Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:18:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bàn về hội nghị Geneva và khả năng giải phóng toàn bộ VN sau chiến thắng ĐBP  (Đọc 85492 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #20 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:48:29 pm »

C. Tấn công đợt 3 (1 đến 7-5-1954):
Đợt tấn công thứ 3 tại Điện Biên bắt đầu từ ngày 1-5-1954.
Thời gian này, Hội nghị Genève đã khai mạc từ ngày 26-4-1954. Ngũ cường đồng ý mời 9 phe tham dự, kể cả Việt Minh và quốc gia Việt nam. Phái đoàn Phạm Văn Đồng sẽ tới Genève ngày 4-5-1954 và phiên họp đầu tiên về Đông Dương sẽ khởi sự ngày 8-5-1954. Trong khi đó, Mỹ không ngừng đe doạ sẽ can thiệp vào Đông Nam Á. Bởi thế, cuối tháng 3-1954,Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã bí mật qua Bắc Kinh thảo luận về chiến lược tấn công ngoại giao ở Genève, một hội nghị quốc tế mà Chu Ân Lai quyết định phải đạt được kết quả: nâng cao uy tín Trung quốc trên chính trường quốc tế. Hồ Chí Minh cũng đã được thông báo là có khả năng sẽ chia Việt nam làm hai. Ngoài ra, Bắc Kinh cần một chiến thắng lớn ở Điện Biên để có thế mạnh ở bàn Hội nghị. Bắc Kinh chỉ thị cho Hồ Chí Minh giải quyết Điện Biên càng sớm càng tốt, hầu giải quyết nhanh và ưu thế nhất tại bàn hội nghị. Bắc Kinh không những gửi thêm đạn dược mà còn gia tăng lương thực và đưa qua 18 giàn phóng hoả tiễn 75 ly, một vũ khí lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường Đông Dương. Trong khi đó, hậu phương gửi ra mặt trận khoảng 25.000 tân binh để bù vào số thiệt hại sau hơn một tháng tấn công và vây hãm.
Trong đợt tấn công cuối cùng, dứt điểm này, mục tiêu chẳng còn bao nhiêu. Toàn căn cứ chỉ còn khoảng 2,900 binh sĩ Pháp khỏe mạnh. Tại phía Đông Bắc, Pháp có các căn cứ Dominique 3 (do Tiểu đoàn 2 Thái, Tiểu đoàn 1 Algériens và một đại đội của Tiểu đoàn 6 Dù (BPC) giữ), Eliane 1 (E1), do một đại đội của Tiểu đoàn 5 Dù của Trung úy Phạm Văn Phú (1923-1975), mới được đặc cách mặt trận lên Đại úy, và Tiểu đoàn 2/1 Dù. Tại E4, đặt Bộ chỉ huy của Thiếu tá Bréchignac.
Tuyến Đông Bắc, Sư đoàn 316, phối thuộc Trung đoàn 9, sư 304, tiêu diệt A1, C1 và C2.
Phía Đông, Sư đoàn 312 sẽ tiêu diệt các cứ điểm 505, 505A, 506, 507, 508 (ở sát sông Nậm Rốm), áp sát vào khu vực hầm chỉ huy của de Castries.
Trên tuyến Tây, Sư đoàn 308 đánh Lilie (Huguette 5 cũ, hay 311A), Claudine (Huguette 4 cũ, tức 311B) ở phía Tây Bắc phi đạo, và rồi phát triển vào cứ điểm Lilie (310), cách hầm chỉ huy khoảng 50 thước.
Tại phía Nam, Sư đoàn 304, tăng cường thêm 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 9/ Sư đoàn 304, ngăn chặn quanh Isabelle không cho rút qua Lào.
Ngày N là thứ bảy, 1-5-1954.
Trận này, Việt Minh được tăng viện thêm một trung đoàn Đại bác 75 ly không giật và 18 giàn phóng hoả tiễn 75 ly sáu nòng.
1. Tuyến Đông Bắc:
Đài chỉ huy của Thiếu tá Bréchignac đặt tại E4. Đại úy Botella là sĩ quan thường vụ. Tiểu đoàn 5 Dù trên thực tế đã ngừng hiện hữu. Chỉ còn một số quân nhân dưới giao thông hào do Đại úy Bizard chỉ huy, và một đại đội với 80 binh sĩ trên E1, dưới quyền tân Đại úy Phạm Văn Phú, 21 tuổi. Trên E1 còn có Đại đội 3 của Trung úy Leguère và Đại đội 1 của Trung úy Périou.
20h00 ngày 1-5-1954, sau đợt pháo kích mở màn, các đơn vị của 312 và 316 tấn công vào khu Eliane cũ và Eliane 2 (A1)
Tại Eliane 1, Tiểu đoàn 2/1 nhảy dù của Trung úy Leguère đánh xáp lá cà với Việt Minh. 20h15, Leguère xin tăng viện. Brèchignac cho lệnh Đại đội 1 của Trung úy Périou tăng viện. Lúc 2h07, cả E1 và D3 bị tràn ngập.
Trung đoàn 98, Sư đoàn 316 có nhiệm vụ đánh C1. 19h27, hoả lực của Trung đoàn bắn rất chính xác vào C1. Pháp sử dụng cả súng phun lửa, nhưng bị thất thủ trong đêm.
Sư đoàn 316, phối thuộc Trung đoàn 9/ Sư đoàn 304, bắt đầu tấn công Dominique 3 lúc 20h00, và chiếm được căn cứ này lúc 2 giờ 07 sáng ngày 2-5-1954. Sau đó, chiếm căn cứ Eliane 1 (E1).
Eliane 2 (A1) do Tiểu đoàn 1/13 Lê dương Dù của Thiếu tá Coustant trấn giữ bị đánh mạnh nhất. Lúc 20h00, Trung đoàn 174/ Sư đoàn 316 của Nguyễn Hữu An tấn công dữ dội nhưng bị đẩy lui. Lúc 02h50 ngày 2-5-1954, Trung đoàn 174/ Sư đoàn 316 tiếp tục tấn công Eliane 2. Tuy nhiên, cho tới 6h45 vẫn đứng vững.
2. Tuyến Đông:
Sư đoàn 312 chịu trách nhiệm đánh 505 và Dominique 3 (505A). Đây là dãy căn cứ trên đất bằng, nằm giữa đường 41 và bờ sông Nam Yum. Hai tiểu đoàn 166 và 165 của Trung đoàn 209/ Sư đoàn 312 của Hoàng Cầm tấn công căn cứ 555 và Dominique 3 (555A).
Tiểu đoàn 6 Dù của Thiếu tá Thomas cùng các binh sĩ Thái và Algériens của Chenel hết sức cầm cự. Hoàng Cầm phải đưa thêm tăng viện vào mặt trận. Quân Pháp từ căn cứ 507 cũng cho lính tùng thiết kéo lên phản kích. Lúc 4h20 ngày 2-5-1954, D3 bị tràn ngập.
Từ đây, Hoàng Cầm cho lệnh hai cánh quân cùng đào hào về hướng hai căn cứ 506 và 507.
3. Tại hướng Tây:
20h00 ngày 1-5-1954, sau một đợt pháo kích dữ dội, Trung đoàn 88/ Sư đoàn 308 tấn công vị trí Huguette 5 (311A), Huguette 4 (311B) ở phía Tây Bắc phi đạo.
Huguette 5 (311A) do Lê dương trấn giữ đã bị tấn công ròng rã một tuần lễ. 20h05, Huguette 5 thất thủ.
Sau đó, Trung đoàn 36 (sư đoàn 308) tiếp tục đánh Huguette 4 (311B), cứ điểm ngay sát phía Tây phi đạo. Lúc 2h07 ngày 2-5-1954, H4 (311B) bị Trung đoàn 36 (sư đoàn 308) tấn công mạnh. Lúc 03h05 ngày Chủ nhật, 2-5-1954, Việt Minh tấn công lần thứ hai H4. Viện binh từ H3 và Lilie 2 giúp giải toả một số địa đạo phía Nam H4. 6h25, H4 vẫn đứng vững.
Tuyến Nam, Sư đoàn 304, tăng cường thêm 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 9 (sư 304), ngăn chặn quanh Isabelle không cho rút qua Lào.
Nhờ thời tiết nắng ráo, không lực Pháp có thể can thiệp mạnh. B29 Mỹ oanh tạc dữ dội các vị trí Việt Minh. Có lẽ vì vậy mặt trận lắng dịu phần nào.
Thứ hai, 3-5-1954, lúc 2h50, Pháp được tăng viện thêm Đại đội 2/1 Dù của Trung úy Marcel Edme, với 107 người. Quá ít và phí phạm. Các cấp chỉ huy phải điều thương binh tăng viện đi tăng viện cho E10 và E12.
Tại tuyến Đông, Đại tá Langlais điều ngay toán quân tăng viện Tiểu đoàn 1 Dù lên Eliane 2. Hôm sau, thứ ba, 4-5-1954, thêm đại đội 3/1 BCP của Đại úy Jean Pouget và một bộ phận chỉ huy của Tiểu đoàn 1 BCP, kể cả Đại úy Francois Penduff, nhảy xuống mặt trận. Đại tá Langlais quyết định hoán đổi các binh sĩ Tiểu đoàn 1/13 Lê dương của Coutant mệt mỏi ở Eliane 2 (A1) xuống căn cứ E3 ở chân đồi, và đưa đại đội 3/1 Dù mới được tăng viện lên Eliane 2.
Tại hướng Tây, thứ ba, 4-5-1954, Trung đoàn 36 (sư đoàn 308); 3 tiểu đoàn thuộc 88 (Sư đoàn 308) và 102 (sư đoàn 308), cộng thêm một tiểu đoàn của Sư đoàn 312 đánh chiếm Lilie (311A), rồi tràn xuống H4 (311B) nằm trong cụm căn cứ Claudine. Thiếu tá Giraud từ Huguette cho quân phản công, tăng viện H4 (311B). 3h35 ngày 5-5-1954, căn cứ này thất thủ. Quân Việt Minh như thế chỉ còn cách de Castries khoảng 300 thước.
Thứ ba, 4-5, De Castries được thông báo về kế hoạch Albatros (Chim Biển). Dự trù sẽ bắt đầu lúc 20h00 ngày 7-5. Việt Minh biết được một phần kế hoạch này.
Thứ tư, 5-5-1954, Trung quốc tăng viện cho Việt Minh 18 giàn phóng hoả tiễn 6 nòng.
Thứ năm, 6-5-1954, trận địa pháo khuấy rối ở Eliane 4, 10 và 12.
20h00, bắt đầu tổng tấn công. Hiệu lệnh là tiếng nổ của 1000 ki-lô chất nổ chôn ngầm dưới căn cứ Eliane 2 (A1). Căn cứ này mới được hoán đổi quân. Tiểu đoàn 1/13 Lê dương của Thiết tá Coutant xuống căn cứ Eliane 3 dưới chân đồi dưỡng sức, thay bằng đại đội 3/1 Dù, mới nhảy xuống Điện Biên, dưới quyền Đại úy Pouget.
Trung đoàn 174/ Sư đoàn 316 sử dụng hai tiểu đoàn tấn công. Một mũi từ hướng Đông Nam. Một mũi từ hướng Tây đánh tới, chặn đường rút về khu trung tâm.
Đúng 20h30, Lê Quảng Ba cho lệnh châm ngòi nổ. Nhưng một tấn thuốc nổ không phát ra tiếng nổ to như mọi người trông đợi. Nguyễn Hữu An vẫn cho nổ súng. Sau 15 phút dùng pháo dọn đường, bộ binh bắt đầu xung phong. Giao tranh diễn ra ác liệt tại cả hai căn cứ Eliane 2 và Eliane 3.
3 giờ sáng ngày 7-5-1954, Trung đoàn 174 chiếm được hầm chỉ huy, bắt sống Pouget và hơn 100 tù binh khác. 4h30 sáng ngày 7-5-1954, mặt trận mới im tiếng súng.
Tại căn cứ C2, Pháp đã tăng cường thêm 6 đại đội thuộc Tiểu đoàn 2 Dù Lê dương và Tiểu đoàn 5 Dù Việt nam. Trung đoàn 98 của Vũ Lăng gặp sức phản kháng mãnh liệt trong từng lô-cốt và địa đạo. Lăng phải điều thêm tiếp viện vào căn cứ. 7h30 phút ngày thứ sáu, 7-5-1954, Sư đoàn 316 mở đợt tấn công cuối cùng, chia quân làm ba mũi tiến vào C2. Mãi tới 9h30 phút mới giải quyết xong mục tiêu. Hơn 600 binh sĩ Pháp bị bắt hoặc tử thương.
Như thế, toàn bộ tuyến cao điểm phía Đông Điện Biên đều đã thất thủ.
Tại hướng Đông do Sư đoàn 312 án ngữ, không quân Pháp đánh bom napalm lên căn cứ Eliane 10 (506), nhưng Trung đoàn 165 không bị thiệt hại nhiều. Tại căn cứ 507, Trung đoàn 209 (sư đoàn 316) của Hoàng Cầm gặp nhiều khó khăn. Bộc phá không phá nổi loại hàng rào “bùng nhùng”. Mãi tới 15h00 mới chiếm được căn cứ 507.
Lúc 15h00, Sư đoàn 312 bắt đầu vượt qua cầu Mương Thanh đánh sang khu trung tâm.
17h20, Trung đoàn 209/ Sư đoàn 312, với sự trợ lực của Trung đoàn 141 (sư đoàn 312), tiến được vào hầm chỉ huy và bắt sống tướng De Castries.
Tại phía Tây, trung đoàn Thủ Đô (trung đoàn 102 thuộc sư đoàn) 308 cũng diệt được căn cứ Claudine 5 (510), chỉ cách hầm de Castries khoảng 50 thước.
Nửa đêm 7-5-1954, tại phía Nam, Chính uỷ Lê Chưởng báo cáo đã bắt sống được Đại tá Lalande và toàn bộ binh sĩ.
V. Hiệp ước Genève 20-21-7-1954:
Tin Điện Biên Phủ thất thủ sau 56 ngày bị vây đánh được đón nhận như một quốc tang ở Paris. Đây không chỉ là sự thất bại quân sự đầu tiên của một cường quốc Tây phương trước một đạo quân bản xứ hạng ba, hạng tư trên thế giới, mà ngay cả giấc mơ “thương thuyết trên thế mạnh” của Pháp cũng tan thành mây khói.
Lúc16h45 ngày thứ bảy, 8-5-1954 (23h45 Việt nam), để khai mạc Hội nghị nghị Genève về Đông Dương, tại trụ sở Liên hiệp quốc, đối diện bờ hồ, ngoại trưởng Pháp Bidault đề nghị ngưng bắn để tìm hoà bình.
(còn tiếp)
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #21 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:49:57 pm »

A. Đường tới Genève:
Sự thất trận ở Điện Biên Phủ, như bản tin tình báo Mỹ (NIE 63-54) nhận định, có ảnh hưởng chính trị bất lợi hơn là hậu quả quân sự. Chiến bại này khiến vị thế Pháp ở Đông Dương suy thoái. Nó chẳng những làm giảm uy tín Pháp trong lòng người Đông Dương, mà còn gia tăng mối lo sợ rằng Pháp không đủ sức bảo vệ họ. Nó làm giảm tinh thần chiến đấu của Pháp và dân Đông Dương, và khiến liên hệ Pháp-Việt căng thẳng, vì người bản xứ lo sợ Pháp “bán đứt” họ cho Việt Minh (sell out to Viet Minh). Nó cũng gia tăng thái độ “trùm chăn” (fence sitting) trong số người ủng hộ chính phủ quốc gia, và gia tăng sự ủng hộ chế độ Việt Minh. Nhưng có thể chưa mang đến sự sụp đổ hoàn toàn của Pháp và chính phủ bản xứ trong vài tháng tới nếu tiếp tục duy trì quân viễn chinh Pháp và hy vọng Mỹ sẽ can thiệp.
Thực ra, từ năm 1952, phong trào đòi thương thuyết với Việt Minh đã phát triển ngày một mạnh tại Pháp. Ngày 28-8-1953, ngoại trưởng Bidault tuyên bố có thể Pháp sẽ tìm giải pháp chính trị cho Đông Dương, nhưng phải hỏi ý kiến Các quốc gia liên hiệp trước khi có hành động. Gần một tháng sau, 25-9, khi đang tham dự Đại hội đồng LHQ từ 15-9 tới 9-12-1953, Maurice Schuman tuyên bố tại Liên hiệp quốc là Pháp muốn thương thuyết để đạt một giải pháp chính trị nhằm chấm dứt chiến tranh.
Như để khuyến khích Pháp, ngày 28-9-1953, Liên xô lập lại đề nghị họp “ngũ cường”. Ngày 8-10, Chu Ân Lai tuyên bố Trung Quốc muốn đóng góp vào việc củng cố nền hoà bình ở Viễn Đông và trên thế giới.
Ngày 27-10-1953, Laniel tuyên bố sẵn sàng nắm mọi cơ hội tìm hoà bình cho Đông Dương. Ngày này, Quốc hội Pháp biểu quyết ủng hộ việc đi tìm một giải pháp chính trị, qua thương thuyết.
Vài tuần sau, ngày thứ năm, 12-11-1953, Laniel tuyên bố trước Thượng Viện: Pháp không đòi đối phương phải đầu hàng không điều kiện, và cũng không nghĩ rằng vấn đề Đông Dương chỉ có thể giải quyết được bằng quân sự. Laniel thêm rằng từ sau bài diễn văn ngày 27-10-1953 của mình trước Hạ Viện, chưa thấy Hồ Chí Minh trả lời. Đó là nhiệm vụ của những người muốn hoà bình tức khắc ở Đông Dương tìm cách thuyết phục Hồ Chí Minh. Hôm sau, 13-11-1953, khi phê bình về lời tuyên bố của Laniel trong buổi họp tại Bộ ngoại giao, Dulles nói không bất mãn vì đó chỉ là thực tế chính trị-chính phủ Pháp phải nói muốn thương thuyết. Không một chính phủ Pháp nào có thể từ chối thương thuyết khi chính Mỹ đang đàm phán tại Triều tiên.
Ngày Chủ nhật, 29-11-1953, báo Expressen của Norway (Thụy Điển), bỗng đăng bài phỏng vấn Hồ Chí Minh hồi cuối tháng 10-1953 để trả lời tuyên bố của Thủ tướng Laniel. Hồ Chí Minh nói sẵn sàng cứu xét mọi đề nghị của Pháp, nhưng chỉ thương thuyết với Pháp.
Phản ứng đầu tiên của ngoại trưởng Bidault là bài phỏng vấn của Hồ Chí Minh chỉ có tính cách tuyên truyền. Nhưng tổng thống Pháp có ý nghĩ khác.
Ngay 3 giờ sáng thứ hai, 30-11, Auriol mời Laniel vào điện Elysée, yêu cầu tiếp xúc ngay với các đại diện Đông Dương, hầu có thể thương thuyết với Hồ Chí Minh càng sớm càng tốt. Laniel không đồng ý, nói cần tham khảo Mỹ và Anh tại Bermuda trước khi thảo luận với Các quốc gia liên hiệp. Sau đó, Laniel nhờ Đại sứ Mỹ Dillon thông báo với Dulles rằng chính sách của Pháp không thay đổi trước ngày khai mạc Hội nghị Bermuda (4-8-12-1953).
3 giờ chiều ngày 4-12-1953, tại Bermuda, Dulles gặp riêng Laniel. Laniel cũng nghĩ rằng đề nghị của Hồ Chí Minh trên tờ Expressen chỉ có tính cách tuyên truyền. Tuy nhiên nó tạo nhiều phản ứng sôi nổi trong chính giới Pháp. Tổng thống Auriol và một số thành viên trong chính phủ muốn thông báo ngay cho Hồ Chí Minh là Pháp muốn điều đình. Riêng Laniel vẫn muốn hoà đàm trên thế mạnh-vào khoảng tháng 4-1954, Navarre có thể tạo được ưu thế quân sự, và có thể bắt đầu thương thuyết. Pháp cũng sẽ chỉ nghiên cứu việc thương thuyết nếu Hồ Chí Minh nhờ cậy một trung gian nào đó. Và, Pháp sẽ thảo luận kỹ càng với Các quốc gia liên hiệp. Ngày 7-12-1953, Mỹ, Anh và Pháp đồng ý trên nguyên tắc họp ngũ cường.
Ngày 14-12-1953, Hồ Chí Minh nhận lời thương thuyết với Pháp. Nhân ngày Tết Nguyên đán Giáp Ngọ (3-2-1954), Hồ Chí Minh lập lại lời đề nghị vãn hồi hoà bình.
Trong khi đó, Trung quốc ra công cổ võ cho việc tìm hoà bình. Tại Vienna, khi Lê Đình Thám, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hoà bình, tuyên bố có thể tìm một giải pháp hoà bình ở VN, Quách Mạt Nhược, trưởng phái đoàn TQ, ủng hộ nhiệt liệt. Ngày thứ ba, 1-12-1953, Nhân dân nhật báo đăng lại lời tuyên bố của Hồ Chí Minh và, trong bài xã luận, hoàn toàn ủng hộ. Ngày 18-12-1953, Chính phủ TQ tổ chức một ngày đoàn kết với nhân dân VN tại Bắc Kinh. Lê Đình Thám và Lưu Ninh Nhất, Phó Chủ nhiệm Tổng công hội TQ, nhắc lại những luận điểm “hoà bình”.
Ngày 18-2-1954, Molotov lại kêu gọi mở hội nghị để giải quyết vấn đề Triều tiên và Đông Dương. Tứ cường đồng ý mời Trung quốc tham dự Hội nghị Genève, khai mạc ngày 26-4-1954. Sẽ bàn cả vấn đề Triều tiên và Đông Dương-hai điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga ở Á Châu, cũng hai cửa ngõ chiến lược quan trọng của Trung quốc.
Sau khi Hội nghị tứ cường tại Berlin đồng ý mời 9 phe liên hệ tham dự Hội nghị Genève, và khi trận Điện Biên Phủ vừa bùng nổ, Bắc Kinh bí mật áp lực Hồ Chí Minh phải chấp nhận chia đôi Việt nam, để tránh tạo cơ hội cho Mỹ tham chiến ở Đông Dương. Kinh nghiệm Triều tiên còn đậm nét trong tâm khảm các nhà lãnh đạo Trung quốc.
Ngày 15-3-1954, Chu Ân Lai (1898-1975) điện thư cho Hồ Chí Minh đề nghị: nên chọn một tuyến chia cắt tương đối rõ ràng để khu vực do VNDCCH kiểm soát tương đối toàn vẹn. Vĩ tuyến 16 có thể là một lựa chọn. Chu Ân Lai cũng mời Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh để thảo luận vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4-1954. Khi Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tới Bắc Kinh vào hạ tuần tháng 3-1954, Mao, Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai thúc giục Hồ Chí Minh phải đạt kết quả tại Genève.
Ngày 31-3-1954, Bộ chính trị Đảng CSTQ chấp thuận kế hoạch của Chu Ân Lai và cử Chu Ân Lai qua Moscow họp bàn với Liên xô. Hôm sau, 1-4-1954, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng bay qua Nga. Tại Moscow, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh họp với Nikita Khrushchev và Vyacheslav Molotov. Khrushchev chẳng kỳ vọng nhiều, trong khi Mao coi hội nghị Genève cực kỳ quan trọng với Trung quốc.
Ngày 19-4-1954, Bắc Kinh công bố danh sách phái đoàn dự Hội nghị do Chu Ân Lai cầm đầu. Chu Ân Lai cùng tùy tùng ghé qua Moscow để tham khảo ý kiến lần chót, và tập luyện các nghi lễ ngoại giao quốc tế, trước khi qua Genève ngày 21-4-1954. Ngày này, Chu Ân Lai cũng nhắn tin với Laniel là muốn gặp riêng Thủ tướng Pháp.
Ngày 24-4-1954, phái đoàn Chu Ân Lai tới Genève. Gồm 200 người. Những nhân vật đáng kể nhất có ba thứ trưởng Ngoại giao Zhang Wentian (Trương Văn Thiên) (1898-?), cựu đại sứ Trung quốc ở Moscow; Wang Jiaxiang (Vương Gia Tường) (1907-1974), và Li Kenung (Lý Khắc Nông), phụ trách tình báo; Wang Bingnan (Vương Bính Nam), Tổng thư ký (Director of the General Office) Bộ ngoại giao. Có 5 cố vấn: Phương Nghị, Bí thư Vụ chính trị của Bộ ngoại giao; Trần Gia Khang, Vụ trưởng Vụ châu Á từ năm 1952; Huang Hoa (Hoàng Hoa), Cố vấn bộ ngoại giao từ năm 1953; Hoạn Hương, Vụ trưởng Vụ Tây Âu Bộ ngoại giao; và Lôi Anh Phu. Ngoài ra còn một số nhân viên không chính thức: Lôi Nhiệm Dân, thứ trưởng Ngoại thương; Qiao Guanhoa (Kiều Quán Hoa) và vợ là Cung Bành, phát ngôn viên; Kha Bái Niên, Vụ trưởng Vụ Mỹ-Australia; Wu Leng-si, Phó Giám đốc Tân Hoa xã.
Phần Pháp, ngân sách đã kiệt quệ. Mầm mống rối loạn không những chỉ xảy ra tại nội địa Pháp mà bắt đầu nhen nhúm ở các thuộc địa. Áp lực chính trị của Mỹ thì ngày một tăng theo số tiền viện trợ, khiến Pháp phải tự hỏi tại sao xương máu Pháp phải đổ xuống để mất dần quyền sở hữu Đông Dương? Hơn nữa, mục tiêu đích thực của Pháp là quyền lợi vật chất và tinh thần (văn hoá). Pháp không đặt nặng vấn đề ý thức hệ “chống Cộng” như Mỹ.
Thoạt tiên, Pháp, hoặc ít nữa chính phủ Laniel, muốn đạt được hoà bình trong thế mạnh. Nhưng kế hoạch Laniel-Navarre bị phá sản trong mùa Xuân 1954 tại Điện Biên Phủ. Pháp nhiều lần xin Mỹ can thiệp bằng không lực (kế hoạch Vautour hay Vulture), nhưng vì Anh và khối ANZUS không đồng ý tham chiến, Tổng thống Eisenhower không có quyết định rõ ràng cho tới khi Pháp thất trận Điện Biên Phủ.
B. Hội nghị Genève (26-4 đến 21-7-1954):
Ngày 26-4-1954, Hội nghị Genève khai mạc. Một ngày họp về Triều tiên, một ngày họp về Đông Dương. Phiên họp về Triều tiên không thành công vì Bắc Kinh không nhìn nhận vai trò của LHQ; chỉ muốn có các nước trung lập. Về Đông Dương, ngày 2-5-1954, Mỹ, Anh và Pháp đồng ý công thức Hội nghị do Liên xô đề nghị - sẽ có 9 phe tham dự, kể cả VNDCCH và quốc gia Việt nam. Ngày 3-5-1954, Việt Minh được mời tham dự Hội nghị Genève. Ngày này, ngoại trưởng Mỹ Dulles rời Genève. Gửi thư cho Bidault, ngỏ ý muốn giúp Pháp. Nhưng từ đó, không trở lại Genève nữa.
Ngày 4-5-1954, phái đoàn Việt nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Genève. Trong đoàn có Tạ Quang Bửu, Hà Văn Lâu, Hoàng Văn Hoan, v.. v... Ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định cầm đầu phái đoàn quốc gia Việt nam. (Sau thay thế bằng Trần Văn Đỗ, ngoại trưởng chính phủ Diệm)
Giữa lúc phiên họp về Đông Dương sắp khai mạc, ngày 7-5-1954, Điện Biên Phủ thất thủ sau 56 ngày bị vây đánh. Giấc mơ “thương thuyết trên thế mạnh” của Pháp tan thành mây khói.
Lúc 16h45 ngày thứ bảy, 8-5-1954, (23h45 Việt nam), để khai mạc Hội nghị nghị Genève về Đông Dương, tại trụ sở Liên hiệp quốc, đối diện bờ hồ, ngoại trưởng Pháp Bidault đề nghị ngưng bắn tại Đông Dương để tìm hoà bình.
Phía Mỹ không hài lòng. Trong hai năm 1953-1954, như đã lược thuật, Mỹ không ngừng chống một giải pháp chính trị cho Đông Dương. Ngày 26-4-1954, Dulles bảo thẳng ngoại trưởng Bidault rằng ngưng bắn là đầu hàng. Tuy nhiên, Anh chống lại ý muốn mở rộng chiến tranh. Ngày 27-4-1954, khi Dulles tuyên bố không muốn thấy ngưng bắn, ngoại trưởng Anthony Eden nói can thiệp bằng võ lực quá nguy hiểm, nguy hiểm hơn cả Triều tiên.
Hai ngày sau, 29-4-1954, Dulles đề nghị với Eisenhower rằng giữa cảnh xuống dốc của Pháp, yếu ớt của Anh, Mỹ phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo. Nhưng phe quân sự Mỹ chống lại việc can thiệp đơn phương. Eisenhower đồng ý. Dulles chẳng có biện pháp nào hơn bày một cuộc cờ khác.
Khi khó thể tránh được việc ngưng bắn, Dulles không tham dự Hội nghị Genève về Đông Dương, mà chỉ cử đại diện là thứ trưởng Walter Bedell Smith, với chỉ thị Smith không được liên hệ với đại diện Trung quốc. Mỹ, Dulles nhấn mạnh, chỉ là một “quốc gia quan tâm” (interested nation) không phải phe lâm chiến hay một thành viên hoà đàm (“belligerent or a principal in the negotiation”.) Mỹ tham dự để giúp các quốc gia (liên kết) được vẹn toàn lãnh thổ và độc lập chính trị, dưới những chính phủ vững chắc, để họ khỏi bị rơi vào ách độc tài đế quốc cộng sản (these people should not be amalgamated into the Communist bloc of imperialistic dictatorship). Mỹ không chấp thuận, dù gián hay trực tiếp, việc ngưng bắn, hay một hình thức nào làm tổn hại đến các chính quyền hợp pháp. Ngoài ra, Smith phải hợp tác với Pháp và các nước được công nhận.
Trước đó, Dulles đã tiếp xúc với Bảo Đại và đang cho nghiên cứu việc sử dụng thí nghiệm Ngô Đình Diệm, hy vọng sẽ tạo được một tiền đồn chống Cộng trên phần đất còn lại phía Nam vĩ tuyến 17, với những “phần tử quốc gia chân chính”.
Hội nghị Genève, trên thực tế, chỉ còn là cuộc mặc cả giữa Pháp với phe Liên xô, Trung quốc và VNDCCH. Đại diện của quốc gia Việt nam bị hoàn toàn lãng quên. Ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định và rồi Trần Văn Đỗ, từ ngày 12-7-1954, chỉ được tham dự những phiên họp công khai, không được dự vào các buổi mật đàm quân sự hay chính trị Pháp-Việt Minh.
(còn tiếp)
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:51:15 pm »

Những buổi họp bí mật của Ủy ban quân sự (Commission Militaire) Pháp-Việt Minh bắt đầu ngày 2-6-1954 giữa Tạ Quang Bửu, Hà Văn Lâu cùng tướng Delteil và đại tá Marcel de Brebisson. Ngày 10-6-1954, trong một cuộc họp mật, Bửu đột ngột gợi ý cho việc chia cắt Việt nam. Đặt một bàn tay lên vùng Bắc Việt, Bửu nói: “Chúng tôi cần một thủ đô (Hà nội) và một hải cảng (Hải Phòng)”.
Đại diện Pháp ngạc nhiên, nhưng hân hoan khôn tả. Nguyên tắc chia đôi Việt nam đã được Hà nội đề xướng. Tướng Paul Ely, tân Tổng Ủy viên Đông Dương, kiêm Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp, không muốn mất Hà nội hay Hải Phòng. Pháp đề ra phương pháp ngưng bắn da beo (leopard spot), hay ngưng bắn tại chỗ. Các chiến lược gia Mỹ cho rằng Bắc Việt là trọng điểm của cánh cung bảo vệ toàn vùng Đông Nam Á nên không đồng ý. Cuối cùng, Pháp chấp nhận chia đôi Việt nam, mỗi phe tập trung vào một khu vực rõ ràng. Về vấn đề Lào và Cao Miên, Pháp đòi hỏi Việt Minh phải rút quân khỏi hai nước này. Việt Minh, do áp lực của Trung quốc, đồng ý; đổi lấy điều kiện không một quốc gia thứ ba nào được thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ ba nước Đông Dương.
Vấn đề chính trị bắt đầu từ ngày 29-5-1954. Tuy nhiên Chauvel và Phạm Văn Đồng không đạt được kết quả đáng kể tại các phiên họp công khai.
Từ ngày thứ bảy 12-6-1954, Phạm Văn Đồng và Chauvel bắt đầu mật đàm. Vấn đề gay go nhất là vai trò của chính phủ quốc gia Việt nam. Phạm Văn Đồng muốn Pháp trả hoàn toàn độc lập cho VNDCCH, bỏ rơi chế độ quốc gia Việt nam. Nhưng Pháp, với sự yểm trợ của Anh và Mỹ, muốn cho quốc gia Việt nam một cơ hội. Đó là tổng tuyển cử để quyết định thể chế tương lai. Việt Minh muốn tổng tuyển cử trong vòng 6 tháng, nhưng Pháp muốn kéo dài càng sớm càng tốt. (Cuối cùng, Molotov và Chu Ân Lai đồng ý sẽ tổng tuyển cử trong vòng hai năm).
Hội nghị Genève, tưởng cần lập lại, là cơ hội cho Bắc Kinh xuất hiện như một cường quốc sau 5 năm năm bị cô lập và phong toả. Chu Ân Lai muốn bằng mọi giá ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương, cửa ngõ chiến lược phía Đông Nam của Trung quốc. (Hai cửa ngõ chiến lược khác là Đại Hàn và Đài Loan).
Ngày 18-5-1954, một cộng sự viên của Chu Ân Lai nói với Pháp là Trung Hoa tới Genève để tìm hoà bình, không phải để ủng hộ Việt Minh.
Ngày 30-5-1954, Chu Ân Lai điện cho Bắc Kinh và Hà nội, thông báo nếu cần có thể biến Hà nội, Hải Phòng và quốc lộ số 5 nối liền hai thị xã này thành vùng phi quân sự.
Ngày 20-6-1954, Mao chỉ thị Cố vấn quân sự Trung quốc ngăn cản không cho Giáp mở rộng chiến tranh vào Trung và Nam Việt, hay tiến đánh châu thổ sông Hồng.
Tuy nhiên, thương thuyết bế tắc vì hai vấn đề quan trọng: Vấn đề Miên-Lào và ranh giới phân chia Việt nam; và vấn đề trung lập hoá Đông Dương. Thái độ của phe cộng sản bỗng cứng rắn hơn sau khi Molotov về Moscow từ ngày 30-5 tới 2-6-1954. Một trong những nguyên do có lẽ là việc chính phủ Laniel quyết định trao trả độc lập cho chế độ Bảo Đại ngày 4-6-1954. Ngày 6-6-1954, phe cộng sản đả kích chính phủ Laniel và Mỹ. Ngày 8-6-1954, Molotov đả kích ngoại trưởng Bidault đã tạo nên những trở ngại cho con đường tái lập hoà bình. Hai ngày sau, 10-6-1954, Molotov đề nghị Pháp bàn thảo vấn đề chính trị trực tiếp với Việt Minh.
Ngày 12-6-1954, chính phủ Laniel bị bất tín nhiệm. Hai ngày sau, 14-6-1954, tình hình căng thẳng đến độ các quan sát viên lo sợ rằng Hội nghị Genève sẽ đổ vỡ. Tuy nhiên, phía sau hậu trường, những cuộc thương thuyết mật tạo được nhiều tiến bộ. Phe cộng sản phân chia trách nhiệm rõ ràng: Liên xô phụ trách các vấn đề tổng quát, kiểm soát đình chiến, và những nguyên tắc chính trị. Trung Quốc chịu trách nhiệm những vấn đề thực tế, biên giới, vùng tập trung.
Ngày 15-6-1954, tại Genève, Molotov, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng họp mật. Chu Ân Lai, với sự đồng ý của Molotov, ép Phạm Văn Đồng phải chấp nhận những giải pháp riêng biệt cho Việt nam, Lào và Miên - tức triệt thoái quân Việt Minh khỏi Miên và Lào.
Hôm sau, 16-6-1954, Chu Ân Lai công khai phá vỡ sự bế tắc bằng cách chấp nhận quân ngoại quốc phải triệt thoái khỏi Miên và Lào.
Ngày 17-6-1954, Chu Ân Lai gặp Bidault, cho biết đồng ý có hai nước Việt nam, công nhận chính phủ hiện hữu ở Lào và Miên, và rút hết quân ngoại quốc khỏi hai vương quốc này.
Đêm 19-6-1954, Molotov bay về Moscow. Phần Eden và Smith cũng rời Genève.
Ngày 21-6-1954, Uỷ ban quân sự không họp. Đại tá Michel de Brebisson gặp Hà Văn Lâu để dàn xếp cho Chauvel gặp Phạm Văn Đồng. Hôm sau, 22-6-1954, gặp Chauvel, Phạm Văn Đồng nói:
- Các ông cứ lần lữa, các ông cứ ngần ngại quyết định... Những người Việt mà các ông hết lòng yểm trợ - điều này các ông rõ hơn ai hết - sẽ bắn vào lưng người Pháp trước khi ngả qua phe chúng tôi”.
Đêm 22-23-6-1954, Delteil, de Brebisson lại họp mật cùng Bửu và Lâu.
Từ ngày Quốc hội Pháp cử Mendès-France lập chính phủ mới, lời tuyên bố sẽ từ chức nếu không đạt được Hiệp ước trong vòng 4 tuần lễ của Mendes-France khiến Mỹ lo ngại. Ngày 17-6-1954, Dulles chỉ thị cho phái đoàn Mỹ ở Genève là Mỹ không có ý định “bán” (sell) việc chia cắt đất nước với phe QG Việt nam. Dulles cũng cho lệnh U. Alexis Johnson lưu ý phái đoàn Pháp (Chauvel) về điều kiện di tản quân Pháp và kiều dân, và giáo dân Ki-tô Việt.
Nhưng ngày 18-6-1954, U. Alexis Johnson báo cáo về Washington rằng theo Chauvel, đình chiến kiểu “da beo” (leopard spot) không thực tiễn. Pháp sẽ đồng ý chia vào khoảng vĩ tuyến 19, phía Bắc Đồng Hới. Mật đàm với phái đoàn VM không mang lại kết quả vì VM cứng rắn hơn.
Ngày 18-6, khi gặp thứ trưởng Smith, Molotov cũng khuyên Mỹ nên chấp nhận chia đôi Việt nam. Pháp không thể đuổi theo hai thỏ cùng một lúc. Sau khi chia đôi, sẽ tìm cách thống nhất bằng tuyển cử. Muốn giải quyết vấn đề Đông Dương, nên thực tế (realistic).
Trong buổi hội kiến giữa Mandès-France và Smith tại Quai d'Orsay ngày 20-6-1954, Mandès-France yêu cầu Mỹ can thiệp để Diệm, “a fanatic giống như Lý Thừa Vãn” tìm cách chống lại việc thương thuyết.
Ngày thứ tư 23-6-1954, Chu Ân Lai gặp Mendès-France ở Berne, thủ đô Switzerland. Chu Ân Lai, theo Chauvel nói với Dillon, chấp nhận có hai nước Việt nam. Giải pháp sẽ qua hai giai đoạn: Ngưng bắn càng sớm càng tốt, và hoà bình có thể cần nhiều thời gian. Chu Ân Lai chấp thuận đề nghị của Pháp là giải quyết vấn đề quân sự trước, chính trị sau. Trước hết, ngưng bắn và tập trung tại những vùng lớn rộng. Chu Ân Lai sẵn sàng thảo luận vùng tập trung nếu Pháp muốn, nhưng Mendès-France muốn bàn ở Genève. Vấn đề chính trị, sẽ do hai chính phủ Việt nam thảo luận. Pháp có thể tiếp tay vào những cuộc thương thuyết này. Mendes-France nói chiến tranh đã kéo dài hơn 8 năm, cần thời gian cho hai bên nguội lại (cool off). Chu Ân Lai im lặng, không đòi bầu cử sớm nữa. Mendès-France còn yêu cầu Chu Ân Lai can thiệp cho phe Việt Minh bớt cứng rắn hơn. Chu Ân Lai đồng ý.
Hôm sau, thứ năm, 24-6-1954, Mendès-France họp mật với Charles Guy la Chambre, Parodi, Chauvel và Ely. Rồi cho lệnh phái đoàn Pháp đề nghị chia đôi Việt nam ở vĩ tuyến 18.
Trước một sự việc đã rồi, ngày 24-6-1954 Dulles cho phái đoàn Genève biết vai trò của Mỹ sẽ rút còn “người quan sát.” (146)
Hai ngày sau, thứ bảy, 26-6-1954, đại sứ Pháp Henri Bonnet trao cho Dulles một văn thư tóm lược về diễn tiến Hội nghị Genève. Ngày 28-6-1954, trả lời văn thư ngày 26-6-1954 của Mendès-France - đặc biệt là yêu cầu Mỹ can thiệp để Diệm đừng phản ứng nông nổi về việc chia cắt đất nước.
Dulles nêu lên 7 điều kiện căn bản mà Mỹ và Anh đã đồng ý trong cuộc họp thượng đỉnh Eisenhower-Churchill từ ngày thứ sáu, 25-6 tới 29-6-1954 về việc ngưng bắn:
1. Duy trì sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập của hai nước Miên, Lào; bảo đảm việc triệt thoái quân đội Việt Minh khỏi hai quốc gia này.
2. Duy trì ít nhất miền Nam Việt nam, và nếu có thể một “túi” (enclave) ở miền Bắc. Giới tuyến không thể nằm xa hơn phía Nam Đồng Hới, tức vĩ độ 17độ 5 (VN đòi vĩ tuyến 13; Pháp chỉ chịu cắt ngang vĩ tuyến 18, vì cần đường thông thương qua Lào, tức quốc lộ 9).
3. Không áp đặt lên Lào, Miên và phần còn lại của Việt nam bất cứ một giới hạn nào làm giảm tiềm năng duy trì những chế độ không cộng sản vững vàng; đặc biệt là những giới hạn làm giảm quyền duy trì các lực lượng thích ứng để giữ an ninh trong nước, quyền nhập cảng vũ khí và sử dụng cố vấn nước ngoài.
4. Không có những điều khoản chính trị khiến vùng đất còn lại của Việt nam có thể sẽ lọt vào tay cộng sản.
5. Không loại trừ viễn tượng thống nhất Việt nam bằng phương thức hoà bình. (VM đòi trong vòng 6 tháng; Pháp muốn 1 năm sau ngày rút quân)
6. Cung cấp những phương tiện di chuyển yên ổn và nhân đạo, dưới sự kiểm soát quốc tế, cho những người tự nguyện muốn rời vùng này qua vùng khác.
7. Cung cấp hệ thống kiểm soát quốc tế.
Ngày 30-6-1954, đại sứ Dillon mới trao được công điện này cho Mendès-France.
(còn tiếp)
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:51:41 pm »

Thời gian này, Hội nghị Genève tạm ngưng họp cho các ngoại trưởng về nước tham khảo. Tình hình chiến sự tại Đông Dương cũng cực kỳ bất lợi cho Pháp.
Ngày 24-6-1954, tại miền Trung, trận An Khê nổ lớn. Binh đoàn cơ động GM 100 của Pháp bị tiêu diệt.
Tại miền Bắc, ngày thứ ba, 22-6-1954, Pháp triệt thoái các tỉnh Hà Nam, Bùi Chu, Phát Diệm và Nam Định về hướng Hải Phòng, giao cho quân đội Việt nam trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ. Ngày thứ năm, 24-6-1954, Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí - lúc đó đang vận động xin Mỹ viện trợ để bảo vệ Bắc Việt - mới báo cáo rằng Pháp triệt thoái miền Nam châu thổ. Hai ngày sau, thứ bảy, 26-6-1954, tướng Cogny gặp Trí, chính thức thông báo việc quân Pháp triệt thoái từ 4 ngày trước.
Cuộc triệt thoái này cũng khiến thủ tướng được chỉ định Ngô Đình Diệm như ngồi trên lửa bỏng. Hai vùng Bùi Chu, Phát Diệm là vùng đông giáo dân Ki-tô bậc nhất miền Bắc, và là một trong những thế tựa của Diệm khi đi xin viện trợ Mỹ từ năm 1950. Bởi thế, Diệm không ngớt yêu cầu Mỹ can thiệp. Nhưng những lời chỉ trích cay đắng của họ Ngô - như không quân Pháp oanh kích vào đoàn người di tản - chẳng thay đổi gì được tình thế.
Tại Genève, ngày 30-6-1954, Đại tá de Brebisson được tướng Ely giải thích rằng kế hoạch rút Nam Bắc Việt đã được hoạch định từ ngày 15-5-1954 và thuần có tính cách chiến lược, nhằm bảo vệ đạo quân viễn chinh Pháp. Đích thân Ely đã trao lệnh triệt thoái cho Navarre trong dịp qua Đông Dương.
Trong khi đó, nhân dịp hoà đàm ngưng họp, Chu Ân Lai chu du một số nước ở Á châu, như India và Burma, cổ võ chính sách sống chung hoà bình. Ngày thứ bảy, 3-7-1954, Chu Ân Lai mời Hồ Chí Minh qua Liễu Châu (Nam Ninh) để thảo luận cho tới ngày 5-7-1954. Võ Nguyên Giáp được tháp tùng. Chu Ân Lai thuyết phục Hồ Chí Minh nên chấp nhận chia đôi Việt nam ở khoảng vĩ tuyến 16; giải quyết vấn đề Miên và Lào riêng biệt - quân Pathet Lào sẽ tập trung ở vùng Sầm Nuea và Phong Saly; Miên có thể theo chế độ không cộng sản. Theo tài liệu Trung quốc, Hồ Chí Minh đồng ý.
Ngày Chủ nhật 5-7-1954, theo tư liệu Trung quốc, Bộ chính trị Đảng lao động Việt nam ra nghị quyết theo chiều hướng lời khuyên của Chu Ân Lai.
Năm ngày sau, thứ bảy, 10-7-1954, từ Bắc Kinh, Chu Ân Lai điện cho Việt Minh: “Phải có những điều kiện công bằng và hợp lý để chính phủ Pháp có thể nhận được, để đi đến hiệp định trong vòng 10 ngày, điều kiện đưa ra nên giản đơn, rõ ràng để dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm rà, kéo dài đàm phán để cho Mỹ phá hoại”.
Ban chấp hành TW Đảng lao động Việt nam triệu tập Hội nghị thứ 6 từ ngày 15 tới 18-7-1954, để thảo luận về đòi hỏi của Chu Ân Lai. Trong Hội nghị này, Hồ Chí Minh chỉ trích cánh “tả khuynh” chống lại việc tạm thời chia cắt Việt nam, không biết đến mối nguy Mỹ sẽ can thiệp. Và, Ban CHTƯ ra nghị quyết chủ trương “tranh thủ và củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập” và tiếp tục cải cách ruộng đất.
Tại Genève, ngày 8-7-1954, đại diện quân sự Việt Minh đề nghị ranh giới ở phía Bắc Tuy Hoà 40 cây số; và hưu chiến 90 ngày cho Pháp di tản châu thổ sông Hồng. Đại tá de Brebisson không thuận và cũng không hẹn ngày gặp lại.
Ngày 8-7-1954 này, Chauvel ăn tối với Lý Khắc Nông (Li Konung) và Trương Văn Thiên (Zhang Wentian), cựu đại sứ ở Moscow. Có cả đại sứ Liên xô. Chauvel than phiền về thái độ cứng rắn của Việt Minh. Đại diện Trung quốc cho biết Chu Ân Lai đã nói chuyện (very good meeting) với Hồ Chí Minh và có kết quả tốt cho Pháp.
Ngày 9-7-1954, Chauvel gặp Molotov. Chauvel yêu cầu cho làm việc với phái đoàn quân sự Liên xô. Theo Chauvel, nếu chỉ nói chuyện với đại biểu Nga và Trung quốc, sẽ đạt được những điểm mà Mỹ và Anh đề ra. Thứ bảy, 10-7-1954, Molotov gặp Mendès-France. Ngày 11-7-1954, Mendès-France gặp Phạm Văn Đồng.
Hôm sau, 11-7-1954, Chu Ân Lai trở lại Genève.
Thời gian này, Pháp cũng không khỏi lo ngại về thái độ của Mỹ. Ngày 6-7-1954, đại sứ Dillon báo cáo về Bộ ngoại giao Mỹ là các ngoại trưởng sẽ trở lại ngày 12-7-1954, và Pháp yêu cầu Dulles hoặc Smith trở lại Genève. Ngày 7-7-1954, Dulles cho biết không đồng ý.
Cũng ngày 6-7-1954 này, Mendès-France nói với Dillon là ngày hôm sau, 7-7-1954, Mendès-France sẽ tuyên bố là nếu ngày 21-7-1954 chưa đạt được hoà ước, sẽ ra một dự luật gửi quân dịch (conscripts) qua Đông Dương. Mendès-France sẽ khiến dự luật trên được biểu quyết trước khi từ chức, và chuyến tàu chở quân dịch qua Đông Dương sẽ bắt đầu ngày 25-7-1954.
Dẫu vậy, ngày Chủ nhật, 11-7-1954, đại sứ Mỹ Dillon trao cho Pháp thư của ngoại trưởng Dulles gửi thư cho Mendès-France, thông báo mình hoặc Bedell Smith không thể trở lại Genève, và U. Alexis Johnson vẫn tiếp tục làm quyền trưởng đoàn.
Hôm sau, 12-7-1954, Molotov gặp Chu Ân Lai tại Genève, rồi gặp Mendès-France tại Berne. Chu Ân Lai đồng ý chia cắt Việt nam theo vĩ tuyến 17. Buổi tối 12-7-1954, Chu Ân Lai gặp Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng bằng lòng chia cắt, nhưng cương quyết chọn vĩ tuyến 16 (phía Nam Đà Nẵng). Trước đó Phạm Văn Đồng và Bửu chỉ thuận nhường đến vĩ tuyến 13, tức phía Bắc Phú Yên.
Ngày 13-7-1954, do Pháp yêu cầu, Dulles bay sang Paris gặp Mendès-France. Theo Mendès-France, cả Liên xô, Trung quốc và Việt Minh đều muốn ngưng chiến vì sợ Mỹ can thiệp vào Đông Dương. Thủ tướng Pháp yêu cầu Dulles có mặt ở Paris; và tiết lộ Pháp chỉ thuận cắt đất tới vĩ tuyến 18. Bởi thế, ngày 14-7-1954, Dulles đồng ý gửi tướng Smith trở lại Genève. Hôm sau, 15-7-1954, Dulles báo cáo trước Hội đồng an ninh quốc gia rằng Mendès-France hứa sẽ cho Việt nam độc lập nhiều hơn Laniel. Nếu Hội nghị Genève thất bại, sẽ gửi hai Sư đoàn qua Đông Dương.
Thứ bảy, 17-7-1954, Chu Ân Lai tuyên bố ở Genève rằng hạn định tổng tuyển cử sẽ do Pháp và Việt Minh bàn định trực tiếp. Ngày thứ hai, 19-7-1954, Vương Bính Nam nói với Đại tá Guillermarz tại Genève là có thể Tổng tuyển cử vào năm 1956.
Chủ nhật, 18-7-1954, Chu Ân Lai nói với Eden là đồng ý cho India, Canada và Poland trong Ủy ban kiểm soát đình chiến. Nhưng Hoàng Hoa, phát ngôn viên phái đoàn Trung quốc, tuyên bố với AP: “Vấn đề căn bản là không hiểu các nước Tây phương có đồng ý vấn đề trung lập hoá Đông Dương hay chăng”. Hoàng Hoa cũng hy vọng Mỹ sẽ tôn trọng những Hiệp ước sẽ được ký kết.
Buổi trưa thứ ba, 20-7-1954, khi ăn cơm với Mendès-France, Chu Ân Lai bỏ điều kiện trung lập hoá Đông Dương. Chiều thứ ba, 20-7-1954, họp mật tại villa Le Bocage, tư dinh của Molotov. Tham dự có Mendès-France, Chu Ân Lai, Anthony Eden và Phạm Văn Đồng. Molotov quyết định vĩ tuyến 17 (Việt Minh đòi vĩ tuyến 16, Pháp đòi vĩ tuyến 18). Molotov cũng quyết định tổng tuyển cử trong vòng 2 năm (Việt Minh đòi 6 tháng)
Thứ tư, 21-7-1954, Hiệp ước Genève được ký kết. Căn bản là hiệp định quân sự ký giữa Tạ Quang Bửu và Delteil. Việt nam chia làm 2 vùng tập trung; ranh giới là vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải hay Cửa Tùng). Một khu phi quân sự, rộng không quá 5 cây số dài theo hai bên bờ sông Bến Hải, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 14-8-1954.
Hai bên chính thức ngừng bắn ngày 27-7-1954 ở Bắc, 1-8-1954 ở Trung, Lào ngày 6-8-1954, Miên ngày 7-8-1954 và Nam bộ ngày 11-8-1954.
Hết

Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #24 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 09:33:17 pm »

Một số hình ảnh về Hội nghị Geneve 1954 về hoà bình ở Đông Dương


Chu Ân Lai đón đoàn Việt nam tới sân bay Genève ngày 4/5/1954 (Phạm Văn Đồng – người mắc áo măng tô sáng, bên trái).






Genève ngước nhìn Trung Quốc bước vào chính trường quốc tế



Chu Ân Lai cùng Phạm Văn Đồng tiếp ngoại trưởng Vương quốc Lào & Vương quốc Campuchia tối 21/6/1954.



Bốn thủ trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại rừng Việt Bắc - Trái qua phải - Mai Gia Sinh - Đặng Dật Hoàng - La Quý Ba-Vi Quốc Thanh

Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #25 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 09:37:03 pm »





Toàn cảnh phiên khai mạc hội nghị Geneve bàn về hoà bình Đông Dương







Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #26 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2008, 09:41:16 pm »















Logged
ChimViet
Thành viên
*
Bài viết: 58


« Trả lời #27 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2009, 04:02:07 pm »

Câu hỏi này hay quá, nhưng cũng khá phức tạp.
Tôi nghĩ, Việt Minh có khả năng, với điều kiện Mỹ không vào, và thời gian thì không rõ mấy năm nữa. Riêng miền Nam, thì về quân sự, ta có khả năng giải quyết khá nhanh. (Cánh 325 đang xuống CPChia rồi, tí nữa là vòng vào Nam Bộ. Dân thì là của ta hầu hết.)
Về chuyện Mỹ không vào : Không thể. Vì Việt Minh lúc ấy đánh cả Pháp và Mỹ, chư có phải đánh Pháp không đâu. Nêu ko có 80-90% chiến phí của ông Mẽo, thì ông Tây tiêu rồi, ko cần chờ đến Điện Biên Phủ. Cuối ĐBP, Mỹ còn định quăng bom A xuống co mà.
Cụ Hồ, ngay sau ĐBP, nhắc ngay ông Giáp, ông Tố Hữu, ông Hoàng Tùng... = Các chú nhớ : ta còn phải đánh Mỹ.
Ông Ba Duẩn, trước khi ra Bắc, cũng cho rằng ta theo TQ, mất miền Nam. Nhưng khi ra đến nơi, mới thấy khó: Miền Bắc kiệt sức, không thể tiếp tục đà tấn công nữa, chưa kể các yếu tố bên ngoài.
TQ (ngại kịch bản Triều Tiên), LX (muốn hòa hoãn và ko coi trọng địa bàn này) có ép ta, nhưng chỉ ép về điểm chia cắt thôi, chứ cái chính là do ta, ta cũng thấy không thể giải quyết ngay được.
 
Logged
_new
Thành viên
*
Bài viết: 827



« Trả lời #28 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2009, 04:23:00 pm »

Em thấy là không thể. Năm 54, mọi thứ đều tốt, chỉ thiếu ... vũ khí. Cứ làm một cái so sánh: ta có 24 khẩu pháo 105mm, trăm khẩu sơn pháo 75mm, vài trăm khẩu DKZ, xe tăng 3 cái (Cheesy), máy bay 1 cái, tàu chiến không cái. Pháp có vài trăm khẩu pháo to, vài trăm máy bay, vài trăm xe tăng - bọc thép , vài trăm tàu chiến, vài trăm lô cốt bự chưa dùng đến, lính quen thuộc địa hình.
Duy trì thế chủ động thì được, nhưng để đo ván quân Pháp trong năm 54 và vài năm sau đó thì thật sự là không thể.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2009, 12:34:42 am »

- http://www10.ttvnol.com/forum/gdqp/978286.ttvn : nơi bác nguyentin1 phan tích khá kỹ chuyện ai cũng biết về vai trò của TQ tại họi nghị G 1954 và blah blah thứ.
- Mờ các bác xem bài chú Sẹp viết cách đây mấy năm:

Khụ, sao lắm bác thic xét lại lịch sử thế nhỉ, cứ đặt giả thiết "nếu ... thì" như các bác thì có mà tán đến gà gáy. Sao các bác ko nghĩ đơn giản nó là số giời định cho cái nước VN này. Các bác thử nghĩ xem làm gì có ông lãnh tụ nào ngu đâu, Mẽo, Pháp, Tàu hay VN cũng thế, ông nào chả muốn cho nước mình giàu mạnh, dân mình no ấm, phe mình nhiều lợi lộc. Số giời đã định họ trở thành lãnh tụ 1 nước tức là họ có quyền đem con em nước họ đi nướng, bản thân họ thông minh hơn phần lớn dân nước họ và cũng được phần lớn dân nước họ ủng hộ, vì vậy họ có làm gì cũng là việc nó phải thế, mình là cái deck gì mà đòi đánh giá sai lầm mí lị công tội này nọ. Em chỉ xin phân tic 1 đoạn lịch sử "chuyện nó phải thế" quanh cái thời điểm hiệp định Geneva này thôi nhé:

01. Tổng thể: Các bác đều biết cái Hiệp định này ko chỉ dành riêng cho VN mà dành cho tất tần tật các cuộc tranh chấp giữa 2 phe XHCH và TBCH lúc đó. 2 phe này lúc đó mạnh ngang nhau và đều đã kiệt quệ sau WW2, nói chung là hết muốn đánh nhau rồi, cho nên giải pháp duy nhất khả dĩ lúc đó là cưa đôi, các cuộc tranh chấp nào mà ko phân định được thắng thua rõ ràng mà chả thế. Chuyện nó phải thế làm quái gì có cách khác.

02. Việt Minh: Vừa thắng ĐBP xong, vâng rất oai, nhưng hết khả năng đánh nhau to tiếp rồi các bác ạ. Đạn pháo hết nhẵn, lương thực hết nhẵn, máy bay xe tăng vốn xưa nay chưa hề có, thương vong hơn 10.000 mạng nhưng bù lại cũng có hơn 10.000 tù binh phải nuôi. Vùng giải phóng vẫn là đám rừng núi như cũ chẳng mở rộng thêm được mét vuông nào. Lúc đó tự dưng được nửa nước có đồng bằng cảng biển đàng hoàng thì ngu gì ko ký, đã vậy còn thấy tương lai sán lạn 2 năm nữa tổng tuyển cử thì mình thắng chắc. Các bác thử đề đạt cách nào khác hay ho hơn xem? Đánh nhau tiếp 9 năm nữa chăng?

03. Pháp: vẫn còn là 1 đống đổ nát sau WW2, định làm quả quyết định để răn dậy thằng thuộc địa cứng đầu, kết quả là nướng sạch sẽ 16.000 quân tinh nhuệ nhất. Đánh tiếp thì thua chắc rồi, thủ tiếp thì chẳng chóng thì chầy cũng thua. Thôi thì ký cái hiệp định được rút lui trong danh dự, ko phải ngửa tay xin tiền Mẽo và nướng người mình đánh nhau tiếp thì tội gì ko ký? Quan trọng nhất là mấy cái đồn điền thẳng cánh cò bay ở miền Nam vẫn giữ được, các khế ước người VN nợ người Pháp vẫn có hiệu lực, dù sau này chính phủ VN nào lên cũng phải tôn trọng, thế là tốt rồi. Mấy cái mỏ ở miền Bắc lại ở vùng rừng núi VM kiểm soát nên bỏ hoang từ lâu, vứt ko tiếc.

04. Tầu: Giúp VM oánh Pháp nữa chăng? Giúp thế chứ còn giúp gì hơn được nữa? Trận ĐBP có tay chỉ huy VM còn xin trả lại pháo vì nhiều quá ko biết dùng làm gì cơ mà? Chẳng nhẽ lại cho Chí Nguyện Quân qua giúp? Hị hị Chí Nguyện Quân mà thò đầu vào ko chừng kẻ phải đánh đầu tiên là VM chứ chưa chắc đã là Pháp! Thôi bọn Pháp nó đã chấp nhận ký rồi thì mình ký luôn, dù sao cũng có 1 nước phên dậu cho mình, vĩ tuyến 13 hay 18 mà chả thế, nước nó chứ có phải nước mình đâu mà lo.

05. Nga: Vĩ tuyến 16 ở đâu í nhỉ? còn 17 thì ở đâu? Đúng là bọn tép riu nhỏ mọn, tranh chấp tí ti một, chỉ 1 góc rừng taiga của ông cũng to bằng mấy cả nước nhà chúng mày. Ai hơi đâu mà quan tâm đến 1 nước ở xa tít mù khơi thế, thằng Triêu Tiên giáp giới ông hẳn hoi mà ông còn chỉ cho ít máy bay sang giúp nữa là. Thôi tụi bay cứ đàm phán xong đi rồi ông ký, vĩ tuyến quái nào chả được, dù sao cũng thêm được 1 nước về phe CS của ông, thế là tốt rồi.

Đấy, từng thằng tham gia Hiệp định thì như thế, Bảo Đại chỉ là 1 ông làm công cho Pháp, Diệm chưa xuất hiện, Mẽo ko ký nên ko bàn nhiều. Cái Hiệp định này sinh ra là chuyện đương nhiên, bên nào cũng thấy ổn cả thì nó được ký thôi có gì mà lăn tăn. Chuyện sau này nó để lại hệ luỵ gì thì sẽ bàn vào dịp khác, nhưng cơ bản cũng toàn những "chuyện nó phải thế" thôi. Hẹn gặp lại các bác.

Chào thân ái và quyết thắng!

Gửi lúc 11:15, 14/09/06

http://www10.ttvnol.com/forum/f_533/811624.ttvn
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM