Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:48:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: KGB Hồ sơ bí mật  (Đọc 96735 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:34:08 pm »


BOM TRONG HỘP KLEENEX

Leslie vui mừng. Nỗi lo lắng và sợ hãi của cô đã tan biến, cô có thể trở về một cách bình thản. Nhưng mọi việc không đơn giản như cô nghĩ. Khi đến nhà ga, trước mỗi toa tàu, hai cảnh sát giữ những hành khách để kiểm tra mọi túi xách và vali của họ. Cô phải làm gì? Quay trở lại khách sạn Sandia? Điều đó có thể gây nghi ngờ, kỳ nghỉ ốm của cô đã hết. Hơn nữa, cũng không giải quyết được gì khi cô quay lại vì cảnh sát - hoặc những lính liên bang mặc quân phục cảnh sát - sẽ ở đó hôm sau hoặc hôm sau nữa. Cô phân vân.

Cô đang giữ trong túi của mình một quả bom nguyên tử - không phải một quả bom nổ ngay, chắc chắn như vậy, nhưng những tài liệu có thể giúp chế tạo ra nó. Cô biết rằng những tài liệu này có một giá trị hơn tất cả những điều mà cô tưởng tượng. Matxcơva đang chờ đợi chúng một cách lo lắng.

Nếu chúng được phát hiện trên người cô, người ta sẽ bắt cô, Mlad sẽ bị nhận dạng và việc tham gia vào dự án Manhattan sẽ bị đổ bể. Mối quan hệ giữa Mỹ - Nga sẽ xuống dốc và hoà bình sau chiến tranh sẽ bị đe dọa. Mlad và chính cô nữa không thoát khỏi sự buộc tội phản bội. Họ sẽ bị coi là những kẻ phản trắc trong lịch sử nước Mỹ và sẽ bị hành quyết. Những thế hệ sau sẽ căm thù họ.

Cô phải thận trọng, tốt hơn là trở lại Sandia, liên lạc với New York và soạn thảo một kế hoạch. Nhưng giải pháp này chắc chắn sẽ mất nhiều thời gian và có thể phát sinh nhiều yếu tố mới và nguy hiểm hơn. Không, cô sẽ quyết định tại đây và ngay bây giờ. Cách này hay cách khác, cô phải đưa được quả bom qua trạm kiểm tra.

Trong những tình huống như vậy, quy định của hoạt động tình báo là tự quyết định. Leslie nhớ lại những chỉ dẫn mà “Johnny” đã khuyên cô: Cô hãy tự làm chủ mình chứ không phải đối thủ. Cần phải táo bạo và dùng trực giác. Chuyến tàu đi Chicago sắp khởi hành. Đó là chuyến tàu mà cô sẽ đi. Cô quyết định như vậy và chuẩn bị một kế hoạch.

Đầu tiên, cô đóng vai là người đến muộn, cô vội vàng đến đúng lúc tàu sắp chuyển bánh cố đánh lạc hướng bằng cách lấy cớ là mất vé hoặc không biết để nó ở đâu. Cô tỏ vẻ bối rối để lấy cảm tình của cảnh sát. Cô có thể đạt được điều đó nhờ sự quyến rũ của mình.

Quyết định được thực thi, Leslie đi vào nhà ga, lấy lại hành lý ở phòng gửi và mang vào trong toilette nữ. Ở đó, cô mở vali, lấy ra một quyển sách, để vé tàu vào giữa rồi lại đặt quyển sách vào chỗ cũ. Cô phải tìm nơi cất giấu những giấy tờ của Mlad. Chiếc ví và vali là không thể được, túi xách lại càng không Leslie sẽ cầm theo chiếc hộp Kleenex như bằng chứng của căn bệnh... Một ý tưởng nảy ra, cô cầm một nắm mùi xoa để ra và cho tài liệu vào trong hộp rồi để những chiếc mùi xoa lên trên. Thật là hoàn hảo. Cô kiểm tra lần nữa. Bây giờ, cô đã sẵn sàng. Đồng hồ chỉ cho cô thấy rằng bốn phút nữa, tàu sẽ chuyển bánh. Cần phải đến đó ngay. Cô sắp xếp lại hành lý và ra khỏi toilette, chiếc hộp Kleenex để dưới khuỷu tay. Cô nhận ra trên sân ga những hành khách cuối cùng đang lên tàu Chicago “Hãy bình tĩnh - cô tự nhủ - Hãy đi đường của cô, không được nhìn xung quanh”. Một phụ nữ mảnh khảnh chạy về phía tàu, chiếc vali bằng da bên tay phải, chiếc cặp và chiếc túi bên tay trái cùng với chiếc hộp Kleenex dưới khuỷu tay. Mọi người nhìn cô thông cảm. Cô chạy về phía toa tàu, cô sẽ ném chiếc vali vào bên trong khi hai người lính chặn đường cô.

- Tôi có thể kiểm tra giấy tờ của cô - Một trong hai người đó nói.

- Cả chiếc cặp nữa - Người kia nói tiếp.

- Tại sao các ông muốn kiểm tra? - Cô vừa hỏi vẻ ngạc nhiên, vừa rút trong ví ra những giấy tờ và những chỉ dẫn của bác sĩ - Tôi sắp nhỡ tàu rồi - Cô nói, mắt hướng về chiếc đồng hồ ở nhà ga.

- Cô đừng lo, tàu sẽ không chuyển bánh khi không có sự ra hiệu của chúng tôi.

- Vậy à.

Một người chỉ chiếc vali và cô nhanh chóng mở nó ra. Ông ta lật đi lật lại đống quần áo trong đó.

- Có chuyện gì xảy ra vậy? - Cô hỏi.

- Không có gì đặc biệt cả - Người đàn ông trẻ trả lời với nụ cười - Chúng tôi phải kiểm tra tất cả.

- Để làm gì?

- Để chắc chắn rằng những hành khách không mang đồ cấm.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:36:43 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:37:20 pm »


Không giải thích gì thêm, Leslie nhìn người đàn ông đứng tuổi đang kiểm tra hành lý của cô. Người trẻ thu hút sự chú ý của cô và cô liếc mắt tình tứ với ông ta.

- Vé của cô đâu? Ông ta hỏi.

Đây là câu hỏi mà cô đang đợi.

- Ồ vâng, nó ở đâu đây thôi - Cô trả lời, giọng không chắc chắn.

Cô bắt đầu lục lọi chiếc vali, bỏ mọi thứ ra ngoài. Sau đó cô lục đến chiếc cặp, cô đảo lộn mọi thứ bên trong. Chiếc hộp Kleenex chuyền từ tay nọ sang tay kia khi cô lục tìm vé. Chính lúc đó một ý tưởng nảy ra trong đầu, ý tưởng này sẽ không làm hài lòng chồng cô cũng như các ông chủ Xôviết. Tại sao không giao chiếc hộp cho người lính trẻ đang đáp lại những cái nhìn tình tứ của cô và tiếp tục việc lục tìm giả mạo này? Ý tưởng này quá táo bạo, cô đặt chiếc hộp vào tay người lính:

- Ông cầm giúp tôi được không?

Người lính vâng lệnh và nhìn cô lục tìm trong chiếc cặp mà không thể giúp được gì cho cô. Thời gian trôi qua, đoàn tàu rú lên hồi còi cuối cùng - Một sự hoảng sợ thực sự bao trùm lấy cô. Chiếc khoá của vali bị hỏng, vali không đóng lại được nữa, tất cả trở nên lộn xộn. Cuối cùng người lính già thấy quyển sách và lấy ra khỏi vali. Ông ta lật giở quyển sách, chiếc vé rơi ra.

- Đây rồi - Leslie kêu lên vẻ sung sướng - Cám ơn, cám ơn! Tôi đã quên mất là để trong đó.

Bây giờ phải sắp xếp lại, chỉnh chiếc khoá của vali. Hai người lính làm giúp cô, sau đó lại giúp cô lên tàu. Ám hiệu sẵn sàng đã được đưa cho người ở đầu máy, tàu chuẩn bị chuyển bánh. Cô đã có vali, cặp xách tay, túi xách, vé cầm trên tay nhưng người lính trẻ vẫn giữ chiếc hộp của cô.

Tất nhiên cô không thể nghĩ tới điều gì khác, nhưng cô không muốn tỏ ra quá quan tâm vào chiếc hộp, một đồ vật không mấy quan trọng. Thực tế, chiếc hộp đó là quan trọng nhất. Người lính trẻ vẫn cầm chiếc hộp. Cô phải nói hay chìa tay ra lấy lại cái hộp. Cô sợ rằng những cử chỉ này làm hỏng kế hoạch của cô. Tuy nhiên tàu đã chuyển bánh. Cô đã tìm ra giải pháp. Cô hắt hơi. Người lính trẻ như thoát ra khỏi giấc mơ nhận ra rằng mình vẫn cầm chiếc hộp, anh ta chạy theo để đưa cho cô:

- Cô Cohen! Cô quên chiếc hộp Kleenex! Nếu cô hỉ chiếc mũi bé nhỏ tội nghiệp của mình, cô sẽ làm thế nào?

Bằng một cử chỉ dịu dàng, Leslie cầm lấy chiếc hộp khi tàu đang chuyển bánh chầm chậm. Cô nhìn hai người lính đang lùi xa dần. Người lính già ngạc nhiên về màn kịch của người phụ nữ hay hốt hoảng này, còn người lính trẻ tự nói một cách hài lòng rằng, cô ấy đã không nhỡ tàu, không ai trong số họ lại nghĩ rằng bằng một cử chỉ tốt bụng, họ đã giúp đỡ việc đánh cắp bản kế hoạch về bom nguyên tử.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 12:38:05 pm »


ĐIỀU GÌ TỐT SẼ KẾT THÚC TỐT ĐẸP

Trong khi nhận từ Nouveau-Mexique bức thông điệp của Leslie: “Harry không tới chữa bệnh” - Trung tâm tình báo ở New York rất lo lắng. Khi Leslie đang tự hỏi vì lý do gì mà Mlad không có mặt ở điểm hẹn cả hai chủ nhật thì họ, Kvasnikov và Yatskov cũng đưa ra những giả thiết: Mlad có thể đã quyết định cắt đứt với NKVD, có thể ông ta đang bị FBI theo dõi hoặc có thể ông ta đang bị thu hút bởi những việc khác. Vì vậy họ chỉ biết chờ đợi.

Nhưng chủ nhật tuần thứ ba, không thấy tin tức từ Leslie, họ bắt đầu lo sợ điều bất hạnh đã tới với ông ta. Hàng sáng, Yatskov chờ đợi thông báo về sự quay về của Leslie ở New York. Ông ta không thấy gì. Tới giữa tuần cũng không thấy, họ quyết định gửi bức điện thứ hai cho Leslie, và cử một người tới Nouveau-Mexique.

Kế hoạch sử dụng điệp viên Raymond, tức Harry Gold, tức Golodnitzki. Gold có thể so sánh với Morris Cohen. Sinh năm 1910 tại Thụy Sỹ, trong một gia đình lưu vong người Nga. Ông ta qua thời niên thiếu ở Mỹ nơi mà ông ta đã lớn lên trong một khu phố nghèo thuộc vùng ngoại ô phía Nam Philadelphia. Những tư tưởng bài DoThái, những cuộc gây gổ và chia rẽ là những chuyện hàng ngày mà ông ta chứng kiến.

Bị lôi cuốn bởi những ý tưởng Xôviết mà bố mẹ đã khắc sâu vào tâm trí, ông ta coi thường chủ nghĩa cộng sản Mỹ nhưng thấy được trong kinh nghiệm của những người Xôviết một người chỉ đạo cả về kinh tế và xã hội. Ông ta đã theo những lớp học buổi tối ở Trường Đại học Pennsylvania và đạt được tấm bằng “Bachelor of Sience” ở Trường Đại học Xavie Cincninati. Công tác trong một phòng thí nghiệm, ông ta đã tham gia vào mạng lưới tình báo công nghiệp và quân đội cho NKVD, ông đã chuyển những công thức hoá học cho NKVD qua một trung gian ở Amtorg.

Yatskov đón tiếp ông khi ông ta thay thế bước Semionov năm 1944.

Để tạo vỏ bọc cho chuyến đi Los Alamos, Yatskov tưởng tượng ra một câu chuyện mà theo đó Gold sẽ gặp lại Mlad, một người bạn cùng lớp cũ để trao đổi với ông ta những thành công đã đạt được trong công việc. Trong cuộc gặp gỡ không chuẩn bị trước có nguy cơ gây chú ý này, Gold cố gắng gặp Mlad ở bất cứ đâu để hỏi lý do huỷ cuộc hẹn ở Albuquerque. Kvasnikov đã yêu cầu Yatskov chuẩn bị một bức điện mã hoá tới Matxcơva để yêu cầu bật đèn xanh cho chuyến đi mạo hiểm này.

Nhưng trước khi kế hoạch được thực hiện, Yatskov nhận được tín hiệu của Leslie khi ông ta trở về nhà bằng ôtô buýt để ăn trưa và thấy dấu hiệu ở trên tường. Những dấu hiệu thường nhận theo kiểu này có thể đánh dấu công khai mà ít nguy hiểm. Dấu hiệu thông báo rằng hẹn gặp vào hôm sau.

Ông ta liên lạc ngay với Kvasnikov và nhận được chỉ thị đến ngay căn hộ 07 Leslie vào buổi tối mà không cần chuẩn bị một câu chuyện về sự đến thăm của ông ta trong trường hợp có sự can thiệp không đúng lúc.

Gia đình Cohen sống tại số 71 phố Est trong một căn hộ bình dị. Đồ đạc đầy đủ, những kệ sách chất đầy tường của phòng khách. Leontine ở nhà một mình.

Vui mừng được gặp “Johnny”, cô kể về chuyến du lịch của mình nhưng khi cô kể về chuyện trên sân ga và chiếc hộp Kleenex, Yatskov lắc đầu, ông ta không thể tin được:

- Lona, đây là một sự liều lĩnh không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, cuối cùng ông ta phải khẳng định rằng không gì thành công bằng màn kịch này.

- Tất cả điều tốt đẹp sẽ kết thúc tốt đẹp thôi - Ông kết luận.

Điều này cũng không ngăn ông bày tỏ sự không hài lòng:

- Lona, lòng dũng cảm và sự táo bạo của cô thật là phi thường nhưng đôi khi là thiếu suy xét. Nếu cô không dừng lại, cô có thể chắc chắn rằng chúng tôi sẽ làm tất cả buộc cô rút khỏi công việc. Nhưng dễ dàng để làm được điều đó, càng khó khăn càng phải khôn khéo, tránh gây chú ý.

Sau đó, Yatskov trở lại với vấn đề thực tại.

- Cô đã có tài liệu của Réserve chứ? - Ông ta hỏi với giọng bình thản theo thói quen.

- Vâng - Leslie trả lời một cách hài lòng - Nhưng xin ông hãy kiên nhẫn một chút. Tôi sẽ đi pha cà phê.

Cô ta đi vào trong bếp, để Yatskov chờ đợi sốt ruột. Trở lại đặt những tách cà phê trên bàn, cô đi vào phòng ngủ và trở ra với chiếc hộp Kleenex. Những tài liệu của Mlad vẫn dưới đáy hộp.

- Chúng đây - Cô vừa nói vừa đưa chiếc hộp cho Yatskov - Đây là cái mà vì nó tôi đã tới Réserve và vì nó mà tôi đã mất việc.

- Họ đã cho cô thôi việc?

- Vâng.

- Chúng tôi sẽ tìm cách rút cô ra khỏi công việc. Thôi được tôi rất muốn ở lại, nhưng...

Yatskov đến lãnh sứ quán Xôviết cùng với chiếc hộp. Ngay sau khi xem xong nội dung, ông ta gửi một bức điện khẩn tới Trung tâm ở Matxcơva đề nghị gửi ngay “lực sĩ” tới “cơ sở” chịu trách nhiệm “nặng nề”. Từ “lực sĩ” ý chỉ một nhân viên của NKVD hoạt động dưới vỏ bọc của Đại sứ quán Nga ở Washington. “Cơ sở” chính là lãnh sứ quán Xôviết ở New York. Trung tâm trả lời không chậm trễ rằng một “lực sĩ” sẽ đến từ “Freze” (Washinhton). Vậy là chiếc hộp đã được mang đến Matxcơva. Leslie bị mất việc, Trung tâm nhận giúp đỡ tài chính cho cô cho tới khi tìm được công việc khác.

Điều cuối cùng về nhiệm vụ ở Nouveau-Mexique. Chúng tôi phải xem xét khả năng mà Leontine Cohen đã cường điệu hoá câu chuyện ở nhà ga khi kể với Yatskov. Trên hết, cô ấy là nhân chứng duy nhất, ngoại trừ hai viên cảnh sát chỉ có thể biết rằng người ta đã lừa bịp họ. Họ là cảnh sát, nhân viên của FBI hay của cơ quan phản gián quân đội. Đó là những câu hỏi mà chúng tôi không thể trả lời được. Điều đó phù hợp với tính khí khoa trương của Leontine, cô đã thêm nếm cho câu chuyện trở lên ly kỳ. Tôi đã được trò chuyện với bà ta và với Anatoni Yatskov trước khi họ mất năm 1992 và 1993. Chuyện kể của tôi dựa trên hai cách kể chuyện chỉ khác nhau đôi chút. Dù thế nào đi nữa, điều chủ yếu là Leontine Cohen đã mang tài liệu từ Los Alamos tới New York. Từ đó Stalin đã có bản kế hoạch Manhattan trong tay.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2008, 10:45:02 pm »


V
STALIN SỞ HỮU BOM


NHỮNG NHÀ BÁC HỌC NGUYÊN TỬ YÊU CẦU HOÀ BÌNH

Hai ngày sau khi Leslie mang những bí mật từ Nouveau-Mexique về, Tổng thống Roosevelt gặp gỡ Thủ tướng Churchill ở Québec để cùng xem xét những triển vọng về việc tiếp tục hay kết thúc chiến tranh.

Vấn đề nguyên tử, chủ đề gây xích mích giữa hai quốc gia, đã dần đi vào trật tự. Người Anh biết rõ rằng những nghiên cứu và những thành tích bước đầu của họ đã bị người Mỹ vượt qua, Mỹ đã có những bước tiến trước họ trong việc chế tạo bom nguyên tử. Việc trao đổi thông tin khoa học của hai đất nước, bắt đầu từ 1941, đã chấm dứt năm 1942 nhất là sau khi Mỹ có được những thoả thuận Cripps-Molotov tháng 5. Mặc dù Anh đã dấu mối liên hệ với Xôviết, báo cáo của Maud Committee, người Mỹ dù không biết gì về điệp viên Liszt và Homère cũng nghi ngờ rằng mối liên hệ gần gũi của họ có những nguy cơ về vấn đề an toàn và họ giữ kết quả của những nghiên cứu. Trong năm nay, Anh luôn nhắc lại yêu cầu về sự hợp tác của họ; Cuối cùng họ cũng đạt được từ Mỹ rằng họ sẽ chia sẻ tất cả mọi việc trừ những kế hoạch về loại vũ khí mới. Mùa hè năm 1943, Roosevelt đã để Churchill giành uy tín về sự trao đổi thông tin về “Tube Alloys”.

Sự hợp tác bí mật về năng lượng nguyên tử, được ký bởi hai nguyên thủ quốc gia ở Québec ngày 19 tháng 8 năm 1943 đặt ra ba điểm chính:

- Điểm thứ nhất, hai nước sẽ không bao giờ gây chiến với nhau.

- Điểm thứ hai, không ai trong số hai nước sử dụng năng lượng nguyên tử chống lại nước thứ ba mà không được sự đồng ý của nước kia.

- Điểm thứ ba, không nước nào được cung cấp thông tin liên quan tới “Tube Alloys” cho nước thứ ba ngoại trừ có sự đồng ý của cả hai bên.

Có thể thấy rõ rằng, bản ký kết tại Québec có xu hướng khai trừ Liên Xô ra khỏi “Sự trao đổi thông tin nguyên vẹn và hiệu quả và những ý tưởng” được hứa hẹn bởi cả hai bên, ngay cả khi do vô ý, nó mở ra cánh cửa cho tình báo Xôviết. Vì những khuynh hướng mới đã được tán thành đồng ý rằng những nhà bác học Anh trong kế hoạch Manhattan, và trong số có Klaus Fuchs, người tạo ra vẻ yên lặng, ôn hoà. Cũng như vậy, Ủy ban chính trị liên kết về sự phát triển nguyên tử, được thành lập để giám sát chương trình, bao gồm những công chức Mỹ, Canada và Anh trong đó có cả Donald Maclean, tức điệp viên tình báo Liên Xô Homère. Có rất ít nghi ngờ rằng bản hiệp ước Québec đã phát hiện con đường từ Matxcơva và đã gây ra cho Kremlin những lo lắng nghiêm trọng. Sự tham gia của Canada vào chương trình bị hạn chế chủ yếu ở phòng thí nghiệm của Trường Đại học Montréal và lò phản ứng hạt nhân Chalk River, đã được cài người bí mật bởi GRU.

Về vấn đề những điệp viên Anh, tôi phải nêu thực tế rằng John Cairncross không hoạt động lâu trong lĩnh vực tình báo nguyên tử. Sau khi đã gửi những báo cáo cho ủy ban Hankey năm 1941, ông ta được phân bổ tới trường mật mã vào tháng 3 năm 1942. Lý do là Matxcova cần những thông tin tin cậy hơn là những đầu tư không rõ ràng của Ủy ban khoa học. Cairncross có nhiệm vụ nắm bắt những thông điệp được cung cấp bởi những người Xôviết cũng như Do Thái đã bị Anh chặn lại. Trung tâm đánh giá rất cao những tư liệu mà ông ta đã cung cấp về vấn đề vũ khí của Đức và những hoạt động của quân đội Đức.

Tình báo nguyên tử Xôviết không bị tổn thất nhiều vì sự phân bổ của Cairncoss, điều này trùng hợp với việc giảm nhân sự của Anh trong việc nghiên cứu hạt nhân. Bên cạnh đó, Maclean vẫn tiếp tục gửi cho Matxcơva nhiều tài liệu của Chính phủ Anh, ông ta không gây một chút nghi ngờ nào là mình liên quan tới những vấn đề về năng lượng nguyên tử. Ngay khi mà mối liên kết giữa Washington và Luân Đôn được thắt chặt trong lĩnh vực hạt nhân, Matxcơva đã cài được người đúng vị trí.

Tầm quan trọng của ông ta trong giai đoạn này rất lớn, chúng ta hãy xem xét sự nghiệp của Donald Maclean trước khi tiếp tục theo dõi câu chuyện của chúng tôi. Trẻ trung, cao ráo, đẹp trai, khoẻ mạnh, Maclean kết thúc năm cuối cùng ở Trường Cambridge và chuẩn bị vào hoạt động trong lĩnh vực ngoại giao Anh năm 1934. Mùa hè năm đó được sự gần gũi bởi một người bạn cùng lớp là Kim Philby, được Arnold Deutsch tuyển chọn, là nhân viên của KGB, ông ta đã được nghe nói rằng: “Nếu ông có ý định bán ‘Daily Worker’ (tờ hàng ngày của đảng cộng sản Anh) ở đây ông sẽ không ở lại bao lâu. Ngược lại, ông có thể làm một việc khác ở đây cho chúng tôi”. Maclean phân vân, ý tưởng cắt đứt với những người bạn trong đảng rất khó khăn. Sau hai ngày suy nghĩ, ông ta nói với Philby rằng ông đã sẵn sàng làm việc cho Liên Xô. Việc tuyển mộ ông ta được Alexandre Orlov thực hiện vào đầu năm sau khi Maclean cắt đứt với những người bạn của mình (là John Costello và Oleg Terev).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2008, 10:46:59 pm »


Trong kỳ thi vào lĩnh vực dân sự, vào tháng hai, người ta hỏi Maclean về cảm tình cộng sản của ông ta đã được biết đến ở trường đại học. Ông ta trả lời một cách chắc chắn rằng ông ta đã nuôi dưỡng cảm tình này và ông ta không gạt bỏ điều đó hoàn toàn. Câu trả lời đã đạt được những nụ cười tán thành về sự dũng cảm của ông ta. Tháng 10 năm 1935, Foreing Office,... Whitehall, đối diện với phủ thủ tướng ở phố Downing đã tiếp nhận người thư ký thứ ba cũng là nhân viên tình báo mật của Liên Xô.

Tháng 1 năm 1936, Maclean giao cho Deutsch tập tài liệu đầu tiên của mình về Foreing Office. Chúng đã được chụp trong đêm bởi một “cơ sở” bí mật của Xôviết để có thể bọc trang bìa của chúng bằng những màu mã hoá - xanh lá cây, đỏ và xanh da trời vào hôm sau để đặt chúng vào “tốp những tài liệu mật”. Nhưng ngay sau đó, Orphelin (mật danh của ông ta trong giai đoạn này) bắt đầu cung cấp hàng loạt những tài liệu là những bức ảnh không đầy đủ có hàng trăm những trang tài liệu. Deutsch yêu cầu ông ta mang chúng đến vào ngày thứ sáu để dành ba đêm chụp ảnh. Khoảng cuối năm, người ta đề nghị Maclean cho mượn bản chú ý đặc biệt về ông Maurice Henkey mà ông ta đã có dịp gặp gỡ. Khi thống kê, phòng thư ký cho biết: Tổng số những tài liệu mà Maclean cung cấp cho Xôviết từ tháng 1 năm 1936 đến tháng 6 năm 1940 đủ chứa đầy bốn mươi nhăm hộp giấy của phòng lưu trữ của KGB-SRE, mỗi hộp gồm hơn ba trăm trang.

Suốt thời gian này, Maclean đã thực tập hai năm tại sứ quán Anh ở Paris. Ở đó ông ta gặp và kết hôn với một cô sinh viên xinh đẹp người Mỹ. Tháng 2 năm 1941, ông ta được bổ nhiệm làm thư ký thứ hai, nên có khả năng tiếp xúc với tất cả những tư liệu của chính phủ. Năm 1944, ông ta trở thành thư ký thứ nhất tại Oasinhtơn, ở đó ông ta đảm bảo được sự liên kết giữa Royaume-Uni và Mỹ trong khuôn khổ của Ủy ban chính trị. Suốt bốn năm tiếp theo, những điểm chủ yếu để chế tạo bom A của Xôviết, tất cả những bí mật về năng lượng nguyên tử mà Mỹ chia sẻ với Anh đều qua tay ông ta, và đã đến được Matxcơva.

Chúng tôi nhắc lại, về kế hoạch chế tạo bom nguyên tử có mối lo sợ rằng Đức quốc xã cũng sản xuất mà không để ý tới vấn đề nhân đạo. Chiến tranh càng kéo dài, mối đe dọa ngày càng rõ ràng. Đầu năm 1943, một đội tập kích Anh đã đột nhập vào nhà máy nước nặng Vermorke ở Nauy, làm nó ngừng hoạt động vào cuối năm và lấy đi của những nhà vật lý Đức một phần lớn tài liệu chế tạo bom nguyên tử thời kỳ đó. Cuộc chiến quyết định Stalingrad, phá huỷ sức mạnh mặt trận phía đông của Wehrmacht, báo trước sự thất bại của Đức Quốc xã và tham vọng về nguyên tử của họ mặc dù nhu cầu về một loại siêu vũ khí của họ ngày càng tăng. Tháng 6 năm 1944, binh lực Mỹ, Canada và Anh đổ bộ vào Normandre và bắt đầu hoạt động của họ ở Berlin. Điều chắc chắn rằng không phải bom làm sợ hãi mà Reich sẽ làm nổ tung khi binh lực Xôviết cũng hoạt động ở phía Tây Berlin. Trong thời gian này, đội biệt kích của Mỹ, được gọi là Alosos hoạt động ở Châu Âu, họ tìm kiếm những phòng thí nghiệm của Đức Quốc xã, phát hiện những nơi cất giấu chất uranium và giam giữ các nhà bác học Đức. Phải công nhận rằng, mặc dù có khả năng nhưng việc nghiên cứu nguyên tử của Đức còn kém xa các đối thủ của nó. Đức Quốc xã không tạo nên mối đe dọa về hạt nhân.

Không có lý do chính đáng, tuy vậy những nhà bác học ở Los Alamos có những lý do để tiếp tục công việc của mình. Trên hết, họ là những người say mê khoa học, họ bị chế ngự bởi ham muốn giải quyết những vấn đề khoa học được đặt ra bởi bom nguyên tử. Mặt khác, thế giới luôn ở trong chiến tranh, và thật có lý và đúng lúc phải chế tạo ra một loại siêu vũ khí chống lại sức mạnh của Axe. Sau tất cả, họ đã bị lôi kéo vào một chương trình ở trình độ cao, được chăm sóc bởi nhà nước, điều này mang lại cho họ nhiều lợi ích cá nhân dưới hình thức uy thế, những thù lao về vật chất và sự tự hài lòng. Tất cả những điều đó đã được ghi nhận, nhiều nhà bác học nguyên tử ngày càng tỏ ra khủng hoảng khi dự án dần được hoàn thiện. Không phải mục đích cuối cùng là tàn sát nhân loại, càng vì con người mà họ không bao giờ tàn sát nhiều đến vậy trong suốt lịch sử? Và họ tiếp tục có thể không biết thực tế này.

Bị dằn vặt bởi những suy nghĩ về bom và những hậu quả có thể đoán được, họ bắt đầu nghi ngờ những lý do của những nhà xuất vốn và những người quản lý - chính phủ và quân đội Mỹ. Joseph Rotblat nhớ lại lời nhận xét của tướng Groves trong một bữa ăn tối năm 1944:

“Groves đã nói với chúng tôi: “Các ông hiểu một cách tự nhiên rằng lý do của kế hoạch là trấn áp người Nga”.

“Tôi nhớ những lời này như thể chúng vừa được nói hôm qua vậy vì chúng đã gây cho tôi một cú sốc, tôi không thể tin vào tai mình nữa. Một cú sốc và trước hết, hoàn toàn không phải mục đích của việc chế tạo bom là được sử dụng chống lại một quốc gia nào đó, thứ hai là giai đoạn này Nga là đồng minh của chúng tôi: chúng tôi có một kẻ thù chung, và họ gánh trách nhiệm nặng nề trong cuộc đấu tranh chống Đức. Và điều mà tôi nghe nói là: “Cái mà chúng ta làm bây giờ là khuất phục những người này
”.

Rotblat, người gốc Ba Lan, khi đó ba mươi sáu tuổi, đã bị điếc. Ý tưởng kiểm tra năng lượng nguyên tử cứ ám ảnh ông ta. Sau chiến tranh, ông ta ký bản tuyên ngôn. Einstein-Eussell buộc các chính phủ trên toàn thế giới từ bỏ chạy đua nguyên tử, bãi bỏ chiến tranh và tìm ra những giải pháp hoà bình cho mọi vấn đề. Hai năm sau đó, ông tham gia thành lập phong trào Pugwash, cuộc họp hàng năm của những nhà bác học mong muốn hoà bình cho thế giới. Trong 15 năm đầu hoạt động của phòng trào, ông được cử là tổng thư ký. Ngày nay, ông là giáo sư danh dự của Trường đại học Luân Đôn. Chúng tôi không biết có bao nhiêu nhà bác học khác của Los Alamos nghe được những lời phát biểu của Tướng Groves.

Trong khi những vũ khí thông thường đẩy III Reich đang trong vực thẳm, vũ khí phi thông thường đang trong thái nghén, đã có một tấm bia mới: Nhật Bản. Sự thay thế được thực hiện êm xuôi và hợp lý đến nỗi những nhà bác học nguyên tử, không thể làm chậm lại kế hoạch này. Nhưng những người quan tâm tới vấn đề này bắt đầu thành lập những nhóm thảo luận và gửi nhiều đơn kiến nghị lên các cấp cao. Một phong trào phản đối được hình thành.

Ở Met Lab de Chicago, những nhà vật lý liên quan thành lập một ủy ban dưới sự lãnh đạo của James Frank, một người Đức lưu vong đã nhận được giải Nobel. Báo cáo của ủy ban có sự ký nhận của Frank, Donald Highes, James Nickson, Fugen Rabinovitch, Glean Seaborg, Joyce Stearns và Leo Szilard đệ trình những kiến nghị lên ông thư ký chiến tranh là Henry Stimson. Vừa làm cho biết rằng bí mật về bom không thể giữ lâu được, bản báo cáo cho rằng thế giới còn nguy hiểm chừng nào một ban kiểm tra quốc tế về năng lượng nguyên tử chưa được lập ra. Mặt khác, một cuộc tấn công bất ngờ chống lại Nhật Bản “phóng thích những phương tiện phá hủy nhân loại mới này” còn lâu mới tạo ra lợi thế của Châu Mỹ, làm tiêu tan sự trợ giúp về ý kiến công chúng trên toàn thế giới, đẩy mạnh cuộc chạy đua vũ trang và làm nguy hại đến khả năng về sự liên kết quốc tế để kiểm tra cuộc tranh đua vũ khí sau này. Vì vậy, những nhà bác học của Met Lab gợi ý rằng sự chứng minh không phải quân đội về bom đã được thực hiện dưới con mắt của những người Nhật Bản để xúi giục họ đầu hàng. Ngày 11 tháng 6 năm 1945, Frank đến Oasinhtơn với tư cách cá nhân để gửi đơn khiếu nại cho những người cầm quyền.

Cơ quan của Stimson xem xét đơn khiếu nại nhưng không đề cập gì đến. Họ khẳng định, không một minh chứng nào có thể thuyết phục được người Nhật, họ đã được biết đến bởi tính hiếu chiến của họ. Có thể, những người đặt ra kế hoạch chiến tranh không tin rằng một vụ nổ đã được thông báo sẽ đủ khủng khiếp để làm cho kẻ thù hối cải và từ bỏ. Vì vậy, họ quyết định rằng bom sẽ được mở rộng và sớm nhất nếu có thể.

Tuy nhiên, họ chưa có bom.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2008, 10:48:18 pm »


THUYẾT TAM VỊ NHẤT THẾ

Vào giữa tháng 6 năm 1945, Leonid Kvasnikov gửi thông điệp khẩn tới Trung tâm Matxcova thông báo rằng nhóm Los Alamos sẽ cho nổ một thiết bị nguyên tử vào ngày 10 tháng 7. Thông tin của ông ta có từ hai nguồn, Mlad và Charles. Cả hai đều được biết về cuộc tiếp xúc của họ vào ngày 13 tháng 6. Trung tâm đã đệ trình ngày tới cấp trên và tới Kremlin.

Thứ ba ngày 10 tháng 7 tới và đã qua mà New York không khẳng định thực tế về vụ nổ nguyên tử ở Noureau - Mexique. Nguyên nhân là, vụ thử có tên Trinité do Robert Oppenheimer đặt, đã bị huỷ bỏ vì lý do thời tiết xấu trên bờ biển Alamogordo. Nhưng theo nghi ngờ của Trung tâm thì Rezidentoura của Mỹ đã mắc một điều sai lầm lớn. Tư tưởng lắt léo nhất của người lãnh đạo, Lavrenti Beria và đối tượng của những nghi ngờ của ông ta là người bạn khó ưa, Kvasnikov.

Vụ nổ nguyên tử trong lịch sử diễn ra sáu tháng sau đó thứ hai ngày 16 tháng 7 vào lúc rạng đông. Những hòn lửa khổng lồ làm mê hồn những nhà khoa học tập trung trong bóng đêm. Mlad và Charles cũng ở trong số đó. Bình luận của Oppenheimer được đăng trên tờ Bhagavad-Gita, là dòng tít nổi tiếng: “Tôi đã trở thành thần chết, kẻ tiêu diệt thế giới”. Quả bom được thử nghiệm là loại nổ tung, được coi là không chắc chắn trong hai quả. Những nhà bác học không bao giờ nghi ngờ bộ phận khởi động của nó vậy nên không thử nghiệm. Quả bom không thử nghiệm phải tàn phá Hiroshima với sức công phá tương đương 12,5 tấn TNT, quả thứ hai lớn hơn tương đương 20 tấn TNT tại Nagasaki. Quả bom thứ nhất đi vào lịch sử và không làm các nhà khoa học quan tâm, quả thứ hai được cải tiến, dùng làm mẫu ở Labo 2.

Tổng thống Truman, người kế nhiệm Roosevelt, được quyết định ngày 12 tháng 4, ngày hôm sau thông báo cho toàn đất nước những kết quả của chương trình hạt nhân. Ông ta đã nhanh chóng làm kinh ngạc ở bên quân đội và giới chính trị. Vụ thử nghiệm Trinité đã được báo trước vào hôm trước cuộc gặp gỡ của ông ta với Stalin và Churchill vào tháng 7. Việc để lại do thời tiết xấu có nghĩa rằng những cuộc đàm phán đã được bắt đầu mở rộng ở Potsdam thì bức thư đến từ Mỹ, ngày 21 tháng 7, mang theo bản báo cáo của tướng Groves.

Rất nhiều điều đã được nói về sự vắng mặt của Stalin khi Truman thông báo với ông ta rằng Mỹ đang sở hữu “một loại vũ khí huỷ diệt lớn”. Truman và Churchill đoán chừng rằng ngài Thống chế Stalin không nhận được thông điệp và họ thất vọng rằng tin tức này đã không gây cho ông ta bất ngờ. Tuy nhiên Stalin biết nhiều về loại bom A của Mỹ hơn cả Tổng thống Mỹ vì khi Truman là Phó tổng thống đã bị trục xuất ra khỏi khâu đầu tiên của kế hoạch Manhattan, trong khi đó Stalin luôn ở đó. Câu trả lời điềm tĩnh của ông ta, hy vọng Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân để kết thúc chiến tranh chỉ là một động tác giả. Ông ta hiểu rõ sự thành công của cuộc thử hạt nhân có ý nghĩa gì và trong thâm tâm, ông ta không được vui.

Vào dịp đầu tiên, ông ta gọi điện tới Matxcơva. Nếu người ta tin vào cuốn tiểu thuyết “Chiến thắng” của nhà văn Xôviết Alexandre Tchakovski, Stalin đã gọi Igor Kourtchatov thẳng tới Loubianka để yêu cầu ông ta phóng hai quả tên lửa của chương trình hạt nhân. Nhưng câu chuyện về cuộc gọi điện này là dối trá. Thực tế, Stalin đã gọi cho Beria, giám đốc thực sự của chương trình. Vì khi ông ta tới, một nhân viên của cơ quan mật cũng tham gia vào cuộc nói chuyện điện thoại này. Và dưới đây là cuộc trò chuyện đó:

Staline hỏi Beria rằng ông ta có biết điều gì về vụ thử hạt nhân của Mỹ không.

- Có, thưa ông Stalin - Beria trả lời - Chúng tôi đã báo cho các ông điều này, họ đã phải thực hiện cuộc thử này cách đây hai tuần nhưng từ đó chúng tôi không nhận được một thông tin nào về vụ nổ cả.

Trước khi để Beria thú nhận sự không biết của mình, Stalin đã nói ông ta thậm tệ. Ông ta nói rằng quả bom đã nổ một tuần trước và Beria đã bị “thông tin sai lệch”. Ông ta đã khiển trách Beria cứ như thể là lỗi của ông ta, rằng Tổng thống Truman đã dẫn dắt những cuộc đàm phán theo ý mình và đã ngược đãi những người Xôviết.

Beria chỉ có thể chịu đựng và cố gắng trả lời theo cách tốt nhất. Cuối cùng, Stalin ra lệnh cho ông ta khích động Kourkchatov và nhóm của ông ta khẩn trương hành động và đồng thời hỏi xem ông giáo sư cần gì để tăng tốc việc thực hiện chương trình.

Khi Stalin nói xong, Beria nói vẻ rụt rè:

- Tôi có thể nói về vấn đề này không, Stalin?

Stalin trả lời ngay rằng không và gác máy khiến Beria thẫn thờ gác máy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2008, 12:43:52 pm »


ĐỒ VẬT GIÁ TRỊ LỚN

Giảm tình trạng chuột kêu chít chít, người đặc trách cứng đầu, ngồi trong văn phòng của ông ta ở Loubianka nhanh chóng lấy lại tinh thần nhưng để biến thành con sư tử gầm lên. Giận điên lên, ông ta cầm máy điện thoại HF sử dụng nội bộ và bấm số của Fitine.

- Pavel Mikhailovitch! Anh đến đây ngay!

Như những nhà chuyên chế, Beria là người đàn ông độc quyền. Ông ta chấp nhận hay loại trừ một người, đó là toàn quyền của ông ta. Trong trường hợp thứ hai thì không ai có quyền sống. Cũng như tất cả thành viên của Politburo đều chịu nhục hình, mỗi lần mà ông ta phải đứng trước Stalin thì mỗi nhân viên, mỗi công chức của NKVD, không được nói gì về những tù nhân khi có mặt của Beria, đều biết rằng cái nhìn gườm gườm sau cặp kính sẽ quyết định số phận của họ.

Pavel Fitine, đứng đầu phòng ngoại giao, hiểu rằng có điều gì đó không ổn và cho rằng điều đó liên quan tới vấn đề hạt nhân. Và rất ngẫu nhiên, khi rời khỏi phòng làm việc ông ta lại mang theo những tài liệu đánh giá của Kourtchatov về chủ đề của những chất khoa học được đánh cắp của Mỹ.

Beria đón ông ta bằng cái nhìn sắc lạnh, được khuếch đại bởi cặp mắt kính.

Fitine dừng lại chờ đợi.

- Ngồi xuống đi, đừng đứng như trời trồng ở đó.

Fitine ngồi xuống.

- Ngài Kvasnikov của anh không thoát ra khỏi hầm được đâu - Giọng của Beria chua cay.

Ngay cả khi Loubianka không có hầm với những phòng tra tấn dã man, ông ta có thể sử dụng lối nói ẩn dụ này. Fitine đoán được sếp của mình đã nghe được gì.

- Anh đã triệu Kvasnikov từ New York phải không? - Beria tiếp tục.

- Không.

- Tại sao?

- Không có lý do.

- Vậy là ý gì, không có lý do? Có bao nhiêu thủ đoạn đấy. Đồng chí Stalin vừa gọi cho tôi từ Berlin để nói rằng Mỹ đã thử nghiệm bom nguyên tử không phải ngày 10 tháng 7 như Kvasnikov đã đảm bảo với chúng ta mà sau đó một tuần. Anh giải thích điều này thế nào?

- Tôi có thể đảm bảo với ông rằng đồng chí Kvasnikov không bao giờ gian dối. Tôi đã làm việc với ông ta nhiều năm và trong thời gian này ông ta luôn tỏ ra là một người tận tâm hoàn toàn với đất mẹ. Chính nhờ ông ta mà chúng ta có được phòng thông tin khoa học và kỹ thuật. Leonid Romanovitch là người đứng đầu trong khoa học từ giữa năm 1943 và từ đó chúng ta có một nguồn thông tin về lĩnh vực hạt nhân.

Beria nhăn mặt tỏ ra hoài nghi. Fitine đưa ra tập hồ sơ mà ông ta mang theo.

- Cho phép tôi giới thiệu với ông những đánh giá của Labo 2 về những chất vừa rồi có xuất xứ từ New York.

Beria cầm tập hồ sơ và mở ra. Ông ta thấy trên cùng là một ghi chép dày ba trang được Kourtchatov viết tay và đề ngày 10 tháng 3 trong năm. Nó được đề gửi ngày 5 tháng 3. Beria chú ý một dòng gạch chân:

“Những dữ liệu là một mối quan tâm lớn: Tất cả như những phương pháp và những sơ đồ mà chúng tôi thực hiện, chúng chỉ là những khả năng mà chúng ta chưa kiểm tra”. Dòng tiếp theo: “Chúng ta hãy lưu ý: 1. Sự sử dụng chất khí uranium 235 thay thế uranium 235 kim loại, để làm chất nổ cho bom; 2. Cam đoan về sự nổ tung nhờ sự tăng tốc của bom”. Đề cập tới điểm thứ nhất, Kourtchatov viết: “Quan trọng là việc xác định hệ thống được vạch đã được nghiên cứu qua tính toán hay là theo kinh nghiệm”. Về điểm thứ hai, ông ta chỉ ra rằng “phương pháp nổ cho phép tăng vận tốc liên quan tới những phân tử tới 10.000m/giây nếu áp lực là đối xứng. Vì thế phương pháp này được sử dụg thích hợp hơn là phương pháp tiếng nổ”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2008, 12:45:08 pm »


Một tài liệu khác cũng của Kourtchatov, tám trang được soạn thảo cùng ngày nhưng ghi ngày gửi trước là 7 tháng 1. Bắt đầu: “Giá trị của những dữ liệu này ít liên quan hơn những dữ liệt trước, chúng không có ích lợi gì cho công việc của chúng ta nhất là liên quan tới những vấn đề về trình tự nghiên cứu”. Ông ta xác định rằng những bản báo cáo cung cấp những chỉ dẫn về sự tinh chất uranium bằng cách loại bỏ những chất phụ ra khỏi oxygenè. Tiếp theo ông ta đề cập tới những vấn đề kỹ thuật.

Bản tiếp theo, hoàn thành ngày 7 tháng 4, gồm sáu trang viết tay. Một lần nữa ông giáo sư gạch chân để biểu lộ niềm vui cao độ của ông ta: “Những yếu tố này có giá trị lớn. Chúng gồm những dữ liệu: 1. Về những tinh chất hạt nhân của vụ nổ nguyên tử, 2. Về những chi tiết liên quan tới sử dụng phương pháp chia điện tử những chất đồng vị của uranium. Những đoạn tiếp theo diễn giải tỉ mỉ những điểm đặc biệt”.

Tiếp theo là một báo cáo dài của Kourtchatov, được viết bốn ngày sau đó. Đó là bản đánh giá về tài liệu gửi tới ba tháng trước đó tức ngày 25 tháng 12 năm trước. (ấn tượng mà chúng tôi rút ra rằng nhà bác học làm việc quá sức này không thể lãnh hội một đống những thông tin đổ dồn đến hoặc là ông ta có ít phương pháp để giải quyết chúng). Bản báo cáo mở ra bằng những từ sau: “tư liệu rất nhiều và có nhiều điểm chú ý. Nó mang lại những ký hiệu lý thuyết có giá trị, những mô tả của tiến trình kỹ thuật và phương pháp phân tích. Nó đưa lại cho chúng ta ý tưởng về nhịp điệu làm việc trong những phòng thí nghiệm, và thời gian cần thiết để thúc đẩy những phân tử hạt nhân”. Chín trang giấy tiếp theo nghiên cứu những máy sản xuất năng lượng từ những phản ứng chất uranium nguyên chất và uranium nước nặng.

Một chuyến bay ngắn của những tài liệu này làm xuất hiện mối liên hệ mong manh giữa Labo 2 và Los Alasmo. Đó chính là điều khẳng định cho Beria thấy giá trị của Kvasnikov. Nhưng phần tiếp theo của tài liệu như một lời nhắc nhở về điều rủi ro xảy đến bất ngờ với “người đứng đầu”. Đó là một ghi chép dài nửa trang dựa trên một báo cáo của Kvasnikov từ New York khẳng định rằng loại bom có chất phitonium sẽ được thử nghiệm ngày 10 tháng 7. Hiển nhiên, nó được đánh máy bởi Vassilevski, cô ta phải đưa địa điểm “cuộc họp ngắn ngủi để nhận chỉ thị” cho Kourtchatov.

Một phần khác gây ngạc nhiên. Đó là một tài liệu được soạn thảo lần này không phải là do Kourtchatov mà do Isaac Kikoine, một nhà vật lý học thực nghiệm của nhóm ông ta. Beria dừng lại. Đây là gì vậy? Điều gì đang xảy ra? Kourtchatov không phải là nhà vật lý duy nhất tham gia vào kiểm tra những vật chất khoa học của Mỹ sao? Trước khi Fitine có thể giải thích, Beria đã buộc tội ông ta là vô kỷ luật, thiếu sự cảnh giác của một người Bônsêvích và lạm dụng quyền lực trong cơ sở của mình. Cuối cùng ông cũng để Fitine trả lời, Fitine bắt đầu giải thích rằng khi Kourtchatov tới Oural để giám sát việc xây dựng những nhà máy giàu chất uranium, ông ta đã đề nghị người đặc trách Gaik Ovakimian cho ông ta quyền lãnh đạo đối với những viện sĩ hàn lâm Kikoine, Khariton và Alikhana để biết được những tư liệu từ nước ngoài.

Fitine biết rằng Beria có nhiều quý mến đối với Ovakimian, nên sau khi bị khai trừ khỏi Châu Mỹ, ông này đã được đề bạt làm trợ lý cho Beria. Vì vậy ông ta đã nhanh chóng đặt tên ông ta lên trước. Beria không nói lời buộc tội mà chỉ lẩm bẩm:

Sau này, tất cả những câu hỏi liên quan tới những thông tin mật sẽ được quy định với cá nhân tôi. Hôm nay, tôi không khiển trách mà tôi hy vọng rằng về sau, anh không mắc lại sai lầm của mình nữa. Đối với những gì liên quan tới Kvasniko - Beria nhớ lại những oán hận của mình - hãy cho ông ta biết rằng ông ta đã bị thông tin sai về thời gian cuộc thử hạt nhân.

- Nhưng, từ lúc vụ thử thực sự diễn ra, Kvasnikov không thể nhầm - Fitine khăng khăng - Có thể họ đã hoãn cuộc thử vì lý do chính trị. Họ muốn đề cập đến nó vào cuộc họp ở Đức để chống lại Stalin nhằm tước bỏ của ông ta những nhượng bộ.

- Có thể - Beria đồng ý, nhưng lại thêm - Để không quá nghiêm khắc với Kvasnikov: Điều đó có nghĩa là, Kvasnikov phải sửa chữa lỗi lầm của ông ta. Hãy lệnh cho ông ta gửi ngay một bản báo cáo về những cuộc thử.

Cuộc nói chuyện kết thúc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2008, 12:47:01 pm »


SAU HIROSHIMA: SỨ MỆNH Ở COPENHAGUE

Khi “Little Boy” và “Fat Man” đặt dấu chấm hết cho chiến tranh vào tháng 8 năm 1945, Stalin thông báo rằng bom nguyên tử là loại vũ khí huỷ diệt lớn nhất của lịch sử và cũng là chìa khoá của những mối quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh. Sau khi coi chương trình hạt nhân như một thử nghiệm và thứ yếu so với những vũ khí cần thiết khẩn cấp trong quân đội, ông ta coi đó như một ưu tiên hàng đầu. Molotov bị tách ra khỏi ban lãnh đạo của chương trình và thay vào đó là Beria. Một ngành công nghiệp mới - năng lượng nguyên tử - bao gồm những trung tâm nghiên cứu, những văn phòng và những nhà máy, đã được thành lập dưới sự giám sát của Boris Vannikov. Nhiều viện nghiên cứu và phòng thí nghiệm được lập ra, những cuộc thăm dò địa lý được thực hiện để đánh dấu những vỉa quặng uranium. Để khắc phục sự lạc hậu của những thông tin và tập hợp những vật dụng mới, một trình tự mới được thiết lập thu hút một số lượng quan trọng những nhà vật lý trong nhóm tình báo đầu tiên, đã được nói đến ở chương I.

Trong chương trình này, những tin tức được cung cấp bởi gián điệp duy trì địa vị cao hơn của chúng. NKVD, quan sát sự lên cao của hoạt động khoa học ở nước ngoài, tự hỏi phải khai thác điều đó thế nào cho có hiệu quả. Nhà bác học lớn người Đan Mạch Niels Bohr nổi bật trong số những nhà bác học bởi sự tư duy độc lập đặc biệt của ông ta. Trong năm 1944, ông ta đã cố thuyết phục Tổng thống Rossevelt và Thủ tướng Churchill để Thống chế Stalin trao đổi chuyện riêng để báo cho ông ta về kế hoạch bom A và liên kết với ông ta lập ra ban kiểm tra trong giai đoạn sau chiến tranh. Ông ta sợ nếu không đó sẽ là một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm trên toàn thế giới, và bí mật về bom không thể giữ được lâu trong tầm tay của người Xôviết. Xem xét những kết luận bản báo cáo Frank, Bohr thấy bom như một vũ khí đặc biệt có hai lưỡi. Nó có thể tiêu diệt cả thế giới cũng như có thể đảm bảo cho thế giới một sự hoà bình kéo dài.

Roosevelt bối rối bởi quan điểm của Bohr và nghĩ rằng người ta có thể tin tưởng Stalin vì hành động có trách nhiệm. Còn Churchill bực bội về những thủ đoạn của Bohr khi tham dự vào chính trị và ông ta khẩn khoản để những điều khoản của hiệp định Québec được tôn trọng. Ông ta còn đề cập đến mối quan hệ giữa Bohr và Liên Xô, và nhà bác học lưu vong đã tiết lộ rằng viện sĩ hàn lâm Kaptsa năm trước đã viết thư đề nghị ông làm việc ở Matxcơva. Cuối cùng lý tưởng của Bohr đã thất bại, Mỹ và Royaume - Uni giữ bom cho riêng mình và nhà bác học rất uất ức đã trở về Copenhague tháng 8 năm 1945. Bohr muốn là một nhà giữ gìn hoà bình. Đối với Mỹ và Anh, ông ta là một mối đe dọa cho sự an toàn của họ. Đối với Liên Xô, đó là một cái đích của những cơ quan tình báo.

Tuyệt mật.

1372/6.

28-11-1945

Gửi đồng chí Stalin I.V

Nhà vật lý nổi tiếng Niels Bohr có liên quan tới bom nguyên tử, đã trở về Đan Mạch từ Mỹ và đã bắt đầu công việc trong Viện lý thuyết vật lý của ông ta ở Copenhague.

Bohr được biết đến là một nhà bác học có tư tưởng tiến bộ và đứng đầu thế giới về những trao đổi quốc tế liên quan tới những thành tựu khoa học. Vì vậy, chúng tôi đã gửi một nhóm đồng nghiệp tới Đan Mạch với lý do kiểm tra những thiết bị bị chiếm bởi Đức trong việc thiết lập Xôviết để tiếp cận với Niels Bohr và thu thập những thông tin về vấn đề bom nguyên tử.

Những đồng chí đã được cử đi - Đại tá Vassilevski,Terletski, thạc sĩ vật lý toán học và kỹ sư kiêm phiên dịch Artiounov - đã tiếp cận với Bohr và tổ chức những cuộc hẹn với ông ta.

Những cuộc họp đã diễn ra ngày 14 và 15 dưới hình thức là chuyến viếng thăm của nhà bác học Xôviết, đồng chí Terletski tới Viện lý thuyết vật lý. Đồng chí Terletski đã nói với Bohr rằng đang ở Copenhague, và có tâm nguyện đến thăm một nhà bác học nổi danh và nói với ông ta rằng mình vẫn giữ một kỷ niệm xúc động về những cuộc nói chuyện của Bohr tại Trường Đại học Matxcơva tháng 6 năm 1937.


Trong suốt cuộc chuyện trò này, nhiều câu hỏi đã được đặt ra cho Bohr, những câu hỏi đã được Viện sĩ hàn lâm Kourtchatov cùng những nhà bác học khác liên quan tới lĩnh vực nguyên tử chuẩn bị trước ở Matxcơva.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2008, 12:47:46 pm »


Đây là danh sách những câu hỏi, câu trả lời của Bohr cùng đánh giá của Viện sĩ hàn lâm Kourtchatov về những câu trả lời của ông ta.

Danh sách 22 câu hỏi và trả lời đã gây chú ý. Đây là câu đầu tiên.

Câu 1: Chất uranium 235 đã đạt được một số lượng lớn bằng phương pháp nào và hiện nay phương pháp nào được coi là hiệu quả nhất (truyền dẫn, từ tính hay khác)?

Trả lời: Những cơ sở lý thuyết về việc đạt được chất uranium 235 đã được biết đến bởi tất cả những nhà bác học trên toàn thế giới, chúng đã được chiết xuất từ trước chiến tranh và không phải là một bí mật. Chiến tranh không đưa một yếu tố mới chủ yếu nào vào lĩnh vực này... Nếu ông có một số lượng đủ chất uranium, việc chế tạo bom nguyên tử không có khó khăn về lý thuyết. Để tách chất uranium 235 phương pháp được sử dụng đã được biết đến là truyền dẫn, còn cả phương pháp phân tích quang phổ số lượng lớn. Không có phương pháp mới nào được sử dụng. Thành công của Mỹ là nhờ một sự sắp xếp cụ thể những đơn vị, được những nhà vật lý biết đến, được thực hiện với một tỷ lệ không thể tưởng tượng. Hãy biết rằng khi tôi đang ở Châu Mỹ, tôi không tham gia vào quá trình xử lý công nghệ của vấn đề và thực tế tôi không được báo về những yếu tố cấu trúc, kích thước của những hệ thống này và bất cứ yếu tố cấu thành nào. Tôi không tham gia việc xây dựng những máy móc này và tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái máy nào. Khi ở Mỹ, tôi cũng không thăm một nhà máy nào. Tôi đã tham dự tất cả các cuộc họp, những buổi thảo luận lý thuyết về chủ đề này. Tôi có thể khẳng định rằng Mỹ cũng sử dụng phương pháp truyền dẫn cũng như phương pháp phân tích quang phổ số lượng lớn.


Chúng tôi thấy tính nước đôi trong những câu trả lời của Bohr. Một mặt ông ta không đồng ý hợp tác với cơ quan tình báo Xôviết, ông ta tìm cách nói ít về những hiểu biết của mình và chỉ đề cập tới những chi tiết đã được biết đến; mặt khác, ông ta không đến giúp đỡ những nhà khoa học, dù họ là ai. Đây là một vài ví dụ:

Câu 3: Có thể thực hiện nồi hơi uranium khi sử dụng hỗn hợp tự nhiên những chất đồng vị, với nước cứng như chất dung hoà không?

Trả lời: Vấn đề sử dụng nước cứng như chất dung hoà đã được đặt ra nhưng không áp dụng vào thực tế. Nồi hơi uranium không được dùng với nước tinh khiết. Tôi nghĩ rằng việc sử dụng nước tinh khiết làm chất dung hoà không thể được, khi đó, chất hydrogène nhẹ hút dễ dàng những nơtron và biến đổi thành nước nặng. Ý tưởng đó không phổ biến ở Mỹ. Hồi đầu, Mỹ trù liệu xây dựng những nồi hơi nước nặng để dung hoà, nhưng sản xuất nước nặng phải chi phí lớn. Trong chiến tranh, Mỹ khám phá rằng cacbon thiên nhiên có thể là chất dung hoà tốt. Ý tưởng được đề xuất và được thực hiện với một tỷ lệ lớn. Tôi không biết về việc xây dựng, sơ đồ và những kích thước của những nồi hơi này.

Câu 4: Người ta sử dụng chất nào để làm lạnh những nhóm urauium?

Trả lời: Nước tinh khiết được sử dụng để làm lạnh những nhóm uranium. Vấn đề đó cực kỳ nan giải, với cách đó phải cần những dòng nước để làm lạnh nồi hơi. Cần phải nói rằng: nước dùng cho việc làm lạnh được mang đến khi sôi.

Câu 6: Có những phương pháp bổ sung việc điều tiết những nồi hơi uranium không?

Trả lời: Người ta đưa vào nồi hơi những chất điều tiết hút những nơtron.

Câu 7: Người ta sử dụng chất nào để hút nơtron?

Trả lời: Đó là chất cát-ni

Câu 8: Số lượng nơtron toả ra từ mỗi nguyên tử phân chia ra uramum 235, uranium 238, phitonium 239 và phitonium 240 là bao nhiêu?

Trả lời: Hơn 2 nơtron.

Câu 9: Ông có thể nói rõ số lượng không?

Trả lời: Không, tôi không thể. Quan trọng là biết hơn 2 nơtron thoát ra. Đó là lý do không thể không thừa nhận để cho rằng phản ứng dây chuyền chắc chắn đã xảy ra. Số lượng chính xác không quan trọng. Điều quan trọng đó là hơn 2 nơ tron.

 
Cuộc nói chuyện vẫn tiếp tục, Bohr đưa ra những câu trả lời ngắn gọn, có thể có ích nhưng đó không phải là những tiết lộ thực sự cho tới khi một câu hỏi về chủ đề mà ông ta lưu ý đã được đặt ra.

Câu 20: Ông có biết phương tiện bảo vệ chống lại bom nguyên tử không? Có khả năng thực sự chống lại bom nguyên tử không?

Trả lời: Tôi khẳng định là không có một phương tiện nào bảo vệ chống bom nguyên tử. Hãy nói cho tôi các ông có thể làm ngừng quá trình phân hạch mỗi khi nó được khởi hành trong một quả bom được ném xuống từ máy bay như thế nào? Đương nhiên, các ông có thể chặn chiếc máy bay và ngăn nó không đạt được mục đích nhưng đó là một giải pháp bấp bênh trong trường hợp máy bay bay cao để thực hiện công việc, mặt khác, khi máy bay phản ứng được chế tạo ông cũng hiểu rằng sự kết hợp giữa hai phát minh này làm cho vấn đề bảo vệ chống bom nguyên tử không thể giải quyết được. Phương pháp duy nhất là thiết lập một ban kiểm tra quốc tế. Toàn nhân loại phải hiểu rằng khi khám phá ra năng lượng nguyên tử, thì số phận của tất cả các quốc gia đã được gắn với nhau. Sự hợp tác quốc tế duy nhất, sự trao đổi những phát minh khoa học, quốc tế hoá những thành tựu khoa học có thể làm ngừng chiến tranh, điều đó có nghĩa là cần phải đặt ra giới hạn việc sử dụng bom nguyên tử. Không có phương pháp bảo vệ nào hữu hiệu hơn.


Bohr kết luận thông điệp của mình trong khi khẳng định rằng tất cả những nhà bác học liên quan tới vấn đề hạt nhân không hạnh phúc khi thấy rằng “những phát minh lớn của họ đã trở thành mối quan tâm của một mhóm chính trị”. Ông ta mừng rằng Tổng thống Truman và Thủ tướng Churchill đã có những cuộc nói chuyện thường xuyên với Liên Xô về đề tài của một ban kiểm tra quốc tế về việc sản xuất và sử dụng bom nguyên tử. Khi chúng tôi hỏi ông ta nghĩ gì về bom hydrogène, ông ta trả lời rằng nó được chào mừng bom là bom A. Vì lý do này nó tạo thành một kích động mạnh cho ban kiểm tra quốc tế.

Tài liệu của KGB hoàn thành trên sự đánh giá ngắn gọn của Igor Kourtchatov về những câu trả lời của Niels Bohr.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM