Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:22:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền  (Đọc 2969 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #20 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:52:44 pm »

Hai đồng chí Bí thư và Chủ tịch tỉnh ngồi nghe chúng tôi bàn, không nói một câu nào.

Mấy phút im lặng trôi qua mà tưởng dài vô tận.

Anh Hiền đứng bật dậy nói: "Thôi, vì dân ta làm, nếu sai trên có bắt tội thì chịu!". Sau đó anh quay sang bàn với các anh ở tỉnh, đề nghị ba việc:

- Cho điều một sà lan để sẵn sàng đánh chìm ở cửa cống Nội Doi.

- Tăng cường vật tư hàn khẩu tối đa, cho trưng dụng một số thuyền bè của dân để chở vật tư từ Đáp Cầu tới Nội Doi. Nhân lực địa phương tập trung vào khâu này. Việc hàn khẩu sẽ điều công binh tới.

- Tăng cường lực lượng giữ trật tự, điều tiết giao thông đặc biệt ở hai cầu Bắc Giang và Đáp Cầu, để điều bộ đội xuống nhanh. Các anh địa phương đồng ý ngay và chúc chúng tôi đi thành công...

Chỉ cần 10 phút bay, chúng tôi đã có mặt. Ở Binh đoàn Hương Giang. Và cũng chỉ 30 phút sau, đoàn tiền trạm của Binh đoàn gồm Tư lệnh, Tham mưu phó, Trưởng phòng Tác chiến, Chủ nhiệm Công binh và một số sĩ quan tham mưu chủ chốt đã cùng lên trực thăng với chúng tôi xuống hiện trường, sở chỉ huy nhẹ tiền phương do đồng chí Tham mưu trưởng dẫn đầu đi bằng xe (có chuẩn bị trước) cùng hướng Đáp Cầu thẳng tiến. Đúng là binh đoàn có truyền thống "thần tốc" của thời Xuân 1975.


Các anh ở địa phương cũng chẳng chịu thua chúng tôi. Khi chúng tôi về, anh Mai Thúc Lân - Chủ tịch đã đón sẵn. Các yêu cầu của chúng tôi đã được đáp ứng đầy đủ. Một chiếc sà lan cũ đã đậu sẵn trên thượng nguồn cửa cống khoảng vài chục mét.

Và khi đoàn cán bộ của Binh đoàn vừa xem xét hiện trường ở cống xong, thì một tiểu đoàn của trung đoàn pháo binh (tất nhiên là không có pháo) và một đại đội công binh đang hộ đê gần đó cũng đã cấp tốc về có mặt. Tư lệnh Binh đoàn bắt tay vào việc ngay:

- Dùng số chiến sĩ pháo binh mới tới thay phiên ngay cho số anh chị em học viên hậu cần có nhiệm vụ đóng đá hộc vào các rọ sắt và chằng buộc theo hướng dẫn kỹ thuật của công binh.

- Chọn một số cán bộ chiến sĩ công binh giỏi, đánh chìm sà lan dọc theo mép đi trước cửa cống.

Chủ nhiệm Công binh Binh đoàn xắn quần áo vào chỉ huy trực tiếp. Tuy nhiên, khi thực hiện do nước xoáy quá mạnh nên vị trí sà lan đánh chìm cũng không đạt được yêu cầu cao nhất, vấn đề mấu chốt quyết định thành hay bại lúc này là làm sao "bịt được cửa cống" một việc mà tất cả chúng tôi và cả các chuyên gia sừng sỏ về thủy lợi cùng bí.


Giữa lúc đó một sĩ quan tham mưu công binh trẻ, đề xuất một ý kiến bất ngờ. Anh chỉ vào thành chiếc sà lan chìm có nhiều cọc sắt nhô lên nói:

- Ta thả sọt đá tự do, nước đá cuốn trôi. Nay nếu ta chằng các sọt đá thật chặt vào các dây sắt, buộc vào các cọc sắt ở sà lan thì nó sẽ phải dừng lại ở cống. Vấn đề là phải đo cắt dây buộc sao cho các rọ đá dừng trước cửa cống, nếu dài quá nó sẽ chui vào cống, cọ xát phá vỡ công. Ta làm độ 5 sọt buộc ở 5 cọc lần lượt thả cho chúng chồng lên nhau thì sẽ bịt được cửa cống, rồi tính sau".


Thật là một sáng kiến tuyệt vời! Anh Hiền bàn với đồng chí Thái Cán cho triển khai ngay. Rọ đá đã đóng sẵn đầy đủ, việc chính bây giờ là đo đạc chính xác chằng buộc cẩn thận và neo chặt vào sà lan. Kế hoạch là thả 5 rọ đá (mỗi rọ một tấn) lần lượt trước sau 30 giây.

Khi chuẩn bị xong, tất cả ai không có nhiệm vụ phải lùi ra xa 100 mét, phòng sự cố vỡ công và vỡ đê.

Tất cả im lặng như trước giờ nổ súng của một trận đánh lớn. Khi có lệnh của Chủ nhiệm Công binh, các sọt đá lần lượt được đẩy xuống nước. Nước kéo căng dây sắt cọ vào thành sà lan nghe rít lên thật kinh khủng. Rồi im bặt. Bỗng có tiếng reo vang của anh em công binh: "Thắng lợi rồi!".


Chúng tôi chẳng ai bảo ai, chạy vội lên nhìn vào hai cửa cống. Mới trước đây vài phút nước qua cống chảy ào ạt vào nội đồng thì nay như bị vặn vòi lại tắt ngấm chỉ còn chảy "róc rách luồn theo kẽ đá". Thật mừng, chảy nước mắt.

Tiếp theo, các rọ đã được liên tiếp thả xuống để gia cố bịt hẳn cửa cống ở ngoài sông. Tốc độ làm việc thật chóng mặt. Tuy nhiên, vì cống lấp bằng đá hộc nên nước vẫn cứ rỉ qua, thêm nữa mặt đê bị sạt, cần đắp lại ra sao cũng là một vấn đề lớn cần giải quyết, vì mùa lũ vẫn còn tiếp tục. Lúc đó, các anh ở Bộ Thủy lợi cũng tới và ai cũng mừng vì đã "lấp được cống". Anh Hiền và anh Thái Cán tranh thủ ý kiến các anh ở Bộ Thủy lợi về vấn đề kỹ thuật. Thế là một cuộc tranh luận sôi nổi xảy ra, song phương án nào nghe cũng có điều bất cập.


Trước tình hình đó, Chủ nhiệm Công binh của Binh đoàn đề nghị với anh Hiền và anh Thái Cán một phương án đã được các anh ứng dụng trong bảo đảm cầu đường cho binh đoàn đánh vào tây nam Huế tháng 3 năm 1975. Đó là "bó bột cho đê".

Tóm lại như sau:

- Ở ngoài đê, đóng hàng loạt cọc bao cả đê sạt và cửa cống (gồm cả sà lan đã chìm) sau đó dùng các bao đất cát nhồi chặt chen vào giữa tạo thành một đê bao tạm thời cho nước không ngấm vào đê chính và cửa cống.

- Ở trong đồng cũng làm như vậy nhưng ngắn hơn chỉ bao tập trung ở cửa cống vì đê cũ vẫn còn.

- Mức độ kiên cố chỉ bảo đảm qua mùa lũ này. Sau khi nước rút sẽ dỡ tất, sẽ xây lại cống, đắp lại đê, trục sà lan lên lên sửa chữa.

Phương án nghe rất đơn giản, thủ công nhưng lại rất khả thi về tất cả mọi mặt từ nhân vật lực, đến phương tiện đảm bảo, nên được phê duyệt.

Thế là cả một công trường được tổ chức ngay. Người đóng cọc, người chuyển vật tư, người thì lèn đất đá. Cả khúc sông Cầu dài 6 ki-lô-mét từ Đáp Cầu, tàu thuyền, sà lan của cả quân và dân nô nức chở đất đá vào Nội Doi. Khí thế của mùa Xuân 1975.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #21 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:54:03 pm »

Cho đến 15 giờ 30 phút chiều, đê bao ngoài sông đã hình thành, đê bao trong sông cũng đã đạt khoảng 80%, nguy cơ vỡ đê Nội Doi đã cơ bản được khắc phục.

Anh Hiền trao nhiệm vụ cho anh Thái Cán hoàn thành nốt, thường xuyên báo cáo về Bộ và dự kiến đến tối có khả năng hạ cấp báo động, trao đổi về kế hoạch rút quân, chỉ để lại một bộ phận công binh hỗ trợ địa phương bảo đảm. Vốn tính cẩn thận. Anh chỉ thị cho anh Phạm Đình Thanh ở lại theo dõi và thường xuyên báo cáo bổ sung riêng về Bộ cho anh. Sau đó anh đi chào và cảm ơn các anh ở địa phương và Bộ Thủy lợi đã hỗ trợ cho bộ đội trước khi ra về.


Anh và tôi ra trực thăng bay về lòng vui phơi phới. Tôi chợt nhớ lại câu nói đùa của anh với tôi vào buổi sáng nay khi sắp bay lên Binh đoàn:

- Nếu lần này, tôi có phải ra tòa, thì hai anh ra làm chứng cho tôi nhé.
Anh Thanh vốn nhanh miệng đáp luôn:

- Chúng tôi sẵn sàng ra tòa với anh với tư cách là các tòng phạm!

Nhưng bây giờ thì sẽ ra sao nhỉ? Về tới Sở chỉ huy, trong khi tôi tranh thủ tắm giặt và ăn uống ngay vì cả ngày vừa mệt vừa đói nhất là vừa khát, vì không có nước sạch để uống, thì anh lật đật đi báo cáo với cấp trên ngay.

Tới 19 giờ, anh tới Sở chỉ huy Bộ, thì mọi việc tốt đẹp, Binh đoàn xin chờ lệnh hạ cấp báo động và lui quân trong đêm để tránh rút ban ngày dễ tắc đường. Anh đồng ý và ký lệnh cho Trực ban Bộ thông báo ngay cho Binh đoàn.

Sau đó, anh vào phòng trực riêng của chỉ huy uống nước và hàn huyên với tôi. "Mình về lần lượt qua báo cáo anh Tấn1 (Đại tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng), anh Dũng2 (Đại tướng Văn Tiến Dũng - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), anh Đồng3 (Thủ tướng Phạm Văn Đồng), anh Trường Chinh, riêng anh Ba đang bệnh mình không vào được. Ở nhà qua các nguồn tin khác, các anh cùng đã biết kết quả ở Nội Doi, nên khi mình tự "kể tội", các anh đều gạt đi và khen làm như chúng ta quyết là đúng. Riêng với anh Tấn thì phấn khởi lắm vì cùng với sự nỗ lực của mọi người, đặc biệt là bộ đội Binh đoàn Hương Giang, đã "biến một việc làm không thể thành có thể".


Tôi cũng mừng cho anh.

Đang vui vẻ, bỗng trực ban chạy sang báo cáo: "Đê Phùng Khoang ở Đan Phượng, Hà Tây bị vỡ". Chúng tôi vội chạy sang. Nhìn trên bản đồ kế hoạch chống bào lụt đây là đê bối, nếu vỡ chỉ ngập một khoanh vùng hai xã. Đê này cũng nằm trong kế hoạch phân lũ, nghĩa là nếu nước quá lớn, ta sẽ chủ động phá để giảm áp lực cho đập sông Đáy ở Phùng. Vì vậy, từ đầu tuần toàn dân đã được lệnh sơ tán triệt để vào sâu, thêm vào đó ở đây đã bố trí cả một tiểu đoàn công binh cầu phà để hỗ trợ dân khi phân lũ. Hiện nay đơn vị cùng với địa phương báo cáo về, tính mạng và tài sản thóc lúa của dân đều bảo vệ được, chỉ có đang lạc một số trâu bò, công binh hỗ trợ dân tìm dắt về. Nghe báo cáo thì rất lạc quan vậy, song vì vừa bị bệnh "Hội chứng Nội Doi" ngay đêm trước, anh Hiền suy nghĩ bần thần rồi hỏi tôi:

- Biết anh mấy ngày nay rất mệt, song có đi được không? Ngồi tại chỗ mà nghe báo cáo thôi, nhỡ đêm nay vỡ đê chính ở Hà Tây là gay lắm.

Tôi trả lời sẵn sàng lên đường, cho gọi xe trực và sĩ quan hướng Quân khu 2 lên để đi xuống Đan Phượng. Anh Hiền dặn tôi tùy tình hình cứ mạnh dạn, xử trí rồi báo cáo về Bộ sau, tôi cười tủm tỉm và trả lời "rõ". Lúc tôi sắp lên xe, anh gọi giật lại, rồi chạy về xe mình, lấy một bọc to đưa cho tôi:

- Mấy anh em mang đi để ăn đêm.

Tôi giở ra thì đó là cả một chiếc "bánh mì gối" khá to. Ở thời bao cấp năm 1986, đó là của hiếm ở Hà Nội. Tôi kiên quyết không nhận. Anh Hiền bảo:

- Anh Dũng cho tôi coi như quà thưởng, trong đó có công cả của các anh nữa chứ.

Thôi thế này vậy, anh Hiền lấy dao cắt đôi, đưa chúng tôi một nửa. Anh cười rất hiền "thế là công bằng nhé, miễn từ chối".

Tôi nhận và đưa cho lái xe cầm. Anh nhìn tôi rất lâu và nắm chặt tay tôi, mãi anh mới nói:

- Thôi cố gắng nhé.

Tôi chào anh và xe nổ máy lên đường.

Giờ đây, anh Lê Ngọc Hiền đã đi vào cõi vĩnh hằng.

Tôi cũng đã trở thành một ông già tóc bạc da mồi, khi cầm bút ngồi viết, những dòng này, tôi vẫn cảm thấy như vừa bắt tay anh xong.

N.Đ.T
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #22 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:57:57 pm »

ANH HIỀN CỦA TÔI

Thiếu tướng PGS. Ngô Huy Phát*
Nguyên Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường - Bộ Quốc phòng. Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320


Anh Lê Ngọc Hiền là một trong những người chỉ huy trực tiếp mà tôi mến phục vì tài năng đức độ của anh. Thời gian gắn bó với anh tuy không nhiều, chủ yếu là thời còn trẻ trong kháng chiến chống Pháp nhưng đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng khó quên. Trước ngày gặp anh, tôi đã bị chinh phục bởi chiến thắng oanh liệt Hoàng Dương - Tử Dương (5-1950) của đơn vị anh. Trận đánh do anh chỉ huy, bộ đội đã táo bạo vận động giữa ban ngày trên địa hình trống trái bờ đê thuộc lưu vực sông Đáy, huyện Ứng Hòa. Ta diệt hơn 2 đại đội lê dương trong đợt chúng tiến công ra chiếm 4 huyện phía nam Hà Đông (Thanh Oai - Thường Tín - Phú Xuyên - Ứng Hòa).


Thời ấy, đây là trận thắng lớn nổi danh cả vùng. Cái mới, cái hay của nó lại là trận đánh mở đầu cho một cách đánh mới mà sau này tổng kết ta gọi là chiến thuật "vận động tiến công". Lúc ấy, tôi hình dung người Tiểu đoàn trưởng tài ba ấy phải là người già dặn chiến trận. Nhưng thật bất ngờ khi lần đầu tiếp xúc với anh Lê Ngọc Hiền (cuối 1950) khi anh về nhận nhiệm vụ Trung đoàn phó đơn vị tôi thì lại là một chàng trai to con, đẹp trai hồng hào, dáng vẻ thư sinh nhiều hơn là con người của trận mạc. Tôi lúc đó là Bí thư của Trung đoàn trưởng Lê Quân, kiêm Trưởng ban Hành chính nên có nhiều dịp tiếp xúc với anh. Những lúc rỗi rãi anh em chuyện trò thân mật, tôi cảm thấy ở anh là người cởi mở, dễ gần, chân thực, chân tình, có điếu thuốc cũng bẻ nửa chia đôi.


Đơn vị lúc ấy đang chấn chỉnh tổ chức để về tập trung thành lập Đại đoàn, tôi tranh thủ đề nghị với anh cho tôi xuống đại đội chiến đấu nhưng anh cho biết: Thường vụ Đảng ủy đã cân nhắc sắp xếp tôi về làm Trưởng tiểu ban Tác huấn Ban Tham mưu Trung đoàn. Tôi nhớ lúc ấy tôi phản ứng ngay: "Tôi biết gì về Tham mưu mà bắt tôi làm". Anh Hiền giải thích: "Trung đoàn nay đã là bộ đội binh chủng hợp thành đánh tập trung có nhiều vấn đề khẩn trương phức tạp trong chiến đấu cũng như trong xây dựng nên cần có các cơ quan giúp việc, mà lập ra cơ quan Tham mưu là để tham gia mưu mẹo và tổ chức triển khai thực hiện, biến ý định quyết tâm của người chỉ huy thành chiến thắng. Tiểu ban Tác huấn là bộ phận đầu ngành của Ban Tham mưu phải có kiến thức và đoàn kết tốt với các bộ phận thì mới ra mưu mẹo đúng đắn được...". Những lời khuyên ấy đã như bài học vờ lòng chỉ dẫn tôi trong công việc mới sau này.


Lần này anh Lê Ngọc Hiền ở với chúng tôi không lâu, khoảng hơn một năm. Quý III năm 1951, anh Hiền được đề bạt làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, cùng trong Đại đoàn. Khoảng cuối năm 1952, anh được điều động về làm Trung đoàn trưởng đơn vị tôi, thay thế Trung đoàn trưởng cũ hy sinh. Anh về đúng lúc như tăng thêm niềm tin, ổn định tư tưởng đơn vị trước mất mát lớn của chúng tôi. Thu - Đông 1952, đơn vị chúng tôi tiếp tục trở về hoạt động vùng địch tạm chiếm các tỉnh phía nam đồng bằng Bắc Bộ, phối hợp với chiến trường chính Tây Bắc do Bộ mở.


Anh Hiền chỉ huy Trung đoàn chúng tôi đánh nhiều trận trong đó có trận đánh cứ điểm Vô Tình (gần chùa Cổ Lễ) diệt viện trên đường 21 Nam Định - Nam Trực, để lại trong tôi ấn tượng khá sâu sắc. Ấy là bài học "Kiên định quyết tâm, thắng không kiêu, bại không nản, linh hoạt, táo bạo khi có thời cơ".


Đêm 25 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 1 đánh cứ điểm Vô Tình, nhưng thất bại, bộc phá dùng hết mà cửa vẫn chưa được mở. Đơn vị lui quân, anh suy tư nhiều. Ngày hôm sau, anh Hiền cùng đơn vị rút kinh nghiệm, động viên anh em giữ vững quyết tâm, đồng thời đề nghị cấp trên xin đánh tiếp. Đêm 26 tháng 11, anh cùng cán bộ đi trinh sát thực địa xác định phương án. Ngày 27 tháng 11 chuẩn bị, đêm đánh luôn.


Kết quả thật bất ngờ, ta làm chủ căn cứ quá nhanh, địch không kịp báo cáo đồn thất thủ lên trên, bọn chỉ huy ở Nam Định vẫn yên chí đồn chưa mất. Qua đài VTĐ địch, ta phát hiện vấn đề này, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hòa ở trong căn cứ đề nghị và được anh chấp thuận cho lập kế nghi binh lừa địch, buộc chúng tiếp tế cho cho quân đi giải tỏa để ta diệt viện. Địch cho máy bay liên lạc kiểm tra, ta diễn như thật, làm như hai bên vẫn nổ súng cầm cự. Quả nhiên chúng mắc lừa. Chiều 28 tháng 11, địch đã biếu không ta hơn 70 dù đạn cối, thuốc men và một đại đội biệt kích cho Tiểu đoàn 2 đánh viện mà điểm chặn đầu là căn cứ Vô Tình. Tôi nhớ mãi bài học kinh nghiệm này ở anh.


Lần này, anh Hiền ở với chúng tôi cũng không được lâu, chỉ khoảng một năm. Sau kết thúc chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình, anh lại chuyển sang đơn vị khác và từ đó không có dịp trở lại Trung đoàn chúng tôi nữa. Nhìn lại quá trình công tác với anh, tôi thấy anh là người chỉ huy khá toàn diện, đánh công kiên, vận động, chống càn, môn nào cùng giành thắng lợi. Nhưng tôi cảm thấy ở với đơn vị tôi, anh Hiền có "duyên" nhiều với môn đánh vận động, nó đòi hỏi người chỉ huy thường phải chủ động quyết đoán, có trí táo bạo linh hoạt, mà ở anh có đầy đủ các phẩm chất ấy và anh đã dày công truyền cho chúng tôi những phẩm chất quý báu ấy.


Tôi nghĩ vậy bởi từ thực tế trận vận động tiến công Hoàng Dương - Tử Dương (1950), khi anh Hiền là Tiểu đoàn trưởng. Năm 1951, anh là Trung đoàn phó được phản công đi với Tiểu đoàn 1 kết hợp cùng quân dân địa phương chỉ đạo một đêm diệt 7 đồn, phá vỡ hệ thống phòng thủ bắc Sơn Tây của địch. Sáng hôm sau, địch cho một đại đội Âu-Phi theo quốc lộ 32 (Sơn Tây - Trung Hà) đến giải tỏa thì bị Tiểu đoàn 2 vận động phục kích tiêu diệt. Cùng thời điểm, chúng còn cho một đại đội Âu-Phi khác luồn rừng vu hồi phía sau đội hình Trung đoàn. Ta hoàn toàn bất ngờ với toán quân này. Tiểu đoàn 1 sau trận đánh đêm đang thu quân trên đường 32 thì bất ngờ gặp địch, anh em hầu như phải đánh tao ngộ ngay với địch. Anh Hiền cùng đồng chí Tiểu đoàn trưởng Nguyền Xuân nhanh chóng điều một trung đội chiếm gò đất gần đó chặn chính diện, còn chủ lực bí mật vu hồi bên sườn, phía sau bao vây chia cắt tiêu diệt địch. Trận đánh nhanh chóng kết thúc. Tên trung úy chỉ huy phải tâm phục khẩu phục nộp súng, bản đồ và thốt lên: "Các ông rất kiên cường, đánh rất dũng cảm và thông minh".


Chiến thắng này góp phần cùng các đơn vị bạn và quân dân địa phương giành thắng lợi lớn cho trận đầu ra quân của Đại đoàn Đồng Bằng: một ngày đêm diệt 9 đồn, đánh liền 2 trận vận động, chiếm được khẩu pháo 105 ly, giải phóng cả vùng bắc Sơn Tây và buộc địch phải rút bớt lực lượng cơ động ở chiến trường chính Trung Du về đồi phó. Đại đoàn 320 đã quyết định lấy ngày 16 tháng 1 năm 1951, làm ngày truyền thống.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:59:34 pm »

Tháng 11 năm 1953, khi anh Lê Ngọc Hiền làm Trung đoàn trưởng, một lần địch từ căn cứ Ghềnh trong chiến dịch tây nam Ninh Bình xuống càn phá khu vực Bỉm Sơn. Anh điều Tiểu đoàn 2 đến Bỉm Sơn thì địch đã theo đường rút về Ghềnh. Cùng lúc này trinh sát phát hiện địch từ trong rừng tuồn ra Dốc Giang - Sòng Cạn (điểm trên đường 45 Phố Cát - Rịa). Anh đã nhạy bén phán đoán tình hình và ra lệnh ngay cho Tiểu đoàn 3 đang ở Phố Cát: "Địch từ Bỉm Sơn có một cánh luồn rừng về Rịa, đầu nó đã qua Dốc Giang - Sòng Cạn, tiểu đoàn nhanh chóng vận động chặn đầu nó lại, chủ lực tam mãnh1 (Tam mãnh: mãnh đả, mãnh xung, mãnh truy) diệt chúng (cụm từ anh Hiền thường dùng khi nói về chiến thuật). Đồng thời, anh ra lệnh cho Tiểu đoàn 2 luồn rừng đánh thốc phía sau lên. Kết quả, Tiểu đoàn 3 đã kịp thời chụp được đoạn cuối đội hình địch, diệt 1 tiểu đoàn lính ngụy Thái và 1 đại đội Âu-Phi. Trận đánh giành thắng lợi và cũng là trận đánh cuối cùng anh ở với chúng tôi.


Sang thời đánh Mỹ, tháng 1 năm 1975, anh Lê Ngọc Hiền là Phó Tổng Tham mưu trưởng đi cùng Đại tướng Văn Tiến Dũng vào chiến trường, đại diện Quân ủy Trung ương và Tổng Tư lệnh chỉ đạo trực tiếp chiến dịch Tây Nguyên. Sau này, anh kể lại: "Ngày 15 tháng 3 nhận được điện Hà Nội báo ngày 14 tháng 3, Thiệu (Tổng thống ngụy Sài Gòn) lên Pleiku họp với Phú (Tư lệnh quân khu 2), cấp trên nhắc địch có thể tổ chức quân viện chiếm lại Buôn Ma Thuột, đồng thời có gợi ý không loại trừ khả năng chúng rút bỏ Tây Nguyên.    Anh Văn Tiến Dũng suy nghĩ nhiều, cả đêm 15 mất ngủ, nhưng sáng ngày 16 anh quyết định chuyển Sư đoàn 320 từ sẵn sàng đánh viện nhanh chóng chuyển thành thế chặn vây diệt không cho địch rút. Đồng thời, anh Dũng trực tiếp ra lệnh và động viên Sư đoàn 320 thực hiện nhiệm vụ mới...". Tuy anh Hiền không nói rõ vai trò của cơ quan Tiền phương Bộ đã tham gia như thế nào vào quyết tâm mới này, nhưng chúng tôi cũng dễ hiểu sự bận rộn của cơ quan trong việc thu thập tin tức, tổng hợp trao đổi tình hình để kịp thời đề đạt ý kiến cho người chỉ huy hạ quyết tâm.


Kết quả, từ ngày 17 đến 23 tháng 3, Sư đoàn 320 chúng tôi đã kịp chặn đứng địch và thực hiện "Tam mãnh" như anh thường dạy chúng tôi. Toàn bộ quân địch ở bắc Tây Nguyên rút theo đường bộ bị tiêu diệt, gồm 1 trung đoàn bộ binh, 6 liên đoàn biệt động quân (tương đương 6 trung đoàn), 4 thiết đoàn (tương đương 4 trung đoàn xe tăng thiết giáp) cùng hàng ngàn xe pháo các loại, góp phần cùng các đơn vị bạn và quân dân Tây Nguyên làm tan rã quân đoàn 2, quân khu 2 của địch, giải phóng Tây Nguyên, phát triển giải phóng thêm một số tỉnh duyên hải Trung Bộ, tạo thế thời cơ mới cho việc sớm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Lần thứ ba gắn bó với anh cũng là lần có thời gian dài nhất, đó là khi anh và tôi về hưu. Tôi ở cùng dãy phố với anh, cùng hoạt, động trong Ban liên lạc tình nghĩa các Cựu chiến binh Trung đoàn 48 Thăng Long mà anh là Trưởng ban. Anh cùng chúng tôi tận tâm giúp các gia đình liệt sĩ tìm mộ cũng như giải quyết các chính sách. Mặc dù những năm cuối đời, anh mang bệnh hiểm nghèo, nhưng khi sức khỏe cho phép, anh chịu khó đi sinh hoạt với các tổ. Anh chuyện trò thân mật, ôn lại những năm tháng hào hùng xưa, thăm hỏi anh em đau ốm, thăm viếng gia đình người quá cố.


Rất tiếc những ngày anh ngã bệnh nặng, khi tôi được tin đến thăm thì anh mệt nhiều chỉ còn nhìn nhau, nắm tay nhau, truyền cho nhau nghĩa tình thân ái đồng chí, đồng đội nhiều hơn là chuyện trò thăm hỏi. Vĩnh biệt anh Lê Ngọc Hiền, cuộc đời một người oanh liệt trọn vẹn, bạn bè nể trọng và quý mến. Hình ảnh của anh, người chỉ huy tài năng và đức độ vẫn luôn sống mãi trong tôi.

N.H.P
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #24 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:05:01 pm »

NHỚ ANH LÊ NGỌC HIỀN
NHỮNG NGÀY TRÊN ĐẤT BẠN

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm
(Ba Cung)
Nguyên Phó Tư lệnh Mặt trận 479,
Đoàn trưởng Đoàn K88 chuyên gia giúp bạn Campuchia


Bè lũ phản động Pôn Pốt - Iêng Xari gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam Tổ quốc ta. Chúng biến "bạn thành thù", tàn sát đồng bào ta một cách dã man, gây bao cảnh đầu rơi máu chảy. Trung thành với đường lối quốc tế của Đảng, quân đội và nhân dân ta vẫn duy trì tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, phấn đấu giải quyết cuộc tranh chấp bằng hòa bình thương lượng. Nhưng chúng ta càng đi theo con đường hòa bình thương lượng, thì chúng càng đẩy cuộc chiến leo thang, máu của nhân dân ta càng tiếp tục đổ, tội ác của chúng đối với nhân dân ta càng chồng chất. Lúc đó, cuộc chiến không còn mang tính chất địa phương, cục bộ trên từng đoạn biên giới, mà đã diễn ra trên toàn tuyến biên giới thuộc địa bàn ba Quân khu 5, 7, 9. Với giọng lưỡi của kẻ vừa ăn cắp vừa la làng, chúng đưa 19 sư đoàn vừa chủ lực, vừa địa phương áp sát biên giới mình, chuẩn bị cho cuộc tiến công xâm lược lớn, nhưng đồng thời chúng lớn tiếng gào thét "Việt Nam xâm lược Campuchia" để đánh lừa dư luận nhân dân thế giới. Tình hình đó đã thực sự biến cuộc chiến mang tính chất toàn quốc. Quân và dân ta xác định rõ kẻ thù, quyết tâm đánh bại bọn phản động Khơme đỏ và các thế lực phản động quốc tế giật giây sau lưng chúng, bảo vệ vững chắc đường biên giới và vẹn toàn lãnh thổ. Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân và các binh đoàn chủ lực đã vào cuộc.


Trong khi đó, nội tình đất nước Campuchia ngày càng rối ren, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari ra sức thanh trừng nội bộ và thực hiện đường lối diệt chủng dân tội tình, dưới chiêu bài "cách mạng triệt để" và xây dựng "chủ nghĩa xã hội đặc biệt". Chúng xóa bỏ toàn bộ thành quả cách mạng do nhân dân Campuchia đổ bao xương máu qua hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp, Mỹ xâm lược mới giành được. Chúng phá hoại và làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Ăngko, xây dựng một xã hội kỳ quặc: không tiền hàng, không chợ búa, không trường học, không chùa chiền, thủ tiêu toàn bộ chế độ tư hữu, thiết lập một chế độ tập thể không tưởng. Chúng thực hiện xáo dân, đảo lộn tập quán làng mạc và nếp sống gia đình, cơ cấu tận cùng của xã hội, cưỡng bức nhân dân rời bỏ quê hương vào sông trong các "công xã" thực chất là trại giam trá hình, lao động khổ sai như nô lệ. Ai chống lại, hoặc không ăn cánh với chúng thì bị chúng giam hãm, tra tấn tù đày và thẳng tay sát hại. Theo con số thống kê chưa đầy đủ, sau ba năm, tám tháng, 20 ngày cầm quyền của cái gọi là "Campuchia dân chủ", chúng đã giết hại hơn 2.700.000 người vô tội, trong đó hàng vạn trí thức, nhà giáo, sinh viên, nhà sư và cán bộ, chiến sĩ, đảng viên ưu tú của cách mạng Campuchia. Tức nước vỡ bờ, không thể cam tâm im lặng, một số cán bộ chân chính đã vận động nhân dân nổi dậy chống lại đường lối diệt chủng của bọn Pôn Pốt ở nhiều nơi.


Ông Hun Sen (nay là Thủ tướng Vương quốc Campuchia) lúc đó là Trung đoàn phó của Trung đoàn 21, Kôngpông Chàm, đã cùng số đồng đội chí thân ly khai chế độ diệt chủng và chạy sang Việt Nam tìm đường cứu nước. Ông vận động những thanh niên yêu nước, yêu dân tộc tập hợp lại, tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang chống Pôn Pốt. Tôi hân hạnh được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, trực tiếp là Thượng tướng Trần Văn Trà - Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu giao cho nhiệm vụ trực tiếp với ông Hun Sen, giúp bạn xây dựng "lực lượng vũ trang đoàn kết dân tộc cứu nước". Lúc đầu là Phó phòng K, sau là Chính ủy Bộ Tư lệnh Đoàn 778, giúp bạn xây dựng lực lượng theo yêu cầu của ông Hun Sen.


Cuối tháng 4 năm 1978, tôi được mời đến cơ quan Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân ở phía Nam tại Tân Sơn Nhất, gặp Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền. Đây là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền; thái độ tiếp xúc ban đầu và tác phong chân chất, giản dị của đồng chí làm tôi rất dễ gần gũi, chẳng khác gì lâu ngày được gặp lại người anh trong gia đình. Đồng chí cho tôi biết là mình đang làm nhiệm vụ ở tiền phương Bộ Tổng tham mưu, tham gia chỉ đạo lực lượng ta tác chiến chống quân Pôn Pốt xâm lược ở mặt trận biên giới Tây Nam. Với lời lẽ đầy tâm sự, đồng chí nói lên nỗi băn khoăn của mình về việc phải đánh nhau với một kẻ thù mà mới trước đây là bạn, chung một chiến hào chống quân xâm lược Pháp và Mỹ. Đồng chí nói: "Đảng và Chính phủ ta vẫn kiên trì đường lối hòa bình, thương lượng để giải quyết việc tranh chấp biên giới do Pôn Pốt gây nên. Còn muốn đánh thắng triệt để đối với tập đoàn Khơme đỏ phản động, vừa gây chiến với bạn, vừa giết hại dân tộc mình thì phải đánh sụp đổ chế độ diệt chủng của chúng, vì đó là nguồn gốc của cuộc chiến tranh. Mà muốn làm được việc ấy, phải chính là lực lượng của bản thân cách mạng Campuchia".


Tướng Lê Ngọc Hiền đứng dậy, bước lại vỗ vai tôi với thái độ và giọng nói đầy thân mật. Ông bảo: "Ấm được giao nhiệm vụ giúp đỡ Hun Sen xây dựng lực lượng đoàn kết cứu nước Campuchia là một vinh dự và vô cùng quan trọng, mà Ấm biết tiếng Campuchia là điều kiện rất thuận lợi...". Đồng chí khuyên tôi cố gắng giúp bạn, "nay lực lượng bạn còn nhỏ yếu, nhưng là cái vốn rất quý, đóng vai trò rất cơ bản và có tính chất quyết định cho sự nghiệp cách mạng Campuchia, đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong tương lai, lực lượng ấy sẽ cùng nhân dân phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, cách mạng Campuchia nhất định thành công!". Đồng chí căn dặn: "Bộ Tư lệnh Đoàn 778 phải thường xuyên quan hệ với tiền phương Bộ Tổng tham mưu, để theo dõi nắm tình hình ngoài chiến trường, sẽ có ích trong công tác giúp bạn xây dựng lực lượng!".


Chia tay Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền tại cơ quan tiền phương Bộ Tổng tham mưu ở phía Nam, những lời động viên, dặn dò chân tình của đồng chí đã góp phần giúp tôi thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong những ngày đầu giúp bạn.

Cho đến tháng 9 năm 1987, tôi đang là Phó Tư lệnh Mặt trận 479 kiêm trưởng chuyên gia chính trị giúp khu vực 4 của lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia (tổ chức khu vực tương đương cấp quân khu) với cấp quân hàm Thiếu tướng, được Bộ Quốc phòng Việt Nam điều động về Phnôm Pênh, làm "phái viên" bên cạnh Bộ Tư lệnh 719 (tức Bộ chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #25 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:08:16 pm »

Lúc này, Đại tướng Lê Đức Anh và Thượng tướng Đoàn Khuê đã được Nhà nước điều động về nước và được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được bổ nhiệm làm Tư lệnh Mặt trận 719, thay đồng chí Lê Đức Anh.


Thượng tướng Lê Ngọc Hiền nhận nhiệm vụ Tư lệnh 719 trong lúc cách mạng Campuchia xuất hiện tình thế chiến lược mới. Đảng Nhân dân cách mạng Campuchỉa và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Campuchia cùng lúc tiến hành hai nhiệm vụ, vừa chỉ đạo chiến tranh đánh bại hoạt động phá hoại của lực lượng liên minh ba phái (Pôn Pốt, Srây Ka, Mulinaka) chống chính phủ, vừa tích cực đấu tranh tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia. Cuộc đàm phán đầu tiên giữa Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa nhân Campuchia Hun Sen và đại diện liên minh ba phái Hoàng thân Nôrôđôm Xihanúc diễn ra tại Pa-ri. Những sự kiện trên tác động không ít đến nhận thức, tâm tư, tình cảm của các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, đòi hỏi người Tư lệnh phải bình tĩnh, nhận thức đúng đắn trong hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn.


Về đến Phnôm Pênh, tôi được gặp lại Thượng tướng Lê Ngọc Hiền lần thứ hai. Lần này tôi được sống chung và phục vụ công tác cho đồng chí được gần tròn một năm. Nhiệm vụ của tôi lúc này là giữ vai trò liên lạc giữa Bộ Tư lệnh 719 và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia. Sống bên cạnh và làm việc chung với đồng chí Lê Ngọc Hiền, tôi đã học tập nhiều ở đồng chí tác phong tỉ mỉ, lề lối làm việc thực sự cầu thị, thái độ luôn hòa nhã với cấp dưới cũng như với tất cả mọi người. Những ý kiến, những vấn đề mới về xây dựng, hay hoạt động của lực lượng vũ trang có liên quan đến sự hiệp đồng, hay giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam cần trao đổi hoặc xin ý kiến Bộ Chính trị bạn, đồng chí Lê Ngọc Hiền truyền đạt cho tôi thật tỉ mỉ, chu đáo, làm cho tôi nhận thức đúng và đủ, để báo cáo với các đồng chí thường trực Bộ Chính trị bạn.


Thông qua các đồng chí thường trực Bộ Chính trị bạn như Heng Xomrin, Chia Sim, Hun Sen, Bu Thoong, Tia Banh, sau khi nghe tôi báo cáo, đã trao đổi thảo luận và có ý kiến thống nhất trả lời, tôi ghi chép cẩn thận về báo cáo lại với đồng chí Lê Ngọc Hiền, có lúc với cả đồng chí Lê Hai và đồng chí Lê Khả Phiêu. Mỗi lần như vậy, tôi cảm nhận thấy đồng chí Lê Ngọc Hiền rất chú ý lắng nghe ý kiến của tôi và bàn bạc tỉ mỉ với các đồng chí Lê Hai, Lê Khả Phiêu để thống nhất và trở thành ý kiến chỉ đạo cho các mặt trận, các cơ quan 719 và Đoàn 478, chuyên gia Quân sự Trung ương giúp bạn.


Ngoài công tác chỉ đạo hằng ngày, đồng chí Lê Ngọc Hiền rất quan tâm đến đời sống của cán bộ, nhân viên. Đồng chí thường nhắc nhở, động viên anh em chăn nuôi và trồng rau để cải thiện bữa ăn. Bản thân đồng chí đã chăn nuôi đàn ngan (vịt xiêm) đẻ trứng và ấp nở hàng chục con, được đồng chí chăm lo chu đáo, ngan con chóng lớn. Sáng sáng, ngan mẹ dắt đàn ngan con hàng chục con đi ăn ở bãi cỏ trước nhà, trông rất đẹp mắt. Ai cũng khen, anh em gọi đùa đó là đoàn xe tăng của ông Bảy Hiền. Vì thế, cái tình gần gũi của vị Thượng tướng Tư lệnh với cán bộ, nhân viên càng chặt chẽ hơn.


Sau đó, theo sự thống nhất giữa ta và bạn, cuối tháng 8 năm 1988, Bộ Tư lệnh 719 (Bộ Chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam trên đất Campuchia) rút quân về nước. Tôi được Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định làm Đoàn trưởng Đoàn K88, tiếp tục làm nhiệm vụ giúp bạn cho đến ngày Quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang trở về Tổ quốc. Buổi chia tay đầy cảm động, với tư thế của một người anh, đồng chí Lê Ngọc Hiền đã dặn dò tôi tất cả những gì anh cần dặn...


Tiễn các đồng chí cơ quan Bộ Tư lệnh 719 ở sân bay Pôchentông dạt dào tình cảm đồng chí, đồng đội; kẻ ở, người về, đặc biệt với đồng chí Thượng tướng Lê Ngọc Hiền còn đọng mãi trong tôi. Cho đến một năm sau, tại Hội trường Thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 11 năm 1989, tôi gặp lại Thượng tướng trong buổi lễ đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất về thành tích giúp bạn Campuchia, do Nhà nước ta trao tặng1 (Thượng tướng Lê Ngọc Hiền và tôi là hai trong số 11 người được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất). Bên lề buổi lễ, với tư cách Tư lệnh Mặt trận 719, người thủ trưởng cũ ở chiến trường Campuchia, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã giới thiệu tôi, một cộng sự đắc lực, với Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh cả của quân đội ta, cùng với giọng nói ân cần, ấm áp như ngày nào cùng chung công tác trên chiến trường.


Và nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày Quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7.1.1979 - 7.1.1999), Ban liên lạc truyền thống Mặt trận 719 tổ chức cuộc họp mặt tôi Hội trường C59 của cơ quan Bộ Tổng tham mưu ở phía Nam. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã không quản ngại đường xa, từ Hà Nội đáp máy bay vào dự. Trong lời phát biểu đầy tình cảm của mình, với danh nghĩa một vị tướng Tư lệnh chiến trường, từng tham gia chống chiến tranh xâm chiếm biên giới Tây Nam do Pôn Pốt gây nên từ những ngày đầu, cho đến kết thúc nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Campuchia, với vai trò Tư lệnh, đồng chí đã cùng tập thể cán bộ, chiến sĩ Mặt trận 719 ôn lại quá trình giúp bạn kịp thời, có hiệu quả, góp phần cứu đất nước và dân tộc Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng rất vinh quang và rất đỗi tự hào. Tôi có ngờ đâu đó là lần gặp cuối cùng, năm 2006, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền vĩnh viễn ra đi về với cõi vĩnh hằng.


Ngày nay, mỗi lần giở những trang hồi ký "Một thời để nhớ" của tôi, tôi chỉ gặp Thượng tướng Lê Ngọc Hiền trong tấm ảnh phóng viên đã chụp được tại Hội trường Thống nhất, sau khi đồng chí giới thiệu tôi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Gương mặt hiền từ, đôn hậu, nụ cười cởi mở năm nào của đồng chí đã làm cho lòng tôi tưởng nhớ đến đồng chí - một người anh! Anh Lê Ngọc Hiền ơi! Tưởng nhớ anh, với những dòng ngắn ngủi này xin một nén hương thơm, cầu chúc linh hồn anh được siêu thoát.

P.Đ.A
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #26 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:16:33 pm »

THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN,
ANH BẢY HIỀN TRONG KÝ ỨC CỦA TÔI

Thiếu tướng Hồ Văn Sanh*
(Bảy Sanh)


Do hoàn cảnh công tác, tôi cũng như nhiều cán bộ miền Nam ít có điều kiện gặp gỡ và làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền. Khi tập kết ra miền Bắc, tôi chỉ một lần được gặp đồng chí một cách tình cờ ở Trạm 66 và được nghe anh em nói về đồng chí. Lúc ấy đồng chí rất trẻ, rất khỏe mạnh, đang phụ trách một chức vụ quan trọng. Cuộc gặp gỡ ấy đã cho tôi một ấn tượng tốt về đồng chí. Tôi ước ao quân đội là có nhiều cán bộ "bề thế" như vậy. Sau đó, tôi về Nam chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, tôi thường được nghe nhắc đến tên đồng chí qua các công văn, chỉ thị từ miền Bắc gởi vào, và do đó, tôi biết đồng chí là một vị tướng lĩnh chủ chốt ở Bộ Tổng tham mưu. Mãi đến khi làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia tôi mới gặp lại đồng chí Lê Ngọc Hiền, lúc ấy là người chỉ huy quân tình nguyện. Chúng tôi thường gọi đồng chí với cái tên thân mật theo kiểu miền Nam là anh Bảy Hiền!


Trong quá trình làm việc với anh Bảy, chúng tôi có ấn tượng chung là anh Bảy "hiền" thật. Đối với cán bộ, anh luôn vui vẻ, cỏi mở, rất dễ gần gũi. Có gì cần uốn nắn, anh thường gặp gỡ, nhắc nhở, trao đổi không bao giờ quy chụp, đao to búa lớn. Ngoài giờ làm việc, anh thường chủ động "xáp vô" với chúng tôi, trò chuyện tìm hiểu... Dường như anh cũng muốn "Nam Bộ hóa" trong khi giao lưu với các "anh hai Nam Bộ", nhưng anh "nhập vai" rất khó. Vậy mà anh em chúng tôi rất quý mến và kính nể anh Bảy do phong cách của anh trên cương vị là người chỉ huy tài năng, là người anh mẫu mực.


Riêng tôi có vài điều rất đáng nhớ về đồng chí Lê Ngọc Hiền.

Một lần tôi đang ngồi với mấy cháu nhỏ người Campuchia trước sân chùa nơi Sở chỉ huy của đơn vị, nhờ các cháu dạy nói và dạy viết. Anh Bảy và mấy cán bộ đi vào chùa mà tôi không hay. Và anh cũng lẳng lặng ngồi xem tôi học. Đến khi mấy cháu "báo động" là có khách, tôi chạy vào thì anh bắt tay vui vẻ nói luôn:

- Hoan hô cậu học trò già của các cháu trẻ! Hoan hô các thầy giáo trẻ của cậu học trò già! Hoan hô, hoan hô!

Hôm ấy, trong buổi làm việc đồng chí lại nhắc đến việc học tập tiếng Khơme. Đồng chí nhấn mạnh: Quân đội ta chiến đấu trên đất bạn có nhiều khó khăn, trong đó việc không biết tiếng là một khó khăn rất lớn. Ta đánh địch không phải chỉ bằng quân sự, mà bằng chính trị, bằng công tác vận động quần chúng - không biết tiếng thì khó tìm hiểu tình hình, địch trước mắt mà không biết, muốn tuyên truyền, giáo dục nhân dân chỉ biết nói bằng tay thì khó có hiệu quả. Phải coi tiếng nói là vũ khí để đánh địch. Vì vậy, phải học tập. Cán bộ càng cần phải học tập. Cuộc chiến đấu giúp bạn còn lâu dài, càng cần phải học tập.


Qua thực tế chiến trường, chúng tôi càng thấy lời nhắc nhở của anh Bảy là vô cùng cần thiết. Và chúng tôi đã nghe lời anh. Đơn vị đã có phong trào học tập tiếng Khơme. Nhiều anh em sau này làm việc với bạn, với bà con, không cần phải qua phiên dịch.

Là thủ trưởng quân sự, nhưng khi xuống đơn vị anh Bảy luôn quan tâm trước tiên đến tình hình tư tưởng, chính trị của cán bộ, chiến sĩ. Anh thường căn dặn phải đề cao kỷ luật quần chúng, tăng cường công tác dân vận, giúp bạn xây dựng đảng bộ, xây dựng chính quyền, đoàn thể.


Có một việc "rối" mà tôi khó quên. Một lần, một chiếc xe chở một số người Âu chạy qua, bên hông xe có một câu tiếng Pháp "thầy thuốc không biên giới"! Anh em ta tán rộng ra là "tình yêu không biên giới"! Trong đơn vị lúc này chớm nảy ra một số vụ yêu đương với các cô gái địa phương vừa được ta giải phóng.


Trong một cuộc trò chuyện thân mật, tôi trình bày việc ấy. Nhiều ý kiến trao đổi, kẻ tán thành, người không. Đồng chí Bảy Hiền cười bảo:

- Đúng là tình yêu không có biên giới! Trong tình hình bình thường thì người nước này có thể yêu người nước khác và thành vợ, thành chồng với nhau. Nhưng trong hoàn cảnh không bình thường thì việc ấy không nên. Hoàn cảnh của ta hiện nay là không bình thường! Ta đang chiến đấu giúp bạn, nhiệm vụ nặng nề, nhiều vấn đề về chính trị còn đang hạn chế những mối quan hệ khác. Cho nên việc yêu đương như vậy là rất phức tạp, rất ảnh hưởng đến nhiệm vụ, mà có khi còn đẻ ra những vấn đề rắc rối khác. Nhưng sau này, khi tình hình bình thường thì việc yêu đương "xuyên biên giới" có sao đâu!...


Những lời lý giải của anh Bảy đã giúp đơn vị chúng tôi gỡ được một số trường hợp rối ren về tình cảm, và sau này đúng là chúng tôi có những cô dâu chánh gốc Campuchia.

Về vấn đề kỷ luật, tôi muốn nói thêm: lần nào nói chuyện với cán bộ, anh Bảy đều nhấn mạnh đến việc giữ nghiêm kỷ luật. Một việc sai phạm trên đất Bạn có tác hại nhiều hơn khi chiến đấu trên đất ta, tạo điều kiện cho địch xuyên tạc, làm cho dân nghi ngờ, dẫn đến những khó khăn trong chiến đấu và trong mối quan hệ khác. Phải ngăn ngừa là chính! Khi có trường hợp vi phạm, phải xử lý đến nơi đến chốn, có lý, có tình. Anh em ta chiến đấu căng thẳng, trong khi đất nước đã hòa bình. Tình hình này tạo cho anh em nhiều tâm tư, tình cảm không bình thường dễ biến thành những hành động sai trái, cần thông cảm với anh em, xử lý kỷ luật để giáo dục, để răn đe. Không trù dập!


Có lần, trong một cuộc nói chuyện vui với anh em, anh Bảy cười hỏi tôi:

- Các cậu bị mang tiếng là hay uống rượu, có oan không? Cậu có "nhậu không"? Trông cậu cũng có vẻ là một "nhậu sĩ" lắm!

- Không oan chút nào, thưa anh Bảy! Cấp trên rầy còn chưa đủ "đô"! Trong đơn vị thường xảy ra những vụ bê bối do rượu. Riêng tôi cùng... chút ít cho vui!

Nhân lúc "nhàn đàm" anh Bảy nói luôn:

- Hiện nay, nhiều đơn vị hay tổ chức "nhậu", chớ không phải riêng các cậu đâu! Nhưng có lẽ các "ngài" giữ bí mật khá hơn nên không bị lộ! Hoàn cảnh thiên nhiên và điều kiện kinh tế ở Nam Bộ đã ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt. Nên nhắc nhở anh em: Không biết nhậu thì đừng tập! Có nhậu thì đừng say! Có say thì đừng quậy!


Gẫm ra tôi thấy trong nhận xét của anh Bảy có sự thông cảm với thực tế tình hình trong Nam. Tôi lấy cái "ba đừng" của anh mà tự răn mình và nhắc nhở các "anh Hai" trong đơn vị. Nhưng không phải dễ mà sửa cái tật. Cho đến bây giờ, nhiều vị chưa uống đã la "dô, dô", "trăm phần trăm"... dậy cả xóm.


Tôi gặp gỡ và làm việc trực tiếp với anh Bảy không nhiều, nhưng những cuộc tiếp xúc rất "đời thường" với anh đã để lại trong tôi nhiều tình cảm tốt đẹp. Tôi rất thông cảm vì sao anh Bảy được tôn vinh là một vị tướng bình dị, nhân hậu, quyết đoán... Tôi rất phấn khởi được chiến đấu dưới sự chỉ huy và lãnh đạo của những thủ trưởng như thế!


Anh Bảy nay không còn nữa nhưng anh còn để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên về một thời chinh chiến trên đất bạn. Tôi viết ra đây không hết được lòng mình nhưng cũng xin đóng góp đôi điều để minh họa thêm vài nét về chân dung anh Bảy. Đây là suy nghĩ của tôi, và chắc chắn cũng là suy nghĩ của nhiều bạn bè của tôi về anh Bảy mà tôi đã hiểu được những tâm tư về người thủ trưởng của mình!


Tôi xin có mấy lời thơ kính viếng anh Bảy thân mến, coi như một nén hương lòng tôi gởi đến anh:

   Binh nghiệp nặng mang suốt cả đời
   Chiến trường xuôi ngược khắp nơi nơi.
   Tài năng, mà lại luôn bình dị,
   Người mất, còn lưu tiếng với đời!


H.V.S
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:17:46 pm »

NGƯỜI CHỈ HUY TÀI BA TỪ KHI CÒN RẤT TRẺ

Thiếu tướng Tống Trần Thuật
Nguyên Cán bộ Tổng cục 2 Bộ Quốc phòng


Đầu 1950, tôi được điều từ Trung đoàn miền Tây về công tác ở Trung đoàn 66 và được bố trí làm Đại đội trưởng Đại đội 14 ở Tiểu đoàn Lê Lợi do đồng chí Lê Ngọc Hiền làm Tiểu đoàn trưởng.

Vào thời gian này, Tiểu đoàn đang hoạt động ở địa bàn tỉnh Hà Nam được lệnh chuyển về Hà Đông đánh quân địch càn quét nống lấn ra hai huyện Ứng Hoà - Mỹ Đức.

Tại đây, quân địch đã chiếm Vân Đình, ngã tư Vác, Viên Nội. Ngoài lực lượng đồn trú, chúng còn một tiểu đoàn cơ động làm nhiệm vụ tấn công mở rộng vùng chiếm đóng.

Tiểu đoàn Lê Lợi về đóng quân ở huyện Mỹ Đức, trú quân ở khu vực Đức Thụ, Lai Thụ, Lê Xá được chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang tại chỗ cung cấp cho tình hình địch và quy luật hoạt động của chúng ở địa bàn này.

Trên cơ sở đó, đồng chí Lê Ngọc Hiền tổ chức và dẫn đầu một đoàn cán bộ đi nghiên cứu thực địa một cách kỹ càng và lập kế hoạch tác chiến ở khu vực Hoàng Dương - Tử Dương thuộc huyện Ứng Hoà, cho bộ đội tập luyện trên thực địa theo các phương án và tổ chức ngay lực lượng trinh sát bám sát địch nhất là tiểu đoàn cơ động của địch ở Ba Thá.


Sáng 12 tháng 5 năm 1950, địch sử dụng một đại đội có hơn một nửa là lính Âu-Phi do một tên trung úy chỉ huy từ Ba Thá tấn công ra hướng Kênh Đào - Đoan Nữ thuộc hữu ngạn sông Đáy. Trên đường tiến quân, bị lực lượng địa phương ta đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải quay về. Để tránh bị đánh, địch không rút theo đường cũ mà bất ngờ lội qua sông Đáy, qua bên tả ngạn theo đường đê rút về Ba Thá.


Được tin báo của trinh sát khoảng 10 giờ ngày 12 tháng 5 năm 1950, giữa lúc nhiều đơn vị chưa ăn trưa, đồng chí Lê Ngọc Hiền lệnh cho các đại đội nhanh chóng cơ động từ nơi trú quân lội qua sông Đáy triển khai đội hình bao vây tấn công địch.

Đồng chí Lê Ngọc Hiền lội qua sông trước, tại một vị trí cao trên đê nơi các đơn vị phải đi qua anh gặp chỉ huy từng đại đội giao nhiệm vụ chiến đấu:

- Đại đội 14 tiến qua làng Tử Dương đánh chặn quân địch rút lui.

- Đại đội 42 chiếm đê cao ép địch ra bờ sông.

- Đại đội 28 chặn và chia cắt địch.

- Trung đội trợ chiến chi viện cho các đơn vị cơ động.

Đúng 13 giờ 30 phút, chiến sự diễn ra: địch lội qua sông định bám lấy mặt đê để giành lợi thế nhưng Đại đội 28 đà nhanh chóng chiếm đê trước, khống chế địch, dùng hoả lực bắn quét mặt đê buộc địch dạt xuống chân đê phía bờ sông chạy về làng Hoàng Dương. Đại đội lập tức điều lực lượng từ làng Hoàng Dương tiến lên đê đánh dồn địch vào khu vực vườn chuối, diệt và bắt sống một trung đội địch. Đại bộ phận địch còn lại vẫn theo chân đê ven bờ sông chạy về đầu làng Tử Dương chiếm đền chợ Tía và khu lò gạch chống trả quyết liệt nhưng bị đại đội 14 làm nhiệm vụ chặn quân địch rút chạy, nhanh chóng tấn công bao vây tiêu diệt gọn 2 trung đội địch, bắt tên chỉ huy. Cùng lúc, Đại đội 42 cũng tiến lên để phối hợp chiến đấu tiêu diệt địch.


Trong quá trình chiến đấu, đồng chí Lê Ngọc Hiền vẫn nắm vững chỉ huy, giữ vững liên lạc với các đại đội và tổ chức hiệp đồng chặt chẽ.

Trận đánh kết thúc vào 14 giờ 30, đồng chí Lê Ngọc Hiền đứng trên mặt đê ra lệnh cho đơn vị thu dọn chiến trường, kiểm tra trân địa, giải quyết thương binh liệt sĩ, thu hồi chiến lợi phẩm và giải tù binh về phía sau.

Một đoàn tù binh mặt cúi gằm xuống đất, giầy đeo lủng lẳng trên cổ, được bộ đội ta giải qua nơi trú quân giữa ban ngày, nhân dân trong vùng kéo nhau ra xem, nhiệt liệt hoan nghênh và úy lạo bộ đội chiến thắng trở về. Một số đồng bào vùng địch tạm chiến tản cư ra đây còn nhận mặt một số tên giặc trong đám tù binh đã từng gây tai họa cho xóm làng mình.


Kết quả trận đánh, ta tiêu diệt gọn đại đội dịch, diệt 7 tên, bắt 81 tên gồm 8 Âu, 21 Phi, 52 nguỵ trong đó có tên trung úy chỉ huy, thu toàn bộ vũ khí có 1 đại liên, 5 trung liên, 50 súng trường, 1 số máy bộ đàm. Phía ta 3 đồng chí hy sinh và 1 đồng chí bị thương.

Sau trận Hoàng Dương - Tử Dương, tiểu đoàn được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì.

Chiến thắng Hoàng Dương - Tử Dương là công lao của cán bộ và chiến sĩ toàn tiểu đoàn nhưng đồng chí Lê Ngọc Hiền đã đóng góp một phần rất quan trọng. Trước trận Hoàng Dương - Tử Dương, ngày 25 tháng 11 năm 1949, đồng chí Lê Ngọc Hiền cũng đã chỉ huy Tiểu đoàn đánh tiêu diệt gọn đồn Đồng Bến trên đường số 6 diệt một đại đội tăng cường và thu toàn bộ vũ khí.


Sau này trong cuốn hồi ký "Chiến đấu trong vòng vây", Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi lời nhận xét: Đây là một trận vận động chiến xuất sắc ở huyện Ứng Hoà.

Đại tướng Văn Tiến Dũng trong lần nói chuyện với cán bộ quân đội cũng đã nói: Trận Hoàng Dương - Tử Dương là một trận vận động chiến tiêu biểu diễn ra ban ngày ở đồng bằng. Các học viên, nhà trường cần lấy trận này làm chiến lệ để cán bộ học tạp. Sau trận Hoàng Dương - Tử Dương một thời gian, đồng chí Lê Ngọc Hiền được điều về Đại đoàn 320 tiếp tục lập nhiều thành tích, là cán bộ chỉ huy giỏi và có tín nhiệm cao. Còn Tiểu đoàn Lê Lợi được chọn là đơn vị chủ công của Đại đoàn 304 tiếp tục lập nhiều chiến công xuất sắc cho đến khi kết thúc chiến tranh chống Pháp. Nay đồng chí Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng tinh thần chiến đấu và nghệ thuật chỉ huy của đồng chí đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc không bao giờ quên.

T.T.T
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:23:49 pm »

VÀI KỶ NIỆM NHỚ VỀ THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HlỀN

Đại tá Trần Bá Điềm
Nguyên quyền Trưởng phòng Tuyên huấn -
Cục Chính trị Mặt trận 979 Campuchia


Cuối năm 1988, thời gian các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam thuộc Mặt trận 979 Quân khu 9 làm nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Campuchia đang tích cực chuẩn bị bàn giao lại địa bàn các tỉnh biên giới của Campuchia giáp Thái Lan (Kô Kông, Pu Sát, Bátđomboong) cho lực lượng vũ trang bạn (Campuchia) đảm nhận, lực lượng ta từng bước "lui cung" di chuyển về tuyến tập kết chuẩn bị rút quân về nước (theo hiệp định giữa ta và bạn đã ký) kết thúc vẻ vang mười năm giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của Pôn Pốt và hồi sinh dân tộc.


Cùng trong khoảng thời gian này, tôi được phân công lên Sư đoàn bộ binh 330 đang đóng tại căn cứ Vườn Cam, Batđomboong công tác với cương vị là Phó Trưởng phòng, quyền Trưởng phòng tuyến huấn - Cục Chính trị Mặt trận 979 đến sư đoàn theo dõi các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của đơn vị.


Một hôm, Ban chỉ huy Sư đoàn 330 nhận được điện chuẩn bị bãi đáp cho máy bay trực thăng Mi-8 hạ cánh và đón Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - Tư lệnh 719 (Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện ỏ Campuchia) và đoàn cán bộ cơ quan 719 xuống thăm và làm việc ít ngày.


Với cương vị công tác lúc bây giờ, tôi được biết tin Thượng tướng Lê Ngọc Hiền mới từ Hà Nội sang thay Đại tướng Lê Đức Anh (Tư lệnh Mặt trận 719) nhưng tôi chưa có dịp được gặp ông. Tôi rất mừng được cùng các đồng chí chỉ huy Sư đoàn bộ binh 330 ra bãi đáp trực thăng để đón tiếp thủ trưởng. Thủ tục đón tiếp thật giản dị. Trực thăng vừa hạ cánh, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền xuất hiện cười tươi vẫy tay chào và đi xuống tiến đến bắt tay từng người. Ban chỉ huy Sư đoàn mời Thượng tướng và đoàn vào nhà khách, bố trí chỗ nghỉ và chuẩn bị dùng cơm trưa. Bữa cơm ấy tôi có vinh dự được cùng đồng chí Nguyễn Thanh Dũng (Ba Dùng) - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị ngồi cùng bàn để tiếp Thượng tướng. Ông dùng cơm rất thoải mái với những cán bộ trẻ dưới quyền. Tôi để ý thấy đôi lúc hình như ông vừa ăn vừa suy nghĩ điều gì đó, mãi khi xong bữa ngồi uống nước trà, ông mới nói:

- Các đồng chí đãi mình ăn ngon quá, gạo trắng thơm và dẻo, vừa ăn mình lại nhớ cách đây ba bốn năm (khoảng 1982-1984) thằng cháu nội mình mới sinh đến lúc biết ăn dặm bột thì ở Hà Nội rất khó kiếm gạo ngon để xay bột cho nó. Hôm mình đi vào phía Nam công tác, bà nhà mình dặn phải cố gắng mua về cho thằng cháu 10 kg gạo ngon để xay bột.

Uống chút trà xong, ông nói tiếp:

- Chuyện mua gạo thì không khó, mình có thể nhờ anh em mua hộ cho, nhưng nhấc bao gạo từ xe lên máy bay thì không thể nhờ anh em được, vì đây là việc riêng tư của mình, là nghĩa vụ của người ông với thằng cháu.

Kể đến đây, mắt ông nhìn xa xăm và đột nhiên ông kết luận:

- Về đến nhà được bà cháu khen đáo để. Vậy đấy các đồng chí ạ! Làm tướng cả đời chiến trận, một việc tưởng là nhỏ nhặt nhưng lúc thiếu gạo, khó khăn kinh tế, cái nhỏ có khi thành vấn đề lớn lao. Phải cố gắng để ý quan tâm đến gia đình riêng một chút, các đồng chí ạ!


Lần đầu tiên được tiếp xúc với vị Thượng tướng với những lời tâm sự rất chân thật, rất đời thường nhưng cũng rất nhân văn, rất con người đã tạo cho tôi ấn tượng đặc biệt. Làm tướng không thể xa rời đời thường, càng không thể xa cách mọi người nhất là không hiểu những người xung quanh và người thân đang cần gì, đang suy nghĩ gì? Chuyện mua gạo xay bột cho cháu nội của Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đặt vào hoàn cảnh hiện nay thì rất bình thường nhưng cách đây trên 20 năm là một việc làm bình dị nhưng đầy nhân hậu. Một số người có chức sắc, có quyền nhưng quan liêu, khó có thể làm được như ông.


Sau lần gặp đó khoảng 6 tháng tôi lại có dịp được đi cùng ông xuống một sư đoàn bạn Campuchia đóng quân trong rừng sâu (thuộc tỉnh Bátđomboong). Thượng tướng cùng một số chỉ huy Quân khu 5 của bạn kiểm tra, chỉ đạo anh em bố trí nơi ăn ở, phương án phòng thủ bảo vệ địa bàn trọng điểm. Khi kiểm tra xong, ông cho mời cán bộ chỉ huy và cơ quan sư đoàn bạn, chuyên gia Việt Nam đến hội trường của đơn vị (làm bằng cây lợp lá rừng) để nói chuyện. Tôi cùng được mời tham dự và có một kỷ niệm khó quên.


Phiên dịch buổi nói chuyện cho Thượng tướng Lê Ngọc Hiền hôm ấy là một đồng chí trong Ban công tác vận động quần chúng của Sư đoàn bộ binh 330, quê ở miền Tây Nam Bộ. Do hiểu không rõ nghĩa câu nói thủ trưởng nên đã dịch sai, chi tiết, cụ thể như sau:

Sau khi biểu dương những kết quả, thành tích của đơn vị bạn đã đạt được, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đã thẳng thắn, chân tình chỉ ra những chỗ yếu kém của đơn vị bạn là việc ăn ở còn kém vệ sinh, bộ đội còn ngại đi xa lấy nước về dùng và để xung quanh cây mọc rậm, muỗi lắm nên quân số còn bị sốt rét nhiều. Trong câu nói phê bình, ông có dùng từ bộ đội còn "lười nhác", đồng chí phiên dịch đã dịch thành "khơ-lách-phụ-via" (sợ địch) vì ngờ thủ trưởng nói "nhát", tức là sợ.


Tôi thấy người phiên dịch đã dịch sai ý thủ trưởng, liền nói đồng chí dịch lại đi, thủ trưởng nói "bộ đội còn lười nhác" không phải "sợ địch". Nghe tôi nói, thủ trưởng Hiền và cán bộ bạn dự cuộc họp đều quay nhìn về phía tôi, thái độ các cán bộ bạn đang im lặng bỗng thay đổi nở nụ cười tươi khi hiểu ra câu nói của thủ trưởng; còn ông khi hiểu ra vấn đề liền nói: "Cám ơn đồng chí đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh lời dịch, không thì anh em bạn sẽ hiểu lầm tôi chê họ sợ địch thì không hay chút nào cả!".


Sau buổi họp, ông còn gặp riêng tôi, khen ngợi và hỏi tôi có biết tiếng Campuchia khá không? Học bằng cách nào? Tôi thưa, em sang làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia đã hơn 9 năm, tuy không phải trực tiếp làm công tác vận động quần chúng giúp bạn nhưng do thường xuyên tiếp xúc với nhân dân và bộ đội bạn nên tự học bằng truyền miệng chứ không qua trường lớp nào cả, cũng chỉ nói chuyện giao dịch thông thường hằng ngày, chứ những từ khó thì cũng chịu thôi ạ!


Từ đấy thủ trưởng Hiền để ý đến tôi nhiều hơn và hình như ông cũng hỏi thêm anh em về tôi. Những lần gặp sau, ánh mắt trìu mến của thủ trưởng dành cho tôi làm tôi rất cảm động.

Cũng chính từ kỷ niệm thứ hai này đã dẫn đến kỷ niệm thứ ba, cũng là sự biết ơn của tôi với Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, không bao giờ phai mờ trong ký ức của tôi. Chuyện xảy ra như sau:

Đầu năm 1989, tôi đang công tác tại Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận 979 tại thị xã Bátđomboong thì nhận điện của Cục Chính trị Quân khu điện lên báo tin đứa con trai thứ hai của tôi (sinh 1985) ở Cần Thơ bị ốm. Thiếu tướng Trương Minh Thông (Năm Thông) - Tư lệnh tiền phương và Thiếu tướng Hồ Văn Sanh (Bảy Sanh) - Phó Tư lệnh Chính trị Mặt trận 979 ở Sở Chỉ huy quyết định cho tôi được nghỉ phép về lo cho cháu. Đoạn đường từ Bátđomboong về đến Phnôm Pênh dài 300 km, đường số 5 rất xấu, xe con tại Sở chỉ huy rất ít nên phải chờ có chuyến xe tải Mặt trận 979 lên mới về được, đi xe ngoài của dân Campuchia thì không an toàn.


Đang nóng lòng chờ đợi thì Thượng tướng Lê Ngọc Hiền đi máy bay trực thăng (Mi-8) từ Phnôm Pênh lên Sở Chỉ huy tiền phương 979 công tác. Sau buổi làm việc, đồng chí Năm Thông và đồng chí Bảy Sanh có nói với thủ trưởng Hiền về trường hợp của tôi. Thủ trưởng Hiền không hề đắn do, suy nghĩ gì cả và cho gọi ngay đồng chí phụ trách tác chiến của cơ quan 719 nói sắp xếp ngay chuyến máy bay chở thương binh từ Bátđomboong về Phnôm Pênh, đồng thời cho tôi đi nhờ luôn. Nhờ chuyến bay ấy tôi đã kịp về lo chữa cho cậu con trai hết bệnh và khoảng một tháng sau tôi đã an tâm trở lại đơn vị. Tôi chưa kịp gửi lời cảm ơn vì không gặp ông, thì bất chợt một hôm ông đi xe từ Sở chỉ huy xuống Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 đóng ở ngã ba Pôchentông (cách thủ đô Phnôm Pênh 20 km). Sau lúc làm việc với Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 và cơ quan (tôi được tham dự) ông hỏi:

- Có đồng chí cán bộ nào ở Mặt trận 979 chưa được đi thăm đền Ăngko? Tôi cho chuyến máy bay trực thăng lên Xiêm Riệp đón thương binh, chở anh em lên thăm luôn, vì thương binh có 3 đồng chí thôi!

Gần 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, nhưng vì địa bàn hoạt động của Quân khu 9 là tây nam Campuchia, khu đền Ăngko ở phía tây bắc, cách xa nơi hoạt động của Mặt trận 979 gần 500km. Do vậy hầu hết cán bộ 979 chưa có dịp nào được đi thăm. Ăngko, một kỳ quan của thế giới. Bỏ qua dịp này là thiệt thòi đáng tiếc, nhất là đơn vị sắp rút quân về nước.


Được lời như mở tấm lòng, Thiếu tướng Hồ Văn Sanh - Phó Tư lệnh Chính trị thông báo cho các cơ quan Mặt trận xem ai có thể sắp xếp được công việc thì cho đăng ký đi. Lúc này anh em cơ quan phân tán đi công tác gần hết, ở tại Sở chỉ huy chỉ có tôi và đồng chí Bảy Hồng - Trưởng phòng Tổ chức Cục Chính trị và đồng chí Lê Văn Tân - Phòng Tác chiến Mặt trận cùng một số đồng chí của Cục Hậu cần Mặt trận, đăng ký. Tưởng là quá ít sẽ khó được đi, ai ngờ thủ trưởng Hiền gọi điện cho cơ quan tác chiến Bộ Tư lệnh 719 cho hai chúng tôi đi nhờ lên thăm đền Ăngko. Chuyến đi về trong một ngày (ngồi máy bay hai chiều chỉ mất hơn 1 giờ) nên chúng tôi có hơn 4 tiếng tham quan, thật là vô cùng hạnh phúc. Tôi và đồng chí Bảy Hồng mang theo máy ảnh chụp được nhiều ảnh kỷ niệm. Cuộc tham quan, du lịch Ăng Co đặc biệt và nhớ đời ấy đã để lại cho tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc.


Hôm nay suy nghĩ, nhớ lại các sự kiện, kỷ niệm nhỏ của tôi với Thượng tướng Lê Ngọc Hiền trên chiến trường Campuchia, khi ông đã về cõi vĩnh hằng, tôi xúc động và cảm nhận ông đúng là một vị tướng bình dị, nhân hậu và quyết đoán.

Từ thành phố Cần Thơ, bài viết nhỏ của tôi mong được thay cho nén hương thơm tưởng nhớ tới hương hồn ông - Thượng tướng Lê Ngọc Hiền kính mến!.

T.B.Đ
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #29 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2026, 09:26:15 pm »

NHỮNG KỶ NIỆM VỚI THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN

Đại tá Trần Ba
Nguyên Bí thư của Thượng tướng Lê Ngọc Hiền


Năm 1976, tôi được cấp trên điều về Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu công tác sau 7 năm ở chiến trường Tây Nguyên.

Từ năm 1977, tôi làm nhiệm vụ trực tiếp giúp việc anh Lê Ngọc Hiền. Hơn 10 năm làm việc bên anh Hiền, lúc ở cơ quan Bộ, lúc ở chiến trường biên giới Tây Nam, lúc ở biên giới phía Bắc, vui, buồn có nhau. Tôi thấy anh Lê Ngọc Hiền là một vị tướng chỉ huy rất dũng cảm, xông xáo, có tinh thần trách nhiệm rất cao, luôn tận tụy với công việc, khiêm tốn, đoàn kết, gần gũi với anh em, gương mẫu giản dị trong sinh hoạt đời thường.


Tôi xin kể lại vài kỷ niệm thời gian sống và làm việc bên anh Hiền.

1. Không phải là cấp phó 1

Ở Bộ Tổng Tham mưu nhiệm vụ bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu không để đất nước bị bất ngờ trong mọi tình huống là nhiệm vụ trung tâm.

Anh Lê Ngọc Hiền được phân công phụ trách khối tác chiến, khối công tác trung tâm của Bộ Tổng tham mưu, liên quan chặt chẽ với các công tác khác như nắm địch, tổ chức lực lượng, huấn luyện... xoay quanh đó để bảo đảm tác chiến giành thắng lợi. Công việc của anh Hiền rất bận rộn, làm việc ngày đêm không kể thời gian.


Anh Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu trưởng thường giao cho anh Hiền phụ trách chung khi anh Tấn vắng nhà. Có lúc anh em cơ quan Văn phòng, các Cục nói anh Hiền là phó 1. Anh Hiền bảo tôi: cậu nói với anh em ở cơ quan là Bộ Tổng Tham mưu không có phó 1, mình không phải là phó 1.


Do yêu cầu của việc làm kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, những việc liên quan đến khối công việc của các thủ trưởng Bộ phụ trách bao giờ anh Hiền cũng chủ động xin ý kiến các anh. Khi cần làm việc trực tiếp với cán bộ các Cục, sau khi bàn bạc bao giờ anh Hiền cùng nhắc các đồng chí đó báo cáo lại với các đồng chí thủ trưởng Bộ phụ trách khối công việc đó.


Anh Hiền thường nói với tôi, ở Bộ Tổng Tham mưu, anh Lê Trọng Tấn là người vất vả nhất. Vì những việc lớn, quan trọng Tổng Tham mưu trưởng là người quyết định cuối cùng. Anh Hiền thường trực tiếp báo cáo và nhắc cơ quan phản ánh mọi thông tin trung thực, chính xác, giúp anh Tấn suy nghĩ quyết định.


2. Nếu xảy ra chiến sự, người đầu tiên biết tin phải là anh em mình

Một buổi trưa mùa hè năm 1984, anh Hiền đi sân bay Nội Bài tiễn đồng chí Đại tướng cố vấn trưởng của bạn. Tôi trực ở cơ quan thấy anh Tống Trần Thuật - Phó Cục trưởng Cục 2 lên gặp đưa diện của Quân khu 2 báo cáo đối phương tiến công lấn chiếm biên giới Vị Xuyên, Hà Giang. Tôi và anh Thuật cầm điện chạy xuống phòng làm việc Tổng Tham mưu trưởng, thấy anh Lê Trọng Tấn đã ra sân Con Rồng để về nhà. Tôi báo cáo anh Tấn điện của Quân khu 2. Anh Tấn đọc điện xong, lập tức trở lại ngay phòng làm việc triệu tập cán bộ Cục Tác chiến, Cục 2... làm việc và ra mệnh lệnh những việc phải làm ngay. Tôi nhớ lúc đó đồng chí cán bộ Văn phòng còn đẩy tôi, việc gì thì việc, để anh Tấn về nghỉ trưa, chiều sẽ làm.


Kể từ giờ phút đó cho đến mấy năm sau (1984-1986) diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở tuyến biên giới Vị Xuyên, Hà Giang.

Ở Nội Bài về, anh Hiền vào ngay Sở chỉ huy triển khai thực hiện các mệnh lệnh của anh Tấn.

Buổi chiều, anh Hiền hỏi tôi ai biết trước tin này. Tôi kể lại sự việc. Anh Hiền cười bảo tôi: cậu nhạy bén, thế là tốt. Anh em mình quy ước mình phụ trách khối tác chiến, nếu có chiến sự xảy ra thì người đầu tiên biết tin phải là anh em mình.


3. Tôi sửa điện của cậu, cậu có tự ái không?

Viết điện là việc mà cán bộ tác chiến nào cũng phải làm. Anh Hiền viết điện chỉ đạo đơn vị thực hiện bao giờ cũng cẩn thận, tỉ mỉ, kỹ càng nên viết rất cụ thể, lo đơn vị không hiểu được ý của mình. Có lúc anh tự viết, có lúc anh nói ý của mình, tôi viết. Có lần sau khi sửa điện tôi viết, anh hỏi tôi: "Tôi sửa điện của cậu, gạch xóa nhiều, cậu có tự ái không?". Tôi nói: "Anh là người nghĩ ra việc, tôi chỉ là người chấp bút làm sao mà suy nghĩ sâu sắc bằng anh, có gì mà tự ái". Anh cười nói: "Ở Cục Tác chiến viết điện thông qua Thủ trưởng Văn (Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp), có khi mình chả được chữ nào. Cơ quan ta chỉ có Phan Hàm, Võ Quang Hồ viết điện là vừa ý Thủ trưởng Văn".


4. "Thế mới là Hoàng Cầm chứ"

Trong hai năm 1978-1979, anh Lê Ngọc Hiền làm nhiệm vụ thường trực cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Một lần, sau khi họp Đảng ủy Tiền phương Bộ (gồm anh Lê Đức Anh, anh Lê Ngọc Hiền, anh Hoàng Cầm), anh Hoàng Cầm ở Quân đoàn 4, lúc này đóng ở Tây Ninh, trước khi về họp anh gặp và bảo tôi: "Có những việc mà cậu biết được thì cho mình biêt để mình chủ động...". Tôi nói, anh họp Đảng ủy anh biết cả, có gì mà phải làm như vậy.


Anh Hoàng Cầm nói: "Mình là đảng ủy viên về họp Đảng ủy để bàn về việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Tiền phương Bộ, nhưng khi về đơn vị thì các anh ở Bộ là cấp trên, mình là người chỉ huy ở đơn vị. Trong chỉ huy quân đội phải có cấp trên, cấp dưới thì mới đánh giặc được".


Tôi kể lại chuyện này với anh Lê Ngọc Hiền, anh cười khà khà bảo tôi: "Cậu thấy không, thế mới là Hoàng Cầm chứ".

Tôi hiểu nói như vậy là anh Hiền rất quý anh Hoàng Cầm vì thường ngày hai anh rất thân nhau. Riêng tôi thì được một bài học về nguyên tắc, tác phong làm việc của người chỉ huy trong quân đội.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM