giao nhiều nhiệm vụ, trọng trách, dù ở cương vị công tác nào, là người chiến sĩ trực tiếp cầm súng đối mặt với quân thù ở chiến trường hay trên cương vị một tướng lĩnh, một người chỉ huy, đồng chí luôn phấn đấu hy sinh hết mình cho sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng. Khi được Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu, với tình cảm và trách nhiệm cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", đồng chí vẫn tích cực rèn luyện phấn đấu, tham gia tổng kết công tác, rút kinh nghiệm tác chiến từ cấp chiến thuật đến chiến dịch, chiến lược, góp phần truyền thụ những kinh nghiệm cho thế hệ sau; ngoài ra, đồng chí luôn tích cực tham gia Hội Cựu chiến binh, các phong trào tại địa phương, được nhân dân yêu mến, kính trọng. Hình ảnh đồng chí Lê Ngọc Hiền, một vị tướng bình dị, nhân hậu, trách nhiệm, sâu sát và quyết đoán trong công việc, luôn gần gũi thân thiết với anh em, đồng chí đồng đội, bạn bè.


Với công lao cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân và Quân đội đồng chí Lê Ngọc Hiền được Đảng, Nhà nước tặng thưởng:

- Huân chương Độc lập hạng Nhất.

- 2 Huân chương Quân công hạng Nhất.

- 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất.

- Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.

- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

- 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì.

- Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

- Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.

- Huy hiệu 40 năm, 50 năm, 60 năm tuổi Đảng...

Tên tuổi của Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã được đưa vào Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển BKQSVN - Nxb QĐND, H.2004, tr. 596).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 08:34:29 pm »

PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG BÀI VIẾT VỀ THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN


VỊ TƯỚNG TRƯỞNG THÀNH TRONG KHÓI LỬA CHIẾN TRANH

Vũ Oanh
(Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nguyễn Phó Chính ủy Đại đoàn 320)


Cuộc trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta, một dân tộc nhỏ đánh bại nhiều đế quốc to mà đã giành được thắng lợi to lớn, non sông trọn vẹn, Tổ quốc thống nhất. Trong lịch sử nhân loại, chưa từng có một dân tộc nào tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, chịu đựng nhiều hy sinh, mất mát mà cũng rất anh hùng như dân tộc Việt Nam.


Trong cuộc chiến đấu đó, ta có một đường lối chính trị đúng đắn, một đường lối chiến tranh nhân dân rất sáng tạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ tâm huyết, yêu nước, thương dân, tinh thần chiến đấu cao, rất tài năng, đạo đức tốt. Từ trong Cách mạng Tháng Tám, đội ngũ cán bộ đó ra đời, phát triển trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước, được rèn luyện trong thực tiễn, được đào tạo rất cơ bản qua các trường quân sự chính quy trong nước và ngoài nước. Cuộc chiến đấu rất gian truân, có tiêu hao khá lớn lực lượng, nhưng cơ bản, ta đã bảo vệ được đội ngũ cán bộ. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến là công lao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, nhưng quyết định thắng lợi các chiến dịch, các trận đánh cụ thể là ở đội ngũ cán bộ. Chính đội ngũ cán bộ đã góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cả dân tộc.


Anh Lê Ngọc Hiền là một trong những cán bộ của Đảng, của Nhà nước, của Quân đội và nhân dân ta. Tôi biết anh Hiền từ khi tôi làm Chánh văn phòng Quân ủy Trung ương. Chiến tranh trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ lan rộng, tôi được cử về công tác ở Liên khu ủy Liên khu 3 thì càng biết rõ anh hơn. Bây giờ, thực dân Pháp mở rộng chiếm đóng ra nhiều vùng ở đồng bằng, thực hiện càn quét bắt lính, cướp của, bình định vùng tạm chiếm. Âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của thực dân Pháp đã gây ra nhiều khó khăn cho ta khi lực lượng vũ trang cách mạng mới xây dựng, kinh nghiệm tác chiến chưa nhiều. Ở một số nơi, thành quả Cách mạng Tháng Tám có nguy cơ bị quân địch xóa. Nhưng do cuộc chiến đấu của quân và dân ta là chính nghĩa nên thời kỳ đầu, ta đã cầm cự được cuộc tiến công của quân Pháp. Sau chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, nhiều căn cứ du kích được xây dựng, bộ đội tâp trung và dân quân, du kích ngày càng phát triển. Tổng Quân ủy, do anh Võ Nguyên Giáp đứng đầu, đề ra phương châm hoạt động của bộ đội là "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung". Ở đồng bằng Bắc Bộ, anh Lê Ngọc Hiền là một trong những cán bộ đã thực hiện thành công phương châm này. Trong trận đánh ở Hoàng Dương - Tử Dương, hai thôn bên bờ sông Đáy, tiểu đoàn do anh Lê Ngọc Hiền chỉ huy đã bao vây, tiêu diệt gọn một đại đội Âu-Phi giữa ban ngày. Chiến thắng này làm nức lòng đồng bào đồng bằng, cổ vũ phong trào chiến tranh du kích phát triển, gây lo lắng cho quân Pháp. Sau chiến thắng Hoàng Dương - Tử Dương của ta, mỗi lần ra khỏi căn cứ đi hành quân cướp phá, địch không còn ngông ngênh như trước.


Mùa đông năm 1950, Trung ương Đảng giao cho Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 3 nhiệm vụ thành lập đại đoàn chủ lực hoạt động ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ với phiên hiệu 320 (Đại đoàn Đồng Bằng). Theo sự phân công của Liên khu ủy, anh Văn Tiến Dũng rút ra khỏi chức vụ Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu để nhận nhiệm vụ Chính ủy kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320. Tôi đang phụ trách Tuyên huấn Liên khu ủy Liên khu 3 được giao nhiệm vụ Phó Chính ủy Đại đoàn.


Đại đoàn Đồng Bằng mới thành lập nhưng các đơn vị chủ lực trong biên chế của Đại đoàn: Trung đoàn 48, Trung đoàn 64, Trung đoàn 52 đã được thành lập ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, đã tham gia chiến đấu nhiều trận ở mặt trận Hà Nội, mặt trận Trung Du, mặt trận đồng bằng Bắc Bộ và mặt trận miền tây Tổ quốc. Trung đoàn nào cũng đã lập được nhiều chiến công. Liên khu ủy điều động về một lúc hàng trăm cán bộ tỉnh ủy, huyện ủy đang hoạt động ở các địa phương để tăng cường cho đại đoàn. Đội ngũ cán bộ về xây dựng đại đoàn cũng đã từng trải trong chiến tranh, nhiều cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm tác chiến, kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu như các anh: Lê Quân, Phạm Ngọc Hồ, Lê Ngọc Hiền, Lê Tư, Sùng Lãm, Nguyễn Hòa, Kim Tuấn, Bùi Sinh... Về lãnh đạo đại đoàn, tôi cũng như anh Văn Tiến Dũng rất yên tâm về sức chiến đấu của các đơn vị và đội ngũ cán bộ của mình. Nhưng điều lo lắng nhất là làm sao Đại đoàn giành được thắng lợi trong ngày đầu ra quân, trụ được lâu dài, giành được thắng lợi cuối cùng.


Đại đoàn được giao nhiệm vụ trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ diện tích 21 ngàn ki-lô-mét vuông, với 8 triệu dân. Thực dân Pháp coi chiến trường Bắc Bộ giữ vai trò quyết định đến cục diện chiến tranh toàn Đông Dương nên tập trung lực lượng ở đây rất mạnh. Chúng xây dựng các tuyến phòng ngự khá kiên cố ở sông Hồng, sông Đáy, đường 5, đóng quân trong hàng ngàn đồn bốt. Với hệ thống chiếm đóng dày đặc, có công sự vững chắc, có pháo binh yểm trợ, kết hợp với lực lượng cơ động ứng chiến và không quân chi viện, địch có khả năng lớn để chống đỡ các cuộc tấn công quy mô lớn của chủ lực ta. Do có đường giao thông thuận lợi, trên chiến trường Bắc Bộ, địch có thể điều động lực lượng một cách nhanh chóng làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch trong chiến đấu có thể thay đổi đột ngột theo hướng không có lợi cho ta.


Sơn Tây là chiến dịch đầu tiên của Đại đoàn. Trên mặt trận bắc Sơn Tây, chỉ trong một đêm, Đại đoàn đã bất ngờ tiêu diệt chín đồn của địch: Phố Nả, Phú Hữu, Cao Lĩnh, Quảng Húc, Cao Độ, Vật Phụ, Vật Lại, Tây Đằng, Kim Bí. Ngày hôm sau, giữa ban ngày, một tiểu đoàn của Đại đoàn đánh tan cả một đại đội Âu - Phi tới tiếp viện, có pháo đi cùng yểm trợ. Sau bảy ngày đêm chiến đấu liên tục, Đại đoàn Đồng Bằng tiêu diệt hơn 700 tên địch, phá vỡ một mảng tề dõng ở bắc Sơn Tây mà bọn thực dân và chính quyền bù nhìn đã tốn công xây đựng nên trong 27 tháng chiếm đóng.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2026, 08:45:46 pm gửi bởi thongdiepthoigian » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 08:50:04 pm »

Trận ra quân đầu tiên của Đại đoàn đã giành chiến thắng vang dội. Trong ngày Đại đoàn làm lễ ra mắt, anh Văn Tiến Dũng nói: "Chiến dịch này là một động tác lột xác của chúng ta từ du kích lên chính quy, từ phân tán lên tập trung, từ đánh tiêu hao đến đánh tiêu diệt. Đại đoàn ta ra đời bằng động tác đó". Tôi nhớ lúc đó, anh Lê Ngọc Hiền cùng các cán bộ cấp trung đoàn, tiểu đoàn của Đại đoàn, những người quả cảm chỉ huy đánh giặc trong chiến dịch Sơn Tây, rất tâm đắc với những lời này.


Cuối năm 1951, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 giành thắng lợi lớn ở Phát Diệm, một khu phòng ngự kiên cố của Pháp, lực lượng lính Âu-Phi đóng khá đông, có phố xá, dân cư đông đúc, nhưng lại là nơi địch chủ quan, canh phòng rất sơ hở. Cùng lúc đó, Trung đoàn 64 của anh Lê Ngọc Hiền được lệnh đánh vào Hà Nam, địa bàn địch thường xuyên huy động hai, ba ngàn quân đi càn quét để thực hiện âm mưu "bình định", nơi phong trào chiến tranh du kích đang gặp khó khăn.


Từ Bồng Lạng, huyện Kim Bảng, Hà Nam, Trung đoàn 64 vượt sông Đáy. Tiểu đoàn Hưng Công được giao đi đánh Ngô Khê, một cứ điểm trọng yếu của địch nằm án ngữ đường 62, sát đê sông Đào. Tiểu đoàn Đồng Mít được giao đánh viện từ Phủ Lý xuống và từ An Bài lên. Tiểu đoàn 738 được giao bao vây bức hàng hai đồn An Bài và Hòa Mạc. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam lo việc huy động nhân dân đưa thuyền vận chuyển bộ đội sang sông. Quân dân gặp nhau, thuyền đang đi thì gặp mưa to, gió lớn. Việc sang sông và cuộc hành quân bị chậm lại. Đêm đó, trung đoàn định hành quân 20 ki-lô-mét thì chỉ đi được 5, 6 ki-lô-mét. Đến sáng, cả trung đoàn dừng lại ở một nơi trống trải. Trời vừa rạng, một bộ phận của trung đoàn gặp biệt kích Pháp. Anh Hiền cho toàn bộ trung đoàn ẩn náu, chỉ đưa đại đội 57 xuất trận diệt địch. Cán bộ, chiến sĩ đại đội 57 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt 23 tên biệt kích, buộc chúng phải tháo chạy. Đêm ấy, toàn bộ trung đoàn vào tới khu vực Đôn Thư, chuẩn bị đánh đồn Ngô Khê.


Quá nửa đêm ngày 11 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn Hưng Công nổ súng. Chưa đầy hai giờ đồng hồ, đồn Ngô Khê bị diệt. Thừa thắng, anh Lê Ngọc Hiền quyết định điều đại đội 22 sang phối hợp với bộ đội địa phương, diệt luôn hai căn cứ tề gần đó. Trời sáng, biết tin Ngô Khê đã bị diệt, địch tung 1 đại đội com-măng-đô đi ứng cứu, lại bị Tiểu đoàn Đồng Mít chặn đánh. Hàng trăm tên địch bị tiêu diệt, bọn còn lại phải tháo chạy.


Chiến thắng Ngô Khê gây tiếng vang lớn trong toàn tỉnh Hà Nam. Cả hệ thống ngụy quân, ngụy quyền rung chuyển. Tên tỉnh trưởng bỏ chạy về Hà Nội. Địch không dám đóng quân rải rác ở nhiều bốt, không dám đưa quân đi tiếp viện, phải dùng máy bay vận tải tiếp tế cho hàng loạt đồn bốt đang bị các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích bao vây.


Tình hình hoạt động của Trung đoàn 64 sau chiến thắng Ngô Khê gặp khó khăn. Địch tập trung máy bay, đại bác bắn phá dữ dội đội hình đóng quân. Đánh đồn lớn thì thiếu phương tiện. Diệt viện thì địch không chịu ra khỏi đồn. Anh Lê Ngọc Hiền cùng Đảng ủy trung đoàn tìm ra cách đánh mới: đánh địch trên nhiều hướng, đánh từ nhỏ đến lớn, phá chỗ dựa của quân ngụy và tề vũ trang.


Ngày 17 tháng 12, các tiểu đoàn tỏa đi trong toàn tỉnh Hà Nam và sang cả hai huyện bắc Nam Định. Tới đâu các đơn vị của Trung đoàn 64 cũng kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương, dân quân du kích, tiến hành hoạt động đồng đều và rộng khắp, tạo thêm điều kiện cho địa phương xây dựng phong trào chiến tranh du kích. Từ đấy, toàn tỉnh Hà Nam đâu đâu cũng vang tiếng súng phá tề, trừ gian. Sau chưa đầy một tháng phân tán hoạt động, Trung đoàn 64 cùng lực lượng vũ trang địa phương Hà Nam tiêu diệt 45 bốt trong tổng số 50 bốt, lật đổ 312 ban tề trong tổng số 380 ban ở toàn tỉnh. Trung đoàn đã khuếch trương thắng lợi, tạo chỗ đứng vững chắc, mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời với vũ khí thu được đã giúp Hà Nam kiện toàn ba đại đội bộ đội, xây dựng thêm một đại đội, mỗi huyện kiện toàn hai trung đội và xây dựng thêm một trung đội, du kích xã có nơi lên đến hai trăm người.


Trong suốt năm 1951, tại thị xã Nam Định, đội biệt kích Hổ xám do tên Văng-dăng-be chỉ huy hoành hành. Đi đến đâu là chúng giết người, hãm hiếp phụ nữ, đốt nhà dân đến đó. Đờ-lát, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Việt Nam, rất tự hào về đội này, ca ngợi Văng-dăng-be là "một anh hùng trẻ tuổi có lòng dũng cảm phi thường". Anh Lê Ngọc Hiền bàn với các đồng chí trong Thị ủy Nam Định quyết định tiêu diệt đội biệt kích Hổ xám.


Một đêm đầu tháng 1 năm 1952, anh Lê Ngọc Hiền trực tiếp chỉ huy hai trung đội, gồm các cán bộ, chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, linh hoạt trong chiến đấu, đi diệt đội biệt kích Hổ xám. Anh cùng cán bộ, chiến sĩ đơn vị bí mật bao vây trại Tế bần, nơi đóng quân của chúng. Khi hai trung đội đã vào đúng vị trí, anh ra lệnh tấn công. Quân ta vào đến buồng ngủ của tên Văng-dăng-be thì hắn mới nhận ra. Hắn chỉ kịp bắn một loạt đạn thì bị diệt. Tiếp đó, đơn vị của anh Lê Ngọc Hiền diệt và bắt hàng toàn bộ hai đại đội biệt kích của Pháp, thu hơn hai trăm khẩu súng các loại.


Diệt đội biệt kích Hổ xám của địch, đơn vị của anh Lê Ngọc Hiền đã đánh vào nơi mà Xa-lăng, thay Đờ-lát làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở bắc Việt Nam, gọi là "Những khu vực nổi tiếng là vững vàng và những thành phố đến nay vẫn là yên tĩnh nhất". Chúng choáng váng và ra sức đề phòng. Nhưng chỉ một tháng sau, ở thị xã Phủ Lý, Trung đoàn 64 lại diệt thêm hai đại đội biệt kích gian ác không kém.


Cuối năm 1951, đầu năm 1952, ta mở chiến dịch Hòa Bình. Các Đại đoàn 308, 312, 304 hoạt động ở hướng chính, Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 được giao nhiệm vụ hoạt động mạnh ở sau lưng địch. Lúc đó, phòng tuyến sông Đáy của địch đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng quyết định vượt sông Đáy, sông Hồng, nhảy vào chỗ yếu của địch, giải phóng dân, phát động chiến tranh du kích. Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 được lệnh sang huyện Nghĩa Hưng và Nam Trực, tỉnh Nam Định. Sau nửa tháng chiến đấu, hai trung đoàn cùng lực lượng vũ trang địa phương phá vỡ hơn 80 ban tề, giải phóng hàng trăm ki-lô-mét vuông với hàng vạn dân. Vùng du kích ở ba huyện Nghĩa Hưng, Nam Trực, Hải Hậu được mở rộng.


Khi Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 hoạt động ở phía Nam Định thì Trung đoàn của anh Lê Ngọc Hiền nhận được chỉ thị đánh mạnh địch ở Phủ Lý và mở rộng địa bàn hoạt động về phía sông Hồng. Đến giữa tháng giêng năm 1952, các tiểu đoàn Đồng Mít, Hưng Công đã ra đến bờ sông Hồng. Tiêu diệt liên tiếp sáu đồn địch ở Phú Cốc, Bối Kênh, Lý Nhân, Bằng Ba, Bảo Long, Bưởi, uy hiếp địch ở phía bắc thị xã Nam Định, nghi binh kéo binh đoàn cơ động số 4 của chúng về bến Nhật Tảo, huyện Hưng Nhân, Thái Bình, tạo điều kiện thuận lợi cho hai cánh quân của đại đoàn vượt sông Hồng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 09:01:30 pm »

Tôi nhớ đến một trận đánh mà Trung đoàn 64 tiến hành thành công, không chỉ tiêu diệt được sinh lực mà còn để lấy nước cho dân phát triển sản xuất và sinh hoạt. Địch đóng đồn Đào Thành, chúng bịt luôn cống lấy nước ở đây, làm cho cánh đồng ở ba huyện của Thái Bình bị hạn. Diệt đồn Đào Thành, lấy nước về cho dân là yêu cầu khẩn thiết. Trung đoàn 64 được giao nhiệm vụ này. Anh Lê Ngọc Hiền cử tiểu đoàn 706 vượt sông Hồng sang đánh. Đánh ban đêm rồi đánh giữa ban ngày, tròn một ngày đêm, tiểu đoàn 706 diệt đồn Đào Thành. Đến cuối buổi chiều, ba cánh cửa cống được mở, nước từ sông Luộc đổ vào các cánh đồng. Nhân dân ba huyện ở Thái Bình vô cùng phấn khởi, gọi: "Đây là nước Cụ Hồ, đời đời phải giữ lấy".


Thu đông năm 1952, sau các chiến dịch quân ta mở và thu được thắng lợi ở Hòa Bình, khu 4, khu 5 và Nam Bộ, đặc biệt là chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp càng thêm sa lầy. Chúng càng tăng cường tập trung quân giữ đồng bằng Bắc Bộ, nhất là ở phía nam. Lúc này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng chủ trương: hoạt động phân tán trên nhiều hướng, đánh nhỏ, ăn chắc, đánh liên tục, có điều kiện thì tập trung đánh lớn, các đơn vị tác chiến sau lưng địch thì tiến công đi đôi với chuẩn bị chống càn. Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 hoạt động ở Thái Bình. Trung đoàn 64 tiếp tục đánh địch trên địa bàn quen thuộc ở Hà Nam và bắc Nam Định.


Tiểu đoàn Hưng Công vượt sông Đáy trở về với trung đoàn sau năm tháng ra vùng tự do chỉnh huấn. Tiểu đoàn Đồng Mít sau trận phục kích diệt một tiểu đoàn địch ở Lạc Quần, Nam Định, vượt sông Hồng, vòng qua Thái Bình, trở về địa bàn Hà Nam. Mở màn chiến dịch thu đông năm 1952, Trung đoàn 64 diệt gọn địch trong bốn trận phục kích ở An Lão, Chương Xá, Hòa Mạc, Vạn Điểm thuộc địa phận Hà Nam.


Mùa xuân năm 1953, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng quyết định mở chiến dịch với hướng chủ yếu là khu vực nam Hà Đông, bắc Hà Nam nằm trên phòng tuyến sông Đáy, nơi địch ra sức phòng ngự, có công sự kiên cố, do hầu hết quân tinh nhuệ đóng giữ. Đó là cửa ngõ của cơ quan chỉ huy đầu não của địch ở bắc Việt Nam nhưng cũng là nơi địch chủ quan. Bộ Tư lệnh đại đoàn xác định cách đánh là: kết hợp chặt chẽ và linh hoạt hoạt động của cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, giữa phân tán với tập trung, giữa tấn công ngoại tuyến với nội tuyến. Năm trận đánh bất ngờ và liên tục của Đại đoàn làm rung chuyển phòng tuyến sông Đáy của địch, trong đó Tiểu đoàn Hưng Công của Trung đoàn 64 diệt gọn đồn Đục Khê, một vị trí địch đóng quân để bảo về đồn Yến Vĩ nhằm chặn con đường giao lưu của du kích nam Hà Đông với vùng tự do.


Theo lệnh của Tư lệnh đại đoàn, để phối hợp với chiến trường chính, trung đoàn của anh Lê Ngọc Hiền nhanh chóng chia nhiều mũi tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, đánh mạnh để thu hút địch. Các đơn vị của Trung đoàn 64 tỏa ra nhiều ngả luồn sâu vào lòng địch, tìm địch mà đánh. Sau mấy tháng hoạt động, trung đoàn đã cùng các trung đoàn bạn và lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục làm cho địch rối loạn, bị động đối phó ở khắp nơi trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.


Từ cuối năm 1952, địch đã bắt đầu xây dựng hàng loạt vị trí kiểu boong-ke. Trước tình hình này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đại đoàn Đồng Bằng đã nhận định: "Là một đơn vị nòng cốt trên chiến trường đồng bằng, rồi đây Đại đoàn sẽ phải đánh phổ biến với loại vị trí này. Nếu không kịp thời nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội, tạo khả năng đánh thắng những vị trí boong-ke thì con đường phát triển của đại đoàn sẽ gặp khó khăn". Bộ Tư lệnh Đại đoàn quyết định đánh đồn Yến Vĩ nhằm rèn luyện, nâng cao sức chiến đấu của bộ đội, đồng thời giải phóng hoàn toàn huyện Mỹ Đức để mở đường liên lạc của khu du kích nam Hà Đông với vùng tự do. Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền được giao nhiệm vụ chỉ huy Trung đoàn 48 đánh đồn Yến Vĩ. Anh Văn Tiến Dũng chỉ đạo trực tiếp trận đánh này.


Yến Vĩ là một vị trí được công binh địch nghiên cứu xây dựng rất kiên cố. Quân địch huênh hoang: "Yến Vĩ là linh hồn của sức mạnh bất khả xâm phạm". "Việt Minh đánh vào thì xác có chồng cao bằng dãy núi Hương Tích kia cũng chẳng làm gì nổi", chúng coi đây là "nơi an toàn nhất đồng bằng Bắc Bộ". Chuẩn bị đánh Yến Vĩ, anh Lê Ngọc Hiền và anh Nguyễn Hòa  đã đi đến sát đồn địch nghiên cứu cách đánh. Đây là trận đầu tiên đơn vị đánh vào loại công sự kiểu mới của địch. Trước khi vào trận, cán bộ các cấp được tập huấn kỹ cách đánh, các đơn vị luyện tập không mệt mỏi kỹ thuật, chiến thuật đánh boong-ke, xác định quyết, tâm đánh thắng địch.


Từ đêm 15 đến đêm 19 tháng 5 năm 1953, Trung đoàn 48 đánh vào Yến Vĩ. Trước khi vào trận, anh Văn Tiến Dũng nói với ban chỉ huy trận đánh: "Ngày nào mà lá cờ tam tài còn cắm trên bốt Yến Vĩ thì ngày đó hàng vạn dân còn sống nheo nhóc trong các hang núi sâu, hàng ngàn mẫu ruộng phì nhiêu còn bỏ hoang. Các đồng chí phải giật được lá cờ đó xuống để dâng lên Liên khu ủy Liên khu 3 trong ngày sinh của Bác Hồ". Sau khi kiểm tra đầy đủ các phân đội, anh Lê Ngọc Hiền báo cáo với anh Văn Tiến Dũng rồi ra lệnh đánh. 21 giờ đêm 15 tháng 5 năm 1953, trận đánh mở màn. Qua năm đêm, bốn ngày, với quyết tâm cao độ, đánh địch bằng nhiều mũi, nhiều chiến thuật, các đơn vị của đại đoàn hạ đồn Yến Vĩ. Địch cho một tiểu đoàn Âu-Phi đến ứng cứu cùng bị diệt nốt. Chiến thắng Yến Vĩ bồi thêm một đòn chí mạng vào tuyến phòng thủ sông Đáy, vĩnh viễn chặt đứt một mắt xích quan trọng, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của tuyến phòng thủ mà địch coi là vững chắc nhất trên chiến trường Đông Dương thời đó trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.


Hơn bốn năm ở Đại đoàn Đồng Bằng, anh Lê Ngọc Hiền đã chỉ huy đơn vị đánh hàng trăm trận lớn nhỏ. Đánh đêm, đánh ngày, đánh phân tán, đánh tập trung, đánh trực diện, đánh phục kích, luồn sâu bất ngờ tập kích diệt địch, đánh địch trong boong-ke kiên cố... đơn vị do anh chỉ huy đều giành được thắng lợi. Từ đánh nhỏ lên đánh lớn, lúc đầu có trầy trật, nhưng rồi anh cũng nghiên cứu ra cách đánh mới có hiệu quả, kết hợp với cấp ủy và lực lượng vũ trang địa phương giải quyết thành công cách đánh của một trung đoàn vào vùng sau lưng địch.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 09:02:18 pm »

Trong chiến đấu, anh là người hết sức nghiêm chỉnh trong chấp hành nhiệm vụ, luôn luôn có ý thức học tập, nghiên cứu, tìm tòi, nẩy sinh nhiều sáng kiến khắc phục khó khăn, tác chiến thắng lợi trên một chiến trường phức tạp, ta và địch đóng xen kẽ, địch đông, binh khí kỹ thuât của địch mạnh hơn hẳn ta. Trình độ chỉ huy tác chiến của anh được nâng cao không ngừng qua chiến đấu trong vùng đồng bằng. Chiến trường đồng bằng đã giúp anh tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong cuộc đời binh nghiệp dài dằng dặc của mình.


Những tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, tôi được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng điều lên phụ trách Cục Địch vận thuộc Tổng cục Chính trị. Anh Lê Ngọc Hiền ở Đại đoàn Đồng Bằng cho đến khi kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi. Mấy năm sau, anh được cử đi học trong nước và nước ngoài rồi về công tác ở Bộ Tổng tham mưu.


Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mỗi người một cương vị công tác khác nhau, tôi ít gặp anh. Nhưng qua đồng chí, anh em, bầu bạn, tôi biết giai đoạn này, anh đã trưởng thành lên rất nhiều, vẫn phát huy tốt những phẩm chất tốt đẹp của mình, vẫn rất xông xáo trên chiến trường, ở cương vị công tác nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kinh nghiệm của những năm tháng chiến đấu ở Đại đoàn Đồng Bằng được vận dụng có hiệu quả trong các cuộc chiến đấu trên mọi chiến trường và được nâng lên những bước mới cao hơn.


Anh Lê Ngọc Hiền có lòng yêu nước sâu sắc, giác ngộ cách mạng từ sớm, có tinh thần trách nhiệm cao trước mọi công việc được giao, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và chỉ huy chiến đấu ở mọi cấp, có tầm chiến dịch và tầm chiến lược cao, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội, mẫu mực trong đời sống gia đình.


Đến khi về hưu, tôi với anh mới được gần nhau, có điều kiện là đến thăm gia đình của nhau. Gia đình anh Lê Ngọc Hiền thực sự là một gia đình quân nhân, gia đình tướng lĩnh gương mẫu điển hình: qua nhiều thử thách, chịu đựng nhiều gian khổ, vợ chồng, cha con xa nhau luôn nhưng tình yêu thương, lòng thủy chung thì vô bờ, vô bến; tinh thần vượt khó vươn lên trong công tác, học hành thì không có giới hạn.

V.O
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 09:03:57 pm »

VÀI KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ ANH LÊ NGỌC HIỀN


Trung tướng Đặng Quân Thụy
(Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (khóa VII), nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội (khóa IX))


Nhớ đồng chí Lê Ngọc Hiền, nhiều người nhớ tới một cán bộ chỉ huy mưu trí, dũng cảm, quyết đoán, trưởng thành từ chiến sĩ mà lên tới cấp Thượng tướng, đã lập nhiều chiến công xuất sắc trong các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta: chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và giúp nước bạn Campuchia; nhớ tới một thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đã lần lượt đảm nhiệm chức vụ Cục trưởng các cục trọng yếu như Cục Quân huấn, Cục Tác chiến, thường có mặt ở những chiến trường nóng bỏng trong Nam, ngoài Bắc và đã đóng góp nhiều vào sự trưởng thành của Bộ Tổng Tham mưu.


Tôi không được cộng tác liên tục với anh, nhưng có những khoảng thời gian làm việc cùng anh đã để lại cho tôi những ấn tượng rất sâu sắc.

Nhớ anh Hiền là tôi nhớ tới một người đảng viên gương mẫu, một đảng viên ưu tú.

Sau kháng chiến chống Pháp, anh được trên điều về làm Cục phó rồi làm Cục trưởng Cục Quân huấn. Hồi đó tôi được bầu làm Bí thư Liên Chi ủy (sau nâng lên thành Ban chấp hành Đảng bộ Cục Quân huấn). Một trong những cuộc tiếp xúc đầu tiên của anh Hiền với Cục là làm việc với Liên Chi ủy. Anh tìm hiểu rất tỉ mỉ về tình hình Đảng bộ, nhất là về tình hình cán bộ của Cục, về sinh hoạt và đời sống của anh em trong cơ quan.


Sau này, mặc dù bận nhiều việc, lại thường phải đi xuống các đơn vị kiểm tra tình hình huấn luyện nhưng anh vẫn thu xếp để sinh hoạt với cấp ủy. Anh rất quan tâm quán triệt nhiệm vụ của Cục cho cán bộ, Đảng viên, anh coi trọng công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, thường xuyên nhắc nhở cán bộ là chỉ đạo và tổ chức huấn luyện bộ đội tốt ở thao trường thì khi ra chiến trường sẽ tiết kiệm được xương máu. Trong thời gian ấy, thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương về xây dựng quân đội từng bước chính quy hiện đại, quân đội ta có nghiên cứu học tập kinh nghiệm của một số nước, đặc biệt là của Liên Xô chiến thắng phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai.


Trong cán bộ ta, có người có tư tưởng ngại học, chỉ muốn huấn luyện theo kinh nghiệm cũ, anh thường phát biểu: kinh nghiệm của bạn rất phong phú, bổ ích cho huấn luyện xây dựng quân đội, nhất là kinh nghiệm về tổ chức và chỉ huy quân binh chủng hợp thành trong chiến tranh hiện đại. Cần nghiên cứu và học tập một cách thực sự. Nhưng cũng có tư tưởng trong khi tham khảo nghệ thuật quân sự của bạn thì lại coi nhẹ kinh nghiệm của ta. Anh Hiền có ý kiến: học bạn, nhưng phải biết vận dụng vào điều kiện của quân đội ta, của nước ta, kết hợp với kinh nghiệm của ta. Đó là vốn quý mà quân và dân ta đã phải hy sinh bao nhiêu xương máu mới có. Học bạn nhưng không thể máy móc, giáo điều, dập khuôn theo bạn được.


Anh sinh hoạt rất đều đặn ở chi bộ, nghiêm túc chấp hành phê bình, tự phê bình ở chi bộ. Trong các cuộc bình xét hàng năm, anh luôn luôn được bầu là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Năm 1970, anh Lê Ngọc Hiền được cử làm phái viên của Bộ vào B2 (Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam) rồi sau đó ở lại làm Cục phó Cục Tham mưu Miền (Tham mưu phó). Hồi đó tôi là Phó phòng Tác chiến (tôi vào trước mấy năm) nghe tin anh được ở lại, tôi rất mừng.


Được biết đây là lần đầu tiên anh vào B2, tuy ở Bộ Tổng Tham mưu anh đã nghiên cứu kỹ tình hình trong các báo cáo và trên bản đồ, nhưng vào thực tế chiến trường có những vấn đề rất cụ thể và phức tạp không hình dung hết được qua báo cáo. Do đó, Phòng Tác chiến và các phòng khác trong Cục Tham mưu đã báo cáo tỉ mỉ tình hình các quân khu, các phân khu, các đơn vị chủ lực Miền, tình hình nhân dân các vùng, tình hình địch, tình hình địa hình, v.v... với anh và bố trí cán bộ để đi cùng anh xuống nắm tình hình các đơn vị, các địa phương.


Tôi thấy rất rõ "tác phong tham mưu" của một đồng chí thủ trưởng cơ quan tham mưu. Anh có thể ngồi hàng giờ, có khi hàng buổi để nghe cán bộ của các phòng thuộc Cục Tham mưu hoặc cán bộ các đơn vị về báo cáo, hỏi han rất kỹ tình hình địch, tình hình ta, các thuận lợi và khó khăn, ân cần khêu gợi anh em suy nghĩ về kế hoạch tác chiến.


Ở chiến trường trong điều kiện ta và địch xen kẽ, Cục Tham mưu vừa phải chỉ đạo tác chiến liên tục hàng ngày, lại vừa phải nghiên cứu kế hoạch chủ động mở các đợt tấn công theo chủ trương của Bộ Chỉ huy Miền và Trung ương Cục. Sau một thời gian tìm hiểu tình hình, anh Hiền đề xuất nhiều ý kiến xác đáng, sáng tạo trong các kế hoạch tác chiến, được các đồng chí cấp trên đồng ý. Cán bộ Phòng Tác chiến thường nói: anh "nhập cuộc" rất nhanh. Một đặc điểm của anh Hiền là bình thường thì hòa nhã, điềm đạm nhưng khi thảo luận kế hoạch tác chiến thì anh sôi động hẳn lên, phát biểu nhiều ý kiến độc đáo và có sức thuyết phục cao.


Đầu năm 1972, Bộ Chỉ huy Miền chủ trương mở chiến dịch tiến công lớn ở miền Đông Nam Bộ, kết hợp với các chiến trường K6, K8, K9 và miền Nam Trung Bộ. Chiến dịch mở đầu bằng trận tiến công đánh chiếm Lộc Ninh, một chi khu quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía bắc Sài Gòn của địch.


Anh Lê Ngọc Hiền được Bộ Chỉ huy chiến dịch phân công kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến đấu. Trong khi trực tiếp đi xuống các đơn vị để kiểm tra, anh đặc biệt quan tâm các đơn vị xe tăng vì đây là lần đầu tiên ở miền Đông Nam Bộ, ta sử dụng số lượng khá lớn xe tăng phối hợp với bộ binh và pháo binh tiến công vào một tổ chức phòng ngự kiên cố và phức tạp của địch. Nhờ có công tác kiểm tra và hướng dẫn kỹ lưỡng, chu đáo nên các đơn vị bộ binh cũng như pháo binh và xe tăng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt và bắt gọn toàn bộ quân địch, giải phóng trọn vẹn huyện Lộc Ninh, mở đầu chiến dịch thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi để chiến dịch phát triển xuống Hớn Quản và Dầu Tiếng.


Sau này, trong các đợt hoạt động tiếp theo, anh Hiền thường tham gia tiền phương của Bộ Chỉ huy Miền và hoàn thành tốt đẹp các nhiệm vụ được giao, để lại trong lòng anh em của Cục Tham mưu Miền nhiều ấn tượng và tình cảm sâu đậm về một thủ trưởng tham mưu nhạy bén, nắm bắt tình hình nhanh chóng, năng động, sáng tạo, sâu sát cơ quan và đơn vị, một người anh sống giản dị, cởi mở, gần gũi với mọi người.


Những năm đầu thập niên 80 (thế kỷ XX), chiến sự nổ ra ở biên giới phía Bắc, tôi được cử lên làm Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 2.

Đây là Quân khu đảm nhiệm hướng chiến lược Tây Bắc của đất nước ta, hồi đó đang ở trong tình hình vừa xây dựng, vừa phải chiến đấu liên tục. Anh Lê Ngọc Hiền là Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu theo dõi rất sát tình hình chiến đấu của Quân khu. Trong những ngày tác chiến khẩn trương, quyết liệt, mỗi lần Quân khu báo cáo về Bộ là đã nghe anh Hiền cùng cán bộ ở Sở Chỉ huy nhận báo cáo, anh hỏi sâu tình hình, khêu gợi thêm những vấn đề cần chú ý.


Sau mỗi đợt chiến đấu, anh lại cùng các đồng chí trong cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu lên nắm tình hình Quân khu, tham gia ý kiến vào phương án củng cố các đơn vị, quyết định bổ sung kịp thời trang bị kỹ thuật và đảm bảo hậu cần cho Quân khu.


Địa bàn Quân khu 2 trải rộng trên cả 9 tỉnh Tây Bắc ngày nay, đường sá xa xôi lại rất xấu, phương tiện của Quân khu có hạn. Anh Hiền đã chủ trì bàn bạc cùng Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật tích cực chi viện cho Quân khu để chuyên chở lương thực, xăng dầu, vũ khí đạn dược cho các tuyến xa của Quân khu ở Lai Châu, Điện Biên, v.v... Có những năm mưa lũ lớn dài ngày, xe không vào được các vùng sâu như Mường Tè, Mường Nhé (Lai Châu), nhân dân và bộ đội Biên phòng ở đó bị cô lập và cạn lương thực, anh đã đồng ý với đề nghị của Quân khu cho tổ chức nhiều chuyến trực thăng chuyên chở gạo, thực phẩm, thuốc men tới những vùng này để tiếp tế cho bộ đội và phối hợp với chính quyền địa phương cứu trợ nhân dân khỏi bị thiếu đói.


Những sự hỗ trợ quý báu đó của anh Lê Ngọc Hiền rất có ý nghĩa, tạo điều kiện cho Quân khu 2 xây dựng và chiến đấu thắng lợi, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tôi sẽ nhớ mãi anh Lê Ngọc Hiền, nhớ một đồng chí chỉ huy xuất sắc, một thủ trưởng tham mưu sâu sát, sáng tạo, một đảng viên gương mẫu đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đ.Q.T
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 09:05:53 pm »

ANH HIỀN - NGƯỜI BẠN, NGƯỞI ĐỒNG CHÍ THÂN THIẾT

Trung tướng Đặng Kinh kể
(Nguyên Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu.
Nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam)
Thượng tá Trần Thanh Hằng ghi


Tôi với anh Lê Ngọc Hiền có nhiều kỷ niệm với nhau kể từ kháng chiến chống Pháp rồi sau này cùng công tác với nhau ở Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ. Cũng có lúc tôi phải xa anh Hiền vì nhiệm vụ trên cần nhưng rồi cách gì chúng tôi vẫn được gặp nhau, vẫn làm việc cùng nhau cho đến khi cả hai chúng tôi rời quân ngũ trở về đời thường.


Cuối năm 1951, Trung đoàn 48, Trung đoàn 64, Trung đoàn 52 của Đại đoàn 320 mở hướng tiến công chủ yếu vào vùng tạm chiếm Nam Định và Ninh Bình. Trung đoàn 48 tập kích thị trấn Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình tiêu diệt 1.000 lính Âu-Phi rồi tiến sang Nam Định, Thái Bình. Tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 64 do Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền chỉ huy tiêu diệt hoàn toàn đại đội biệt kích "Hổ xám" Văng-dăng-be ở nhà Tế bần thị xã Nam Định, sau đó tiến quân tiêu diệt đại đội biệt kích Rút-co-ny ở Lạc Tràng, thị xã Phủ Lý. Những trận đánh của Đại đoàn 320 có sự phối hợp với bộ đội tỉnh Kiến An.


Hồi đó tôi là Tỉnh đội trưởng tỉnh Kiến An, tuy chưa được gặp anh Hiền lần nào nhưng đã nghe tiếng anh từ lâu. Anh em kháo nhau anh Hiền là vị chỉ huy trung đoàn dày dạn kinh nghiệm đánh địch ở đồng bằng. Hồi đó, bộ đội chủ lực vào sâu vùng tạm chiếm, tiêu diệt hàng loạt vị trí then chốt của địch làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của chúng. Để đối phó với quân chủ lực, bọn địch tập trung quân chống đỡ vì vậy các đồn bốt của chúng ở Hải Phòng - Kiến An bỏ ngỏ. Lợi dụng thời cơ sơ hở đó, bộ đội địa phương chúng tôi tấn công tiêu diệt hàng loạt đồn bốt của địch, mở rộng khu du kích Vĩnh Bảo nối thông với Tiên Lãng. Đặc biệt là trận chúng tôi đánh sân bay Cát Bi tháng 3 năm 1954, tiêu diệt 59 máy bay các loại, chặn đường tiếp vận hàng không, không cho địch tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Một phần chiến công đó có sự góp phần của Đại đoàn 320 trong đó có Trung đoàn 48 do anh Hiền chỉ huy.


Hòa bình lập lại, mỗi người mỗi nơi nên tôi không được gặp anh. Năm 1956, tôi được cử sang Trung Quốc học tại trường quân sự Nam Kinh. Trường tôi học đào tạo cán bộ quân sự cấp trung đoàn, hệ 4 năm. Lớp học có 44 cán bộ, do tôi làm chỉ huy.

Mùa thu năm 1957, tôi được tin một đoàn cán bộ quân sự cấp cao cũng sang Nam Kinh học tại Học viện Quân sự. Đó là lớp đào tạo cán bộ cấp sư đoàn trở lên, hệ 4 năm. Đoàn này ở khu ký túc xá bên cạnh trường tôi. Đoàn gồm có các anh: Hoàng Sâm, Trần Đình Xu, Vương Thừa Vũ, Tô Ký, Bằng Giang, Thế Hùng, Bùi Sinh, Sùng Lãm và Lê Ngọc Hiền. Đoàn cán bộ quân sự Việt Nam vừa sang, tôi vội sang thăm, tiện thể gặp người mà tôi "Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình".


Anh Hiền khá đẹp trai, cao lớn. Nói chuyện với anh, tôi cảm thấy anh với tôi có sự rung, cảm đồng điệu, anh thật dễ mến. Vốn biết nhau từ ngày anh chỉ huy bộ đội chiến đấu ở đồng bằng nên chúng tôi quấn quýt nhau, trở thành cặp bạn thân. Hồi bé ở nhà, tôi được bố dạy cho chữ Nho nên sang đây học tiếng Trung Quốc rất thuận tiện. Tôi nghe giảng trực tiếp không phải học qua phiên dịch, hơn nữa tôi sang trước nên tiếng nước bạn cũng thông thạo hơn. Anh Hiền và các anh mới sang phải học qua phiên dịch. Tôi thường sang bên các anh chơi, trao đổi với các anh về phong tục, tập quán của người Trung Quốc, trao đổi bài vở, hướng dẫn cho các anh học tiếng Trung Quốc. Anh Hiền được cái chịu khó học, sáng dạ, tiếp thu bài vở khá nhanh. Sang Nam Kinh học, cán bộ Việt Nam được hưởng phụ cấp 60 tệ (tiền Trung Quốc). Ngày nghỉ, tôi thường sang phòng anh Hiền chơi. Chúng tôi góp tiền liên hoan với nhau cho đỡ nhớ nhà. Có lần chúng tôi chuốc cho anh Hoàng Sâm đến say mèm. Nói lại chuyện này làm tôi nhớ tới các anh, bạn bè, đồng đội cùng lứa ra đi gần hết rồi.


Có một kỷ niệm mà tôi nhớ nhất là chuyện đá bóng với Đội Bát Nhất 2 ở Nam Kinh. Lớp tôi nhiều lần đấu với họ nhưng toàn bị thua, cay lắm. Khi Đoàn anh Hiền sang, tôi bèn bàn với anh Hiền tổ chức đội bóng đá Việt Nam hợp nhất hai trường để đấu với họ, quyết giành thắng lợi. Tôi làm nhiệm vụ giữ gôn còn anh Hiền làm hậu vệ. Hôm ấy, Đội bóng của tôi đấu với Đội Bát Nhất 2; hiệp 1, chúng tôi thắng, sang hiệp 2, đội chúng tôi bị Đội Bát Nhất tấn công. Do tranh nhau bóng chúng tôi bị phạt quả 11 mét. Tôi căng ra để đỡ quả sút này, quả bóng sút quá mạnh văng vào trán, tôi ngã và bị ngất, nửa tiếng sau mới tỉnh. Từ đó, Nhà trường cấm không cho chúng tôi đá bóng.


Tháng 10 năm 1960, tôi về nước, được điều về làm Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Năm 1962, sau khi học ở Học viện Vô-rô-si-lốp (Liên Xô) về, anh Hiền được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Tác chiến thay anh Đỗ Đức Kiên. Tôi lại được gặp anh. Để chuẩn bị giúp Bộ Tổng tư lệnh có kế hoạch đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy tại miền Nam, anh Hiền được phân công phụ trách mảng miền Nam và Lào. Anh Thế Hùng - Cục phó và tôi phụ trách mảng miền Bắc, các công trình quốc phòng. Nhiệm vụ của chúng tôi được phân công nhưng khi họp bàn đi đến quyết định thống nhất đều do anh Hiền - Cục trưởng chủ trì.


Hồi đó, trên quy định đồng chí nào làm nhiệm vụ phụ trách các công trình quốc phòng tuyệt đối không phân công đi miền Nam, không chuyển công tác khác vì đây là nhiệm vụ bí mật. Bỗng nhiên, tháng 5 năm 1964, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục Liên lạc đối ngoại, tôi được lệnh chuyển sang làm Cục trưởng. Nhiệm vụ chính của tôi là phụ trách, giới thiệu kinh nghiệm huấn luyện cho lãnh đạo các nước chưa được giải phóng. Bấy giờ, ở miền Nam đang đánh lớn. Để tiếp nhận vũ khí, khí tài quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, anh Hiền được giao nhiệm vụ giúp Quân ủy Trung ương việc này.


Anh gặp bàn với tôi chuẩn bị điều kiện bảo đảm hậu cần để tiếp Đoàn chuyên gia kỹ thuật của Liên Xô sang giúp ta về tên lửa. Chuẩn bị chỗ ăn ở cho chuyên gia 4 trung đoàn đâu có dễ trong điều kiện cả nước có chiến tranh. Nhận thức tầm quan trọng của nhiệm vụ này, lại vốn thân thiết từ trước nên mọi yêu cầu của anh Hiền, tôi đều đáp ứng chu đáo.


Được hơn một năm, một buổi chiều thứ bảy, đầu tháng 2 năm 1966, điều bất ngờ đến với tôi. Hôm đó, tôi đang chuẩn bị ba lô quần áo về thăm vợ con ở Hải Phòng thì đồng chí Suyến - Phòng Hành chính Bộ Quốc phòng chạy sang báo tin: "Tối nay anh ra 28 Cửa Đông họp. Quân ủy quyết định anh đi Nam". Tôi bàng hoàng, nhiều lần tôi xin đi chiến trường đều không được chấp thuận, lần này đột ngột quá. Buổi tối hôm đó, tôi đến Cửa Đông đúng giờ. Ở đó đã có mặt đông đủ các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Chí Thanh, Trần Quốc Hoàn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái và anh Đặng Thí. Hóa ra không họp hành gì mà các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tổ chức chia tay các đồng chí vào chiến trường. Anh Hoàng Văn Thái vào B21 (B2: Miền Đông Nam Bộ), anh Đặng Thí vào làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên, còn tôi được cử vào làm Tư lệnh Quân khu Trị Thiên.


Ngày 12 tháng 3 năm 1966. Đoàn chúng tôi lên đường vào Trị Thiên. Trước khi đi, tôi bàn kỹ với Cục Tác chiến với anh Hiền về bản Báo cáo quân sự của Quân khu Trị Thiên Huế với nhiệm vụ: Quán triệt tư tưởng tiến công địch, đẩy mạnh hoạt động tác chiến với phương châm đánh nhỏ, đánh vừa chắc thắng, ra sức củng cố phát triển dân quân du kích. Anh Hiền và các anh ở Cục Tác chiến cân nhắc từng nội dung và thống nhất các nội dung trong bản báo cáo của tôi. Vào chiến trường, tôi trực tiếp nghiên cứu tình hình, chuẩn bị đánh địch trong thành phố Huế. Sau khi nghiên cứu kỹ càng, tôi điện ra Bộ đề nghị xin đồng chí Mạc Văn Căng, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 42 cũ và một số anh em khác có kinh nghiệm đánh địch trong vùng địch hậu. Đề nghị của tôi được Bộ chấp thuận, anh Hiền thay mặt Cục Tác chiến giải quyết các yêu cầu của tôi không chỉ người mà còn có thêm 1.000 khẩu súng B.40, B.41.


Cuối năm 1967, tôi nhận được điện của Trung ương và Thường vụ Khu ủy cử đại diện ra B51 (B5: Tây Nguyên) gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền nghe phổ biến Nghị quyết Bộ Chính trị. Anh Hiền được giao nhiệm vụ làm Phái viên của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vào chiến trường phổ biến nghị quyết. Bữa đó, tôi bận nên không ra gặp anh được nhưng tôi nhận được một bịch thuốc lào Tiên Lãng, anh Hiền gửi cho tôi. Tôi thật sự cảm động. Ạnh Hiền nghiện thuốc lá, còn tôi nghiện thuốc lào, biết chiến trường thiếu thứ này, anh không quên mang theo gửi cho tôi. Hồi đó ở chiến trường cơm còn chẳng có mà ăn, thiếu gạo, thiếu muối phải ăn sắn, đốt cỏ tranh làm muối, nói chi đến thuốc lào. Bịch thuốc lào của anh là sơn hào hải vị đối với tôi và anh em ở chiến trường. Tôi chia ra gửi cho các đồng chí cấp dưới mỗi người mỗi ít. Đến giờ, tôi vẫn nhớ đến hương vị thuốc lào ngày ấy.


Năm 1968, tôi trở ra Bắc làm Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, sau là Quân khu 3. Năm 1978, tôi trở về Bộ Tổng tham mưu làm Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách khối quân sự địa phương. Tôi lại được cùng anh Hiền bàn bạc trao đổi công tác trong tổ chiến lược cho đến khi tôi nghỉ hưu.


Tình cảm giữa tôi và anh Hiền không chỉ là tình đồng chí, đồng đội mà còn như anh em ruột thịt. Sự quý mến đó xuất phát từ sự cảm nhận của tôi về anh, một con người hết lòng tận tụy với công việc, trung thành với Đảng với nhân dân, quan tâm yêu mến anh em đồng đội. Tên tuổi cùa anh gắn liền với công tác tham mưu tác chiến của quân đội ta, gắn với những chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Mỹ. Anh Lê Ngọc Hiền có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.


Tình bạn chiến đấu của chúng tôi còn được sự vun đắp của hai bà vợ. Vợ tôi, bà Lê Thị Huyền công tác tại Sở Thương nghiệp Hải Phòng. Những năm chị Thư cùng hai con nhỏ, công tác tại Bệnh viện Lào Cai, những năm địch bắn phá miền Bắc, vợ tôi thường gửi cho chị ít cá khô làm thức ăn dự trữ cho các cháu. Còn khi vợ tôi sinh cháu, tôi đang ở chiến trường, chị Thư giúp vợ tôi chăm sóc các cháu...

Đ.K
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 09:07:46 pm »

NHỚ MÃI ANH LÊ NGỌC HIỀN

Trung tướng Lê Hai
(Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị)


Tôi quen biết anh Hiền từ những ngày kháng chiến chống Pháp ở Liên khu 3. Ngày đó, tôi đã có ấn tượng sâu sắc về tài năng quân sự của anh với trận Hoàng Dương-Tử Dương nổi tiếng. Tháng 5 năm 1950, anh Lê Ngọc Hiền là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lê Lợi thuộc Trung đoàn 66, anh đã chỉ huy tiểu đoàn đánh vận động tiêu diệt và bắt gọn một đại đội Âu-Phi ở Hoàng Dương-Tử Dương, huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Trận này đã thể hiện bản lĩnh chỉ huy mưu trí, linh hoạt, chủ động chớp thời cơ, quyết đoán, nhanh chóng triển khai lực lượng bao vây và tiêu diệt gọn quân địch của anh, được coi là trận đánh vận động điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ thời đó. Lúc đó tôi là Phó ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu 3, được cấp trên chỉ thị tuyên truyền đậm nét về chiến thắng này. Sau trận này, Trung đoàn 66 được điều về đội hình Đại đoàn 304 để thành lập đại đoàn. Anh Hiền được điều về Trung đoàn 48, trung đoàn này, sau đó được điều về đội hình Đại đoàn 320, có danh hiệu là Đại đoàn Đồng Bằng. Tôi cũng được nhận nhiệm vụ chính trị viên tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 52 của Đại đoàn. Từ đó, tôi và anh Hiền có nhiều dịp gặp nhau trong các cuộc họp và các đợt hoạt động của Đại đoàn.


Thời gian tôi được công tác dài ngày nhất với anh Hiền là từ giữa năm 1978 ở mặt trận biên giới Tây Nam. Anh Lê Ngọc Hiền là Phó Tổng tham mưu trưởng, phụ trách tiền phương Bộ Tổng tham mưu, tôi được giao nhiệm vụ phụ trách tiền phương của Tổng cục Chính trị ở phía Nam. Thời gian đó, để thống nhất chỉ huy các lực lượng chủ lực và địa phương tại mặt trận Tây Nam, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiền phương Bộ Quốc phòng. Trung tướng Lê Đức Anh - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7 là Chỉ huy trưởng, Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng và Thiếu tướng Hoàng Cầm - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân đoàn 4 là Phó chỉ huy trưởng Mặt trận. Khi ấy cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam đã sang năm thứ hai kể từ khi quân Pôn Pốt ở Campuchia bất ngờ mở cuộc tấn công xâm lấn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1977.


Sau một thời gian bị bất ngờ, bị tổn thất trước kẻ thù mới vốn là đồng minh chiến lược của ta trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã đánh trả địch những đòn đau, trừng trị thích đáng quân xâm lược đã gây những tội ác dã man, khủng khiếp với nhân dân ta ở biên giới. Điều hết sức quan trọng là qua những tài liệu thu được của địch, chúng ta đã phát hiện rằng bọn Pôn Pốt từ lâu, ngay khi còn đang cùng chúng ta đánh Mỹ, đã có nghị quyết bí mật coi Việt Nam là kẻ thù.


Chính sách của giới cầm quyền Campuchia dưới thời Pôn Pốt, đối nội thì tiến hành diệt chủng và thanh trừng nội bộ để xây dựng một kiểu "chủ nghĩa xã hội trong sạch", không tiền, không chợ, không trường học, không tôn giáo, không đô thị; đối ngoại thì gây chiến tranh xâm lấn Việt Nam với ý thức dân tộc cực đoan, đánh Việt Nam lâu dài, tìm mọi cách giết hại dân thường Việt Nam để gây hận thù dân tộc, làm suy yếu Việt Nam, với tham vọng về đất đai: chiếm cả vùng Nam Bộ. Chúng cự tuyệt mọi cố gắng của Việt Nam nhằm thương lượng cứu vãn hòa bình, vu cáo Việt Nam xâm lược. Hàng vạn dân Campuchia chạy sang Việt Nam tị nạn khẩn thiết kêu cứu.


Những cuộc nổi dậy chống Pôn Pốt nổ ra ở nhiều nơi, các lực lượng kháng chiến yêu nước đang tập hợp lại, yêu cầu Việt Nam giúp đỡ. Các cán bộ lãnh đạo và chỉ huy của ta, trong đó có anh Hiền và tôi, được trực tiếp nghe những người tị nạn Campuchia kể lại những cảnh khủng bố cực kỳ tàn bạo của Pôn Pốt và kêu gọi Việt Nam cứu giúp gấp "chậm ngày nào thì dân tộc Campuchia chúng tôi bị Ăngka giết hại càng nhiều", mọi người đều vô cùng xúc động.


Thực tiễn chiến tranh đã chứng tỏ chế độ phản động của Pôn Pốt là nguồn gốc gây nạn diệt chủng ở Campuchia và cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác với Việt Nam. Lãnh đạo Đảng ta đã chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam bằng thương lượng hòa bình, nhưng tập đoàn phản động Pôn Pốt cự tuyệt, dấn sâu vào tội ác. Vì vậy, ta chủ trương giải quyết càng nhanh càng tốt, để kéo dài thì ta thương vong càng lớn, ta không thể ổn định xây dựng đất nước và nhân dân Campuchia sẽ lâm vào họa diệt chủng khủng khiếp. Phải dùng một lực lượng quân đội mạnh của ta, có đủ binh chủng hợp thành tiến hành một cuộc tổng phản công bất ngờ, thần tốc, mãnh liệt, giành thắng lợi ở hướng Tây Nam. Để giành thắng lợi trọn vẹn về quân sự và chính trị phải dùng hai lực lượng ta và Bạn, cả hai lực lượng đều có vai trò quyết định nhưng lực lượng của Bạn là người quyết định cuối cùng.


Những cán bộ có trách nhiệm được quán triệt chủ trương này đều phấn khởi, nhất trí cao. Tiền phương Bộ Quốc phòng và Tiền phương các Tổng cục vừa tiếp tục chỉ huy, chỉ đạo việc đánh địch tạo thế trận có lợi, vừa tích cực giúp những người cách mạng chân chính Campuchia xây dựng lực lượng, vừa tập trung vào việc khẩn trương xây dựng kế hoạch chiến lược này.


Anh Lê Ngọc Hiền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm công tác tham mưu chiến lược, chiến dịch. Với cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến, anh đã tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Kế hoạch này khi thực hiện mở đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột đã tạo ra thời cơ lịch sử giải phóng miền Nam trong 2 tháng. Trong thời gian khẩn trương chuẩn bị giải phóng Sài Gòn, ngày 7 tháng 4 năm 1975 tại mặt trận, đã phổ biến quyết định của Bộ Chính trị thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng là Chính ủy; Phó Tư lệnh là các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện; đồng chí Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Anh Hiền được chỉ định là Tham mưu trưởng chuyên trách về tác chiến.


Trong quá trình thảo luận kế hoạch chiến dịch do anh Lê Ngọc Hiền trình bày, các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch đi sâu thảo luận từng vấn đề cụ thể và cân nhắc toàn diện. Kế hoạch chiến dịch là kết quả sáng tạo và trí tuệ của tập thể Bộ Chỉ huy. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch duyệt lại lần cuối cùng kế hoạch chính thức của chiến dịch Hồ Chí Minh. Tư lệnh và Chính ủy đã ký tên vào quyết tâm đó. Với sự nỗ lực phi thường, tinh thần hy sinh chiến đấu của toàn quân, toàn dân, chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã giành thắng lợi trọn vẹn.
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM