Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:45:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngọn lửa chiến tranh lạnh - Tập 3  (Đọc 87954 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #90 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 09:47:39 pm »


Ngày Tết của người Tạng tại kinh đô

Sau Hội nghị Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc và hội nghị Chính trị Hiệp thương, Đạt Lai, Ban Thiền đi tham quan nhiều nơi trong toàn quốc, cuối tháng 2 năm sau thì trở lại Bắc Kinh đúng vào Tết Mộc dương lịch Tạng.

Nhưng, chính quyền phản động Tây Tạng đã mê muội vì tiền, lạc đường quên lối. Pháp danh tĩnh lặng trên một vùng băng tuyết, các Lạt ma niệm đọc thần chú thoá mạ Giải phóng quân; nam giới từ 16 tuổi đến 60 tuổi lần lượt bị gọi nhập ngũ, quân Tạng nhanh chóng bành trướng lên gấp bội, lính các binh chủng và xe cộ ùn ùn chuyển về miền đông Tây Tạng. Phuter báo vụ viên của Anh không ngừng phát sóng bí mật lên không trung ngay tại doanh trại quân Tạng ở vùng này...

Ngày 23-2-1955, trong ngày cuối cùng năm lịch Tạng, buổi chiều và buổi tối, Mao Trạch Đông hội kiến Đạt Lai và Ban Thiền ngay tại vườn Phong Trạch nơi ở của người. Đạt Lai và Ban Thiền báo cáo với Mao Trạch Đông về những thu hoạch tâm đắc của mình trong quá trình tham quan thị sát nhiều nơi nội địa của Tổ quốc. Hai vị đều nói: mới giải phóng vài năm mà Tổ quốc phát triển khá nhanh. Chúng tôi thấy rất phấn khởi.

Mao Trạch Đông nói: “Trên đất nước chúng ta nhiều nơi còn rất lạc hậu, Tây Tạng cũng lạc hậu; ta phải thừa nhận. Chúng ta thừa nhận là tốt, chúng ta học tập các nước tiên tiến, học tập Liên Xô. Như vậy, chúng ta học tập các quốc gia các dân tộc tiên tiến, chúng ta học tập lẫn nhau giữa các dân tộc trong nước, đoàn kết thân mật, cùng nhau xây dựng, thì các dân tộc chúng ta đều có triển vọng, toàn quốc đều có triển vọng”.

Ngày 24-2 là ngày 1-1 lịch Tạng, Đạt Lai và Ban Thiền báo lên Chu Ân Lai là họ muốn vui tết đón xuân long trọng ngay tại Bắc Kinh, xin mời Chủ tịch Mao Trạch Đông, các vị lãnh đạo Trung ương và các nhân sĩ hữu quan cùng đón mừng năm mới. Chu Ân Lai vui vẻ nói: “Chúng tôi nghĩ rằng đã cùng đi với nhau rồi, Trung ương cũng đang chờ đợi sau khi các ngài về sẽ bàn chuyện đón Tết. Trung ương Đảng, Quốc vụ viện xin gửi tới hai vị, và qua hai vị gủi tới toàn thể đồng bào dân tộc Tạng lời chúc mừng năm mới”.

Chiều ngày 24, Đạt Lai, Ban Thiền tới Trung Nam Hải rất sớm, chờ đón khách tại cửa phòng nghỉ. Hai vị Phật sống mặc áo dài vải đoạn màu vàng, nét mặt rạng rỡ vui vẻ tươi cười hớn hở. Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai đều đến sớm hơn thời gian dự định, trao đổi chuyện trò với Đạt Lai, Ban Thiền tại phòng nghỉ. Đạt Lai, Ban Thiền chờ đợi khá lâu, không thấy Tổng tư lệnh Chu Đức tới. Hai vị mong muốn Tổng tư lệnh Chu Đức tới cùng đón năm mới. Đạt Lai trò chuyện cùng với Mao Trạch Đông, nhưng ánh mắt luôn liếc nhìn ra phía cửa. Chu Ân Lai hiểu ý, khiêm tốn nói: “Tổng tư lệnh Chu Đức trước đây hai hôm đã đi thị sát rồi, không thể cùng các vị vui tết được, Tổng tư lệnh nhờ tôi chuyển tới các vị lời thông cảm và chúc mừng năm mới”.

Hôm ấy, trên hàng nghề sa lông, Mao Trạch Đông ngồi giữa, Đạt Lai, Ban Thiền, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai ngồi hai bên, trên bàn trà bày nhiều thứ bánh trái, hoa quả, các hiện vật tốt lành, sắp đặt hoàn toàn theo tập quán truyền thống dân tộc Tạng. Mao Trạch Đông nói với Đạt Lai, Ban Thiền: “Lát nữa, tôi sẽ nói vài lời chúc mừng ngày tết, được không?” Đạt Lai, Ban Thiền đồng thanh: “Hoan nghênh! Hoan nghênh! Mao Chủ tịch có dạy bảo gì, chúng tôi rất sẵn sàng lắng nghe”.

Mao Trạch Đông nói: “Không phải là dạy bảo, mà là chúc mừng”, nói đoạn lấy từ trong túi ra 1 tờ giấy đã gấp sẵn trao cho Lưu Thiếu Kỳ, nói: “Đồng chí xem xem, được không?”

Lưu Thiếu Kỳ nhìn lướt, trao ngay cho Chu Ân Lai. Chu Ân Lai xem xong chuyển tới Đạt Lai, và nhẩm trong miệng “rất tốt, rất tốt”.

Đạt Lai nhận tờ giấy từ Chu Ân Lai, chuyển tới Mao Trạch Đông rồi học khẩu khí của Chu Ân Lai nói bằng tiếng Hán: “Rất tốt! Rất tốt!” nói đoạn, Đạt Lai cười. Mao Trạch Đông cũng cười theo sảng khoái.

Đạt Lai, Ban Thiền cùng chuyện trò vui vẻ với lãnh tụ đất nước, thân thiết vô cùng. Mọi người có mặt hôm ấy đều rất phấn khởi và cảm động. Các phóng viên liên tục, hướng ống kính theo năm vị lãnh tụ, ghi lại hình ảnh mang ý nghĩa lịch sử này.

Mấy chục năm đã trôi qua, tấm ảnh Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai cùng Đạt Lai, Ban Thiền vui tết Mộc dương, lịch Tạng tại Bắc Kinh thủ đô của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được in ra không biết bao lần, cho đến hôm nay vẫn còn là báu vật thân thiết nhất của nhân dân Tây Tạng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #91 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 09:52:31 pm »


Mở đầu bữa tiệc, Đạt Lai Lạt ma phát biểu trước tiên, ông nhiệt liệt hoan nghênh và chân thành cảm ơn Chủ tịch mao Trạch Đông kính mến, Uỷ viên trưởng Lưu Thiếu Kỳ, Thủ tướng Chu Ân Lai, các vị khách quí tới dự chiêu đãi và đồng bào Tạng đang ở Bắc Kinh đón năm mới lịch Tạng; đồng thời gửi lời chúc mừng tới Chủ tịch Mao Trạch Đông và các vị khách quí, cầu mong được “Trát tây đức lạc,, Tốt lành như ý!

Sau đó, Đạt Lai mời Chủ tịch Mao Trạch Đông phát biểu ý kiến. Hôm ấy Đạt Lai, Ban Thiền là chủ, dự kiến không có Mao Trạch Đông nói chuyện nhưng ngày đầu tiên trò chuyện cùng hai vị Phật sống đã rất vui vẻ chan hòa, lòng đầy phấn khởi, nên đã tùy hứng ứng xử như vậy.

Trước tiên, Mao Trạch Đông gửi lời chúc mừng năm mới tới Đạt Lai, Ban Thiền cùng toàn thể đồng bào Tây Tạng. Sau đó Người nói: “Tất cả chúng ta đều phải cố gắng, tăng cường và củng cố hơn nữa tình đoàn kết giũa các dân tộc, tăng cường và củng cố hơn nữa tình đoàn kết giữa dân tộc Hán và Tạng cũng như nội bộ dân tộc Tạng, cùng nhau xây dựng Tổ quốc vĩ đại của chúng ta”.

Bài nói của Mao Trạch Đông tại bữa tiệc được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt; nhiều nhân sĩ Tây Tạng vây quanh Chủ tịch, chúc rượu và tặng khăn Người. Các đại biểu học sinh chen nhau tới bắt tay Chủ tịch, gửi tới Người lời chúc mừng năm mới với tấm lòng tôn tính mến yêu.

Thượng tuần tháng 3-1955, Đạt Lai, Ban Thiền chuẩn bị trở về Tây Tạng. Sau tết Tạng lịch, hai vị lần lượt tới Trung Nam Hải từ biệt Mao Trạch Đông.

Ngày 8-3 Mao Trạch Đông tới nhà nghỉ của Đạt Lai tại Ngự Hà Kiều tiễn chân, nói chuyện thân mật hồi lâu. Cùng tham dự tiếp kiến có Tướng quân Trương Kinh Vũ đại biểu Chính phủ Nhân dân Trung ương thường trú tại Tây Tạng, Thứ trưởng bộ Mặt trận thống nhất Trung ương, Phó Chủ nhiệm dân ủy Trung ương Lưu Cách Bình và Mông Phong.

Ngày 9-3, Mao Trạch Đông tới Sương Quan Lâu thăm Ban Thiền, câu đầu tiên Mao Trạch Đông nói: “Hôm qua tôi tới thăm Đạt Lai hôm nay tới thăm ngài, tiễn chân ngài lên. đường”. Cùng tham gia hội kiến có Uông Phong và Phó Chủ nhiệm dân uỷ Trung ương Lưu Xuân.

Mao Trạch Đông hỏi han cặn kẽ mọi sự chuẩn bị cho chuyến về và chỉ thị cho Uông Phong, Lưu Xuân, Kế Tấn Mỹ (người phụ trách phòng hội nghị kham bố của Ban Thiền) phải làm tròn trách nhiệm, tận tâm tận lực để Phật sống về quê bình an vô sự.

Ban Thiền cảm động và một lần nữa tỏ lời cám ơn.

Lúc này, Mao Trạch Đông châm điếu thuốc “Trung hoa”, hít một hơi dài, nhẹ nhàng nhả khói, suy nghĩ giây lát, nói: “Hôm qua tôi có nói với Đạt Lai, bản thân tôi thu nhập không lớn, chi tiêu không nhỏ. Một là hút thuốc, hai là uống trà, ba là mua sách báo. Như vậy dư dật chẳng đuợc mấy đồng. Các ngài sắp ra về rồi tôi cũng chẳng có gì làm quà, tôi biếu các ngài 8 chữ: Đoàn kết tiến bộ, phát triển mạnh mẽ. Đó là vài lời tiễn chân”.

Ban Thiền nói: “Lời chỉ bảo của Mao Trạch Đông hết sức quan trọng. Tôi nhất định ghi mãi trong lòng, cố gắng quán triệt”.

Mao Trạch Đông lại nói: “Năm kia tôi đã nói với các bạn trong đoàn dự lễ quốc khánh (Tây Tạng) ý này, hôm nay nhắc lại lời cũ, cốt là để mọi người chú trọng, đoàn kết tốt hơn nữa giành tiến bộ và phát triển”.

Mao Trạch Đông lại hỏi: “ông có mong muốn tiến bộ không?”

Kế Tấn Mỹ nói: “Tán thành”.

Mao Trạch Đông lại hỏi: “ông có mong muốn tiến bộ không?”

Kế Tấn Mỹ trả lời “Mong muốn”.

Mao Trạch Đông bỏ nửa điếu thuốc đang cháy dở xuống, dang đều 2 tay ra, ngừng trước mặt mọi người, sau đó lai từ từ khép lại, nhìn Ban Thiền với ánh mắt hiền từ, nói: “Tốt, chúng ta đã muốn cùng đi với nhau. Đoàn kết rồi, tiến bộ rồi, cũng sẽ phát triển. Hiện nay chúng ta còn rất nghèo, rất lạc hậu, Tây Tạng phải phát triển, nội địa phải phát triển, toàn quốc đều phải phát triển”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #92 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 09:55:40 pm »


Đạt Lai đột nhiên đòi gặp Mao Trạch Đông

Ngày 10-3-1955, Chu Ân Lai mở tiệc trọng thể để tiễn Đạt Lai, Ban Thiền lên đường. Trong bữa tiệc, Chu Ân Lai và Đạt Lai, Ban Thiền đều có bài nói dạt dào tình hữu nghị, cảm động sâu sắc.

Theo kế hoạch, ngày 12-3 Đạt Lai lên đường, có Lưu Cách Bình, Trương Kinh Vũ đi theo; qua Vũ Hán, Tam Hiệp rồi từ Tứ Xuyên vào Tây Tạng. Cùng đi với Ban Thiền có Lưu Xuân qua Tây An rồi từ Thanh Hải về Tây Tạng.

Đạt Lai và Ban Thiền tính cách có khác nhau. Ban Thiền hướng ngoại, tính tình thẳng thắn. Đạt Lai tương đối hướng nội, tình cảm ít biểu lộ ra ngoài, tính nết ôn hòa. Nhưng sau khi vui tết lịch Tạng, đặc biệt là trong những ngày sắp rời khỏi Bắc Kinh, Đạt Lai luôn trong tình trạng phấn chấn, tình cảm xúc động. Chuyến đi lần này, kể từ khi được chọn làm linh đồng chuyển thế của Đạt Lai thứ 13 tới nay, là lần đầu tiên xa Tây Tạng, được nhìn thấy thế giới bên ngoài của một vùng tuyết phủ, mở rộng tầm mắt, hiểu biết thêm kiến thức, tiếp xúc với nhiều lớp người, quan hệ không ít bạn bè, đều có ảnh hưởng to lớn đến con đường tương lai lâu dài của vị Phật sống. Nhưng ông cho rằng, ấn tượng sâu sắc nhất, có ý nghĩa nhất, vẫn là cuộc gặp gỡ Mao Trạch Đông.

Ngày hôm sau đã sắp xa Bắc Kinh rồi, Trung ương có nói là hàng năm đều họp Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, từ nay về sau thường hay qua lại đi về. Tuy là nói vậy song từ Bắc Kinh tới Lạp Tát, núi non hiểm trở, xa cách muôn trùng, mỗi lần ra đi không phải là dễ; lần này vừa đi vừa về, mất ngót một năm. Lần sau, chưa biết khi nào về được, Đạt Lai đột nhiên nảy sinh một nguyện vọng mạnh mẽ: muốn gặp thêm Chủ tịch Mao Trạch Đông một lần nữa.

Ông không nén được tình cảm xúc động, sau khi bàn bạc công việc với Lưu Cách Bình, Trương Kinh Vũ, Bình Thế Vượng Giai (Uỷ viên công uỷ Tây Tạng của Trung ương 1) đề nghị Lưu Cách Bình ở lại gặp riêng, ông nói: “Chủ nhiệm Lưu ơi, hôm nay tôi muốn đi gặp Mao Chủ tịch, đề nghị ông báo với Trung ương bố trí”.

Lưu Cách Bình giật mình, mấy hôm trước, chả đã gặp rồi là gì? liền hỏi: “Hay là có việc gì quan trọng?”

“Không” 

“Thế..”. Lưu Cách Bình do dự, hỏi tiếp: “Thế đi làm gì”.

“Đi chia tay”, Đạt Lai trầm ngâm giây phút, nói: “Tôi muốn gặp Mao Chủ tịch một lần nữa”.

Lưu Cách Bình thấy khó xử; từ khi Đạt Lai tới Bắc kinh, Trung ương đã chỉ định ông đi theo, cùng bên nhau suốt nửa vòng đất nước, đã hiểu biết nhau nhiều. Lưu Cách Bình biết rằng Đạt Lai đề xuất muốn gặp Mao Trạch Đông, chắc chắn là rất sát thực, đã được suy nghĩ cẩn thận. Làm sao có thể dễ dàng cự tuyệt được? Nhưng Đạt Lai, Ban Thiền hoạt động tại Bắc Kinh, đều phải qua Trung ương thảo luận quyết định, và do Chu Ân Lai bố trí. Việc lớn như vậy làm sao có thể quyết định ngay được, thêm nữa, Mao Trạch Đông rất bận, mọi hoạt động của Người, Trung ương có qui định chặt chẽ phải sắp xếp sớm, có khi bản thân Mao Trạch Đông cũng không chủ động được. Không thỉnh thị không được, thỉnh thị rồi cũng không được. Người có trách nhiệm sẽ chất vấn: ông Lưu Cách Bình, bản thân ông là Thứ trưởng Bộ Mặt trận thống nhất Trung ương, Trung ương trao cho ông công việc trọng đại như vậy, lẽ nào ngay một điều thuộc về kỷ luật của Đảng ông cũng không hiểu?

Nhìn Đạt Lai Lạt ma trước mặt, thái độ thành khẩn như vậy kiên nhẫn như vậy, không hề tỏ ý từ bỏ yêu cầu của mình, Lưu Cách Bình thấy không thể khước từ.

Làm thế nào bây giờ? Lưu Cách Bình con người có cá tính rất rõ, dám nghĩ dám làm, suy nghĩ một lát, ông nói với Đạt Lai: “Xin ngài đợi một chút, tôi đi thỉnh thị ngay”. Ông quyết định trực tiếp thỉnh thị văn phòng Trung ương, mọi hậu quả bản thân ông phải gánh chịu.

Cơm trưa xong, văn phòng Trung ương vẫn chưa trả lời sau bữa tối, cũng không có động tĩnh gì. Theo kế hoạch đã định, mỗi hoạt động của Đạt Lai đều bình thường. Đến hơn 11 giờ đêm vẫn không có tin vui.

Đạt Lai hơi thất vọng, không được mãn nguyện, còn có đôi phần hối hận, hôm nay hơi đường đột làm khó cho Trung ương.

Lưu Cách Bình, càng cảm thấy không yên tâm, ông suy nghĩ rất nhiều, cảm thấy sự việc chưa xử lý tốt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #93 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 09:56:21 pm »


Đạt Lai nói: “Lưu Chủ nhiệm ơi, Mao Chủ tịch rất bận, hôm nay xem ra không thể tiếp kiến được. Ông không cần chờ đợi nữa, sớm mai tôi đã đi, ông nên về sớm nghỉ ngơi đi”. Đạt Lai tự an ủi mình: “Thực ra tôi cũng không có công việc gì. Sau đây nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới Mao Chủ tịch”.

Lưu Cách Bình hiểu rất rõ qui định của Trung ương, theo thường lệ, đến giờ này không có tin gì, chắc chắn là Mao Chủ tịch không tới được, ông thật lòng khuyên Đạt Lai nên đi nghỉ sớm, rồi cáo từ ra về.

Tiễn chân Lưu Cách Bình đi ra, Đạt Lai thắp hương cầu khấn, ngồi tĩnh tại tụng kinh - đó là tập quán từ lâu rồi, cũng là điều qui định mà Phật sống phải tuân theo. Lúc này trong phòng của Đạt Lai, ngoài ông ra, chỉ còn hai người, một người là “Tẩm quan” chuyên lo công việc ăn nghỉ, tiếng Tạng gọi là “Thân bản”; còn một người nữa là trưởng phòng bảo vệ được Công ủy Tây Tạng cử đi, cũng là người dân tộc Tạng. Theo qui định, chờ cho Đạt Lai lên giường nghỉ ngơi, tắt đèn rồi mới được đi khỏi.

Đột nhiên người gác cổng vội vàng chạy tới kêu: “Mao Chủ tịch tới rồi?”

“Cái gì?” Đạt Lai quả thật không còn tin vào tai mình.

Người gác cổng không còn giữ được lễ phép thường ngày, vội vàng nói: “Mao Chủ tịch đến rồi”.

Đạt Lai nhanh nhẹn ra cổng đón tiếp. Mao Trạch Đông đã đi vào phòng khách chỉ có hai nhân viên công tác cùng đi, ngoài ra không có đồng chí lãnh đạo nào khác, Mao Trạch Đông nắm tay Đạt Lai cùng ngồi xuống ghế. Không có phiên dịch, đành phải nhờ trưởng phòng bảo vệ làm thay. Lúc này tầng trên tầng dưới đèn điện sáng trưng, cả khu vực sôi động tấp nập. Đạt Lai vội nói: “Nhanh đi tìm phiên dịch? Tìm Chủ nhiệm Lưu”.

Chờ mọi người yên lặng, Mao Trạch Đông nói với Đạt Lai: “Thật thà xin lỗi, để Phó Uỷ viên trưởng chờ lâu quá. Tôi vừa nhận được báo cáo, nói là Đạt Lai muốn tới thăm tôi. Tôi bảo là đi sao được? Ngày mai đã phải về rồi, lẽ ra tôi phải tới tiễn chân. Khuya lắm rồi, có ảnh hưởng gì đến tụng kinh không? Nếu không ảnh hưởng thì Đạt Lai hãy đi nghỉ!”

Đạt Lai lòng dạ không yên, xúc động nói: “Thưa Mao Chủ tịch, tôi thật sự xin lỗi, quá làm phiền Chủ tịch”. Đến lúc này Đạt Lai đi chú ý tới Mao Trạch Đông đang mặc áo ngủ hơi dài. Lẽ nào Chủ tịch đã đi nghỉ rồi?

Nhìn ánh mắt ngạc nhiên của Đạt Lai, nhân viên công tác bên cạnh Chủ tịch nói: “Chủ tịch đã đi nghỉ rồi, đang nằm trên giường xem báo, nhận được báo cáo, liền dậy đi ngay”.

Đôi mắt Đạt Lai rớm lệ. Và suy nghĩ xa xôi, suy nghĩ rất nhiều.

Năm xưa Đạt Lai thứ 5 về kinh, Vua Thuận Trị muốn đi ra khỏi thành đón tiếp, nhưng văn võ bách quan phản đối, nói rằng Hoàng đế thiên quốc là Thiên tử, làm sao mà có thể ra khỏi thành đón khách được, mặc dù là khách rất quí trọng. Sau đó Vua đã ra khỏi thành với danh nghĩa “đi săn” để “hội ngộ” Đạt Lai thứ 5 ở ngoại thành,vừa tỏ ý hoan nghênh đón tiếp, vừa không mất vẻ tôn kính của Thiên tử, câu chuyện ấy trở thành giai thoại một thời.

Đầu thế kỷ này, Đạt Lai Lạt ma về Bắc Kinh muốn gặp Hoàng thượng, Hoàng Thái hậu; Tây thái hậu, muốn Đạt Lai phải khấu đầu, cử hành đại lễ, không như vậy thì không gặp.

Ban Thiền thứ 6 vào nội địa, Hoàng đế Càn Long hội kiến tại biệt thự nghỉ mát, cũng đã coi là “ơn vua trời biển”? Còn Ban Thiền thứ 9 thì lưu lạc giang hồ mấy mươi năm, gặp cảnh quân phiệt hỗn chiến, hỗn quân hỗn quan, chịu mọi gian truân, đủ điều khổ nhục.

Mà hôm nay, Mao Chủ tịch quan tâm đến ta quí mến ta như vậy, làm sao mà không xúc động muôn phần? Mao Chủ tịch so với Thuận Trị, Càn Long, Tây Thái hậu, như đại dương với giọt nước, như non cao với cát bụi, như mặt trời với đom đóm.

Con người tụng kinh niệm Phật thường dễ có ảo giác. Đạt Lai Lạt ma cảm thấy ngồi trước Mao Chủ tịch, như không phải trước một con người, mà là một pho bia lịch sử là một vừng dương.

Theo hồi ức của Lưu Cách Bình sau này, thì sáng ngày 11, sau khi Đạt Lai nêu nguyện vọng muốn gặp Mao Trạch Đông, ông đã thỉnh thị ngay về văn phòng Trung ương, không hiểu mắc mớ ở chỗ nào. Mãi đến đêm khuya mới báo cáo lên Chủ tịch. Lưu Cách Bình lúc đó rất lo lắng: một là Đạt Lai không gặp được Mao Trạch Đông, e rằng ông ta không phấn khởi; hai là gây lộn xộn việc bố trí của Trung ương, sợ bị phê bình, cả hai đều khó xử. Ông sẵn sàng chuẩn bị tư tưởng chịu phê bình và viết kiểm thảo.

Lưu Cách Bình yên tâm mừng rỡ: “Chủ tịch đã tới cũng giải thoát được cho mình”. Ông còn kể rằng: “Như chúng ta biết, Mao Chủ tịch từ năm 1949 về Bắc Kinh, chỉ có hai lần mặc áo ngủ ra khỏi Trung Nam Hải, một lần là năm 1972 đi dự lễ truy điệu Nguyên soái Trần Nghị người bạn chiến đấu của Mao Thạch Đông, một lần nữa là tiễn chân Đạt Lai Lạt ma.

Sự kiện này khiến Đạt Lai Lạt ma cảm động sâu sắc. Trong thời gian rời Bắc Kinh đi tham quan thị sát, Lưu Cách Bình thường giảng giải cho Đạt Lai về lịch sử phát triển xã hội và lịch sử cách mạng Trung Quốc, Đạt Lai tỏ ra rất hứng thú khi học tập chủ nghĩa Mác. Sau khi về Lạp Tát, Đạt Lai đã sáng tác một chùm thơ “ca ngợi Mao Trạch Đông” với tấm lòng tôn kính.

Ôi! Mao Trạch Đông! Ánh hào quang và sự nghiệp của người
Như trời Phật tạo lập nên thế giới
Từ thiện căn mới nảỷ sinh một lãnh tụ thiên tài
Như vừng hồng tỏa sáng khắp nơi nơi
Trước tác của Người như Ngọc châu bảo bối
Như sóng biển dập dờn dữ dội
Qua trùng dương lan tỏa tận chân trời.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #94 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 09:58:16 pm »


PHẦN 8
NGỌN LỬA ÁC LAN TỎA


Trung ương phong quân hàm cho quân Tạng

Theo “Hiệp nghị 17 điều” quy định: “Quân đội Tây Tạng phải từng bước cải biên thành quân giải phóng nhân dân, trở thành một bộ phận của lực lượng Quốc phòng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”.

Nhưng do thế lực chóp bu ở Tây Tạng và bọn theo chủ nghĩa phân biệt trong ngoài nước ra sức gây cản trở, kế hoạch cải biên ấy vẫn chưa được thực hiện.

Tháng 12-1952, Chính phủ địa phương Tây Tạng tự ý cắt giảm lực lượng già yếu dư thừa trong quân đội Tây Tạng, giữ lại biên chế 5 trung đoàn với 3200 người, trong đó có 178 sĩ quan. Chính phủ địa phương Tây Tạng ra sức khống chế đội quân vũ trang này trong tay của họ, với mục đích rất rõ ràng và dễ hiểu.

Tháng 10-1955, Trương Quốc Hoa, Trương Kinh Vũ, Đàm Quán Tam, A Bái A Vượng Tấn Mỹ được Trung ương phong quân hàm Trung tướng để tỏ rõ thiện chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mặc dầu chưa được cải biên, tháng 4-1956, khi quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc ban bố quân hàm, Tướng Trương Quốc Hoa Tư lệnh quân khu Tây Tạng vẫn tổ chức lễ phong hàm long trọng đối với quân Tạng và đãi ngộ như sĩ quan quân Giải phóng.

Cách Tang Vượng Đôi trong cuộc khởi nghĩa chiến dịch Xương Đô được phong quân hàm Đại tá và được tặng Huân chương Giải phóng hạng 2. Ngoài ra, sáu sĩ quan trong năm trung đoàn quân Tạng, lúc này đều được phong quân hàm Trung tá và Thượng tá.

Sau khi thực hiện chế độ quân hàm, công tác tư tưởng trong bộ đội vào Tây Tạng phức tạp thêm. Vì vậy Công uỷ Tây Tạng đã phải làm nhiều công việc. Qua sự so sánh, rất nhiều chiến sĩ đã nghe theo cách nói của Trương Quốc Hoa, có sức thuyết phục mọi người: “Tư tưởng trường kỳ xây dựng Tây Tạng có cần phải xác lập hay không, quả không đơn thuần. Nó biểu hiện trong thời hạn ở lại Tây Tạng 10 năm 20 năm hoặc suốt đời, thậm chí không hề nghĩ tới nội địa đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng không nghĩ tới quê hương nơi mình sinh ra và trưởng thành, cũng không nghĩ tới gia đình cha mẹ vợ con, nếu đòi hỏi như vậy là một sai lầm lớn đối với sự nghiệp lâu dài xây dựng Tây Tạng. Bởi vì nghĩ như vậy, tức là đã quên đi Tây Tạng là một bộ phận thống nhất của sự nghiệp xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, sẽ không có quyết tâm và dũng khí biến Tây Tạng lạc hậu trở thành Xêbêria của Tổ quốc chúng ta..”.

Có người cho rằng cách nói này đối với bộ đội là quá mức cầu toàn, tuy vậy Trương Quốc Hoa vẫn kiên trì: “Ở Tây Tạng, chịu gian khổ thậm chí phải hy sinh, điều ấy không có gì cần bàn cãi. Nhưng cần phải xuất phát từ trình độ giác ngộ hiện thời của bộ đội chúng ta. Trước mắt chỉ cần có được một nhận thức đúng đắn về chính trị”.

Có người còn cho rằng, kiểu cách điệu này quá thấp. Trương Quốc Hoa đã lần lần giải thích: “Vẫn không thể nói ở Tây Tạng là không gian khổ, tư tưởng con người là phức tạp, có chỗ thuộc về vấn đề trường kỳ xây dựng Tây Tạng, có vấn đề không phải như vậy, cần phân tích cụ thể, giải quyết khác nhau, không thể tổng quát lại nói là tư tưởng trường kỳ xây đựng Tây Tạng không thông suốt, cũng không thể nêu lên những khẩu hiệu mang tính kích thích. Có một số đồng chí nghĩ về nội địa, nhớ quê hương nhớ người thân; chỉ cần không ảnh hưởng tới công tác, không nên phản đối tất cả điều đó”.



Thành lập Uỷ ban trù bị khu tự trị Tây Tạng

Tháng 4-1956, Uỷ ban trù bị khu tự trị Tây Tạng chính thức được thành lập. Đạt Lai làm Chủ nhiệm, Ban Thiền làm Phó Chủ nhiệm thứ nhất, Tư lệnh Trương Quốc Hoa làm Chủ nhiệm thứ 2. Trung ương cử một đoàn đại biểu do Trần Nghị làm trưởng đoàn tại Tây Tạng, đặc biệt giải quyết một loạt công việc ở cấp cao, công tác Tây Tạng xuất hiện cục diện mới.

Nhưng trước tình hình sáng sủa của buổi đầu, vẫn còn thấp thoáng những bóng đen lẩn khuất, trên con đường đi lên còn không ít khúc khuỷu gian nan.

Bọn phản động trong Chính phủ địa phương Tây Tạng và giai cấp chủ nô bắt đầu có sự chống đối từ bí mật đến công khai đối với “Hiệp nghị 17 điều”. Chúng dùng trăm phương nghìn kế cản trở Tây Tạng tiến hành cải cách xã hội cần thiết, mặc dầu những cải cách này lúc ấy Trung ương vẫn rất khẳng định và thận trọng.

Bọn cầm đầu phản động trong giai cấp chủ nô vẫn cố tình duy trì chế độ nông nô “tốt đẹp và thiêng liêng”. Còn những hoạt động của bọn “Tây Tạng độc lập” được thế lực đế quốc ra sức cổ động vẫn khi ẩn khi hiện, chưa lúc nào lắng xuống. Nhất là có một số người công khai trương chiêu bài “bảo vệ chính giáo” mang rõ tính chất bịp bợm và kích động không thể xem thường.

Bộ đội vào Tạng tuân theo chỉ thị của Trung ương Đảng, luôn luôn cảnh giác với mọi thủ đoạn thâm hiểm của thế lực bên ngoài đối với Tây Tạng sau khi hòa bình giải phóng, và kiên trì khuyên ngăn những nhân vật cấp cao Tây Tạng không nên làm những việc gì bất lợi cho sự nghiệp thống nhất Trung Hoa; không thì hậu quả hối hận không kịp.

Cùng với thời gian, cuộc đấu tranh giữa phân biệt và chống phân biệt ngày càng gay gắt và phức tạp. Bọn theo chủ nghĩa phân biệt được thế lực đế quốc bí mật thao túng, âm mưu lại một lần nữa tạo ra sự bất hòa giữa hai người Đạt Lai và Ban Thiền, từ đó lật đổ Ban Thiền, một đại sư kiên định lập trường yêu nước chống đế quốc ủng hộ Trung ương, gây nên cuộc đại loạn sau khi giải phóng Tây Tạng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #95 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 09:59:36 pm »


Màn kịch Ban Thiền giả

Mùa xuân 1955, một quan chức tình báo Mỹ không rõ họ tên đóng vai “du khách” đi du lịch thành Cát Luân, đặc biệt đã hội kiến với Patesen một giáo sĩ người Scôtlan thuộc lĩnh vực chính trị. Đạt Lai Lạt ma có uy tín và thông hiểu tình hình Tây Tạng. Vị “du khách” ấy trước đây có tham gia hội nghị những phần từ cao cấp chạy trốn của Chính phủ địa phương Tây Tạng, và đã mời Patesen làm phiên dịch bốn ngày. Người Mỹ này nêu ra một phương án viện trợ 10 năm, âm mưu lật đổ sự thống trị của Trung quốc ở Tây Tạng, và sẽ cử một nhân viên đặc công Mỹ chuyên nghiệp không có quan hệ với Đại sứ quán Mỹ đặc trách công việc Tây Tạng, được Lạp Gia Bang Đạt Xương đại biểu Tây Tạng dự hội nghị gật đầu đồng ý. Hội nghị này do Patesen làm phiên dịch đã thay mặt Cục Tình báo Trung ương Mỹ quyết định cuối cùng về Tây Tạng.

Mùa thu năm 1955, bọn chủ nghĩa phân biệt bắt đầu trình diễn màn kịch dựng lên Ban Thiền giả.

Năm 1927, sau khi Ban Thiền thứ 9 qua đời tại Thanh Hải, phòng Hội đồng Kham bố Ban Thiền đã tìm thấy Cung Bảo Linh đồng nối ngôi tại Tuần Hóa Thanh Hải, và đã được Chính phủ Trung ương lúc ấy chính thức phê chuẩn, xác lập Ban Thiền thứ 10, tất cả đều phù hợp với thông lệ lịch sử Tây Tạng và trình tự tôn giáo.

Đồng thời, Chính phủ Cát Hạ Tây Tạng cũng tìm được một Linh đồng tại Lý Đường Tứ Xuyên, nhưng chưa được xác nhận, mà lại không muốn từ bỏ; thế là họ tìm cách giữ linh đồng ấy tại thôn Giáp Khang thuộc chùa Trát Thập Luân Bố ở Nhật Khách Tắc, được coi là “Liệt đương phật sống”. Hiện tại bọn phân biệt lại đề cao Phật sống này, nói là “Ban Thiền thứ 10” thật sự lên thay thế.

Thế là, lời đồn đại lan truyền khắp vùng Tây Tạng, có người còn tô vẽ thêm rằng: “Ban Thiền do quân Giải phóng đưa về là Ban Thiền giả, là người Hán áp đặt cho Tây Tạng. Ban Thiền thật là Liệt đương Phật sống”...

Đến đầu tháng 10-1955, dư luận đồn đại ấy trở thành cao trào. Nhưng chính trong thời điểm ấy, vị Liệt đương Phật sống Ban Thiền giả ấy đã mất tích tại chùa Trát Thập Luân Bố và đi đâu không rõ.

Tại văn phòng Công ủy Tây Tạng, tướng Trương Kinh Vũ triệu tập hội nghị khẩn cấp, bàn bạc cùng các lãnh đạo ban ngành hữu quan về tình hình đột biến vừa qua.

Theo sự phân tích tình hình, vị Ban Thiền giả này rất có thể bị ép buộc chạy ra nước ngoài, bọn phân biệt có ý đồ dựng nên “Ban Thiền thật tại nước ngoài”. Hội nghị phân tích rằng:

“Đây rất có thể trở thành một sự kiện chính trị đã có mưu đồ từ lâu, chúng ta nhất định không thể để cho âm mưu của họ thực hiện được”.

“Nếu Ban Thiền giả chạy thoát, thì sẽ tổn thất nghiêm trọng tới uy tín của đại sư Ban Thiền trong lòng nhân dân Tây Tạng, gây ảnh hưởng bất lợi, thật nghiêm trọng cho đoàn kết dân tộc và tình hình Tây Tạng”.

Mọi người tham gia hội nghị ai nấy đều hết sức sốt ruột, đều xôn xao đề nghị Công uỷ Tây Tạng và bộ đội quân Giải phóng vào Tây Tạng thực hiện biện pháp kiên quyết ngăn chặn âm mưu chính trị của các phần tử phân biệt.

Qua bàn bạc khẩn trương, lãnh đạo Công uỷ Tây Tạng đã thỉnh thị Trung ương, quyết định thông báo điện, hạ lệnh cho các cửa khẩu, hải quan, yêu cầu quân đội tại các cửa khẩu, các trạm gác hải quan tổ chức lực lượng, kiểm soát nghiêm ngặt, một khi phát hiện thấy tông tích Ban Thiền giả, thì lập tức thực hiện mọi hình thức thích đáng, kiên quyết can ngăn hành động trốn ra nước ngoài.

Mọi tuyến đều phát lệnh, các cửa khẩu trạm canh đều tăng cường cảnh giới.

Sáng ngày 24-10, tại phía đông đầu cầu thôn Thanh Phi ở cửa khẩu biên giới Trung Quốc, trước cửa phòng ngoại sự Á Đông ồn ào huyên náo, người qua lại tấp nập không ngừng.

Thương nhân, lái xe, dân vùng biên giới chen chúc đứng chờ bên cửa sổ chờ thị thực xuất nhập cảnh, có 3 người dân Tạng trang phục kiểu thương nhân tĩnh lặng chờ đợi không vội vã chen chúc, nét mặt thiếu tự nhiên.

Mọi hành vi của họ khiến nhân viên biên phòng chú ý. Đến hơn 12 giờ trưa, người thưa thớt hơn, họ đi tới làm thủ tục thị thực, hai chiến sĩ quân Giải phóng hoà nhã tới gần.

“Xin lỗi các ông, chúng tôi có chút việc muốn gặp các ông”

“Việc gì vậy, chúng tôi chờ chuyển hàng hóa mà”

Ba người ấy miễn cưỡng theo vào phòng, ngồi xuống ghế.

Qua trò chuyện thiện chí nhiệt tình khoảng mười phút của Ca Đạt trạm trưởng biên phòng người Tạng, tất cả đều lộ rõ nguyên hình ...

Một trong ba người ấy có một thanh niên ngoài 20 tuổi người tầm thước, mặt mũi trắng trẻo, thái độ ngượng ngùng đã lộ rõ tư cách đóng giả dân buôn, ngượng nghịu nói: “Tôi chính là Liệt đương Phật sống Ban Thiền giả mà người ta đặt cho, lần này họ bố trí cho tôi bí mật vượt biên ra nước ngoài”.

Qua giải thích tuyên truyền về chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Liệt đương Phật sống đồng ý không ra nước ngoài nữa. Để đề phòng bất trắc, trạm biên phòng đồng ý để anh ta tạm trú tại Á Đông; sau đó Công uỷ Tây Tạng sẽ cử người tới, đưa Liệt đương Phật sống trở về Nhật Khách Tắc thật chu đáo, thỏa mãn nguyện vọng của vị phật sống này.

Sự kiện Ban Thiền giả được dựng nên do bọn phản loạn trước đây tạo ra đã phá sản...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #96 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 10:00:35 pm »


Chu Ân Lai gặp Đạt Lai và Ban Thiền tại Niu Đêli

Tháng 11-1956, Đạt Lai Lạt ma, Đại sứ Ban Thiền nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Nê Ru, tới Niu Đêli tham gia kỷ niệm 2500 năm Thích Ca Mâu Ni niết bàn.

Mấy ngày trước khi Đại sứ của vị phật ấy sắp tới, không khí chính trị khác thường, tổ chức “Hội đồng nhân dân” của thế lực phân liệt đã đi vào bí mật, bỗng lại phục hồi hoạt động công khai. Họ tụ tập gây rối, gửi thư kiến nghị, tung tin đồn nhảm; ngang nhiên kêu gọi phản đối Uỷ ban trù bị khu Tự trị Tây Tạng, phản đối cải cách dân chủ. Một thời gian khắp vùng Lạp Tát mây gió mịt mờ, tưởng chừng bão tố...

Một ngày cuối năm 1956, lãnh đạo của quân Giải phóng nhận được báo cáo cho biết tình hình thế lực phân liệt định bí mật gây bạo loạn vũ trang tại Tây Tạng, đồng thời âm mưu bao vây Đạt Lai và Ban Thiền ở Ấn Độ, yêu cầu hai vị ở lại Ấn Độ, công khai tuyên bố “Tây Tạng độc lập” đẩy Đạt Lai và Ban Thiền đến bước đường cùng.

Trong tình thế cấp bách ấy, tướng Trương Quốc Hoa và Trương Kinh Vũ khẩn trương quyết định thỉnh thị ngay Trung ương, đồng thời tổ chức lực lượng đấu tranh trực diện với thế lực phản động và bọn phân liệt.

Để tỏ rõ thiện chí lớn nhất, Trung ương lại một lần nữa quyết định nhượng bộ một bước quan trọng với tôn chỉ “muốn tiến hành cải cách bằng phương thức thương lượng hòa bình” theo tình hình cụ thể ở Tây Tạng.

Trung ương quyết định:

Ra sức thuyết phục quảng đại quần chúng dân tộc Tây Tạng đã giác ngộ mong muốn nhanh chóng cải cách dân chủ, đồng thời công bố rõ ràng: Trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 2, Tây Tạng không tiến hành cải cách dân chủ, trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 3 có cải cách hay không, cũng phải đến lúc đó xem xét tình hình sẽ quyết định ...

Như vậy có nghĩa là để đẩy mạnh cải cách dân chủ theo phương thức hòa bình, Trung ương kiên nhẫn kéo dài thời gian chờ đợi cho mãi tới 1967.

Nhưng những nhân vật phản động chóp bu ở Tây Tạng ngày càng làm cho tình hình thêm phức tạp, cục diện Lạp Tát ngày càng mất ổn định, lúc này Đạt Lai và Ban Thiền đều đang ở Ấn Độ, tình hình Tây Tạng có nguy cơ không khống chế được. Do đó, Trung ương điện cho Trương Kinh Vũ và Trương Quốc Hoa:

Bộ đội và sĩ quan quân Giải phóng ở Tây Tạng, đồng thời với việc chuẩn bị sẵn sàng ứng phó khi cần thiết, phải cố gắng đoàn kết quần chúng Tây Tạng và lực lượng yêu nước cấp cao, đi vào cuộc sống đấu tranh chính trị khó khăn hơn.

Thủ tướng Chu Ân Lai đang thăm Ấn Độ cùng lúc nhận thêm một nội dung mới trong chương trình của mình là hội kiến Đạt Lai và Ban Thiền đang ở thăm Ấn Độ.

Tại Niu Đê li Thủ tướng Chu Ân Lai gặp gỡ trao đổi với Đạt Lai và Ban Thiền trong thời gian khá lâu, lần lượt truyền đạt quyết định của Trung ương sẵn sàng kéo dài thời gian cải cách dân chủ ở khu vực Tây Tạng, hy vọng các vị cùng nhau đoàn kết góp phần cống hiến của mình vào sự nghiệp xây dựng Tây Tạng.

Qua ý kiến trao đổi của Thủ tướng, Đạt Lai nói là: “Nhất định nghiên cứu nghiêm túc ý kiến của Trung ương”.

Ban Thiền thì khẳng định với Thủ tướng Chu Ân Lai: “Kiên quyết ủng hộ quyết định của Trung ương, nguyện toàn tâm toàn lực chấp hành tốt chỉ thị của Trung ương, đã theo con đường quang minh chính đại yêu nước thương dân!”

Với tấm lòng rộng mở và thái độ chân thành Thủ tướng Chu Ân Lai đã thuyết phục hai vị thần vương Tây Tạng, góp phần cống hiến to lớn làm xoay chuyển tình hình Tây Tạng. Ngay cả một số người có cách nhìn sai lệch cũng phải thừa nhận: “Cuộc trao đổi của Thủ tướng Chu Ân Lai với Đạt Lai và Ban Thiền trong thời gian sang thăm Ấn Độ có tác dụng không nhỏ...”

Đại sư Ban Thiền trước tiên bằng hành động của mình đã tỏ rõ lập trường yêu nước kiên định, không sợ mọi trở ngại của thế lực phân liệt trong ngoài nước, mưu trí dũng cảm gạt bỏ mọi rối ren, quyết tâm trở về Tây Tạng.

Sau đó ít lâu, Đạt Lai cũng rời Ấn Độ về nước...

Âm mưu của thế lực chia cắt lại một lần nữa bị đập tan.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #97 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 10:01:44 pm »


Cục tình báo Trung ương Mỹ bày kế cho Đạt Lai đi khỏi Tây Tạng

Mọi người thường nghĩ rằng hoạt động của Cục Tình báo Trung ương Mỹ chỉ tiến hành sau khi Đạt Lai và Trung ương công khai xảy ra xung đột, đặc biệt không hiểu rõ được trước khi sự việc đó phát sinh, việc kích động bạo loạn đã được tiến hành rất sớm. Ví như chuyện hồi ức của một người Tây Tạng có tên là Vượng Đới: Năm 1956 ông ta đã rời khỏi Tây Tạng, do đặc vụ Mỹ đưa ra nước ngoài huấn luyện, sau này bí mật nhảy dù về Tây Tạng tham gia hoạt động quân sự, qua khoảng 10 năm, mãi đến 1966 mới về định cư tại Nê Pan, quá trình ấy thần bí mà quanh co, giống như chuyện tiểu thuyết gián điệp điển hình. Tốp gián điệp đầu tiên được Cục Tình báo Trung ương Mỹ huấn luyện do Gia Lạc Đôn Chu tổ chức gồm 6 người. Lúc đầu đi bộ khỏi thành Cát Luân nằm trên biên giới Ấn-Tạng, sau đó Đôn Chu đưa xe chở họ tới Siligauri, cấp thêm la bàn, tiếp tục đi bộ tới Đông Ba (biên giới Bengal ngày nay) do đặc vụ Mỹ đón tiếp. Sau khi đã cải trang triệt để, lại đi bộ tới Đạt Ca. Sau đó bay hơn 5 giờ nữa, hình như là tới Đài Loan, thay mặc quân phục, cùng với anh cả của Đạt Lai được huấn luyện đặc vụ. Trong vòng 4 tháng học phân biệt địa hình, sử dụng vô tuyến điện và thao tác vũ khí. Mùa thu 1957, nhóm của họ nhảy dù xuống Tây Tạng bằng máy bay quân sự Mỹ. Ngoài trang bị vũ khí, tiền bạc và máy vô tuyến ra, mỗi người còn được cấp hai lọ thuốc độc, phòng khi bị bắt thì tự sát. Để xóa dấu vết, họ bỏ hết mọi nhãn hiệu trên các trang bị kể cả thuốc. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là tới Lạp Tát chống đối Đạt Lai, khiến Đạt Lai cắt đứt quan hệ với Trung ương công khai yêu cầu Mỹ viện trợ.

Đáng tiếc là nhiệm vụ lần này không thể hoàn thành được. Thủ lĩnh của bọn họ đã gặp được Bạc Lạp Sĩ Đăng Duy Đăng thư ký của Đạt Lai, nhưng sau đó lại khuyên đồng bọn từ bỏ kế hoạch và cự tuyệt gặp lại. Sau khi thất bại, Cục Tình báo Trung ương Mỹ quyết định đến cuối năm 1958 thả dù một lượng vũ khí lớn cho những người Khang Ba hiếu chiến trong nội địa Tây Tạng, gồm 100 khẩu súng trường kiểu Anh, 2 móc chê và một số lựu đạn và đạn dược. Đồng thời chuyển doanh trại huấn luyện đặc vụ từ Đài Loan tới đảo Seban, rồi lại đưa về Camp Hale nước Mỹ (nguyên là vùng này địa thế cao thích hợp với dân tộc Tạng để có thể luyện tập võ nghệ Tây Tạng).

Tháng 3-1959, trước khi xảy ra xung đột trực diện giữa chính quyền Tây Tạng và Trung ương, theo hồi ức của C. Patterson người Mỹ đã từng tham gia công việc cơ mật ở Cục Tình báo Trung ương Mỹ, cục này đã thực hiện kế hoạch lừa dối Đạt Lai rời khỏi Lạp Tát. Thợ nhiếp ảnh và báo vụ vô tuyến sớm được bố trí theo sát Đạt Lai, do đó giữa đường khi chạy sang Ấn Độ Cục tình báo đã bố trí cả máy bay đặc biệt thả xuống những đồ dùng cần thiết, máy bay vận tải C130 bay trong điều kiện bầu trời Tây Tạng không khí loãng mỏng, đồng thời Cục Tình báo tại căn cứ Đạt Ca kịp thời nhận được sự liên lạc chặt chẽ với chuyến đi của Đạt Lai. Đúng như R.Bisell nhân viên công tác tham dự kế hoạch này nói, không có kế hoạch và sự theo sát của nhân viên Cục tình báo Trung ương Mỹ thì Đạt Lai không thể ra đi thuận lợi. Song do diễn biến của thời cuộc, máy bay gián điệp U2 bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô, cuộc xâm nhập Cu Ba thất bại, lại thêm cuộc chiến bán đảo Đông Dương ngày càng xấu đi, khiến cho Cục tình báo Trung ương phải bỏ dở kế hoạch quân sự, tiếp tục hoạt động mạnh mẽ tại vùng Tây Tạng và Thanh Hải.



Mỹ huấn luyện bọn phản loạn Tây Tạng

Hàng loạt âm mưu bị đập tan, nhưng bọn phản động chóp bu tại Tây Tạng chưa chịu cam tâm. Mặc dầu Chính phủ Nhân dân Trung ương đã thiện chí, cố gắng lớn nhất giải quyết vấn đề Tây Tạng bằng phương thức hòa bình, không chỉ tuyên bố kéo dài cải cách dân chủ, mà còn giảm bớt số lượng bộ đội và nhân viên công tác tại Tây Tạng, nhưng tập đoàn phản động chóp bu ở Tây Tạng vẫn không vì vậy mà ngừng hoạt động chia rẽ và phiến loạn, một âm mưu lớn hơn nữa lại bắt đầu thực hiện ...

Ngày 20-5-1957 “Hội đồng nhân dân Tây Tạng” giả hiệu, nhanh chóng trở thành tổ chức võ trang phản cách mạng “Khúc tế cường châu” hay là “Tứ thủy lục cương”' ngang nhiên hô hào “vĩnh viễn không cải cách”.

Mùa xuân năm 1958, sĩ quan giảng dạy của Cục Tình báo Trung ương Mỹ bí mật huấn luyện một nhóm phần tử chia cắt Tây Tạng tại Hải Nhĩ Doanh. Quản lý kế hoạch hành động kín đáo này là một nhân vật trọng yếu của Cục Tình báo Trung ương Mỹ, Sáctơ Maiuôn Bixair.

Kế hoạch huấn luyện bọn phân liệt Tây Tạng của Cục Tình báo Trung ương Mỹ vẫn được tiến hành. Tháng 8-1958, mấy người Tây Tạng đã được Cục Tình báo Trung ương huấn luyện tại Hải Nhĩ Doanh lên một máy bay do người Mỹ lái, nhảy dù xuống phía nam Lạp Tát và khu vực Cống Ca, mỗi người được trang bị 1 súng ngắn, 1 súng trường tự động, máy phát tin và thuốc độc (tự sát khi cần thiết). Hai người Tạng nhảy dù xuống vùng phụ cận Lạp Tát, đột nhập vào cung La Bố Lâm Ca Hạ, hội kiến với Bạc Lạp Sĩ Đang là Tổng quản của Đạt Lai. Sau hội đàm Bạc Lạp trao cho họ một lá thư, dặn dò phát về Mỹ qua vô tuyến điện. Trong thư có nói, bạo động vũ trang không có tiền đồ, biện pháp tốt nhất là thả bom nguyên tử xuống Tây Tạng. Hai người Tây Tạng nhảy dù này, về sau đã liên hệ được với nhân viên đặc công Mỹ qua vô tuyến điện và sau đó chuyển về hoạt động tại vùng phía nam Tây Tạng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #98 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 10:04:03 pm »


Bọn phiến loạn xây dựng căn cứ địa vũ trang

Ngày 20-4-1958, “Tứ thủy lục cương” đã tổ chức thống nhất hơn 5.000 phần tử phiến loạn từ các tỉnh phụ cận và vùng Xương Đô tập hợp lại, bí mật ký kết đồng minh với quân Tạng và chùa Tam Đại.

Ngày 15-6, bọn phiến loạn xây dựng căn cứ địa vũ trang tại Triết Cổ Tông Sơn Nam.

Mao Trạch Đông hết sức chú ý tới tình hình phát triển này, trong bản chỉ thị ngày 24-6 ghi rõ: “Tây Tạng phải sẵn sàng chuẩn bị đối phó với cuộc phản loạn toàn diện tại đó, ... Chỉ cần bọn phản động Tây Tạng dám phát động cuộc phản loạn toàn diện, thì nhân dân lao động ở đó có thể được giải phóng ngay, không chút nghi ngờ”.

Tới tháng 7, “Tứ thủy lục cương” lại tổ chức “quân vệ giáo”, nêu khẩu hiệu “chống cộng sản, bảo vệ tôn giáo, Tây Tạng độc lập”. Mà tập đoàn phản động chóp bu Tây Tạng lại giúp đỡ lương thảo súng ống và con người, làm cho tình hình Tây Tạng như đạn đã lên nòng, bóp cò là nổ.

Ngày 14-7, Trung ương chỉ thị cho Công uỷ Tây Tạng, ứng phó với các Cát luân, tỏ rõ lập trường nghiêm chỉnh, nói với họ rằng: Thái độ dung túng của Cát Hạ đồi với bọn phiến loạn Tây Tạng và ở vùng Giang Đông (Kim Sa) chạy vào Tây Tạng là hoàn toàn sai lầm. Nếu bọn phản động nhất định vũ trang phản loạn, thì Trung ương dứt khoát thực hiện vũ trang dẹp phiến loạn.

Đặng Tiểu Bình phân tích thêm tình hình chỉ rõ: “Chính quyền Tây Tạng căn bản không chịu từ bỏ lập trường. Hiện tại không cần phát động quần chúng, chỉ cần chỉnh đốn đội ngũ, giao hữu và học tập. Về mặt xã hội cũng không cần thiết tăng cường giáo dục xã hội chủ nghĩa, vũ trang phiến loạn Tây Khang tới Tây Tạng, ngoài bản thân Cát Hạ ra, chúng ta không cử quân đi đánh”.

Trương Quốc Hoa chỉ huy bộ đội cố gắng cụm lại các tuyến điểm giao thông, có đơn vị được điều về nội địa. Nhưng có sự giúp đỡ của thế lực phản động nước ngoài và mưu đồ của Cát Hạ, cuộc phiến loạn trong vùng Tây Tạng không ngừng leo thang. Quân phiến loạn đã đào địa đạo tới sát khu vực cơ quan ngân hàng nơi vợ Trương Quốc Hoa công tác. Nhưng trước mọi sự cố xảy ra đều có tình báo chính xác, nên nhân viên và tiền bạc đều di chuyển an toàn.

Ngày 18-7, Trương Kinh Vũ, Trương Quốc Hoa hội kiến Đạt Lai, nói rõ lập trường của Trung ương. Đạt Lai không thể hiện rõ ràng. Trương Kinh Vũ hơi lo, nhưng nói rất thành khẩn: “Ngài có thể không vui vẻ với cá nhân tôi, nhưng Trung ương không cử ai tới nữa đâu, vũ trang phiến loạn sẽ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng!”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #99 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 10:04:51 pm »


Đặng Tiểu Bình chỉ thị “cách mạng hai tay”

Sau đó, Trương Quốc Hoa về Bắc Kinh báo cáo.

Ngày 9-8 Đặng Tiểu Bình mời Trương Quốc Hoa tới Trung Nam Hải, một lần nữa nói rõ chính sách và sách lược của Trung ương. Trương Quốc Hoa hỏi thăm về nguyên tắc quan trọng nhất: “Thưa Tổng Bí thư, đồng chí xem giới hạn giữa đánh và không đánh..”.

Đặng Tiểu Bình hình như đã suy nghĩ trước: “Phiến loạn uy hiếp cơ quan Đảng, chính quyền và đường giao thông quan trọng thì đánh, nắm chắc đánh, không nắm chắc thì không đánh”.

“Đồng chí nói đánh thì đánh phải thắng, về quân sự thực hành thế thủ, về chính trị thực hành thế công?”

“Đúng, hai việc đều quan tâm, trước tiên phải bảo vệ giao thông huyết mạch”.

“Chúng ta vẫn nêu vấn đề (6 năm không cải cách)?”.

Đặng Tiểu Bình gật đầu và bổ sung: “6 năm không cải cách, nhưng gây loạn là do họ chịu trách nhiệm?”

Sau 10 ngày, Đặng Tiểu Bình lại triệu kiến Trương Quốc Hoa và Phó Tư lệnh quân khu Đặng Thiếu Đông sắp trở lại Tây Tạng. Đặng Tiểu Bình nhìn lại hai cựu chiến sĩ Hồng quân lâu năm, sau khi hỏi han về việc bố trí quân sự trở lại Tây Tạng, dặn dò: “Họ không xâm phạm ta, ta không xâm phạm đến họ. Củng cố trận địa của mình, bảo vệ giao thông, nắm chắc thì đánh. Quân Giải phóng không nên tùy tiện xuất trận, không nên tùy tiện điều động bộ đội”. Đặng Tiểu Bình dụi tắt điếu thuốc cháy dở trên tay, ngước lên không trung, nói tiếp: “Hiện giờ cần chủ động. Tăng cường cứ điểm nhỏ, đề cao cảnh giác, lúc tăng gia súng để cạnh người”.

Trương Quốc Hoa nói: “Có một số đồng chí hiểu sai về chính sách cụm lại, cho rằng chính chúng ta cụm lại rồi cụm lại nữa, nhẫn nại và nhẫn nại nữa, mới làm cho bọn phỉ được đàng chân lân đàng đầu”.

“Cụm lại là đối đầu. 6 năm không cải cách, phương châm cụm lại không thay đổi”.

“Bọn thống trị muốn biến thành một sự việc khác, điều ấy không quan hệ gì đến ta. Họ muốn thay đổi thì chúng ta phát động quần chúng. Tóm lại, phương châm cải cách hoà bình không thể thay đổi nhưng hoàn toàn bằng phương pháp hoà bình là không được, chúng ta phải sẵn sàng chuẩn bị”.

Trương Quốc Hoa và Đặng Thiếu Đông giải thích chính sách đó là: “Cách mạng hai tay, chúng ta tăng cường chuẩn bị”.

Sau khi “Tứ thủy lục cương” ký kết kế hoạch phản loạn với ba chùa Triết Bang, Sắc Lạp, Cam Đan và bọn đầu sỏ quân Tạng, các nơi phát động nổi loạn, từ đây những hoạt động tội ác cùng các sự kiện đẫm máu bắt đầu. Tháng 7 bọn phiến loạn phục kích đoàn xe vận tải của quân Giải phóng gần chùa Tranh Mạc phía tây Cách Tang, gây ra nhiều tổn thất.

Ngày 17-9, quân phiến loạn lại phục kích đội xe quân y của quân khu Tây Tạng tại Ma Giang, giết hại 16 y bác sĩ và nhân viên.

Ngày 18-12, bọn chúng lại phục kích đội xe của quân Giải phóng Cống Cát, sát hại 37 sĩ quan và bộ đội, làm bị thương 22 người. Ngày 19 phục kích phân đội hậu cần của quân giải phóng tại Trát Lang, sát hại trung đoàn phó Cân Xuân cùng 96 sĩ quan binh lính, làm bị thương 13người, gây nên một cuộc hành hung đẫm máu hiếm có.

Tháng 1-1959, quân phiến loạn vây hãm huyện ủy Sở Mộc của Trung ương, quân phản loạn tới đâu đều đốt phá giết chóc và hãm hiếp, chúng không từ hành vi tàn bạo nào. Chỉ riêng khu vực Mặc Trúc Nhị Ca đã có tới 84 gia đình dân Tạng bị cướp bóc và giết hại. Chúng hãm hiếp hầu hết phụ nữ trong một thôn ở gần Trạch Đương, cả người già và trẻ con cũng không thoát nạn. Tại Nài Đông, bọn phản loạn đã moi tim dân bản để thị uy quần chúng...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM