Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:25:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: KGB Hồ sơ bí mật  (Đọc 96785 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 10:48:25 am »


II
NHỮNG NGUỒN GỐC CỦA PHÒNG THÍ NGHIỆM



STALIN, CON NGƯỜI ĐA NGHI

Đối với Leonid Kvasnikov, người đứng đầu Cơ quan Khoa học và Kỹ thuật, và ông chủ của ông ta là Tướng Pavel Fitine, Trưởng phòng Phòng đối ngoại. Một điều chắc chắn rằng, người Anh và người Mỹ đã thực sự lao vào dự án bí mật để chế tạo một loại vũ khí chiến tranh với sức mạnh chưa từng có trước đây. Vấn đề không phải là một cấp thấp của tôn ti trật tự bảo vệ thông tin mới quan trọng này. Đã đến lúc phải đệ trình lên một người có quyền tối cao ở NKVD - Cục cảnh sát nhân dân1.

Nhưng không thuộc về điều mà Cục Cảnh sát Nhân dân muốn. Người chịu trách nhiệm có khả năng và hiệu quả Lavrenti Beria, được biết đến với dáng vẻ nghi ngờ bên ngoài của ông, một con người tàn bạo như bao người đàn ông khác của Stalin. Nhưng ông khác ở những người khác - Molotov hay Malenkov - đó là sự thể hiện một nét mặt được khích lệ bởi sự say mê của ông chủ, một nét tính cách của Beria xuất hiện trên những nét khuôn mặt ông. Ông có đôi môi dày và cong vào, cái mũi vừa dài vừa to, cái trán hói và dốc tạo cho ông có dáng vẻ của một người thi hành và nó được củng cố thêm bởi cái nhìn lạnh lùng của đôi mắt đen sau cặp kính trễ xuống tận mũi. Vào cuối năm 1941, ông đã có danh sách những người được lãnh thưởng lớn: ông đã quyết định cho người tiền nhiệm và đội của ông ký hàng trăm án tử hình, trong đó có cả mười lăm nghìn sĩ quan Ba Lan bị tàn sát ở Katyn, đuổi hàng trăm nghìn người của vùng Baltes và Ba Lan ra khỏi gia đình và bắt đi đến các doanh trại ở Siberia, theo dõi vụ ám sát của Trotski ở Mexico, đồng thời khuyên răn một hay hai nhà thơ trong nước. Chính quyền của ông mở rộng hoạt động tình báo cả bên trong lẫn bên ngoài, với một bộ máy kiểm soát hệ thống nhà tù và ở biên giới. Người ta cũng không tính đếm đến những điểm cốt yếu của ông, với những sự ngây thơ trong vở kịch của một nữ diễn viên Balê thon thả với giọng hát tuyệt vời hay của Bolchoi, hay việc hàng trăm người bị bắt giữa thành phố và bị tống lên xe. Nhưng người chỉ đường khôn ngoan và thông minh của nhân dân Xôviết như người ta đã gọi Stalin đã miễn cho ông những lỗi nhỏ này, với điều kiện là công việc luôn tin tưởng nơi ông.

Beria có thời gian rất lâu để thu hút sự chú ý của Stalin khi ông hoạt động trong ngành cảnh sát mật củaTranscaucasie với những tên khác nhau như Tchéka, GPU, NKVD. Sau khi Stalin thống trị được chính quyền hoàn toàn, Beria đã trở thành người đại diện trong vùng, là người thầy và là “lãnh chúa” của những người dân ở Georgie, Arménie, Azerbaidjan. Năm 1935, ông đã trả nợ cho ông chủ của mình và xuất bản một cuốn sách có tên là Lịch sử những tổ chức Bolchevich ở Transcaucasie. Cuốn sách này được viết để chứng tỏ rằng, khi mà Lênin, từ nước ngoài, đã chuẩn bị cuộc đảo chính lật đổ Bolchevich tháng 10 năm 1917, Stalin cũng làm việc này ở nhà. Cả hai người này đều đồng nhất, họ là những người bạn chiến đấu vì lý do cách mạng. Tóm lại, như một biểu tượng đã nói, “Stalin chính là Lênin ngày nay”.Việc bóp méo lịch sử một cách thô thiển đã làm hài lòng nhiều ông chủ và nó đã được dùng làm nguyên mẫu cho một trào lưu văn học viết về tiểu sử của một vị thánh đang tràn ngập trong nước. Beria rất giỏi khi mang chiếc mũ ở nơi và vị trí của ông chủ ông, nó cũng chẳng mất vốn mất lãi gì đối với ông. Đó là một từ chỉ áp dụng cho Stalin, ít có dịp để hoàn thành những nhiệm vụ này. Vào năm 1938, Stalin đã đề bạt ông làm người đứng đầu của NKVD.

Beria đã nhận được bản báo cáo mà Anh và Mỹ đã làm việc liên quan đến một quả bom không thể tưởng tượng nổi và ông đã quyết định thông báo với Stalin về bản báo cáo này. Stalin và ông cũng là chỗ thân cận của nhau. Cả hai người đàn ông này đều nói cùng một thứ ngôn ngữ của vùng Georgie. Hoàn toàn hy sinh tận tụy cho Stalin, ông làm tròn tất cả những nhiệm vụ mà cấp trên giao cho. Điều đó nói lên rằng, ông biết rất chính xác những điệp viên tốt và trung thành cũng chẳng đáng là bao, nếu không muốn nói là không có gì. Ông làm điều ông cần và Stalin hoàn toàn có thể thanh toán người cuồng tín của ông, như là ông đã thanh toán những người tiền nhiệm của ông, không phải không vâng lời và cạnh tranh. Beria là người trung thành, bởi vì ông biết rằng, ngay ngày “thanh toán” thì có thể tỏ ra một chân trời.

Nếu người ta tin Nikita Khrouchtchev ở điều này, Beria hoàn toàn đồng ý với quan điểm của một Stalin bị hạ gục bởi bệnh chảy máu não, nhưng ông lại bị đau ở gối và đã nắm trong tay mình một quyền lực khi người đàn ông này lấy lại bình tĩnh. Molotov đã khẳng định trong cuốn hồi ký của ông rằng, có thể Beria đã nói với những người bạn còn sống của Stalin rằng, ông ta đã “cứu vớt tất cả bọn họ” và nói cho họ biết rằng ông ta đã cứu Stalin khỏi chết, hay ít ra cũng hoãn được sự can thiệp của bác sĩ. Những tác giả gần đây nhất lại khẳng định rằng, Beria đã có ý định thay đổi chính sách mà Stalin đã thiết lập, đồng thời giải phóng chế độ, thống nhất lại hai miền Đông và Tây Đức sau khi nhà độc tài này chết. Nhưng ông ta đã phải đột ngột dừng những dự án khả thi này vì ông bị bắt vào tháng 6 năm 1953, ba tháng sau khi chìm trong sự chờ đợi. Vậy đâu là một phần sự thật trong việc tính toán này. Rõ ràng rằng, Beria biết rất rõ ông chủ của mình và tỏ cho ông ta biết một sự cẩn trọng đặc biệt trong những bản báo cáo với ông.
____________________________
1. Được thành lập ở Tchéka năm 1917, sau này đổi tên là KGB và NKVD (1934-1954), được gọi là Cục An ninh Quốc gia, Cơ quan mật vụ hay Cảnh sát mật - những cách gọi này được thay đổi liên tục.(ND)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 10:50:57 am »


Vào một buổi tối của tháng 11 năm 1941, ông đi từ Loubianka đến Điện Kremlin. Stalin vẫn còn làm việc rất muộn và tất cả các sĩ quan của Matxcơva cũng làm việc ở đó. Beria trèo lên tầng thứ hai và rất có thể ông được người bảo vệ hói đầu Alexandre Poskrebychev đưa vào phòng của Slalin một cách yên lặng trong sự ngự trị của ông chủ ở khắp mọi nơi. Văn phòng của ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hội đồng của Liên bang Xôviết, là một người trung thành và rất khiêm tốn, được bày biện trong không gian theo một phong cách nghiêm túc của Lênin: một căn phòng, một chiếc bàn dài trải khăn xanh và một chiếc bản đồ được treo trên tường cùng với một bức chân dung của Lênin. Tất cả những bức tường của các phòng trong Liên bang Xôviết đều được trang trí ảnh Lênin hoặc Stalin, đôi khi chỉ một mình Stalin. Điều mà Beria và Stalin nói trong suốt cuộc họp này, tất nhiên chỉ một mình họ và Poskrebychev biết, nhưng điều mà Beria đã nói với người khác thì đã được giữ tuyệt mật theo truyền thống của KGB. Kể từ đó ông có thể tạo dựng lại được bộ phim về cuộc họp này.

Stalin không nghe Beria nữa và bảo ông ta im, theo như thói quen của Stalin, ông thường giơ tay phải lên. Sau khi bỏ tay xuống ông nói:

- Hãy đợi một phút, Lavrenti. Những người Đức đang đứng trước Volokolamsk và anh, tôi kể cho anh nghe những câu chuyện lịch sử đáng buồn ngủ. Tôi không tin là anh có thể chiến thắng trong chiến tranh bởi vì tôi cũng chỉ biết vài nguyên tố hóa học mà thực tế không ai nhìn thấy bao giờ. Anh không có cảm giác rằng vấn đề ở đây là một sự phao tin đồn nhảm ư? Đối với tôi dường như họ đang cố gắng đánh lạc hướng các nhà bác học Xôviết trong công việc của họ về một loại vũ khí mới, làm mất cân bằng nền kinh tế và làm chệch hướng bộ máy công nghiệp của chúng tôi ra ngoài đường ray chiến tranh.

Khi bày tỏ sự nghi ngờ và lúng túng của mình với Cục Cảnh sát Nhân dân, có thể là do ý thức, ông nói thêm:

- Ông Lavrenti, tôi rất muốn biết, liệu theo luật tự nhiên có cho phép một vụ nổ với sức mạnh bằng hàng nghìn tấn TNT? Hãy gửi những tài liệu này cho những nhà bác học của tôi thẩm định.

Cuộc gặp gỡ đã kết thúc.

Stalin không quan tâm đến những nhà nghiên cứu bình thường làm việc trong viện nghiên cứu này hay viện nghiên cứu khác về sự lựa chọn hay khả năng tư vấn của họ, mà ông quan tâm đến những nhà bác học xuất thân từ những trại tập trung hay được tập hợp trong các nhà tù, nơi mà họ đã hoàn thành nhiệm vụ và công việc được nhà nước giao cho. Những nhà bác học này, một vài người trong số họ đã nổi danh trên toàn thế giới, đã bị nhốt trong những trại làm việc sau khi bị chứng minh là hoạt động gián điệp và phản bội. Nhưng, ngay khi bắt đầu chiến tranh, Stalin đã quyết định đơn vị tiềm lực của họ sẽ vượt qua những tội phạm ngông cuồng này; ông đã kéo họ ra khỏi địa ngục để dùng họ “cho những viện nghiên cứu đặc biệt”, ở đó họ ăn mặc một cách cẩn thận, được nuôi nấng chu đáo và họ được trang bị từ những chiếc giường đến những chiếc ga trắng. Họ không phải là không có những người hầu, để làm việc nhiều giờ liền, ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác cho những dự án của chiến tranh. Một số thì say sưa với công việc nghiên cứu về kỹ thuật viết bằng mật mã, một số lại nghiên cứu về tàu ngầm nguyên tử, vũ khí sinh học thế hệ thứ ba. Họ được đặt tên là Charachka (có nghĩa là “nơi thủ đoạn”) chỉ những sử dụng mới của họ. Ở nước Nga Xôviết, thậm chí sự tồn tại của những nhà tù này được giữ bí mật một cách tuyệt đối. Những viện nghiên cứu được đặt ở Matxcơva, Bolchevo, Taganrog hay ở một nơi khác đều không được biết đến, kể cả những người chết hay những gia đình của những tù nhân. NKVD điều hành họ theo như sự phân chia đặc biệt của Goulag. Đến nỗi mà, khi Stalin ra lệnh cho Beria gọi “những chuyên gia khoa học của chúng tôi”, ông ta nghĩ ngay đến những người tù của Charachka.

Độc giả không ngừng tưởng tượng rằng, những nhà vật lý được tiếp xúc bởi Beria đã ở trong một tình huống khó xử nhất. Vấn đề của Stalin như một bài toán khó hiểu mà một ông vua trong truyện cổ tích phải phục tùng. Mặt khác nếu họ cung cấp những câu trả lời sai thì một viên đạn vào gáy là không thể thoát được, nếu những câu trả lời đúng thì họ sẽ được sống trong điều kiện tiện nghi tương đối. Những nhà vật lý của Charachka biết điều mà họ phải làm để được sống, qua đó họ rút ra một điều là “Có thể chế tạo được một quả bom chứa Uranium nhưng việc đó mất rất nhiều thời gian”.

Câu trả lời này đã cứu thoát họ ngay lập tức, nhưng nó có tác dụng gợi cho Beria trong một tình huống tương tự. Vào mùa xuân năm 1941, khi mà những điệp viên tình báo ở nước ngoài làm bản báo cáo về những chuẩn bị trong chiến tranh của Hitler, Stalin từ chối không tin vào những điều này, đồng thời ông còn nghi ngờ những phương tiện đã truyền những thông tin nhảm được lấy từ Anh, trái ngược với Đức quốc xã, những đồng minh mà ông hằng tin tưởng. Tất nhiên, Beria không tin tưởng ở bất kỳ ai, đó là nguyên tắc dưới chế độ của Stalin. Nhưng nếu những bản báo cáo về năng lượng nguyên tử là chính xác, điều đó sẽ rất nhanh, với những hậu quả thảm thương đồng thời đối với Nhà nước Xôviết, và đối với cả ông ta, Beria. Những điệp viên ở Luân Đôn cho ông ta biết rằng, người Anh đã lao vào việc chế tạo một loại bom có Uranium, những chuyên gia - tù nhân của ông đã nói với ông rằng việc đó sẽ mất nhiều thời gian. Vậy làm sao ông có thể giới thiệu thông tin không chắc chắn này với Stalin theo cách để tự bảo vệ ông?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 10:51:26 am »


Vậy là ông đã quyết định hỏi một nhà khoa học ở ngoài Charachka, Viện sĩ Hàn lâm Abram Ioffe, một nhà vật lý nổi tiếng nhất ở Liên bang Xôviết. Chính Ioffe đã chỉ đạo việc phân bố những viện nghiên cứu ở nhiều thành phố trong nước. Chúng được đặt tên là Viện Vật lý - Công nghệ (LPT), nơi đây đã đào tạo cả một thế hệ những nhà nghiên cứu nổi tiếng. Vậy Beria đã có lý khi nghĩ rằng, một người đàn ông như vậy thì không thể dẫn đến sai lầm được.

Nhưng Beria ý thức được sự phức tạp của khoa học và tính chính trị trong vấn đề này, ông đã tránh tất cả những câu trả lời liên quan đến vấn đề Charachka và cũng có thể là vấn đề khác ông không nói rằng ông sẽ có thể chế tạo được một quả bom nguyên tử, nhưng không phải không lâu. Ông nói rằng không thể chế tạo được bom - trong nhiều tháng chứ không phải ngay bây giờ. Ông nghĩ nhà máy cũng phải mất ít nhất là hai hoặc ba thập kỷ. Sự đánh giá bi quan này tuy nhiên vẫn còn lạc quan hơn những điều rnà ông đã dự đoán hai năm trước đây: “Nếu bậc thầy trong công nghệ tên lửa - ông đã nói với một trong những đồng nghiệp của mình - là một vụ áp-phe của năm mươi năm tới, thì việc sử dụng năng lượng siêu nguyên tử lại là một vụ áp-phe của thế kỷ”.

Beria nói rằng, với câu trả lời của Ioffe, ông đã dự tính được thực tế và ông đã quay sang nhìn Stalin, người đang ở nhà của Kountsevo. Ông bắt đầu nhấc cuốn sách hướng dẫn lên theo thói quen:

- Ông đã có lý, ông bạn Stalin. Ông đã có lý khi nghi ngờ những dữ liệu trong bản báo cáo của Luân Đôn. Rất rõ ràng, đó không phải là một cái gì khác ngoài sự phao tin đồn nhảm mà những người Anh đã gửi cho chúng ta để buộc chúng ta vào cuộc một cách vô ích và không có mục đích.

- Vậy những nhà khoa học của chúng ta nói gì?

- Những nhà khoa học của chúng ta, ông bạn Stalin, họ không thấy gì xa hơn ngoài cái mũi của họ. Nhưng Viện sĩ Hàn lâm Ioffe cho tôi biết rằng, việc sử dụng Uranium cho những mục đích quân sự, hiện nay không có gì khác ngoài một ý kiến. Ông ta còn nói rằng, một thập kỷ là không đủ để chứng tỏ điều đó có thể làm được hay không và vũ khí nguyên tử hoàn toàn chỉ là một giả thiết. Nó có thể được chế tạo nhưng nó vẫn chưa có thực.

Stalin chìm trong yên lặng và rút ống tẩu ra. Ông nói rằng, lúc mà Hồng quân Liên Xô chịu đựng hết đợt bại trận này đến đợt bại trận khác và lúc mà lực lượng của Đức quốc xã đang đứng trước cánh cửa của Matxcơva, thì việc tiếp tế các phương tiện chiến tranh như máy bay, xe tăng và súng ra mặt trận là vấn đề khẩn cấp. Ông chấm dứt việc thảo luận về những bản báo cáo của tình báo nước ngoài.

- Đúng, ông Lavrenti, chúng ta không còn thời gian để nghĩ. Tôi không biết một loại bom siêu hạng nào. Nhưng hãy để mắt chú ý đấy.

Beria ra đi với niềm tin rằng, ông sẽ không làm phiền ông chủ trước khi có được những bằng chứng xác thực về vấn đề này. Trong lúc này đây, vấn đề khẩn cấp là không để bọn Đức quốc xã tràn vào Matxcơva, và Hồng quân, với sự tăng cường từ Siberia sẽ có thể hoàn thành được nhiệm vụ này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 10:55:49 am »


NHÀ BÁC HỌC - ĐIỆP VIÊN

Mặc dù việc đó có làm hài lòng hay không thì vấn đề bom nguyên tử vẫn còn đó. Cuối năm 1941, Liên bang Xôviết đã thuê một trong những điệp viên hiệu quả nhất về vấn đề thám tử nguyên tử. Không chỉ đơn giản là một điệp viên chỉ biết quan sát những chuyện bên ngoài, mà còn là một nhà khoa học bên trong, hoàn toàn liên quan đến việc chế tạo của một chiếc máy khủng khiếp.

Chính vào tháng 9 nạm 1933, một sinh viên trẻ và là nhà quân sự chính trị của Đại học Leipzig và Kiel, thoát khỏi chế độ của Đức quốc xã Hitler đến Anh. Những người bạn trong Đảng Cộng sản Đức của anh giấu điều nguy hiểm này và một ngày nào đó họ mời anh đóng vai một nhà lỗi lạc trong việc xây dựng Đảng Cộng sản Đức, đồng thời cung cấp cho anh những phương cách trốn thoát, nhưng vẫn còn một điều gì đó chưa biết. Đến từ Douvre với một bọc quần áo, không tiền, không biết tiếng Anh nhưng anh ta vẫn thành công, nhờ sự giúp đỡ của một người hàng xóm, anh gặp gỡ với một nhà công nghiệp giàu có tên là Ronald Gunn. Là “Người bạn đường” của những người cộng sản và một người bạn của Liên bang Xôviết. Gunn đã cho anh tạm trú ở nhà ông ta và bảo lãnh cho anh ta với ông Nevill Mott, Giáo sư vật lý của Đại học Bistol, trường này được trợ cấp bởi gia đình bà Gunn. Ông Mott, một thành viên của Hiệp hội quan hệ và hợp tác văn hóa với Xôviết, đã chia sẻ những quan điểm chính trị với ông Gunn; hơn nữa ông còn nói tiếng Đức và đã tiếp đón anh trong phòng thí nghiệm của những người lưu vong Đức của ông. Trong đó có cả ông Hans Bethe, người đáng lẽ phải trở thành Trưởng khoa lý thuyết của Đại học Los Alamos. Fuchs đã trở lại nhóm với danh nghĩa là một nhà nghiên cứu.

Trong suốt bốn năm tiếp theo, Fuchs đã tập trung vào nghiên cứu vật lý và tiếng Anh. Ông nổi danh nhờ cái vẻ thanh liêm và kín đáo tự nhiên của mình, đặc biệt là sự siêng năng trong công việc và khả năng về toán học. Gầy đét đeo một cặp kính, ít cởi mở, vụng về trước những sự thay đổi ngẫu nhiên trong cuộc sống thường ngày nhưng lại giỏi chuyên môn, ông cũng là một mẫu người cổ điển của nhà bác học. Ông đã có được bằng tiến sĩ vào cuối năm 1936 và vào Đại học Édimbourg làm việc dưới sự chỉ đạo của ông Max Born, một trong những nhà vật lý nổi tiếng nhất của thời kỳ này. Chính nhờ đối tác - môn đệ của ông ta mà ông đã bắt đầu cho đăng tải những bản báo cáo khoa học gây được sự chú ý của các nhà vật lý khác, chẳng hạn như ông Rudolf Peierls. Thế là ông đã đi được chặng đường ba mươi năm.

Ở Anh, Fuchs không hề giữ bí mật những ý kiến về những người Cộng sản của ông. Cùng với ông Mott, ông thường xuyên đến những cuộc họp của Hiệp hội quan hệ và hợp tác văn hóa với Xôviết. Trong một số cuộc họp, những bản báo cáo phô trương của Xôviết được đạo diễn để trình bày và làm hài lòng những người tham dự. Nhân dịp những độc giả này làm tăng tính hiệu quả của vở kịch, Fuchs đã bỏ thói quen nhút nhát để đóng vai nhân vật Andrei Vychinski, một Chưởng lý tòa phúc thẩm của Liên bang Xôviết, mới hôm qua vẫn lên án những người đã từng là nhà lãnh đạo của Đảng và anh hùng nhân dân. Vai này ông đã đóng với sự “lạnh lùng độc ác mà tôi sẽ không bao giờ nghi ngờ rằng một thanh niên trẻ lại có thể bình tĩnh và kín đáo đến như vậy”, và ông Mott cũng phải công nhận như vậy. Ở Édimbourg, ông tiếp tục tham gia vào Hiệp hội quan hệ và hợp tác văn hóa với Xôviết và tổ chức một Ủy ban hành động chống phát xít cùng với ông Hans Kellermann, một nhà vật lý khác của Đức cùng trường đại học. Những hoạt động của ông không thu hút được sự chú ý đặc biệt và nó cũng không phải là hoạt động mang tính căn bản của thời gian này và nơi này.

Từ một cách ít gây ấn tượng, Fuchs là thành viên bí mật của Đảng Cộng sản Đức mà không bao giờ thông báo điều này cho những người bạn mới của ông biết. Ngoài những ngày lưu trú ở Anh và giữ liên lạc với Đảng, ông còn gặp gỡ ông Jurgen Kuczynski, một nhà Cộng sản Đức gốc Ba Lan, thông qua trung gian mà ông đã gửi được những bản truyền đơn về Đức. Kuczynski, một con người đầy tài năng và phương tiện hành động, đã duy trì những liên lạc với Đảng Cộng sản Đức, Đảng Cộng sản Anh, một cánh tả của Đảng Lao động, một sự đối lập của tổ chức “những người biên giới” và nhiều nhân vật quan trọng ở Matxcơva. Fuchs đã biết điều đó từ khi ông làm việc ở một trường đại học của Đức.

Vào tháng 8 năm 1939, Fuchs nài xin Văn phòng gia đình cho ông được là công dân Anh. Cũng trong tháng này, Đức quốc xã và Liên bang Xôviết đã ký một Hiệp ước không xâm lược, Hiệp ước Molotov - Ribbentrop nổi tiếng này đã gây ra sự lầm lẫn, sự rối loạn tinh thần, việc kiểm tra gây sự chia rẽ trong nội bộ những người Cộng sản và những người “bạn đường”. Nếu người ta tin điều đó là sự thú nhận của ông vào năm 1950, thì Fuchs đã chứng tỏ những nghi ngờ đầu tiên của ông về chính sách đối ngoại của Xôviết, nhưng cuối cùng ông cũng đã chấp nhận rằng, “những nghi ngờ của tôi là sai lầm và Đảng đã có lý”. Một tháng sau đó, được đảm bảo về sự trung lập của Xôviết, Đức đã tấn công Ba Lan, Anh cũng tuyên chiến với họ. Bảy mươi nghìn người Đức và Áo ở Anh, trong đó có Fuchs được coi là những kẻ thù nước ngoài. Vào tháng 5 năm sau đó, ông đã bị nhốt vào trại tập trung ở đảo Man, rồi lại được chuyển về trại của Sherbrooke ở Québec. Vào tháng 1 2, ông được trả tự do và trở về Anh, ở đây sự nghiệp của ông nổi lên nhanh chóng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 10:56:44 am »


Vào đầu năm 1940, Otto Frisch rời Đại học Birmingham đến Liverpool để truyền giao những kinh nghiệm của ông về Plutonium, cùng với sự hợp tác của ông James Chadwick. Sự hợp tác nổi tiếng Peierls - Frisch đã bị cắt đứt, Peierls nghĩ đến Klaus Fuchs, người mà ông đã nhiều lần gặp ở Đại học Édimbourg và là người mà ông đã đọc những bản báo cáo khoa học được viết với sự hợp tác của ông Born. Có sự cho phép của Cơ quan Tình báo trong đó và Peierls đã yêu cầu Born và Mott những ưu tiên dành cho ông Fuchs. Trong thời gian này, chính ông Peierls cũng là người lưu vong và đã có được quốc tịch Anh, từ việc này, một sự tiếp xúc không hạn chế với thế giới bí mật của việc nghiên cứu nguyên tử ở Anh. Phòng thí nghiệm Đại học Birmingham của ông đã trở thành một bộ phận tất yếu trong dự án bom A của Anh, nó được mang bí danh là “Tube Alloys”. Nhưng trong hồ sơ của Fuchs còn có hai cuốn sách tham khảo: cuốn thứ nhất ghi năm 1934, xuất phát từ lãnh sự quán của Đức và liên quan đến những nhà Cộng sản trước đây của họ; cuốn thứ hai là một lời xác nhận về bản báo cáo này của MI5 (Cơ quan An ninh thuộc Cục Tình báo Quốc phòng Anh) đã dựa theo lời khai của một người lưu vong. Trong chốc lát Đức và Liên bang Xôviết đã trở thành đồng minh của nhau, Fuchs có thể được coi là người đại diện chính đáng. Nhưng những lời đảm bảo trong phạm vi lớn, sức mạnh trong việc chống phát xít và lợi ích của họ trong việc tham gia vào một chương trình quân sự quan trọng dựa vào lượng dự bị có thể kế tiếp chủ nghĩa Cộng sản của họ. Tháng 6 năm 1941, thậm chí biết trước được công việc đang đợi ông, Fuchs đã có được hệ số thanh thải, sự cho phép an toàn. Chính ông đã gửi cho Cơ quan Hành động mật của Anh (Nguyên tắc về bí mật quốc gia) lời tuyên thệ trung thành.

Công việc thuận cho Fuchs, một điều chính xác rằng SAC đã dành ưu tiên đặc biệt cho ông: Việc tính toán về khối lượng tới hạn của Uranium 235. Fuchs đã giải quyết hoàn toàn vấn đề tách đồng vị của Uranium bằng phương pháp khuếch tán ga, quá trình này đã được chuyên môn hóa. Ông vừa thâm nhập vào một lĩnh vực ít được biết đến mà Đức quốc xã đã sử dụng để tấn công Xôviết. Fuchs nhanh chóng đưa ra quyết định của mình.

Việc chế tạo bom nguyên tử, ông đã nói, có thể sẽ quay sang chống lại Xôviết. “Trong thời kỳ này - ông đã giải thích trong lời thú nhận của mình - tôi hoàn toàn tin tưởng vào chính sách của Xôviết, và tôi nghĩ rằng, những đồng minh phương Tây đã suy nghĩ và cân nhắc khi để cho Nga và Đức chiến tranh không khoan nhượng với nhau cho đến lúc chết. Tôi không có ít nhất một do dự nào khi giao tất cả những thông tin cho người quản lý của tôi, thậm chí, một cách ngẫu nhiên, tôi dã cố gắng tập trung vào những thông tin liên quan đến những kết quả trong công việc riêng của tôi”. Thậm chí ông đã đánh máy những bản báo cáo hàng tháng của ông với bản sao bằng giấy than của ông Peierls, người mà ông đã đến ở và cả bản sao về lần gặp gỡ với Xôviết của ông khi tung tích chưa được biết đến.

Trong một cuộc phỏng vấn của hãng sản xuất phim Đức Joachim Helvig từ những năm tám mươi và đã được xuất bản (bằng tiếng Nga) năm 1991, Fuchs đã giải thích về việc ông đã bắt đầu như thế nào:

“Khi tôi bắt đầu làm việc về những vấn đề của một phản ứng dây chuyền Uranium - Nơtron, một điều hiển nhiên đối với tôi là những cuộc thí nghiệm này có thể đã đánh dấu một bước ngoặt và một cuộc cách mạng trong công nghệ hiện đại. Trước khi có được niềm tin này, tôi đã gặp một người bạn Anh nào đó vào cuối năm 1941 trong một trong những dịp tôi đi du lịch ở Luân Đôn, một người bạn mà tôi chắc chắn rằng ông ta cũng có được những thông tin của những nhà lãnh đạo Xôviết, những thông tin mà tôi cũng có. Tôi đã biết ông ta một cách rất chung chung, theo bản chất những thông tin của tôi, tôi đã trở lại Trường Đại học Birmingham.

Trong chuyến du lịch tiếp theo của tôi ở Luân Đôn, người bạn này đã cho tôi địa chỉ của một người phụ nữ Luân Đôn mà tôi phải gặp trong một thời gian chính xác. Trong thời gian nào đó, địa chỉ ở Luân Đôn này đã trở thành nơi trú ngụ của tôi. Sau đó, một phương pháp tinh vi nhất đã được áp dụng cho những cuộc gặp này: đến giờ hẹn, tôi phải quay trở về nhà một người bạn, trong trường hợp này là một người phụ nữ. Chúng tôi đã thảo luận nhiều vấn đề và ấn định những cuộc hẹn mới, với những ký hiệu và dấu hiệu riêng...
”

Từ “một người bạn nào đó” của Luân Đôn, một lần nữa không ai khác ngoài Jurgen Kuczynski. Trong những năm sau đó được đề bạt vội vã làm Giám đốc của Viện kinh tế và Viện hàn lâm Khoa học Đông Đức, ông đã nhớ lại những cuộc gặp gỡ của ông với ông Fuchs:

“Để bắt đầu, tôi đã cho ông ta tiếp xúc với một người bạn ở lãnh sự quán Xôviết nhưng sau đó cuộc tiếp xúc này đã bị hủy bỏ, tôi đã cho ông ta đi theo hướng “Sonia”. Vậy là hai lần liên tiếp tôi đã cho ông ta tiếp xúc với những người đại diện của Xôviết. Công việc mà ông ta làm là giữ những thông tin cũng như những điều quan trọng, người chỉ huy của ông ta đã quyết định giao những thông tin này cho Xôviết. Đó là điều mà tôi cảm thấy hoàn toàn đúng thậm chí còn cần thiết trong tình huống này nữa... Tôi luôn luôn đánh giá cao ông Klaus Fuchs không chỉ là một nhà Cộng sản mà còn là một nhân vật có tầm cỡ...”

Người bạn đầu tiên được Kuczynski giới thiệu cho ông ta là Semion Kremer, được coi như là thư ký của tùy viên quân sự Xôviết. Ông Fuchs chỉ biết ông ta dưới cái tên bí danh là “Alexandre”. Như là ông ta đã chỉ ra trong lời thú nhận của mình, người bạn (chỉ Kuczynski) “đã duy trì mối quan hệ thường xuyên với những nhân vật mà tôi hoàn toàn không biết, và trong đó tôi chỉ biết một điều duy nhất là họ đã truyền cho những nhà lãnh đạo Xôviết tất cả những thông tin mà tôi có thể đưa cho họ”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 10:57:16 am »


Một cái tên vỏ bọc, khác với những bí danh khác, được sử dụng để trao đổi liên lạc và ít nhiều đã công khai. Đó là cái tên mà một phần ba trong số họ có thể đã nhìn thấy hoặc nghe thấy, nó được biết đến như một cái tên mà nó mang; khi mật danh chỉ được sử dụng để trao đổi bí mật thì chúng đã được mã hóa và có thể không được biết đến một cách thực thụ. Một cái tên vỏ bọc có thể là một cái tên bình thường và thực thụ, kiểu như “Sam”, khi mà mật danh, chúng ta đã nhìn thấy, có thể chỉ là một biệt hiệu hoặc là một cái gì đó hoàn toàn tưởng tượng như Orphelin, Demoiselle, v.v..

Việc Kremer sử dụng tên vỏ bọc suýt nữa đã làm hỏng nhiệm vụ của Fuchs. Đương nhiên Fuchs rất bí mật và lén lút, nhưng ông ta không biết những nguyên tắc của Konspiratsia. Sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với “Alexandre” ở Kensington Palace Garden, nơi ở của Hyde Park, không xa lãnh sự quán của Xôviết. Fuchs đột nhiên có những nghi ngờ về chủ đề của người đối thoại với ông, và ngày lưu trú tiếp theo ở Luân Đôn vào tháng 12, ông đã trở lại lãnh sự quán để xác minh điều đó. Một điều hạnh phúc ngẫu nhiên, Kremer đang ở đó và đã dùng biện pháp để làm cho ông ta yên tâm, nhưng sáng kiến không suy nghĩ của Fuchs đã trở thành một sự vi phạm nghiêm trọng đến Konspiratsia. Chính bởi điều huyền diệu đó mà các nhà lãnh đạo Anh không phát hiện ra và không đặt ông dưới sự theo dõi. Cũng sự huyền diệu mà Kremer có thể bắt tay vào công việc sau khi tên phản bội Walter Krivitsky bị phỏng vấn bởi MI5 vào mùa thu năm 1940, đã xác định một cách quả quyết Fuchs là một tên gián điệp. Dù sao đi chăng nữa, sau điều sai lầm lớn của Fuchs, sự cẩn trọng đã được thắt chặt hơn. Hai người đàn ông này đã gặp gỡ nhau nhiều lần, trong những lần gặp này Fuchs thông báo cho Kremer rằng, một nhà máy tách đồng vị đã được xây dựng ở đất nước của Galle nằm ở phía Bắc, và người Mỹ đã hợp tác với Anh về dự án bom nguyên tử. Đổi lại, ông đã lấy được những mưu mẹo của Kremer trong trò chơi của Cơ quan Tình báo với nhiều bí mật. Sau đó bộ hồ sơ đã được chuyển cho một sĩ quan tiếp xúc với gián điệp khác.

Người đàn ông mà Fuchs gọi là “một người bạn khác” và Kuczynski gọi là “Sonia” là chị gái của Kuczynski, Ursula. Chính một người lính kỳ cựu được đào tạo ở Matxcơva, và những người tiền nhiệm cũng cho biết rằng, Ursula, trong trường hợp này, cùng với nhân vật huyền thoại Richard Sorge đã hoạt động gián điệp ở Trung Quốc và Nga. Nghệ thuật truyền radio bí mật là khả năng riêng của bà ta. Khi đến Anh, bà ta đã qua nhiều trạm cảnh sát của TSF có trải thảm nhung và ghế thấp. Cưới một người chồng mang quốc tịch Anh Leon Beurton và bà được nhập quốc tịch Anh dưới cái tên của Len Brewer, bà cùng với một người con chuyển đến Kidlington với một cái lên khác là Mrs. Ruth Brewer. Chồng bà là một người có cảm tình với Đảng Cộng sản, đã ở lại Nga, nơi mà ông phải đối mặt với những vấn đề về thị thực nhập cảnh. Kidlington ở gần với Oxford và gần Birmingham hơn là Luân Đôn. Từ giữa năm 1942 đến năm 1943, Fuchs gặp Sonia thường xuyên ba hoặc bốn lần một tháng ở Banbury, nằm ở giữa đường của hai thành phố này. Trong một bộ phim tài liệu trên truyền hình có tên Bom Đỏ (1944), “Sonia Đỏ”, đến nay Ruth Werner mới kể về những cuộc gặp gỡ bằng xe đạp ở những chỗ giao nhau trên con đường ở nông thôn.

Sonia nhắc lại rằng, chính Fuchs đã giao cho cô một quyển sách màu xanh có rất nhiều tài liệu khoa học, những tài liệu mà cô thường mang về nhà một cách kín đáo bằng xe đạp. Ở thời kỳ này, ông không hạn chế trong việc giao những bản báo cáo liên quan đến những hoạt động riêng của ông, nhưng ông đã thâu tóm được những gì đã xảy ra thông qua ba trăm trang sách. Trở thành công dân của Anh vào tháng 6 năm 1942, ông đã có thể tiếp xúc với toàn bộ những tài liệu được xếp vào loại “top bí mật”, trong đó bao gồm những bản báo cáo của điệp viên Paul Rosbaud, cũng hoạt động ở Đức, nghiên cứu về quân đội của Đức quốc xã. Những tài liệu này có thể là con đường cho những điệp viên khác.

Fuchs có thể hoàn toàn không biết rằng Jurgen, “Alexandre” và “Sonia” làm việc cho GRU, Cục Tình báo Trung ương gần Bộ Tổng Tham mưu, tên gọi chính thức của Cơ quan Tình báo Quân sự Xôviết. Những chi tiết này không làm ông quan tâm và ông vẫn tập trung vào việc giao tài liệu. Sonia đã truyền những gì mà bà ta thu nhận được qua làn sóng ngắn của radio, nhưng khi dụng cụ này quá to và đòi hỏi cực kỳ kỹ thuật, bà ta lại gửi chúng qua tay của Kremer, người đã dẫn chúng đến vụ kiện giao liên ngoại giao. Cũng từ cách này mà bà ta chuyển những tài liệu từ văn phòng chiến tranh của ông Churchill, được cha của bà là ông Robert lấy, người đã có những quan hệ với giới lãnh đạo, đặc biệt với ông Stafford Cripps, Đại sứ của Anh ở Xôviết. Chính Sonia đã được cha cô tuyển mộ thay cho GRU. Chính cô cũng chuyền những tài liệu đã lấy được từ tay của cha cô. Jurgen hầu như đã len lỏi đi khắp nơi. Ông ta cũng được Sonia tuyển mộ.

Một cuộc cạnh tranh dữ đội giữa GRU và NKVD - KGB luôn diễn ra, thậm chí người ta có thể tự hỏi rằng, không biết bằng biện pháp nào mà hai cơ quan này lại có thể chia sẻ những thông tin mà Fuchs đã thu thập được trong những năm đầu tiên. Rút cục thì Stalin đã nhận được những bản báo cáo từ phía này hay phía khác và người ta đã có lý khi giả định rằng, ông ta đã giữ những thông tin về hoạt động của nhà bác học - thám tử. NKVD không chiếm lấy nguồn thông tin này vào cuối năm 1943, thời gian mà Fuchs đã đến Mỹ để trở lại kíp của ông ở Los Alamos. Ngay khi ông tiếp xúc với “Raymond” (tức Harry Gold), người đã chuyển những kiện hàng của ông cho một sĩ quan tiếp xúc với gián điệp của Xôviết tên là Antonli Yakovlev, tên thật của ông ta là Yatskov.

Fuchs đã thuật lại với những lời lẽ mang ý nghĩa tác dụng tâm lý trong cuộc sống hai mang mà ông ta đã thực hiện:

“Tôi đã cầu viện đến chủ nghĩa triết học Macxít của tôi để lập kế hoạch trong đầu theo hai nơi khác nhau. Một ngăn, bên trong nó cho phép tôi có những người bạn, những quan hệ cá nhân, sự giúp đỡ của người này hay người khác, trong tất cả những lĩnh vực riêng, sự ra đi của một người đàn ông mà tôi mong muốn, và sự ra đi của người đàn ông mà trong tất cả các lĩnh vực cá nhân, tôi mới có, với những người bạn của tôi trong Đảng Cộng sản hay thân với Đảng. Tôi có thể được tự do, thoải mái và hạnh phúc với những người khác mà không sợ bị phát hiện bởi tôi biết rằng nơi khác sẽ có thể can thiệp nếu tôi tiến gần sự hạn chế nguy hiểm. Tôi có thể quên nơi khác và tất nhiên tin vào ông ta. Tất nhiên trong thời kỳ này, tôi đã trở thành một người đàn ông tự do bởi vì tôi đã thành công, ở một nơi khác, tôi có thể hoàn toàn độc lập với lực lượng xã hội xung quanh. Khi tôi mang một cái nhìn về dĩ vãng, về tình trạng của tôi, cách tôi nhất xác định đối với tôi dường như là “chứng tâm thần phân lập được kiểm tra”.

Nhiều sĩ quan tiếp xúc với gián điệp có thể phát biểu với vẻ ngẫm nghĩ theo kiểu đề nghị này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 11:00:18 am »


BÍ MẬT VỀ CÁI CHẾT CỦA MỘT TÊN ĐỨC QUỐC XÃ

Dấu hiệu thứ hai về sức mạnh bí mật mà nó đã lớn dần trong nhiều nước khác nhau, ít nhiều đã đến lúc người ta mong đợi - vở kịch của Nga về những kế hoạch quân sự.

Cuối tháng hai năm 1942, Hồng quân đã tung ra một chiến dịch tấn công kinh ngạc chống lại quân đội đồn trú của Đức ở Krivaya Koza, không xa Taganrog lắm. Cứ một trăm sáu mươi người đàn ông của quân đội đồn trú thì có mười người bị bắt làm tù binh, còn những người khác ở trong sự lạnh giá của Vịnh. Trong số những chiến lợi phẩm có một cuốn sổ tay dày được bọc bìa cáctông của một người chỉ huy đã được phát hiện trong một chiếc va li, sau khi người chỉ huy này và người lái xe của ông ta bị giết chết trong chiếc xe con. Khi được phỏng vấn, những tù binh tuyên bố rằng, người chỉ huy này không thuộc những người của quân đội đồn trú mà là ở đội công binh. Ông ta đến Krivaya Koza lần thứ hai trong ba ngày, trong cuộc hành trình Marioupol - Tagnarog, nhưng lần cuối cùng đã quá muộn để trở về căn cứ của ông ta. Buộc phải qua đêm, ông ta đã bị một cuộc tấn công bất ngờ. Cuốn sổ của ông ta đã được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng. Trong đó có những tập giấy pơluya dường như là những mẫu in sẵn, những biểu đồ và những sự miêu tả. Không có gì lớn để làm với chúng, đến nỗi mà ông chánh đội đã giao lại nó cho một sĩ quan của NKVD. Starinov cũng không biết tiếng Đức và lại gửi nó cho một sĩ quan thân Đức.

Câu cuối cùng này không gây xúc động một chút nào: “Đó là vấn đề mà tôi không biết tổng hợp bằng cách nào, người bạn đại tá của tôi đã khẳng định. Những thế phẩm, như thói quen hay nói của những người “tóc xoăn “. Và đó cũng là điều ngu ngốc về vấn đề năng lượng nguyên tử”.

QG không đòi lại cuốn sổ tay bỏ túi đó, Starinov đã giữ nó và trở lại những vấn đề được rút ra từ các mỏ. Vào tháng tư, trở về từ Matxcơva, ông đã dừng lại trước GKO - Ủy ban Quốc gia về quốc phòng ở phố Jdanov. GKO bao gồm cả Bộ Khoa học do ông Serrgui Kaftanov lãnh đạo, một người đàn ông với dáng vóc cao to, rất oai nghiêm và vạm vỡ. Starinov không tiếc sức với Stepan Balezine, trợ lý của Kaftanov, và đến lượt ông cũng ủng hộ ông chủ của mình. Từ một thỏa thuận chung, hai ông đã đưa ra thỏa thuận rằng, văn bản bằng tiếng Đức này được viết theo nét chữ Latinh, rất dễ giải mã và không dễ sợ như chữ gôtíc (chữ cổ), chúng cũng không liên quan đến “những thế phẩm” mà liên quan đến quá trình phân hạch nguyên tử. Ở cấp độ lý thuyết thì văn bản này có lợi cho công nghệ hơn là sự trong sạch của khoa học kỹ thuật. Họ biết điều đó có nghĩa là: Marioupol và Taganrog là những nhân vật của trung tâm khai thác mỏ.

Starinov không hoàn toàn thực hiện ý nghĩa đích thực của sự việc, mà bốn mươi ba năm sau, khi đọc lại cuốn hồi ký của Kaftanov liên quan đến chương trình nguyên tử được biết: “Balezine và Kaftanov đã đoán rằng, điều đó hoàn toàn không phải do ảnh hưởng ngẫu nhiên mà một sĩ quan của Đức quốc xã bị giết chết ở Krivaya Koza khi đi tản bộ ở một số vùng miền Nam của đất nước, chúng bị chiếm đóng bởi Đức quốc xã. Ông ta đang đi tìm kiếm Uranium”.

Cuốn hồi ký của Kaftanov còn cho biết về lịch sử cuốn sổ tay nhỏ. Được dịch ra tiếng Nga, cuốn sổ này được gửi cho ông Alexandre Leipunski, Giám đốc phòng thí nghiệm vật lý nguyên tử ở Viện vật lý nguyên tử IPT của Kharkov. Từ IPT của Kharkov, nơi phân hạch nguyên tử liti đã được thực hiện vào năm 1932, là điểm mấu chốt trong nghiên cứu vật lý của Xôviết. Leipunski giữ vai trò hàng đầu ở đây, tuy nhiên ông đã có những nghi ngờ về triển vọng của một phản ứng dây chuyền và ông nghĩ rằng, cần phải hoàn thành một khối lượng công việc lớn trước khi đạt được điều đó. Một mặt ông là người khám phá, mặt khác ông lại là người bảo thủ, cũng như ông Ioffe, người sáng lập IPT của Kharkov.

Trong cuộc hội thảo năm 1939 về vấn đề vật lý nguyên tử được tổ chức ở Kharkov, Youli Khariton và Yakov Zeldovitch, được sự bảo vệ của ông Nikolai Semionov ở Viện hóa học và vật lý Leningrad, đã mở ra hai hướng chỉ đạo mới về phản ứng dây chuyền, với việc sử dụng một là Uranium 238, hai là chất tiết chế của nước nặng, hoặc đồng vị của Uranium 235. Giả thiết cuối cùng này được hai nhà vật lý khác của IPT Kharkov là ông Viktor Maslov và Vladimir Chpinel tán thành, và vào tháng 10 năm 1941 họ đã có được tấm bằng sáng chế của Văn phòng ứng dụng quân sự về nghiên cứu khoa học. Nó được đặt tên là “Từ việc sử dụng Uranium như một chất nổ và độc hại”, nó nằm trong khoảng thời gian có giác thư ngoại giao của Peierla-Frichs (tháng 3 năm 1940) và bản báo cáo của Maaud (tháng 7 năm 1941), tất cả hai bản báo cáo này đều xa lạ ở Nga. Nhưng Maslov và Chpinel đã gặp nhau trong những nơi có phản ứng chính thức không thuận lợi cho người đồng nhiệm của họ ở Anh. Những tháng sau đó, họ đã gõ tất cả những cánh cửa, trong đó có cả cánh cửa của Hồng quân nhưng không thành công vì không được sự ủng hộ. Chiến tranh nổ ra ngay lúc bấy giờ. Maslov được gọi đi chiến đấu và đã chết trong chiến trường, trong khi đó Chpinel được lệnh gấp rút quân trở về Alma-Ata ở Kazakhstan, với IPT của Kharkov. Ở đó ông thực hiện những công việc liên quan trực tiếp đến sức mạnh của chiến tranh. Một người tên là Fritz Lange nào đó, là bạn hay đồng nghiệp của người này hay người khác, mang quốc tịch Đức, bị bắt đi đày ngay lập tức ở “tủ ngầm”. Đến nỗi mà sáng kiến ra đi của Kharkov chỉ đạo một chương trình của Xôviết về bom A đã bị rơi vào một ngõ cụt.

Leipunski đã rút lui đến Oufa, thuộc phía Đông Nam của Kazan và đã nhận được cuốn sổ tay của một sĩ quan Đức từ Matxcơva gửi về, trả lời không chậm trễ rằng, ông ta không thấy gì ở đó và không biết những nhà vật lý Xôviết. Tất nhiên, bọn Đức quốc xã đã làm việc về những ứng dụng của năng lượng nguyên tử trong quân đội, tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được giải quyết trước mười lăm hay hai mươi năm. Bởi những hậu quả này, ông đã nhận định không đúng lúc về Liên bang Xôviết trong việc hoang phí tài nguyên thiên nhiên trong chương trình này, có thể nó sẽ kéo dài trong chiến tranh.

Thật khó để nói về sự cẩn thận của Leipunski về những lý do không thể nói ra của ông về vấn đề khoa học hay những người tiền nhiệm của ông. Ông là một trong những nhà bác học đã bị bắt vào những năm ba mươi và bị kết án một cách tưởng tượng như, đi sai lệch con đường chống chủ nghĩa Macxit hay những hoạt động chống Cách mạng. Bảy hoặc tám vị trưởng phòng ở Viện Nghiên cứu của Kharkov đã bị bỏ tù cùng tội danh với người sáng lập và ông giám đốc của họ. Những nguy hại này được chỉ đạo không phải để chống lại những nhà vật lý, họ nằm trong khuôn khổ của một vụ thanh trừ với quy mô toàn quốc gia, mà đỉnh điểm của nó là vào năm 1937.

Leipunski đã có may mắn trong chuyện này: sau một năm ở tù, ông đã được trả tự do, Hiệp ước Molotov - Ribbentrop đã có tác dụng, tất nhiên, sau tất cả mọi chuyện thì Đức quốc xã và Xôviết đã trở thành người bạn tốt của nhau. Người đàn ông cẩn thận này có kinh nghiệm gì trong chuyện này. Về vấn đề chính trị không được thương lượng trong khi đó chúng ta lại đánh giá cao đồng thời cả những nhược điểm và những thành tích cao siêu của nhà vật lý này dưới chế độ Stalin.

Kaftanov có ý thức về những khó khăn này, vấn đề là Leipunski hay người khác, nhưng ông ta không chạy theo những thông báo của Leipunski. Bởi vì có một nhà vật lý khác, trẻ và táo bạo luôn đẩy ông vào sự mạo hiểm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 11:04:44 am »


MỘT NHÀ VẬT LÝ TRẺ TÁO BẠO

Ở Anh, Mỹ hay ở Nga, những nhà bác học có tên tuổi đều có lý do và sợ rằng, Đức quốc xã là nước đầu tiên chế tạo ra loại bom “có chứa uranium”. Đặc biệt, từ khi Đức là nước đầu tiên thành công trong việc phân hạch nguyên tử uranium.

Sự kiện này đã xảy ra vào tháng 12 năm 1938 ở Viện Nghiên cứu Hoá học Kaiser - Wilhelm, nằm ở ngoại ô Thủ đô Berlin. Nhóm nghiên cứu đầu tiên này có ông Otto Hahn và Fritz Strassmann. Thí nghiệm của họ đã được Irène và Frédéric Joliot - Curie xác minh ngay tháng sau đó, tức là vào năm 1939 ở Paris. Thí nghiệm này cho biết rằng, hạt nhân uranium đã bắn ra những nơtron chậm và tách thành hai phần. Hai cựu đồng nghiệp của Hahn và Strassmann là ông Lise Meitner và Otto Frisch đang lưu vong ở Scandinave giải thích rằng, chỗ vỡ mà những người Pháp gọi là “sự phân hạch” thông qua phương pháp loại suy với phân tử, có thể giải phóng một năng lượng không thể tin được. Từ nay trở đi, nó có thể được tính trung bình theo công thức nổi tiếng của nhà vật lý Albert Einstein là E=mc2 (năng lượng là một khối lượng tăng theo bình phương vận tốc ánh sáng). Thậm chí một đơn vị uranium có thể sinh ra rất nhiều năng lượng, khoảng một triệu đơn vị cácbon. Một vụ nổ của nó có thể so sánh với hàng nghìn tấn thuốc nổ TNT.

Mặt khác, thí nghiệm của ông Hahn và Strassmann đã chỉ ra rằng, những phần tách ra của hạt nhân nặng hơn khối lượng của nó. Có thể chính nó phát ra những nơtron, từ đó có khả năng sinh ra một phản ứng dây chuyền. Đó chính là ý kiến của nhà vật lý người Hunggari Leo Szilard - người đã xem xét khả năng này từ năm 1933. Szilard đã được thông tin về thí nghiệm của Hahn - Strassmann thông qua ông Niels Bohr, và Otto Frisch đã báo cho biết. Trong một vài ngày, sự kiện “phản ứng dây chuyền” đã gây xôn xao dư luận trong cộng đồng các nhà vật lý nguyên tử thế giới. “Cơn sốt về Uranium” đã lan ra rất nhanh. Một số cuộc họp của các nhà vật lý đã diễn ra vào cuối tháng giêng năm 1939 ở Washington do George Gamow - một nhà vật lý đã trốn khỏi Liên bang Xôviết từ ba mươi năm trước đây tổ chức. Họ đã được tiếp đón và bảo lãnh bởi những con người tuyệt giỏi như: Niels Bohr, Enrico Fermi, Edward Teller, Hans Beth và Otto Stern. Cuộc họp này đã cho thế giới biết về sự đăng quang của một kỷ nguyên hạt nhân nguyên tử; đồng thời hứa hẹn với thế giới một nguồn năng lượng dư thừa và sự phá huỷ của nó không thể tưởng tượng nổi.

Các nhà vật lý Xôviết đã được thông tin về những sự kiện này từ ông Frédéric Joliot - Curie trong cuộc trao đổi của ông ta với Ioffe và thông qua những quảng cáo của tờ New York Times và tờ Physical Review. Leipunski, Khariton và Zeldovich đã cùng nhau lao vào công việc mà chúng ta đã nêu trên. Ông Igor Kourtchatov, một trong những nhân vật sáng giá nhất được Ioffe bảo vệ, đã làm việc trong phòng thí nghiệm của ông ta ở IPT của Leningrad. Họ phục vụ cho dự án trên để kiểm tra và phát triển hơn nữa những phát minh của người Đức.

Một trong những học trò của ông là Gueorgui Fliorov và Lev Roussiov, đã xác định một cách có kinh nghiệm rằng, hạt nhân uranium tách ra có thể giải phóng từ hai đến bốn nơtron. Nó làm tăng cơ may sự phân hạch nguyên tử. Trong khuôn khổ của một thí nghiệm khác, ông Fliorov, một thành viên làm việc cùng với nhóm của Constantin Petrjak, đã cải tiến đến nỗi căn phòng inốc hoá đó có thể cho họ khả năng quan sát sự phân hạch tự động từ uranium. Có nghĩa là sự tách những hạt nhân từ uranium nặng không bắn ra nơtron. Với một sự ngây thơ đến ngạc nhiên, Kourtchatov đã làm lại thí nghiệm này ở tàu điện của Matxcơva để xác định tác dụng của nó, nếu có những tia vũ trụ. Sau khi đã nhận được sự đồng ý cần thiết của Hội đồng thị chính, ông đã chuyển những vật liệu cồng kềnh trong những khu phố của Thành phố Matxcơva và sau đó là khắc phục được sự ngập ngừng của những người lái tàu điện. Những nhà vật lý không chính thống này phần nào đã đạt được mục đích của mình: thí nghiệm được tiến hành dưới lòng đất cũng như trên mặt đất. Ở đó hoàn toàn không có những tia vũ trụ.

Vào tháng sáu năm 1940, tất cả những nhà nghiên cứu đều phấn khởi bởi ông Kourtchatov đã hào hiệp từ chối ký kết công việc của họ để gửi một bức điện cho tờ Physical Review của Mỹ - một trong những quảng cáo chính của số đặc biệt, và viết thư cho Viện Hàn lâm Khoa học Matxcơva nhằm yêu cầu sự ủng hộ và thừa nhận tính khẩn thiết của việc phân hạch nguyên tử. Ông Ioffe đã tung ra một quả bóng nhưng theo những người trong đội nghiên cứu trẻ này thì quả bóng đó lăn không nhanh.

Được triệu tập đến Thủ đô để trình bày một bản báo cáo, Kourtchatov và những người đồng nghiệp của ông đã gặp một vài trở ngại nhưng cuối cùng họ đã thành công trong việc thành lập được một Ủy ban về uranium, trong khuôn khổ của Viện Hàn lâm Khoa học. Vitali Khlopine - Giám đốc Viện Nghiên cứu radium ở Leningrad làm người đứng đầu ủy ban này. Trong nhóm của ông có những nhân vật tên tuổi nhất trong ngành khoa học Xôviết như: Abram Ioffe, Vladimir Vernadski, Alexandre Fersman, Serguei Vavilov và Petr Kapitsa. Mỗi một người trong nhóm của họ, sinh từ thế kỷ trước, đều là những người đứng đầu trong một lĩnh vực nghiên cứu nào đó. Họ đã từng nghiên cứu về luật tự nhiên dựa trên những trường khoa học và họ chấp nhận với danh nghĩa là những thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học. Kourtchatov vừa mới bước sang tuổi ba mươi sáu còn ông Youli Khoriton thì bước sang tuổi ba mươi tư. Họ là những người trực tiếp chỉ đạo những phòng thí nghiệm này dưới sự bảo trợ của ông Ioffe. Họ thuộc về thế hệ của “những nhà khoa học đang lớn lên”. Khi đó không có những Viện sĩ hàn lâm nhưng có những tiến sĩ khoa học. Họ đã đưa vào Ủy ban một số lượng lớn những thành viên trẻ. Fliorov Petrjak và Roussinov vẫn chưa đến ba mươi tuổi, là những người giữ vị trí dưới họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 11:05:32 am »


Ủy ban về uranium đã bắt đầu thực nghiệm những đường ray vật lý nguyên tử của Xôviết. Họ đặc biệt chú ý đến việc đảm bảo những vật liệu và trang thiết bị khoa học công nghệ. Những kế hoạch này được xây dựng để nghiên cứu và khai thác những mỏ uranium; sản xuất nước nặng và phát triển những phương pháp làm giàu uranium. Nguồn ngân sách của dự án đã được trợ cấp trong đó bao gồm các trang thiết bị xây dựng. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện còn quá chậm, còn phụ thuộc vào ông Kourtchatov và những con sói trẻ của ông ta - những con sói này chỉ biết giậm chân tại chỗ và chỉ biết một cuộc cách mạng khoa học duy nhất.

Đối với Kourtchatov, sự ưu tiên hàng đầu hoàn toàn dành cho việc xây dựng hàng loạt những cuộc thí nghiệm sử dụng uranium 238 thay vì uranium 235. Khi làm việc với uranium 235 có thể sẽ cho kết quả nhanh hơn, nhưng chỉ sau khi đã đạt được định mức mong muốn, nhưng việc đó mất thời gian rất nhiều. Tháng 8 năm 1940, Khariton và Kourtchatov đã gửi một cuốn sổ chép tay cho ông Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học, trong đó nhấn mạnh đến những triển vọng trong thời gian dài của năng lượng nguyên tử và họ yêu cầu Chính phủ mở ngân sách cần thiết cho dự án này. Phải ba tháng sau đó mới có câu trả lời trong một cuộc họp được triệu tập ở Matxcơva. Khlopine và Ioffe liếc mắt nhìn về phía Kourtchatov - họ nói: Đây là một dự án trong tương lai rất xa - “một giấc mơ đẹp”. Không chán nản chút nào, những “kẻ tự phụ”, trẻ tuổi này quay sang phía ông Nikolai Seminov - ông chủ của Khariton và là người chấp nhận với Chính phủ. Trong bức thư gửi cho giới lãnh đạo, ông Seminov đã dùng những lý lẽ của Kourtchatov để nhấn mạnh đến những khả năng tiềm tàng về mặt quân sự, đó là một quả bom có sức công phá mạnh hơn bất cứ loại vũ khí nào đã từng được biết đến trước đây trong lịch sử. Tuy nhiên Chính phủ đã không thấy được sự khẩn thiết trong dự án này và cũng chẳng có động thái nào. Tháng 6 năm 1941, cuộc tấn công của Đức quốc xã đã nổ ra trước khi các nhà vật lý của Leningrad có được câu trả lời.

Cũng trong ngày Đức quốc xã tấn công, Kourtchatov đã quyết định bỏ mặc ngành vật lý nguyên tử và dùng những tài năng của mình phục vụ cho chiến tranh. Ông khuyên những người đồng nghiệp của mình nên làm việc hơn nữa trong lĩnh vực này, phải trở nên có ích cho đất nước bằng hành động trực tiếp và ngay lập tức. Fliorov đã nghe theo ý kiến của ông. Ông đã cho triệu tập một đội quân “những người tình nguyện của dân” và theo một khoá học trong suốt bốn tháng trời về kỹ thuật vũ trụ, sau khi ông tham gia vận hành một hệ thống tự động ra khỏi đường lươn xoắn. Một nhóm khác đã khám phá ra những vai trò của khoa học điện tử trong quân đội, đó là những phương tiện thông tin liên lạc và công nghệ kỹ thuật của DCA. Những người được gọi là tụt hậu đã giúp họ chuyển những phòng thí nghiệm đến những nơi rất xa và tiến hành những dự án quân sự. Tất cả những thí nghiệm đều tạm ngừng, những kế hoạch bị đóng băng còn trang thiết bị thì vứt bỏ. Và từ đó ngành vật lý nguyên tử Xôviết rơi vào tình trạng ngủ đông.

Phần lớn những nhà vật lý đã thích nghi được với hoàn cảnh. Fliorov là một người không có khả năng thực sự trong lĩnh vực này. Là một người có dáng vóc mảnh, gầy lại bị hói sớm, ông luôn nghĩ rằng mình như một chú chim luôn chăm chú với một cái nhìn cố định. Ông có một cái mũi dài và cái cằm hơi bị hớt. Những người bạn của ông không hề biết về việc ông không có khả năng, kể cả trong suy nghĩ và những nguy hiểm đối với sức khoẻ của ông. Run lên cầm cập trong thư viện lạnh giá của Iochkar - Ola, cách Thủ đô Matxcơva tám trăm kilômét về phía Đông, ông đã có thể dừng lại để tìm hiểu những điều khó hiểu về năng lượng nguyên tử; làm và làm lại những phép tính về phản ứng dây chuyền. Có ý kiến cho rằng, Đức là nước đứng đầu trong việc nghiên cứu hạt nhân nguyên tử. Họ đã có những cố gắng rất lớn trong ngành công nghiệp thì chắc chắn có những tiến bộ trong phòng thí nghiệm về bom nguyên tử. Tuy nhiên ý kiến này đã dần dần chìm vào sự mỏi mệt. Liệu ưu tiên khẩn thiết nhất Chính phủ có thực sự quan tâm ngay? Liệu những nhà vật lý Xôviết có giúp đỡ đất nước nhiều hơn bằng cách dùng sự khéo léo của mình cho các ngành khoa học kỹ thuật công nghệ khác nhau đã được biết đến và làm việc theo nhóm để thúc đẩy những công nghệ mới, những cuộc cách mạng? Tất nhiên những việc họ làm là rất có ích nhưng nhiều người cũng có thể làm được những việc đó. Trong khi đó, việc họ làm chỉ mang ý nghĩa duy nhất là trách nhiệm phải làm. Càng ngày ông càng nghĩ rằng, thật là một sai lầm nghiêm trọng khi rời phòng thí nghiệm để ra chiến trường.

Trong trạng thái suy nghĩ như vậy, Fliorov đã viết thư cho Ioffe, đồng thời lệnh cho Kazan và IPT của Leningrad với mục đích thuyết phục ông ta rằng, việc nghiên cứu bom nguyên tử phải được tiến hành ngay lập tức. Ioffe đã trả lời và mời ông đến Trung tâm Thành phố Tata cách đó sáu trăm kilômét về phía Đông Nam để xây dựng một bản báo cáo gửi Viện Hàn lâm Khoa học. Fliorov được nghỉ phép một tuần vào tháng 11 năm 1944 nên ông đã tranh thủ đi du lịch, nhân thể giới thiệu bộ hồ sơ với ông Ioffe. Ông Kapista và Hội đồng các nhà bác học đã nhóm họp ở một trường đại học. Dù sao những “ông già này” cũng cảm động và không quay lại quyết định cũ nữa. Trong thời gian chiến tranh, vấn đề không phải là giũ bỏ những khả năng lớn của con người và những gì có liên quan mà dự án bom nguyên tử đòi hỏi. Và Fliorov vẫn không đạt được kết quả.

Tuy nhiên vẫn có những người đàn ông không bao giờ từ bỏ dự án này. Ngay buổi tối hôm sau, ông đã soạn một bức thư tuyệt vọng gửi cho quân sư của ông là Kourtchatov để nói với ông ta về những nỗi lo sợ của mình, đồng thời thông báo với rằng, sau khi đã tính toán, hai kilôgam rưỡi uranium có thể sinh ra một vụ nổ tương đương với một nghìn tấn thuốc nổ. Ông đã thuyết phục để Kourtchatov không thể bỏ nửa chừng tác phẩm người mở đường của ông. Tất cả họ đều có thể trở lại Leningrad để tụ họp và làm việc về bom nguyên tử.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2008, 11:09:40 am »


Kourtchatov - người đã bị thu hút bởi chương trình khử từ những con tàu của ông ta, chắc chắn sẽ đưa ra câu trả lời1.

Giữa lúc đó, Fliorov đã được thuyên chuyển cùng với đội trinh sát của ông đến miền Nam nước Nga. Vào tháng hai năm đó, ông được phong hàm trung uý và đến đóng quân ở Voronej, cách Matxcơva bốn trăm tám mươi kilômét về phía Nam. Ở đó, ông đã sắp xếp công việc để thường xuyên đến thư viện của trường đại học. Ông đã tìm thấy những bộ sưu tập nguyên vẹn ở đây. Khi nghiên cứu những thời kỳ đặc biệt đã gây tiếng vang, ảnh hưởng đến việc khám phá về phân hạch tự nhiên của ông. Những nghiên cứu của ông không mang ý nghĩa cho lắm bởi vì Staline viện lý do là chúng không có tác dụng gì đối với việc phát triển vật lý ở nước ngoài. Bỗng nhiên ông đã đọc qua tất cả những quảng cáo có sẵn về chủ đề này. Nhưng khi đọc nhanh những tạp chí nước ngoài, trong đó có những tập tài liệu rất mới và khó hiểu đã có ở Voronej, ông không tìm thấy một sự phản ứng nào trong công việc. Tuy nhiên, ông đã phát hiện ra một vài điều quan trọng hơn. Khi thở hơi bằng hai lỗ mũi trong phòng đọc lạnh đó, Fliorov đã lật từng trang với hy vọng phát hiện ra bất kỳ bài báo nào liên quan đến vật lý nguyên tử. Nhưng ông đã không tìm thấy gì. Chúng đều vắng mặt. Sau này, ông mới biết, không chỉ ở những bài báo của nhà bác học Anh, Pháp, các nước Châu Âu tham gia vào chiến tranh đã cất những bài báo của những nhà bác học Mỹ, kể cả những quảng cáo về lĩnh vực này cũng đều bị ngưng trệ.

Ông đã có lý. Theo sự xúi giục của Leo Szilard, những nhà vật lý Mỹ đã quyết định, vào mùa xuân năm sau, tạm ngừng công bố những công việc của họ và để mặc người Đức trong bóng tối. Người Anh cũng tiến hành như vậy. Cũng như quan sát của Richard Rhodes trong cuốn sách nói về bom A của ông, sự thiết lập nên bí mật rồi lại phản bội lại bí mật, những cường quốc thế giới, trừ Nga đều lao vào chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử bí mật.

Từ nay trở đi, không gì có thể làm cho Fliorov ngừng mọi chuyện được. Ông đã viết thư cho Kourtchatov, cho Kaftanov và Ioffe. Mỗi một lần bức thông điệp của ông đều có nội dung: “Chúng ta phải chế tạo được bom nguyên tử ngay lập tức!” Không nhận được câu trả lời hài lòng,vào tháng tư ông đã quyết định “tấn công” mạnh hơn. Chắc chắn lá thư trước của ông do một thư ký mở xem. Ông viết vội trên một tờ giấy dễ đọc:

“Thư ký của bạn Staline

Ông bạn thân mến!

Tôi cầu mong ông hãy mang những điều cốt yếu trong lá thư này, đích danh sự quen biết của Iossif Vissarionvitch. Chỉ có ông bạn Staline mới có thể giải quyết được vấn đề: hãy cố gắng và đảm bảo với tôi là bức thư này đến được tay ông ấy. Trước khi chuyển bức thư này cho ông bạn Staline của tôi, ông làm ơn hãy sửa lại văn phong và đánh vào máy giúp tôi
”.

Trong kiến nghị lịch sự gửi người đứng đầu Nhà nước này, Fliorov lúc đó mới hơn hai chín tuổi, đã biểu lộ rất nhiều nỗi chua xót dai dẳng của mình để thuyết phục những đồng nghiệp nhiều tuổi hơn, tài ba lỗi lạc hơn quan tâm đến những triển vọng của vũ khí nguyên tử. Ông viết:

“Ioffif Vissarionvitch thân mến!

Mười tháng đã qua, kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Trong suốt thời gian này, tôi luôn có cảm giác như đập dầu vào tường đá.

Phải chăng tôi đã nhầm?

Liệu tôi có đánh giá quá cao về tầm quan trọng của “vấn đề uranium” không? Những gì mà dự án uranium cho là tưởng tượng lại có triển vọng rất tuyệt vời, nó mở ra một giải pháp có giá trị... Chắc chắn sẽ không có một cuộc cách mạng trong kỹ thuật công nghệ nào (nói chung) như những dự án đã được đưa ra từ nhiều tháng trước chiến tranh, nhưng về mặt kỹ thuật quân sự thì một cuộc cách mạng thực sự sẽ xẩy ra. Việc đó có thể không có sự tham gia của chúng ta, thậm chí thế giới khoa học rất ít, trước đây cũng như bây giờ, sự trì trệ luôn luôn thống trị.

Ông biết đấy, Ioffif Vissarionvitch, lý lẽ nào thường xuyên chống lại uranium nhất. Điều đó quá tốt để trở thành hiện thực. Rất hiếm khi thiên nhiên cưỡng đoạt con người
”.
________________________________
1. Youli nhớ rằng bức thư đó đã đề nghị một cách tiên tri hai phương pháp mở bom nguyên tử: phương pháp phóng và phương pháp làm nổ. Kourtchatov đã giữ bức thư này suốt cuộc đời ông. Khi ông qua đời, bức thư đã được phát hiện ở ngăn kéo bàn, trong phòng làm việc của ông.
      Vấn đề quan trọng ở đây là đánh giá sức mạnh của nguyên tử, rất nhiều yếu tố liên quan: bản chất của vụ nổ đã tiến hành, phương pháp sử dụng, số lượng vụ nổ. Trong cuốn The Nuclear Almanac đã chỉ ra rằng: việc phân hạch một kilôgam chất nổ nguyên tử giải phóng một năng lượng tương đương chất nổ hoá học của mười bảy nghìn tấn thuốc nổ TNT. Và việc nung chảy một kilôgam chất nổ nhiệt hạch nguyên tử cũng giải phóng một năng lượng tương đương năm mươi nghìn đến một trăm nghìn tấn thuốc nổ TNT.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM