Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 04:08:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngọn lửa chiến tranh lạnh - Tập 3  (Đọc 88029 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:04:17 pm »


PHẦN 4
GIẢI PHÓNG XUƠNG ĐÔ


Cuộc khiêu chiến mới

Phật sống Cách Đạt bị hại làm cho nhân dân các dân tộc cực kỳ phẫn nộ.

Sĩ quan binh lính quân đoàn 18 càng sục sôi căm giận, cùng giơ tay nguyền rủa quân Tạng cách đối bên sông.

Tiếp theo lại một cuộc khiêu chiến nữa. Bộ đội của Trương Quốc Hoa tiến đến khu vực Trúc Khánh Khang Bắc, các chùa Lạt ma quanh vùng bỗng nổi chuông hồi, một đoàn người ngựa súng ống tụ tập theo một người mặc áo hồng bào đầu đội mũ lông cáo xông lên đỉnh núi, thổi kèn hiệu, tức thời một đoàn quần chúng Lạt ma không rõ từ đâu tới xả súng vào quân Giải phóng. Trương Quốc Hoa cho bộ đội ngừng tiến, dẫn phiên dịch tới nói chuyện với người ngăn đường đã ngừng nổ súng. Đến tối, đoàn người ấy lại cuồn cuộn xông tới. Trương Quốc Hoa tức điên người, ông chau mày: “Ta sẽ bắt tên cầm đầu kia!”

Các chiến sĩ sau một lát đã bắt được tên chỉ huy mặc áo cà sa đỏ. Khi thẩm vấn, tên đầu sỏ ăn mặc kiểu Lạt ma cao cấp ấy lại là người Hán thân tín Trần Lập Phu. Hắn công nhận: mùa đông năm 1949 đã có một số người Mỹ và người Anh dưới sự bảo vệ của lực lượng vũ trang thường phục vượt bão tuyết, vượt sông Kim Sa. Họ đã lợi dụng tiếng chuông tiếng trống của chùa Lạt ma kích động quần chúng chặn đường Giải phóng quân vào Tạng. Ngày nay bọn phản động Tây Tạng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đế quốc, đã phát triển lực lượng từ 14 đại bản (nhỏ hơn Trung đoàn) lên tới 17 đại bản, vận chuyển từ ngoài vào một lượng lớn vũ khí, điện đài của Mỹ, mời sĩ quan huấn luyện, điều động huấn luyện quân Tạng các địa phương. Đồng thời ra lệnh chùa chiền tụng kinh thoá mạ quân Giải phóng. Không những đóng cửa hòa đàm, lại còn mưu đồ dùng sông Kim Sa làm đất hiểm, buộc quân đoàn 18 phải dừng bước tại đó.

Tướng lĩnh quân đoàn 18 đều cho rằng, nếu không đánh thì khó mà tiến lên được. Căn cứ theo báo cáo của Trương Quốc Hoa, Cục tây nam thỉnh thị Trung ương thực thi chiến dịch Xương Đô. Sau ba ngày Mao Trạch Đông điện báo: Nước Anh vốn không cho phép đoàn đại biểu Tây Tạng về kinh, hiện đã cho phép. Nếu quân ta chiếm lĩnh Xương Đô trong tháng 10, có khả năng thúc đẩy đoàn đại biểu Tây Tạng về kinh đàm phán, giải quyết hòa bình (đương nhiên cũng có khả năng khác nữa)... sau khi chiếng lĩnh Bình Xương Đô, chỉ để lại đây 3000 quân qua mùa đông; mùa đông năm nay không vào Lạp Tát, mà rút chủ lực về Cam Tư; về phía Tây Tạng, có khả năng cảm thấy đây là một phương sách mà chúng ta tỏ rõ thiện chí với họ. Mao Trạch Đông còn hỏi han cặn kẽ tất cả mọi sự việc hữu quan: Các đồng chí gồm 16.000 người từ Cam Tư tiến vào Xương Đô, lương thực toàn dựa vào sức người và trâu bò vận chuyển, trong đó có 3000 người cần có lương ăn qua mùa đông, 13.000 quân chủ lực chuẩn bị rút về, chí ít cần có lương thực ba tháng trong thời gian vãng phản, bộ đội và trâu bò có đủ sức vận chuyển một lượng lớn như vậy không, vẫn phải xem xét báo cáo...

Ngày 25 Quân uỷ Trung ương phê chuẩn kế hoạch chiến dịch Xương Đô, ngày 26 quân khu tây nam truyền “mệnh lệnh cơ bản chiến dịch Xương Đô”.

Lưỡi gươm chính nghĩa, cái thần của chiến tranh sắp vạch ra tia lửa điện chói người.

Ngày 28-8, Trương Quốc Hoa dẫn một đội quân chủ lực đầu tiên hơn 3800 người, mang theo trang thiết bị và lương thực của đội quân tiên phong xuất phát từ Tân Tân. Cuộc sống hành quân của họ hết sức giản đơn: một cốc nước sôi, vài thanh lương khô là xong một bữa. Một giấc ngủ ngay trên sườn đồi. Gặp chùa chiền không ngại khó khăn tìm vào thăm hỏi, gặp đồng bào Tạng, họ có thể chuyện trò bằng những câu vừa học được...

Trên đường đi, bộ đội sĩ quan đói đến lả người, họ than thở với Trương Quốc Hoa. Không nỡ nhìn cấp dưới chịu đói, ông tuyên bố mỗi người mỗi ngày tăng thêm hai lạng lương thực. Nhưng Dư Thu Lý Bộ trưởng Hậu cần quân khu tây nam lại buồn, ông lấy đâu ra được hai lạng lương thực, bất đắc dĩ mọi người đành phải thắt lưng buộc bụng, ăn rút đi hai lạng. Khi tới Lạp Tát, đại quân chỉ còn đủ ăn ba ngày, Trương Quốc Hoa ngửa mặt lên trời than rằng: “Thảo nào thủ trưởng Lưu, Đặng đã nói người không ăn cơm sẽ chết đói, cái chân lý giản đơn ấy lại linh nghiệm như vậy?”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:05:16 pm »


Tổng quản mới A Bái A Vượng Tấn Mỹ

Xương Đô ở vào khu vực hội tụ của hai chi lưu lớn Trát Khúc và Ngan Khúc thuộc hạ lưu sông Lan Thương miền đông Tây Tạng, thời gian ấy cư dân có hơn 3000 người, trấn giữ nơi xung yếu của ba con đường Trung, Nam, Bắc đi vào Tây Tạng. Cát Hạ xây dựng phủ tổng quản ngay tại đây, chỉ huy 9 đại bản (trung đoàn) và hơn 8.000 người dân binh chiếm 2/3 tổng binh lực quân Tạng. Hơn 8000 được phân bố dọc theo phòng tuyến chính diện hơn 1000 dặm ven sông và khu vực tung thâm rộng hơn 700 dặm phụ cận Xương Đô.

Khi quân Giải phóng tiến gần sát bờ đông sông Kim Sa, nguyên chuyên viên Tổng quản Xương Đô là Lạp Lỗ sắp hết nhiệm kỳ, Thượng thư Cát Hạ thỉnh cầu chuẩn cho về Lạp Tát. Theo lệ cũ, Tổng quản Xương Đô cần phải do một Cát Luân đương chức xuất nhiệm. Nhưng ba vị Cát Luân đang ở Lạp Tát không ai muốn đi nhiệm chức ở Xương Đô lúc này. Các quan văn võ càng sợ sệt hơn. Thế là Nhiếp chính Đạt Trát quyết định, phá vỡ định chế của nhà Thanh cho Tây Tạng thiết lập bốn vị Cát Luân, đề cử Tư bản (quan thẩm kế nhân sự) A Bái làm thêm ngạch Cát Luân, đi Xương Đô thay tiếp Lạp Lỗ. A Bái 42 tuổi thụ mệnh lâm nguy, hiên ngang nhậm chức mang theo ý vị bi tráng.

Năm 1911 vua Thanh thoái vị, ở Giáp Mã Câu cách Lạp Tát về phía đông hơn 100 dặm, có một gia đình quí tộc sinh công tử, chính là A Vượng Tấn Mỹ. A Vượng Tấn Mỹ từ nhỏ đã thông minh hơn người. Ở vào tuổi trẻ con khác vẫn còn chơi bịt mắt bắt dê, thì A Vượng Tấn Mỹ đã được đi học tiếng Tạng tại một trường tư ở Lạp Tát. Năm 14 tuổi được nhận làm môn hạ của đại sư Phật học Hỉ Nhiên Gia Thế, học văn Pháp, thi học, lịch sử và triết học. Đại sư Hỷ Nhiên Gia Thế học vấn uyên bác, yêu cầu học sinh rất nghiêm khắc, đối với mọi người cương trực như cây thanh phong, nổi tiếng ở vùng Tạng. A Vượng Tấn Mỹ đi theo đại sư, đêm ngày chuông trống khổ học ba năm, lại nhận Phật sống Đại Thương phái hồng giáo khu vực Tam Nham vùng đất linh thiêng thần bí phía đông Tạng làm thầy, học tụng kinh niệm Phật, qua hai mùa nóng lạnh. Năm 20 tuổi trở về quê hương Giáp Mã Câu, đã nổi tiếng thông thuộc kinh luân.

Giáp Mã Câu là một làng đồi núi có khoảng 140-150 hộ dân vừa trồng trọt vừa chăn nuôi. A Vượng Tấn Mỹ 20 tuổi thay mẹ quản lý điền trang gia đình. Ngoài giờ đọc sách thường cùng nông nô gặt hái, chăn nuôi. Hiện thực buồn thương khiến con người ấy sớm nẩy sinh tư tưởng dân chủ, ngày càng nhận thức rõ chế độ Tây Tạng cần phải cải cách ...

Đối với sứ mệnh ấy, có người cho rằng lành ít dữ nhiều, thực tại chẳng phải là công việc dễ dàng, nhưng A Vượng Tấn Mỹ vẫn cứ thản nhiên, tiếp kiến nhiếp chính Đạt Trát, ngang nhiên trình bày ý kiến khiến cả triều đình đều kinh ngạc:

“Quan trên đề cử tôi, uỷ nhiệm trọng trách, tôi nguyện thi hành nhưng hiện nay quân Giải phóng nhân dân đã tiến về hướng Xương Đô, có lẽ cũng sắp tới nơi. Chúng ta sớm muộn gì cũng phải tiếp xúc với quân Giải phóng, vẫn phải đàm phán. Xin quan trên trao quyền cho tôi, sau khi đi Xương Đô tôi tạm thời không nhận chức Tổng quản, mà trực tiếp đi tìm quân Giải phóng đàm phán. “Muốn tìm nguồn nước, phải lên núi tuyết. Tôi quyết đi về phía đông, tìm bằng được quân Giải phóng mới thôi”.

Nhiếp chính Đạt Trát kinh hãi hồi lâu không nói, triều đình văn võ mặt mày tái xanh, mỗi người một cách suy nghĩ. Quan chức sau khi họp mở rộng, đệ đơn kiến nghị lên Cát Hạ, ủng hộ yêu cầu của A Bái. Đúng như luồng gió tháng 2 trên thảo nguyên tràn khắp đất Lạp Tát, nhưng gió mạnh hơn thì cuốn bụi mịt mù tạo nên dòng xoáy phản hồi trở lại. Trong kiến nghị thư của hội nghị quan chức mở rộng gửi Cát Hạ lại cho rằng, A Bái đã là Cát Luân đường hoàng, không nên quá dễ dãi đàm phán với quân Giải phóng. Hãy để cho Tư Bổn Hạ Cách Ba ở Ấn Độ tiếp xúc trước với cộng sản, chờ thời cơ chín muồi sẽ cho A Bái ra mặt đàm phán, Cát Hạ và Đạt Trát đã phê chuẩn thư kiến nghị của hội nghị quan chức mở rộng.

Ngày 28-8 tới Xương Đô, A Bái hai vai nặng gánh phong trần quên rỗi nhọc nhằn, tự mình đi kiểm tra công việc phòng vệ ven sông, khảo sát dân tình, những tùy tùng và vệ sĩ thường thấy ông chau mày không nói năng gì. Sau một tuần ông điện cho Cát Hạ: “Vì thời thế hỗn độn, dân không chịu nổi số mệnh, vùng này có huyện chỉ 7-8 hộ dân còn bột cám ăn, đại bộ phận toàn ăn rau dại, hành khất từng đoàn, cảnh tượng thê lương”. Đứng trước sự việc Cát Hạ ra lệnh cho ông tấn công Ngọc Thu, ông kiến nghị “ngừng tấn công, hai bên Hán - Tạng tốt nhất là hoà bình giải quyết, nếu không được, cũng nên rút hết quân đội ra khỏi biên cảnh”.

Đáng tiếc, Cát Hạ không tiếp thu ý kiến của ông.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:06:39 pm »


Mao Trạch Đông quan tâm tới động tĩnh ở Tây Tạng

Về chiến dịch Xương Đô, Mao Trạch Đông đã có sẵn ý định, ông đã từng chỉ thị “tập trung binh lực ưu thế tuyệt đối bao vây kẻ địch từ bốn phía, cố gắng tiêu diệt toàn bộ không để lọt lưới”. Ông muốn tiêu diệt toàn bộ binh lực trong tình trạng quân Tạng tâm lý chưa chuẩn bị tốt, tránh sau này lại phải đánh du kích và tiêu hao lực lượng quân Tạng rải rác khắp nơi. Ông muốn làm cho Cát Hạ mất hết khả năng đề kháng.

Ngày 31-8, Mao Trạch Đông phê chuẩn: “Mua 30 máy bay vận tải tầm cao, chi viện tiến quân Tây Tạng”.

Hồi đó, nước Cộng hoà nhân dân mới ra đời được 10 tháng, Bành Đức Hoài dẫn đầu xuất quân sang chiến trường Triều Tiên đang chiến đấu khói lửa mịt mù bên sông Áp Lục. Nhưng, Mao Trạch Đông vẫn phải cắn răng giành 30 máy bay cấp cho bộ đội tiến quân vào Tây Tạng. Còn Tây Tạng trong con mắt của Mao Trạch Đông, đâu phải là chỉ 30 máy bay vận tải tầm cao đã có thể đảm đương được cả!

Sau đó Thủ tướng Chu ân Lai lại phê chuẩn giành ra 200 xe vận tải zin-150 mua từ Liên Xô về chuyên dùng vào việc sửa chửa sân bay Cam Tư.

Ngày 7-10, trung đoàn 154 sư đoàn 52 bộ đội cánh phải chấp hành nhiệm vụ bao vây yểm trợ vu hồi vượt sông Kim Sa, ngược dòng đi lên bắt đầu trèo đèo vượt suối.

Do không khí trên cao nguyên mỏng loãng, ánh nắng chói chang phản chiếu lên băng tuyết làm lóa mờ đôi mắt của các chiến sĩ khiến cho có tới một nửa số người tạm thời không nhìn thấy gì, hai mắt sưng tấy nhức nhối khó chịu, mọi người đành nối những cuộn băng gạc lại thành từng chuỗi dây dài lần dắt nhau đi. Lội qua sông nước càng khó khăn hơn. Bao dãy núi bao suối khe chắn ngang đường tiến, dòng nước chảy xiết cuồn cuộn, những tảng băng như những mũi dao sắc nhọn xiên nát da thịt mọi người. Có những chiến sĩ chân đau chưa đỡ, lại thêm hành quân cấp tốc và khí hậu nghiệt ngã, đã hoại tử cả một bắp chân đành phải tháo khớp.

Đói khát cũng uy hiếp cực kỳ nghiêm trọng, tất cả bộ đội đều bị đói khát dày vò, trung đoàn 154 đã ăn hết số lương thực được bổ sung từ Ngọc Thụ. Tại Trùng Khánh Trung ương cho sản xuất bánh bột trứng, dinh dưỡng cao thay thế lương khô, vì nhà tư bản giảm ngày công bớt nguyên liệu nên chất lượng giảm nhiều, theo chỉ tiêu qui định mỗi ngày 12 lạng thì đủ bổ sung năng lượng một ngày, nhưng phát đến tay chiến sĩ 12 lạng chỉ đủ ăn trong một bữa. Gạo được vận chuyển từ Tứ Xuyên tới vì đường đất khó khăn, mưa gió dầm dề, sớm bị mốc, men biến chất. Thiếu đói, đường dài lại trập trùng băng tuyết, cũng không có khoai dại rau rừng, có chiến sĩ đã ăn cả ruột bông trong áo rét, cả đất bột cho đến xương trâu, sừng bò đốt cháy thành than.

Thương tâm nhất là những chiến mã, ngựa thồ hành quân theo bộ đội. Những “chiến hữu không biết nói” ấy giương mắt nhìn theo núi non vô tận ảm đạm mịt mù, có “chiến hữu” không còn đôi mắt nữa - vì băng tuyết đã chọc mù đôi mắt. Đói quá chúng đành “lấc cấc, lấc cấc” gặm nhai cả những cục băng. Đêm khuya những con ngựa đói gầy rét mướt chui đầu vào lán bộ đội, rúc mõm vào bụng chiến sĩ, tỉnh giấc, người chiến sĩ ấy đã bớt một phần ăn của mình cho ngựa, vuốt vuốt đầu những con ngựa ngã xuống dọc đường hành quân hàng trăm dặm, đã trở thành những cột mốc vô tình. Khi tới Xương Đô, chiến dịch kết thúc, hàng nghìn trâu ngựa, sống sót chẳng được là bao, những con người đói khát cồn cào ăn thịt những con vật chết đói chết rét, ngựa chết đổ xuống, người mổ ra ăn, ău cả máu cả thịt, ăn cả da, ngay xương ngựa cũng nướng thành than để ngốn vào bụng.

Trên hàng nghìn cây số hành quân cấp tốc, Trung đoàn 154 và đội kỵ binh Thanh Hải có tới 1 phần 3 hoặc nhiều hơn nữa đã xa lìa đồng đội. Ngày 16-10, đoàn quân đi trước chỉ còn lại hơn trăm kỵ binh và hơn 100 bộ binh, họ chạy với tốc độ kinh người một ngày 170 dặm đến trước kẻ địch 4 giờ để chiếm lĩnh Ân Đạt, cắt đứt đường rút của quân Tạng ở Xương Đô về hướng tây.

Tuyến phía nam 2 Trung đoàn quân Giải phóng tiến công Diêm Tỉnh, Ninh Tịnh, Bang Đạt, chặn đứng đường quân Tạng chạy về Sát Ngụng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:07:58 pm »


Quân Giải phóng đánh chiếm Xương Đô

Thời điểm này Xương Đô đang trong tình trạng hỗn loạn. Tin quân Giải phóng vượt sông lan truyền khắp thành phố: binh lính, lạt ma, nhân dân tụ tập từng đoàn ven sông Ngan Khúc. Binh sĩ vác súng chạy tán loạn, không biết trốn đi đường nào.

Ngày 12-10, từ Ninh Tịnh (huyện Mang Khang) phía nam Xương Đô đồn rằng đại bản doanh số 9 quân Tạng do Đức Cách dẫn đầu hơn 300 quân tuyên bố khởi nghĩa. Tinh thần quân Tạng hoang mang tan rã.

Đêm 16-10, Tổng quản A Bái được tin quân Giải phóng đã đến sát Xương Đô, cả một vùng hậu phương Lâyuxi xuất hiện một đội quân người Hán khi ẩn khi hiện. Tổng quản từ lâu đã không muốn chống cự, ra lệnh: sớm mai bỏ thành rút về phía tây. Ngày 17, kho súng đạn cháy nổ rung chuyển đất trời Xương Đô. Sau đó, quan chức Chính phủ Tây Tạng, binh lính cùng bầu đoàn thê tử hốt hoảng dắt díu nhau theo đường núi phía tây chạy khỏi Xương Đô. Lính tráng tranh nhau chạy trốn, vì quân Giải phóng đã tràn khắp phố phường.

Trong quá trình chiến dịch Xương Đô, quân Giải phóng chỉ gặp sự chống cự tại ba điểm ở Tiểu Ô Lạp và Cương Thác. Tại bến đò Cương Thác, tiến công vào đại bản doanh số 10 của quân Tạng là do cánh quân bên trái gồm tiểu đoàn công binh, tiểu đoàn trinh sát và pháo binh sư đoàn 52. Ngày 7-10, quân Giải phóng ở bờ đông sông Kim Sa bắt đầu vượt sang. Trong chốc lát trọng liên, pháo tầm gần đồng loạt nhả đạn vào quân Tạng bên kia sông; toàn trận địa như một biển lửa, quân Tạng nấp trong khe đá ngoan cố chống cự. Thuyền giấy dầu của quân Giải phóng chạy theo dòng thác, tiến sang bờ bên kia. Trên sông lưới lửa đan xen dầy đặc, có chiếc thuyền bị súng đạn và dòng chảy lật nhào; trong nháy mắt, thuyền và người bị nhấn chìm dưới đáy nước.

Sau hai giờ, thuyền bị sóng nước đẩy xuống cuối dòng và cập bờ bên tây, quân Giải phóng vượt lên bờ đá sỏi lởm chởm, bắt đầu tiếp cận trận địa quân Tạng trước mặt. Đồng thời, pháo binh và hoả lực xối xả nã vào đội ngũ quân Tạng sau núi. Quân Giải phóng trên thuyền và hai bên bờ thét lớn, quân Tạng bỏ trận địa rút lui, tháo chạy về hướng tây...

Với những sĩ quan binh lính quân Tạng bị thương, quân Giải phóng thu nhận và điều trị. Với bọn đầu hàng và thân nhân của họ, mỗi người được cấp 8 đồng để đi đường; cứ 3 người phát cho 1 ngựa. Sau khi lương thực được chuyển tới, quân Giải phóng còn cấp phát thêm để họ có tiền, có thức ăn và có ngựa vận chuyển trở về quê hương. Bọn nhân viên được phóng thích đều cảm ơn chính sách khoan hồng của quân Giải phóng, có tên đã cúi đầu rơi lệ, nói với cán bộ quân Giải phóng rằng: Giải phóng quân các ông là lính của Bồ Tát, là ân nhân cứu mạng, sau khi về quê hương, chúng tôi sẽ không bao giờ bán mình cho Cát Hạ nữa.

Ngày 24 chiến dịch Xương Đô thắng lợi kết thúc cuộc chiến kéo dài 18 ngày.

Qua hơn 20 trận chiến đấu lớn nhỏ, tiêu diệt toàn bộ tổng bộ quân Tạng cùng các đại bản doanh 3, 7, 8, 10 và phần lớn lực lượng của đại bản doanh 2, 4, 6; lại thêm đại bản số 9 khởi nghĩa, tổng cộng là hơn 5.700 tên chiếm 1/3 tổng số quân Tạng lúc ấy bị tiêu diệt. Trong đó còn bắt sống 18 tên quan chức văn võ ở các đại bản doanh, có cả 4 tên thuộc đặc vụ Anh-Ấn, thu 3 khẩu sơn pháo, 9 trọng liên, 48 tiểu liên, hơn 3.000 súng trường súng ngắn các loại và quân trang quân dụng khác.

Chiến dịch Xương Đô thắng lợi, đúng như Lưu Thiếu Kỳ đã nói: “Là chiến dịch Hoài Hải giải phóng Tây Tạng”. Toàn bộ Tây Tạng được giải thoát khỏi sự đề kháng về tâm lý và hành động, chỉ còn một con đường, đó là đàm phán hoà bình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:08:35 pm »


Đạt Lai lạt ma chấp chính

Chiến dịch Xương Đô, đã giáng cho quân Tạng một đòn hủy diệt. Lúc này Mỹ không cam chịu thất bại ở Trung Quốc, âm mưu lợi dụng Liên Hợp Quốc can thiệp vào việc Trung Quốc giải phóng Tây Tạng. Chúng một mặt sai khiến “Đoàn đại biểu Tây Tạng” gửi “thư kêu gọi” Liên Hợp Quốc; mặt khác lại thúc giục đại biểu Chính phủ Xanvađo tại Liên Hợp Quốc ngày 15 tháng 11 đưa ra đại hội đồng một bản đề án can thiệp vào vấn đề Tây Tạng; vu khống hành động của Trung Quốc là “nước ngoài xâm lược, yêu cầu Đại hội đồng “thành lập Uỷ ban uỷ quyền nghiên cứu thảo luận từng bước thích đáng có thể thực hiện được về việc này của Đại hội đồng”. Ngày 1-11 năm ấy. Quốc vụ khanh Mỹ Aichinxun trong cuộc họp báo tại Oasinhtơn đã công khai vu khống nhân dân Trung Quốc giải phóng Tây Tạng lãnh thổ của mình là “xâm lược”, và nói bừa “Mỹ cho rằng đây là một sự kiện bất hạnh nhất, nghiêm trọng nhất”.

Ngày 15-11, đại biểu Xanvađo tại Liên Hợp Quốc đưa ra đề án gọi là vấn đề “xâm nhập Tây Tạng” với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Laiin. Theo Thành Công Hồ “Trung ương xã” Quốc Dân Đảng đưa tin ngày 15, thì Thành Công Hồ cũng cho rằng đề án của Xanvađo là xuất phát từ Mỹ - “kẻ chủ mưu” Ngày 22-11, “nhân dân nhật báo” có bài bình: “Bài xích âm mưu của Mỹ đối với Tây Tạng”.

Cuối cùng chính nghĩa buộc kẻ ngang ngược phải lùi bước - ngày 24-11 Uỷ ban Tổng vụ Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thảo luận quyết định: kéo dài thời hạn thẩm lý đề án này.

Tình hình chiến sự Xương Đô truyền tới Lạp Tát, Cát Hạ vội vàng triệu tập đại hội quan chức trọng yếu và khám bố ba chùa lớn tham gia. Người tham dự phần lớn đều cúi đầu buồn bã, tỏ ý bất lực với quân Giải phóng. Quân Tạng thất bại hoàn toàn, đánh thì không đánh nổi, giảng hòa lại không cam tâm, cuối cùng thì đi theo cách nào? Mọi người dự họp tranh cãi om sòm mà không đề ra được một đối sách khả thi. Sắc mặt nhiếp chính Đạt Trát mỗi lúc một tái dần, cuối cùng đã phải than phiền, rồi quyết định mời Nãi Cùng, Cát Đông là hai vị thần hộ pháp chỉ lối đưa đường.

Ở dưới chùa Triết Bạng phía tây Lạp Tát, có một ngôi chùa Nãi Cùng chuyên cung cấp thần hộ pháp. Đó là “đảo nhỏ diệu ngôn vĩnh hằng bất biến”, phụng thờ “Bộiagiáp bổ” thần hộ pháp chủ yếu của Tây Tạng. Còn Nãi Cùng Khúc quân tức là sứ giả của thần hộ pháp dự báo tương lai. Khúc quân ở chùa Cát Đông cũng là sứ giả như vậy. Hàng nghìn năm nay, Tây Tạng mỗi lần có quyết sách trọng đại, đều phải nhờ những thần vu dự đoán tương lai ấy chỉ giáo. Lần này tất nhiên càng cần họ dạy bảo.

Trong không khí trang nghiêm thần bí, Khúc quân của hai chùa Nãi Cùng và Cát Đông được mới tới phật điện. Nãi Cùng Khúc quân mặc quần gấm hồng, trong ngoài 8 bộ y bào nặng dư trăm cân, chân đi giày da đen mũi cong, trước ngực đeo một tấm gương hộ dân bằng vàng xung quanh trang trí đá xanh. Một vòng tròn làm nổi bật khối thủy tinh màu tím, giữa khối thủy tinh tím là một viên bạc long lanh, trên có khắc chữ khẩn cầu thần bí.

Nghi lễ bắt đầu.

Khúc quân Nãi Cùng nhảy nhót một hồi, chỉ phán chung chung vài câu: phải thành tâm lễ bái, chăm chỉ đọc kinh, mới có thể bảo vệ dân an.

“Thưa, bước sau nên hoà hay nên chiến ạ? Nên để ai nắm giữ đại quyền chính giáo toàn Tây Tạng?” Các quan chức ngồi chầu trong phật điện Đạt Lai khẩn thiết hỏi vậy.

“Vẫn phải chăm chỉ đọc kinh, thành tâm lễ bái”. Khúc quân Nãi Cùng vẫn hàm hồ nói vậy.

“Thưa Nãi Cùng tôn kính, vì đại nghiệp chính giáo Tây Tạng, xin ngài cho biết là chiến hay là hòa? Ai ra chấp chính đại quyền?” Các quan lớn đều nhớn nhác nhìn mặt Khúc quân Nãi Cùng. Khúc quân Nãi Cùng trán vã mồ hôi, lẩn tránh ánh mắt chằm chằm của mọi người, cuối cùng thừa nhận “hết thiêng rồi”. Xem ra, chỉ còn thỉnh giáo Cát Đông thần.

Cát Đông thần uốn éo hồi lâu, nhân mọi người không chú ý định chuồn, bí thư trưởng Quần Bồi Thổ Đăng bước lên ngăn lại. Quần Bồi Thổ Đăng cảm động nói: “Lần này xin ngài chỉ giáo cho, công việc đại sự liên quan tới tồn vong của chính giáo Tây Tạng và sinh mệnh của chúng sinh, chúng con người trần mắt thịt khó quyết định được, thánh thần nhìn xa thấy rộng xin chỉ giáo cho, từ nay về sau nên làm thế nào mới được”. Khúc quân Cát Đông quay ngoắt người nhảy thót lên, rút kiếm bên hông đâm trái chém phải, Cát Luân vây quanh sợ hãi chạy dạt sang một bên, bỗng “Thần” lại nhảy tiếp cát bụi mù mịt. Cuối cùng, đột nhiên thần quì xuống trước mặt Đạt Lai Lạt ma, khóc thút thít nói: “Đạt Lai Lạt ma là trí tuệ là báu vật của toàn thể nhân dân Tây Tạng, chỉ cần người đích thân ra chấp chính, thì có thể mang lại nguồn hạnh phúc cho chúng sinh Tây Tạng”. Nhiếp chính Đạt Trát ngồi bên nghe vậy: mặt mày tái nhợt, tinh thần hoảng hốt.

Ngày 8-10-1950 (lịch Tây Tạng) Đạt Lai Lạt ma làm lễ chấp chính. Vị Đạt Lai Lạt ma 17 tuổi ấy gánh vác trọng trách quản lý công việc chính giáo toàn Tây Tạng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:10:34 pm »


PHẦN 5
KÝ KẾT HIỆP NGHỊ HOÀ BÌNH GIẢI PHÓNG TÂY TẠNG


Tín sử A Bái vội đi Lạp Tát

Sau một trận đại chiến, dòng sông Kim Sa lại phẳng lặng như thường, dưới trời thu xanh thẳm, giống như một sợi dây trong suốt.

Giờ phút này, A Bái đang ở trong cơ quan chỉ huy của quân Giải phóng tại Xương Đô, trước mắt ông có cái gì mờ ảo mênh mông. Ông sống một mình không có lính gác và người phục vụ ở tầng dưới một nhà lầu kiểu Tạng, không hề mặc quan phục nhung lụa, mà toàn thân là trang phục bằng lông thú màu đen kiểu Tây Tạng.

Trong con mắt ông, kết cục như hôm nay, kỳ thực ngay từ khi gánh vác nhiệm vụ cũng đã dự cảm thấy rồi. Nếu không như vậy thì tại sao ngay từ đầu ba vị Cát Luân đương nhiệm tại Lạp Tát dù sống chết cũng không chịu đi. Nhưng khi dự cảm đã thật sự trở thành hiện thực rồi, ông vẫn còn cảm thấy rùng mình, đau khổ, hoảng hốt, miên man. Nghĩ tới vận mệnh Tây Tạng đầy băng giá dữ lành chưa rõ, lòng ông thấy nhức nhối bồn chồn.

Thành phố Xương Đô sau cuộc chiến lại trở về tĩnh lặng. Đặc biệt là đêm khuya và sáng tinh mơ. Hơn một năm nay, thành phố nổi tiếng vùng Đông Tạng này đã chịu nhiều cảnh cùng quẫn huyên náo, suốt ngày đến đêm chấn động vang trời, bây giờ đây, tất cả đều tĩnh mịch. Sau những trận pháo kích kinh thiên, mọi âm hưởng hỗn tạp đều lùi về yên tĩnh.

Sáng hôm thấy ông đi tới, Bình Thố Vượng Giới chàng trai Khang Ba 28 tuổi ấy tới đây sau khi Xương Đô giải phóng 13 ngày đã vui vẻ đón tiếp. Trước đây một năm trong cuộc xua đuổi người Hán, Cát Hạ xem anh là tội danh cũng bị trục xuất; con người ấy hôm nay đã trở thành đại quan của Cộng sản rồi, anh ta còn có thể găm một mũi tên báo thù để phục thù nữa chăng? Không thể không cảnh giác.

Anh chàng Bình Thố Vượng Giới lúc này là Uỷ viên Uỷ ban quân chính Tây nam, Bộ trưởng dân vận quân đoàn 18, phó Bí thư công ủy Xương Đô; so với bước đường năm trước bị áp giải rời khởi Tây Tạng thật là một trời một vực. Người Khang Ba hung tợn hiếu chiến, ưa thích phục thù. Để phục thù, không quản gì đời con đời cháu. Bình Thố Vượng Giới nếu muốn phục thù đối với A Bái một nhân vật chính yếu của Cát Hạ thật chẳng khó khăn gì. Nhưng lần này, con người Khang Ba Bình Thố Vượng Giới thái độ khiêm nhường, anh mời Cát Luân A Bái từ phòng nhỏ tầng dưới đến ở lầu hai của nhà tầng đối diện.

Trên tầng cao rộng sạch sẽ, cửa sổ sáng thoáng mát. Nhìn rõ gần xa non xanh nước biếc, khiến tâm hồn rộng mở thênh thang.

Chẳng bao lâu, quan phục nhung lụa trước đây A Bái vẫn mặc lại được mang tới. Gần 40 võ quan các cấp đầu thú trong chiến dịch Xương Đô đều đã mặc những bộ quan phục của họ.

Vương Kỳ Mai Phó Chính uỷ quân đoàn 18 và các tướng lĩnh khác của Giải phóng quân cũng thường tới thăm hỏi A Bái. Có một lần Vương Kỳ Mai trò chuyện với A Bái khá lâu, nói tới trận đụng độ hai bên lần ấy, súng đạn tàn khốc, đôi bên đều thương vong rất nhiều, bao nhiêu anh em Hán, Tạng đã ngã xuống chiến trường. chuyện trò mãi, Vương Kỳ Mai không cầm nổi nước mắt, giọng nói lạc đi. A Bái hiểu rõ hơn hoàn cảnh hiện nay của họ.

Đối chiếu với những luận điệu hoang đường về quân Giải phóng của Cộng sản đã gieo rắc khắp vùng Tây Tạng như một đại dịch, A Bái càng cảm kích, làn khói hoài nghi đã tan dần đi trong tâm trí của mình.

Trên tầng gác của A Bái suốt đêm điện sáng. Người lãnh đạo cộng sản ngồi với A Bái trò chuyện tới tận khuya.

Không còn nhớ được đã bao nhiêu đêm, trên tầng lầu ấy ánh điện vẫn sáng như vậy. Những người lính gác chỉ nhớ được rằng, vào quãng nửa đêm, người cấp dưỡng vẫn còn bưng lên gác khay trà sữa và bữa ăn khuya.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:11:05 pm »


Hàng ngày ánh nắng ban mai soi những tia ấm áp dễ chịu vào trong phòng của tầng cao ấy. Khi thế lực chóp bu thân đế quốc ở Lạp Tát xúi giục Đạt Lai chạy ra nước ngoài, tình hình hỗn độn; A Bái cử các Tùy viên Kim Trung, Kiên Tán Bình Thố và Cát Chuẩn Lang Lâm từ Xương Đô đêm khuya cấp tốc đưa thư tới Lạp Tát. Họ tranh thủ thời gian ngày đêm lặn lội. Khi ngựa đã kiệt sức sợ không bảo đảm thời gian tới trạm, họ phải vác yên ngựa, chạy bộ đường dài. Hơn 2000 dặm họ chỉ đi trong 16 ngày đêm là tới nơi.

Kim Trung và Tang Lâm đã chuyển thư của A Bái Tổng quản Xương Đô đệ trình Cát Luân tới Đạt Lai Lạt ma và Cát Hạ. Các Cát Luân vội vàng hỏi thăm tình hình Xương Đô, đường lối của Giải phóng quân và số lượng binh lính. Khi hai vị sứ giả báo là quân Giải phóng cách Xương Đô còn 3 ngày đường nữa ba vị Cát Luân đứng đầu tỏ ra kinh ngạc: “A chà chà. A chà chà.” và than rằng “Kẻ thù cứng rắn như gang thép, còn chúng ta thì mềm nát như tương”. Cát Luân Sách Khang hỏi han về tình hình gần đây của toàn thể quan quân ở Sở Tổng quản Xương Đô, rồi nói tiếp: “A Bái vất vả quá, chúng tôi không bao giờ trách móc ông ta. Quân đội chúng ta rất tồi tệ, sự thực không thể ra trận được. Giờ đây đành phải kiên trì chờ đợi, tình hình thế giới vẫn còn thay đổi”.

Khi Xương Đô thất thủ Kim Trung và Tang Lâm chuyển tới Lạp Tát bức thư của A Bái A Vượng Tấn Mỹ và 40 quan chức khác cho Đạt Lai Lạt ma. Đây là một văn kiện rất quan trọng. Nó bẩm báo quá trình thất bại của cuộc chiến Xương Đô và mọi sự đãi ngộ tốt đẹp mà tất cả quan chức binh lính sau khi đầu thú được hưởng. Đoạn cuối như sau:

Tại hạ cùng 40 quan chức văn võ của Chính phủ, đứng đầu là Cát Luân A Bái Tổng quản Xương Đô, 3 vị kham bố lớn nhỏ tại chức và các đại bản số 3, 8, 9,10 xin cúi đầu khấu bái, tam môn kiền thành bẩm báo:

…

Trước mắt là thời cơ để tiến hành hoà đàm Hán-Tạng. Cách làm cơ bản mà Chính phủ Cộng sản qui định là đoàn kết 5 dân tộc; các dân tộc lớn nhỏ tự lập Chính phủ tự trị, các nhân viên công tác được xác định theo số lượng nhiều ít của dân tộc và đa dạng dân tộc; dân tộc lớn tuyệt đối không được áp bức dân tộc nhỏ, đặc biệt là phải thực hiện chính sách đặc thù đối với Tây Tạng, trước hết là đại cứu chủ đoàn tri Phật vương Đạt Lai từ nay về sau vẫn chủ trì chính giáo. Cứu chủ nhiếp chính Phật sống và các quan chức tăng tục nhận chức như thường lệ; bảo vệ tôn giáo, chùa chiền và kinh đường; chế độ chính trị và quân sự hiện hành ở Tây Tạng đều không thay đổi; quân đội cải biên vào vũ trang Quốc phòng; giúp đỡ nhân dân Tây Tạng phát triển văn hóa giáo dục và nông mục, công thương nghiệp. Từ nay về sau, tất cả mọi chính sách biện pháp nhằm phát triển chính trị mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân khi cần cải cách đều phải hiệp thương với nhân dân và những người lãnh đạo chủ yếu, được quyết định theo nguyên tắc mọi người đều đồng ý; tôn trọng tôn giáo tín ngưỡng và phong tục tập quán địa phương, tất cả mọi quan hệ với hai nước Anh-Mỹ và Quốc Dân Đảng trước đây đều không bị truy cứu... Trước mắt nếu cuộc hòa đàm Hán-Tạng được tiến hành sớm, trong các điều khoản mà Chính phủ Hán nêu ra có điểm nào không thích hợp với tình hình Tây Tạng thì có thể nói rõ tường tận mọi khía cạnh lợi hại của nó, phía Chính phủ Cộng sản tuyệt nhiên không bảo lưu những biện pháp uy hiếp vũ lực, cưỡng bức kiềm chế, không được trình bày lợi hại, tất cả có thể bình tĩnh ôn hòa thương lượng quyết định. Tôi suy nghĩ kỹ càng xem xét cẩn thận, hoàn toàn không có cách nghĩ cách làm cưỡng bức, mệnh lệnh. Sự việc này bao gồm cả Chính phủ Cộng sản và 40 quan chức tăng tục văn võ tại hạ bảo đảm ...”

40 quan chức văn võ đứng đầu là Cát luân A Bái A Vượng Tấn Mỹ có thể nói đều là trọng thần tướng giỏi. Cuộc chiến Xương Đô, tất cả đều đã quy thuận theo quân Giải phóng và được xếp đặt thỏa đáng. Bản thân A Bái càng được coi như là thượng khách. Việc này khiến Cát Hạ hoàn toàn dao động. Suốt mấy ngày qua đầu đường cuối phố Lạp Tát đều bàn tán xôn xao sự kiện ấy. Xem ra những Giải phóng quân người Hán này, khác với quân đội Lưu Văn Huy Chủ tịch tỉnh Tây Khang của Quốc Dân Đảng, cũng không giống những binh lính của Triệu Nhĩ Phong Tổng đốc Thanh Xuyên Biên trước đây, càng khác với bọn lính Tây của Vinh Hách Bằng Anh quốc... Rốt cuộc họ là những con người như thế nào? Trong nội dung bức thư của A Bái có thật đáng tin cậy không?

Kim Trung và Tang Lâm là hai sứ giả truyền tin tại Lạp Tát. Nhưng vì đường xa vất vả gian khổ khôn lường, họ chỉ muốn được nghỉ ngơi.

Không ngờ, vài hôm sau, vào một buổi sáng sớm, hai vị sứ giả vừa tỉnh giấc, bỗng nhận được một tin kinh hãi: “Viên ngọc như ý” Đạt Lai Lạt ma đã ăn mặc thường phục cười ngựa ra đi ngay trong đêm tối, chạy đi Đông Á rồi! Theo Tạng lịch đó là ngày 11-11-1950.

Đạt Lai Lạt ma sẽ từ Á Đông chạy sang Ấn Độ!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:12:36 pm »


Đạt Lai Lạt ma dừng chân tại Á Đông

Nguyên do là bức thư của A Bái và 40 quan chức làm những nhân vật cỡ lớn của Cát Hạ bán tín bán nghi, có người vừa tức vừa sợ. Họ cảm thấy rằng, nếu tiếp tục chiến đấu với quân Giải phóng, thì không có lực lượng: cử đại biểu hoà đàm chăng, lại chưa thật cam chịu. Thế là đặt quẻ bói toán ngay trước cửa thần, hỏi xem Đạt Lai Lạt ma nên ở lại Lạp Tát hay là đi sang Ấn Độ. Kết quả là rút được quả “ra đi”. Do đó, bèn bí mật vạch kế hoạch xuất ngoại.

Cát Hạ báo tin cho Hạ Cách Ba quan thẩm kế đang ở Ấn Độ biết là Xương Đô đã thất thủ, đề nghị Đạt Lai ra nước ngoài, cho được trú tại đất tích. Sau vài ngày, Hạ Cánh Ba điện về. Về việc Đạt Lai ra đi, các nước Anh Mỹ nhận lời hỗ trợ, Ấn Độ sẽ đem quân tiếp ứng.

Sáng sớm ngày 11-11 lịch Tây Tạng. Đạt Lai Lạt ma tạm thời ra lệnh Đại kham bố La Tang Trát Hỉ và Tư bổn Lễ Khang Oa làm Tư tài, thay thế chức vụ nhiếp chính, còn bản thân mặc thường phục rời khỏi cung Bố Đạt Lạp.

Đạt Lai cưỡi một con ngựa tốt màu tro, dẫn theo 40 quan chức quí tộc và 200 lính Tạng, theo đường Hà Cốc Lạp Tát, đến Giang Thôn thuộc Khúc Thủy Tông thì vượt qua sông Nhã Lỗ Tạng Bố. Không ngờ sau khi qua Giang Tư tới Á Đông thì tình hình thế giới có thay đổi. Chính phủ Ấn Độ sợ áp lực quốc tế và cảnh cáo của Chính phủ Trung Quốc đã nuốt lời hứa; các nước Anh Mỹ lại sợ Đạt Lai sau khi xuất ngoại sẽ mất địa vị hiện có, Ban Thiền nắm giữ đại quyền Tây Tạng. Cho nên, khi Cát Hạ thỉnh cầu Chính phủ Ấn Độ đón tiếp Đạt Lai, Chính phủ Ấn đã trả lời như sau: Theo Công pháp quốc tế, Đạt Lai yêu cầu được an toàn tính mạng, Ấn Độ cho phép tị nạn, nhưng chỉ có thể được đối xử như nạn dân. Điện trả lời của Ấn Độ được chuyển đến tận tay quan chức Cát Hạ, tất cả đều xôn xao. Là nạn dân có nghĩa là sự nhục nhã nhưng trở về lại mất thời cơ, chuyến đi của Đạt Lai do đó đã rơi vào cảnh ngộ tiến thoái lưỡng nan.

Đúng vào ngày Đạt Lai Lạt ma rời khỏi Lạp Tát, thì quân Giải phóng phát động truy kích Phổ Long Ba của đại bản số 7, lọt lưới trong chiến dịch Loại Ô. Phổ Long Ba sau khi chạy đến Lạc Long Tông dùng một bộ phận binh lực khống chế cầu Gia Dụ trên sông Nộ Giang, đồng thời thu thập hơn 200 quân Tạng bơi lội tan tác kêu gọi phải “phản công”. Để diệt trừ hậu họa, củng cố trận địa tiến lên, sư trưởng sư đoàn 52 hạ lệnh cho trung đoàn 154 tiêu diệt bọn địch này. Trung đoàn trưởng Khước Tấn Vũ dẫn một đại đội tăng cường, bôn tập 200 dặm, đến 18 giờ chiều ngày 11 đột nhiên xuất hiện ngay tại đầu cầu Gia Dụ, giành được cầu Gia Dụ đã bị phá hoại, vượt qua Nội Giang. Với sự hỗ trợ của đại diện tôn bản và nông mục địa phương, họ lại hành quân tiếp 180 dặm, sớm tinh mơ ngày 12 đã bao vây quân Tạng ở Lạc Long. Phổ Long Ba ở đại bản số 7 từ trong mơ vừa tỉnh lại thì bị bắt.

Tết Nguyên đán năm 1951, uỷ ban giải phóng nhân dân Xương Đô được thành lập, quản lý 28 huyện (tông) của 2 phòng biện sự miền đông Tây Tạng, Chủ nhiệm là Vương Kỳ Mai, phó Chủ nhiệm và các Uỷ viên có A Bái A Vượng Tấn Mỹ, Bình Thố Vượng Giới, Phật sống Bạc Ba Lạp, Đức Cách Nữ sĩ tư giang vương bạch mẫu v.v... Đồng thời còn thành lập Uỷ ban công tác của nhân dân khu vực Xương Đô tranh thủ hòa bình Giải phóng Tây Tạng, Chủ nhiệm là A Bái A Vượng Tấn Mỹ. Bởi vì Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định chiến lược hoà bình giải phóng Tây Tạng, quân giải phóng đang chờ lệnh tại phụ cận Xương Đô, đợi sự lựa chọn của phía Đạt Lai.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:13:12 pm »


Chu Ân Lai với Hạ Cách Ba

Từ đỉnh bên kia của nóc nhà thế giới cách xa với thành phố Xương Đô, tại Trát Ma Mang Bảo của cao nguyên A Lý, đại đội tiên phong của kỵ binh Tân Cương đã đi làm công tác quần chúng qua hơn một tháng. Họ phân phát chân dung Mao Trạch Đông và truyền đơn chữ Tạng, giúp đỡ nhân dân chăn nuôi, kiếm củi, gánh nước, chữa bệnh, thu nhặt phân trâu bò. Lúc này việc cung ứng cho đại đội tiên phong cực kỳ khó khăn, họ vẫn phải tiết kiệm quần áo lương thực, đem vải vóc, quần áo, lương ăn, đường sữa, chè thuốc đi cứu tế mục dân nghèo khổ. Dân Tạng đến với họ ngày càng đông hơn. Công tác quần chúng và đàm phán hoà bình của đại đội tiên phong đạt được thành công. Từ trong tập văn kiện lịch sử của Trung Quốc, có được bức điện gửi cho Mao Trạch Đông của Tài Đán Bằng Kiệt và Trát Tây Tài Nhượng đại biểu của khu vực Na Nhật Quá Lực Tùng Mộc ở A Lý:

“Kính gửi Mao Trạch Đông Chính phủ nhân dânTrung ương.

Kính thưa: Tướng quân Chính phủ nhân dân Trung ương Lý Địch Tam, người đã tới vùng Na Nhật Quá Lực Tùng Mộc, kết bạn với chúng tôi và tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ nhân dân Trung ương. Do vậy mà không dẫn đến chiến tranh, thực hiện hoà bình tốt đẹp. Lần này hai bang bảo chúng tôi đề nghị Phật sống Đạt Lai để Chính phủ Tây Tạng hiệp thương hoà bình với Chính phủ nhân dân Trung ương, nghe theo mệnh lệnh của Chính phủ nhân dân Trung ương... .

Đáng tiếc là, trong những nhân vật cao cấp của Tây Tạng không phải đều như hai bang bảo ở A Lý thành thật muốn “làm dân trăm họ Chính phủ nhân dân Trung ương”, có một số người vẫn còn cố tình giương ngọn cờ “nước độc lập với Chính phủ nhân dân Trung ương”.

Ngay từ tháng 4-1950, có một bức điện từ Cancútta Ấn Độ gửi tới “Ngài Mao Trạch Đông”, yêu cầu Chính phủ nhân dân Trung ương cử đại biểu “đi Hương Cảng thương thuyết”' một trong những người ký tên, đó là “Tư bổn Hạ Cách Ba”, sau hơn 20 năm con người ấy dùng cuốn “Lịch sử chính trị Tây Tạng” cổ động “Tây Tạng độc lập”, được một số người hưởng ứng. Sau 1 tháng 8 ngày, Tổng thư ký Chính phủ nhân dân Trung ương Lâm Bá Cừ đánh điện trả lời: “Đoàn đại biểu của các ngài là của Chính phủ địa phương Tây Tạng cử tới Chính phủ nhân dân Trung ương để thương thuyết về công việc địa phương Tây Tạng, không thể gọi là đoàn đại biểu ngoại giao của Tây Tạng cử đi Trung Quốc, địa điểm đàm phán phải là Bắc Kinh, không thể là Hương Cảng”.

Ông Hạ Cánh Ba cùng bè phái của ông sau khi nhận được điện thì im lặng, lại thêm những người bạn mắt xanh ngăn cản, dần dà không thực hiện được.

Ngày 2-8-1950, Thủ tướng Quốc vụ viện Chu Ân Lai điện cho Thân Kiện đại biện Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ chỉ thị phải kiên trì “phương châm của Chính phủ Trung ương đối với đoàn đại biểu Tây Tạng: Tây Tạng là 1 phần lãnh thổ của Trung Quốc, ta không thể thừa nhận đoàn đại biểu này là đại biểu Ngoại giao của Tây Tạng”. “Từ Ấn Độ qua Hương Cảng đi Bắc Kinh rất khó khăn, đề nghị cân nhắc nên chuyển về Tây Tạng đi qua tuyến đường trong nước như Thanh Hải, Tây Khang, Vân Nam tới Bắc Kinh”.

Ngày 19-8-1950, Thủ tướng Chu Ân Lai lại gửi điện tới Thân Kiện đại biện Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ, truyền đạt tin tức quan trọng:

“... Chính phủ Ấn Độ thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng, và thông qua Đại sứ Ấn Độ tại Bắc Kinh biểu thị rõ Chính phủ Ấn Độ xưa nay chưa bao giờ có và cũng không có bất cứ dã tâm nào về chính trị hoặc lãnh thổ đối với Tây Tạng, đồng thời còn nói các nước khác cũng không được can thiệp vào Tây Tạng... Chính phủ Ấn Độ bày tỏ với Đại sứ quán Trung Quốc là họ rất muốn đoàn đại biểu Tây Tạng sớm tới Bắc Kinh, và nghe nói Chính phủ Anh đã huỷ bỏ quyết định không cấp chứng thực. Như vậy, đoàn đại biểu Tây Tạng có thể lên đường sớm hơn... với thái độ hết sức quan tâm và hữu hảo, các đồng chí giúp đỡ họ sớm thực hiện được chuyến đi, đồng thời đón tiếp trọng thể.

Bức điện của Chu Ân Lai như một tia điện sáng rạch ngang bầu trời Tây Tạng mây mù, nếu như Hạ Cách Ba ra đi thuận lợi, cùng đàm phán với đại biểu Chính phủ nhân dân Trung ương tại Bắc Kinh, mặc dầu không thể thành công mỹ mãn như 5 đại biểu A Bái sau này; nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến tiến trình lịch sử tương lai.

Nhưng, trong khi đoàn đại biểu Hạ Cách Ba dự định ngày 5-6 từ Cancútta đáp máy bay qua Hương Cảng tới Bắc Kinh đàm phán, thì người bạn nước Anh của họ đã tạm thời hủy bỏ thị thực, làm cho đoàn không thực hiện được chuyến đi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 11:14:24 pm »


Đạt Lai thụ quyền cho đoàn đại biểu 5 người

Đạt Lai Lạt ma đang trú ngụ tại “Chùa Đông Cát” Á Đông trên biên giới Ấn Độ, suốt ngày sống vất vưởng trong cảnh cùng quẫn tiến thoái lưỡng nan.

Ngày 11-1-1951, Cát Hạt tại Á Đông triệu tập hội nghị quan chức. Đó là một hội nghị quan trọng của Chính phủ địa phương Tây Tạng. Trong một thị trấn nhỏ bé trên biên giới Himalaia, họ cân đi nhắc lại những sự thiệt hơn, gửi tới Đạt Lai Lạt ma một bản công văn, trong đó dẫn dụng câu nói của nhà ngoại giao Ấn Độ tại Niuđêli thủ đô Ấn Độ khi hội kiến đại biểu Tây Tạng: xem ra Chính phủ Tây Tạng thông qua đàm phán hoà bình là thượng sách...

Những người “bạn Tây” của Cát Hạ Tây Tạng này hình như đều cùng có hai lời khuyên Cát Hạ, lại không hẹn mà cùng ra tay đẩy họ tới bàn đàm phán. Nhìn lại hơn một năm về trước, những người “bạn Tây” ấy đã ra sức cổ động Cát Hạ, xua đuổi người Hán; và không tiếc sức ủng hộ Cát Hạ ngoan cố chống cự tại sông Kim Sa; giờ đây Cát Hạ không thể không cảm thấy sự mất mát và cô độc.

Ngày 18-1-1951 phái viên của Đạt Lai Lạt ma gửi tới Viên Trịnh Hiền Đại sứ Trung Quốc tại Niuđêli quà tặng và một bức thư. Trong thư nói:

“Trước đây, trong thời gian còn nhỏ tôi chưa nắm quyền hành, quan hệ hữu hảo giữa Hán và Tạng luôn bị rạn nứt, thật đáng tiếc... Gần đây đã thông báo cho A Bái cùng tùy viên khẩn trương lên đường đi bắc Kinh. Song đường sá xa xôi, không dễ dàng đến kịp, để tranh thủ thời gian chúng tôi lại cử thêm người hỗ trợ A Bái qua Ấn Độ về Bắc kinh. Hiện giờ cử đi 2 sứ giả tin cậy là Trát Tát Sách Khang Tô Ba và Kham Trọng Khúc Phối Thổ Đẳng mang theo báo cáo tỉ mỉ của đoàn thể Cát Luân, hội đồng Tây Tạng cùng nhân dân, trình báo tới ngài, xin chuyển tới Mao Chủ tịch kính yêu những nguyện vọng tốt đẹp chân thành muốn tăng cường quan hệ hữu hảo Tạng-Hán.

Mong sớm được phúc đáp, để tôi yên lòng.

Xin gửi tặng 1 tấm khăn màu, 1 thảm đệm cao cấp”.

Đồng thời, đại hội quan chức Tây Tạng cũng gửi thư cho Đại sứ Viên Trọng Hiền nội dung tương tự như trên.

Vì lần này thái độ của Đạt Lai Lạt ma và hội nghị quan chức Tây Tạng rất thành khẩn, hành động cũng tích cực nên sớm nhận được hồi âm mãn nguyện. Chỉ có 13 ngày, Khúc Phối Thổ Đẳng và Trát Tát Sách Khang đi Niuđêli đã mang về thư trả lời của Đại sứ Viên Trọng Hiền gửi Đạt Lai Lạt ma và đại hội quan chức Tây Tạng.

Trong thư của Đại sứ Viên bày tỏ “yên tâm vui mừng” khi nhận được thư và tặng phẩm của Đạt Lai Lạt ma và nói là “Mao Chủ tịch cho tôi được thay mặt người chúc mừng Đạt Lai chấp chính”, “Trung ương đồng ý và hoan nghênh việc cử thêm đại biểu qua Ấn Độ đáp máy bay tới Hương Cảng đến Quảng Châu rồi về Bắc Kinh. Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ sẽ tạo mọi thuận lợi và giúp đỡ chuyến đi này”.

Bầu trời Himalaia “nhiều mây mát mẻ”. Gió xuân ấm áp bắt đầu thổi nhè nhẹ qua cao nguyên băng tuyết. Tại chùa Đông Cát Á Đông Đạt Lai Lạt ma gieo quẻ khấn cầu phật tổ, cuối cùng được phép cử một đoàn đại biểu 5 người đi Bắc Kinh tiến hành đàm phán. Đạt Lai Lạt ma phê chuẩn Cát Hạ cử A Bái A Vượng Tấn Mỹ dẫn đầu đoàn đại biểu, cử Kham Cùng (quan tứ phẩm) Thổ Đăng Liệt Môn, Đại Bổn Tang Pha Đăng Tăng Đốn Châu làm đại biểu: ba người đi đường nội địa về Bắc Kinh; cử Tổng tư lệnh quân Tạng tại Á Đông Khải Mặc Sách An Vượng Đôi và tăng quan bí thư trưởng Thổ Đan Đán Đạt làm đại biểu, từ Ấn Độ, ghi rõ họ tên chức vị 5 người trong đoàn đại biểu toàn quyền đàm phán của Tây Tạng. Trong đó có nội dung thừa nhận Tây Tạng là lãnh thổ của của Trung Quốc, có thể đáp ứng hàng năm biếu tặng Chính phủ Trung ương, ngoài ra không phải làm bất kỳ hình thức đáp ứng nào. Người đại diện ký kết của đoàn là Cát Luân Chính phủ địa phương Tây Tạng - Tổng quản quân chính Xương Đô- A Bái A Vượng Tấn Mỹ.

Ngày 29-3-1951, A Vượng Tấn Mỹ dẫn đầu đoàn đại biểu lên đường đi Bắc Kinh. Hàng nghìn binh lính và nhân dân Xương Đô ra đường hoan tiễn.

A Bái cổ quàng khăn trắng. Từ trên lưng ngựa, ông lưu luyến nhìn theo đồng bào ra tiễn, ung dung yên ngựa thong thả ra đi. Người đại biểu toàn quyền đứng đầu 42 tuổi ấy đôi khoé mắt rướm lệ long lanh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM