Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:10:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)  (Đọc 196061 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
yeulichsu1982
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #60 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2008, 03:41:29 pm »

Quyết chiến bên bờ sông Cửa Việt
Đại tá Trần Văn Thà, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 47 (người đã được nhà viết kịch Đào Hồng Cẩm lấy nguyên mẫu để viết vở kịch “Đại đội trưởng của tôi”)-đơn vị đã đánh trận Cửa Việt tháng 1 năm 1968. Trong một lần đến thăm báo Quân đội nhân dân, ông đã kể lại những kỷ niệm của những ngày ác liệt đó…


Nhận nhiệm vụ mới
Sau gần ba năm chiến đấu trên đảo Cồn Cỏ, tôi được lệnh trở về đất liền nhận nhiệm vụ mới. Đêm 25-12-1967, vừa đặt chân lên Vĩnh Linh, nghe tiếng trẻ khóc từ dưới hầm vọng ra, tôi không sao cầm được nước mắt. Thật diệu kỳ! Giữa chảo lửa Vĩnh Linh, nơi kho bom, túi đạn giặc Mỹ trút xuống mà sự sống vẫn đâm chồi nảy lộc! Bất giác lòng cồn cào nỗi nhớ vợ và hai con trai, lâu nay thư từ cũng không nhận được, vì đảo xa mà bom đạn địch khốc liệt quá!

Từ đảo lên đất liền nhận nhiệm vụ mới, tôi không khỏi bỡ ngỡ, địa hình, địa vật, thủ đoạn tác chiến của địch đối với tôi hoàn toàn xa lạ. Ngày 14-1-1968, tôi được giao giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bộ binh 47. Tiểu đoàn có nhiệm vụ: Chặn đứng sự tiếp tế của Mỹ-ngụy bằng đường sông từ Cửa Việt lên Đông Hà, Tà Cơn, Khe Sanh; phối hợp cùng dân quân các xã đánh chiếm, giữ vững đoạn sông từ chợ Hôm đến ngã ba sông Bồ Điền (sông Hiếu). Tham gia chiến đấu cùng tiểu đoàn còn có du kích các xã: Gio Mỹ, Gio Hà, Gio Hải và Cam Giang, phái viên cấp trên là hai đồng chí Phạm Ngọc Khôi và Nguyễn Ngọc Năng, hai phóng viên báo Quân đội nhân dân là đồng chí Lê Đình Dư và đồng chí Nguyễn Ngọc Nhu. Ngày 20-1-1968, đơn vị chúng tôi hành quân vượt sông Bến Hải đánh địch, chiếm lĩnh trận địa. Tiểu đoàn cùng với lực lượng phối thuộc hơn một nghìn người hành quân dưới giao thông hào, ra bến đò Tùng Luật để vượt sông. Bến đò chỉ có 5 ghe do các o dân quân chèo, mỗi ghe chở được 30 người. Máy bay và pháo binh địch bắn như vãi đạn trên sông. Chúng tôi vừa tổ chức cho bộ đội vượt sông, vừa triển khai đánh địch. Một giờ sau, cả đơn vị tôi đã chiếm lĩnh các vị trí theo đúng phương án tác chiến. Đại đội đặc công làm nhiệm vụ thả mìn, thủy lôi từ Xuân Khánh lên Xóm Kênh. Đại đội bộ binh 2 chiếm lĩnh Xuân Khánh - Hoàng Hà. Đại đội bộ binh 1 chiếm lĩnh thôn Nhĩ Hà - Gio Mỹ. Đại đội bộ binh 3 chiếm lĩnh thôn Xóm Kênh. Hỏa lực ĐKZ đánh tàu địch ở bờ sông. Còn lực lượng 12,7mm bố trí ở lòi rừng Lâm Xuân Đông. Đại đội bộ binh Gio Linh chiếm lĩnh làng Mai Xá, Lâm Xuân Tây.

Những thử thách đầu tiên…

Ngày 21-1-1968, địch bắn pháo bầy suốt đêm, mới 6 giờ sáng các loại máy bay địch thay nhau quần thảo ném bom, bắn rốc-két trên toàn trận địa. Tám giờ, ta đánh chìm một tàu vận tải và bắn cháy hai sà lan, một tàu hộ tống trên sông Hoàng Hà - Mai Xá Thị. 10 giờ, trung đoàn 2 ngụy, một tiểu đoàn biệt động và tiểu đoàn 1 bờ biển Mỹ dựa vào hỏa lực mạnh với 20 xe thiết giáp ồ ạt tấn công vào trận địa của ta. Bộ đội ta đánh trả quyết liệt, bắn cháy ba xe thiết giáp và diệt nhiều tên địch. 15 giờ 30 phút, một đại đội bộ binh ngụy chiếm được một phần thôn Xóm Kênh và khoảng hai đại đội bộ binh ngụy với 3 xe thiết giáp chiếm 1/3 thôn Lâm Xuân Đông. Ta kiên quyết giành giật lại những gì đã mất. Tôi vừa chỉ huy đơn vị, vừa chiến đấu như một chiến sĩ. Tôi nói với nhà báo Lê Đình Dư: Anh Dư ạ, anh đã cùng tôi suốt trận đánh, tư liệu có rồi, anh nên về chỗ đồng chí Thanh Lục ở đó có hầm tốt hơn. Anh Dư nói: "Không! Anh ở đâu tôi ở đó. Người chiến sĩ có thể nằm bắn, quỳ bắn, đứng bắn, còn phóng viên chúng tôi phải đứng thẳng thì mới làm được nhiệm vụ. Vị trí anh ở đâu thì tôi ở đó". Vài phút sau, Dư trúng đạn hy sinh, chiếc máy ảnh Dư luôn đeo bên mình vỡ nát, trong tay anh vẫn nắm chặt khẩu AK. Khoảng 16-17 giờ, ta đánh bật địch ra khỏi các vị trí chúng vừa chiếm được. Bộ binh địch vừa rút ra thì máy bay đến trút bom và pháo binh địch thi nhau vãi đạn vào trận địa.

Một quyết định khó khăn
Qua hai ngày chiến đấu, ta bắn cháy 2 máy bay, 6 xe tăng thiết giáp, 5 tàu hộ tống và sà lan, đánh chìm 4 tàu vận tải tiêu diệt khoảng 300 tên ngụy và 25 tên Mỹ, bên ta thiệt hại cũng không nhỏ: 33 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, bị thương 71 đồng chí. Hai nhà báo Lê Đình Dư và Nguyễn Ngọc Nhu đi cùng tiểu đoàn hy sinh, đạn dược gần hết. Khi anh em mai táng nhà báo Lê Đình Dư, tự tay tôi bỏ phần còn lại của chiếc máy ảnh vào mộ anh. Đang xác định vị trí để làm dấu mộ của Dư thì đồng chí Ngãi liên lạc tiểu đoàn chạy đến, mời tiểu đoàn trưởng đến họp. Sau một số ý kiến, cuộc họp biểu quyết 5/6 đồng chí đồng ý rút ra, chỉ có tôi không đồng ý vì cho rằng, ta có thiệt hại, nhưng địch cũng thiệt hại nặng, trận địa vẫn giữ vững, sao không củng cố để ngày mai đánh tiếp? Tuy tôi không nhất trí nhưng vẫn chấp hành ý kiến tập thể.

Tôi ra lệnh nhanh chóng giải quyết thương binh tử sĩ, thu gọn đội hình hành quân theo hướng ngược lại, hàng quân đi dưới ánh pháo sáng chập chờn, anh em cúi mặt xuống đất lầm lì không nói, tôi cứ nghĩ như mình đã có lỗi với anh em! Lòng day dứt bồn chồn không yên. Sự hy sinh của 33 cán bộ, chiến sĩ chưa kể đến hơn 70 đồng chí bị thương bây giờ đổi lại là sự rút lui cay đắng này sao? Trong tai tôi còn văng vẳng lời nói của nhà báo Lê Đình Dư trước khi hy sinh: "Phóng viên thì phải đứng thẳng thì mới làm được nhiệm vụ. Anh ở đâu tôi ở đó". Như chợt tỉnh, tôi chạy đi tìm Phạm Ngọc Khôi phái viên chính trị, thộp ngực áo quát: "Mày là phái viên chính trị sao mày cũng đồng ý rút lui?". Khôi khẽ khàng "rút lui là sai lầm". "Sao bây giờ mới nói hỡi Khôi?". Tôi nói, dù không có ai tôi vẫn ở lại. Khôi bảo luôn: "Tôi cũng ở lại với anh!". Tôi lao đi tìm gặp đồng chí Điệu, tôi nói, các anh cứ ra tôi ở lại, thấy vậy Điệu nói: Anh ở lại tôi cũng ở lại. Nghe vậy tôi chạy lên phía trước đội hình kêu lớn: "Yêu cầu anh em tiểu đoàn 47 đứng lại". Anh em đứng quây quanh tôi, tôi đứng lên cồn cát cao và nói: "Thưa anh em, tôi là Trần Văn Thà-Tiểu đoàn trưởng 47 xin lỗi tất cả anh em! Rút ra trong lúc này là một sai lầm, mong anh em tha thứ! Bây giờ tôi kêu gọi anh em ở lại cùng tôi đánh địch, giữ vững bờ sông Cửa Việt dù phải hy sinh. Tôi không ra lệnh mà kêu gọi ai đồng tình thì đi theo tôi. Nói xong, tôi mang AK đi trước, anh em cùng lần lượt theo sau. Đến làng Lâm Xuân Đông tôi kiểm lại, thật mừng, đội hình có hơn một trăm anh em. Anh Điệu và anh Khôi cũng ở lại. Tôi tổ chức lại thành hai trung đội bộ binh, một khẩu cối 82mm, một khẩu ĐKZ, hai khẩu 12,7mm. Thông tin có một đài 15W, một máy 2W nhưng đều bị hỏng, một trợ lý hậu cần, một quân y sĩ. Tôi cho triển khai đội hình chiến đấu như sau: Một tổ bộ binh 4 đồng chí có một trung liên, 3 AK, một B40 đánh chặn địch từ chi khu Gio Linh xuống Lâm Xuân Đông rồi rút về Hoàng Hà; một khẩu ĐKZ 75 có một tiểu đội bộ binh bảo vệ, có nhiệm vụ bắn tàu ở trước thôn Hoàng Hà, đánh xong rút về Rú sau Hoàng Hà; hai trung đội bộ binh, ngụy trang dưới cát sau xóm Rú-lòi rừng lúp xúp. Bộ phận 12,7mm, cối 82mm và các đồng chí chỉ huy ở lòi Rú Hoàng Hà".

Trận chiến đầy cam go
Ngày 22-1-1968, đúng 8 giờ, tổ ĐKZ bắn cháy một tàu chở hàng trước thôn Hoàng Hà. Sau đó nhanh chóng rút về Rú Hoàng Hà làm lực lượng dự bị. Đến 10 giờ, khoảng hai đại đội lính ngụy không có thiết giáp từ Gio Linh tiến xuống Nhĩ Hạ (Gio Thành). Bọn địch dò dẫm đến Lâm Xuân Đông, thì bộ binh của ta chờ sẵn, nhất loạt nổ súng diệt 2 tên, bị thương 3 tên. Bị đánh bất ngờ, bọn địch lùi về Nhĩ Hạ, gọi pháo bắn vào Lâm Xuân Đông và gọi trực thăng đến đưa bọn chết và bị thương về. 16 giờ địch tràn vào Lâm Xuân Đông, chúng đốt phá, lục soát nhưng không thấy quân ta. Cả hai đại đội địch hành quân hàng dọc từ Lâm Xuân Đông xuống Hoàng Hà, nhắm vào trận địa ĐKZ, đại đội ngụy đi đầu triển khai lực lượng tiến vào Hoàng Hà, đại đội đi sau dồn đội hình lên đúng ngay họng súng của chiến sĩ ta nằm chờ không đầy 100m. Khi bọn địch lọt vào ổ phục kích, các chiến sĩ ta nhất loạt nổ súng, ngay từ loạt đạn đầu quân ta đã diệt tại chỗ được 5 tên và một tên bị thương. Trong lúc bọn địch đang bị động, bộ đội ta xung phong. Quá hoảng loạn, bọn địch chạy tán loạn về hướng Cửa Việt, gọi pháo từ tàu biển bắn vào Hoàng Hà, hai đồng chí của ta hy sinh. Lúc này máy bộ đàm 2W đã sửa được. Tôi báo cáo về mặt trận: "Tiểu đoàn 47 đánh thắng địch và đang ở Hoàng Hà". Sau đó tôi lệnh cho bộ đội rút toàn bộ lực lượng về Lâm Xuân Đông ăn cơm, tắm rửa để cho địch mặc sức nã pháo vào Hoàng Hà.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 23-1-1968, toàn bộ lực lượng tiểu đoàn đã triển khai xong theo phương án đã định; tám giờ, một tàu chở hàng của địch xuất hiện trước thôn Xóm Kênh liền bị ĐKZ 75 với 2 viên đạn bắn cháy, chúng tức tối dùng pháo và máy bay AD6 ném bom, bắn rốc-két như mưa vào các làng Xóm Kênh-Mai Xá Thị. Nhân dân sơ tán về Đông Hà, làng xóm vốn đã tan hoang do chiến sự lại càng thêm tiêu điều xơ xác. Suốt hai ngày 24 và 25 bộ binh địch cố thủ trong căn cứ. Đường sông tàu chở hàng của địch không hoạt động, chỉ có tàu tuần tiễu vừa chạy vừa bắn loạn xạ. Trên không, trực thăng vận tải được trực thăng vũ trang và máy bay F4E hộ tống chở hàng từ tàu biển lên tiếp tế cho Tà Cơn - Khe Sanh. Chỉ có phi cơ và pháo nã đạn liên tục vào các làng có bộ đội ta chiếm giữ. Tôi cho tất cả bộ đội ra hết ngoài rìa làng để tránh phi pháo và sẵn sàng đánh địch nếu chúng liều lĩnh vào làng, nhờ đó mà đỡ thương vong.

Trong lúc bọn địch hoang mang, lo sợ, chúng tôi lại viết thư cho địch ở Gio Linh cho người ra khiêng xác 25 tên ngụy chết và 5 tên bị thương vào chi khu với điều kiện: Không mang vũ khí, cầm cờ trắng, ngưng hoạt động bắn phá bằng pháo và phi cơ trong vòng 3 ngày. Địch chấp nhận điều kiện. Tranh thủ khoảng thời gian “ngừng chiến” ngắn ngủi, chúng tôi tập trung củng cố trận địa và bổ sung quân, vũ khí, đạn dược. Đảng ủy tiểu đoàn họp tại Lâm Xuân Tây, ra nghị quyết chiếm lĩnh bờ sông Cửa Việt, kiên quyết đánh địch, thề hy sinh trên bờ sông Cửa Việt để bảo vệ cho bộ đội chủ lực vượt sông vào chi viện cho Huế. Ngày 31-1-1968 (ngày 30 Tết Mậu Thân), chúng tôi đón giao thừa ở Mai Xá, cũng có bánh tét, thịt, nước trà và "pháo bông" của địch. Trong khi cả miền Nam nổi dậy tiến công địch thì nơi đây lại im lìm tiếng súng, một sự im lặng rùng rợn khác thường. Những ngày đêm cam go ấy, chúng tôi không thể quên hình ảnh mẹ Nậy ở Mai Xá Thị kiên quyết bắt cán bộ, chiến sĩ đại đội 1 dỡ nhà mẹ để làm hầm nấu cơm cho bộ đội ăn. Từ chối không được, anh em đành dỡ nhà mẹ làm hai cái hầm kèo, để mẹ ở một cái, còn một cái anh em nuôi quân dùng nấu ăn. Mẹ còn dạy: "Các chú đánh tàu sao không ra lòi ngoài sông ở bến đò mà núp bắn cho gần, ở trên bờ xa ngái bắn khó". Nghe lời mẹ, chúng tôi đưa súng B41 và ĐKZ 75 ra các lòi bến đò bắn tàu địch rất dễ trúng và kín đáo. Nhờ vậy ta bắn cháy 5 tàu tiếp tế của địch từ các lòi bụi này.

Tháng 2-1968, cả tháng trời chúng tôi bằng nhiều chiến thuật đắp đập ngăn sông Hiếu, thả mìn, thủy lôi trên sông tiêu diệt nhiều tàu tuần tiễu và tàu chở hàng của địch tiếp tế cho Tà Cơn, Khe Sanh. Vừa ngăn chặn hàng tiếp viện, ta vừa tích cực chủ động đánh tiêu hao sinh lực địch, buộc địch phải vận chuyển hàng tiếp tế bằng trực thăng. Ngày 8-2-1968 đồng chí trung sĩ Cao Lương Bằng dùng AK bắn rơi một trực thăng vũ trang của Mỹ trên cánh đồng Mai Xá Thị- Lâm Xuân Tây. Ngày 1-3-1968 địch đưa tàu há mồm và 11 xe lội nước, nhiều thuyền máy cao su đổ quân đánh chiếm làng Mai Xá Thị. Trong trận đánh tại Mai Xá Thị của đại đội 1, tiểu đoàn 47 đồng chí trung sĩ tiểu đội trưởng Nguyễn Hữu Lộc một mình bắn cháy 2 xe thiết giáp, diệt 10 tên Mỹ. Cả đại đội bắn cháy 5 xe thiết giáp và diệt 50 tên Mỹ, 40 tên bị thương. Từ ngày 15 đến 19-3-1968, tiểu đoàn 47 được lệnh phối hợp với pháo 130 và đặc công nước, tập kích khu kho hậu cần của Mỹ ở Cửa Việt, cả khu kho Cửa Việt lửa cháy ngút trời. Tôi nhanh chóng cho bộ đội rút về Thụy Khê an toàn. Trận này ta diệt 140 tên địch, đốt cháy 5 nhà kho đầy hàng và diệt 30 xe quân sự trong đó có 3 xe thiết giáp.

10 giờ ngày 6-5-1968, 2 xe bọc thép và một đại đội Mỹ từ Nhĩ Hạ Chợ tiến lên Nhĩ Trung, xóm Phường, ĐKZ 75 và B41 của ta bắn cháy ngay 2 xe bọc thép, bị bất ngờ bọn Mỹ gần như không bắn trả. Chỉ trong vòng 3-5 phút đầu, hơn 50 tên Mỹ bị gục ngã trước mũi súng của bộ đội ta. Thừa thắng, quân ta đồng loạt xông lên. Cánh đồng Nhĩ Trung - Nhĩ Hạ khô rang, bộ đội dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà tiêu diệt địch, trung đội trưởng Nguyễn Quang Triêm-người con của Vĩnh Lâm dẫn bộ đội thọc thẳng giữa đội hình Mỹ mà tiêu diệt chúng, làm chủ chiến trường. Tiểu đội trinh sát của Nguyễn Ngọc Trung tạo thành một mũi vòng bên phải, đánh vào sườn trái của địch làm cho đội hình của chúng bị rối loạn, đồng chí trung đội trưởng Nguyễn Văn Lộc, khi súng hết đạn đã tay không lao vào vật lộn với một tên Mỹ to lớn, Lộc dùng tay siết cổ nó, 5 đầu ngón tay lún sâu vào cổ giết chết tên Mỹ. Thấy thế, một tên Mỹ khác đã bắn Lộc hy sinh. Khi làm công tác tử sĩ, đồng đội gỡ mãi tay Lộc mới buông ra khỏi cổ tên Mỹ, trận này tiểu đoàn 47 diệt hơn 100 tên, bắt sống tù binh.

Đêm 9-5-1968, chúng tôi vượt Cửa Tùng về lại Vĩnh Linh chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Vẫn biết phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng toàn thể đơn vị háo hức chờ sớm được giao nhiệm vụ mới để cùng toàn quân, toàn dân đánh tan bọn Mỹ-ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

*

* *

Ba mươi lăm năm sau, tôi có dịp trở lại Gio Linh, cảnh hoang tàn của chiến tranh không còn nữa. Mảnh đất Gio Linh bị bom đạn cày xới năm xưa nay đã được khoác trên mình một màu xanh thắm của cây trái. Giữa mùa hè, trời Quảng Trị như xanh hơn. Thật lạ, nắng Quảng Trị là thế mà cây trái vẫn xanh mướt. Phải chăng, thiên nhiên, đất trời muốn trả lại màu xanh cho Quảng Trị, bởi nơi đây vốn đã bị mất mát quá nhiều của chiến tranh? Nhiều ngôi nhà khang trang được mọc lên cùng những ngôi trường cao tầng ríu rít tiếng trẻ thơ.

Nghĩa trang liệt sĩ xã Gio Thành, nơi yên nghỉ của 504 liệt sĩ vừa mới được sửa sang, nơi đây liệt sĩ-nhà báo Nguyễn Ngọc Nhu của báo QĐND đang yên nghỉ, chúng tôi thắp hương ông và các đồng đội của ông, nhiều người là cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 47. Nhìn những bia mộ ghi dòng chữ “Liệt sĩ chưa biết tên”, chúng tôi ai cũng thấy nao nao, nghẹn ngào, thổn thức.

Giữa trưa hè nắng cháy lưng, nhìn khói hương nghi ngút, bất giác tôi ngước nhìn bầu trời Quảng Trị, trong cái nắng gay gắt ấy, màu xanh ngút ngàn của cây trái chính là sự hồi sinh kỳ diệu ở nơi đây.

Logged
yeulichsu1982
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #61 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2008, 03:42:47 pm »

Mãi âm vang bản hùng ca chiến thắng
Hòa chung không khí thi đua lập công mừng Đảng, mừng Xuân Mậu Tý, hôm nay toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tưng bừng kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968-2008).

Cách đây tròn 40 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, giành thắng lợi to lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân-1968. Lịch sử càng lùi xa, ý nghĩa, tầm quan trọng của chiến thắng càng được khẳng định. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân-1968 là biểu hiện tập trung sức sáng tạo, tài thao lược trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đòn giáng mạnh của quân và dân ta trong Tổng tiến công và nổi dậy đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch trên chiến trường, lung lay ý chí xâm lược, buộc đế quốc Mỹ phải "phi Mỹ hóa chiến tranh", chấm dứt vô điều kiện cuộc leo thang đánh phá miền Bắc, chấp nhận đàm phán về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi oanh liệt của Tổng tiến công và nổi dậy có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, quân sự và ngoại giao của Việt Nam, góp phần tạo ra bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Mậu Thân 1968 đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc như một chiến công bất hủ, một bản hùng ca chiến thắng, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến quyết thắng, khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại một trong những trang sử đấu tranh hào hùng của dân tộc. Những ngày này, lòng chúng ta bồi hồi tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh-vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc-người cha thân yêu của các LLVT, tưởng nhớ những cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã anh dũng hy sinh vì sự trường tồn của dân tộc. Những bài học kinh nghiệm để lại từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn rất thời sự. Nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo những bài học đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là thể hiện sự tri ân của chúng ta với những người đi trước. Bài học xuyên suốt và sâu sắc nhất là kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, giữa đấu tranh chính trị với quân sự và ngoại giao, giữa "hai chân, ba mũi, ba vùng", dựa chắc vào dân, biết khơi dậy, tổ chức và phát huy sức sáng tạo, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

Hơn 20 năm qua, sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta liên tiếp giành được những thành tựu to lớn. Bài học từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 giúp chúng ta nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn về sức mạnh lòng dân, thế trận chiến tranh nhân dân. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hòa bình đòi hỏi Đảng ta phải biết dựa chắc vào dân, khơi dậy tinh thần đoàn kết, sức sáng tạo của quần chúng nhân dân. Bằng thế trận lòng dân, sức mạnh chiến tranh nhân dân, chúng ta đã đánh bại những kẻ thù xâm lược hung bạo nhất thế giới. Nhân lên bài học lịch sử quý báu đó, chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, nhất định sẽ đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi phong ba, bão táp, cập bến vinh quang. Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nhất định thắng lợi.
Nguồn- Báo Quân đội nhân dân
Logged
yeulichsu1982
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #62 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2008, 03:43:55 pm »

Kỷ niệm vùng ven
Sau đợt một1 Mậu Thân năm 1968, Trung đoàn 88 chúng tôi tạm lui về Thanh An - Bến Cát để củng cố lại quân số, bổ sung lương thực, vũ khí chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo.

Ngày Ba tháng Tư, tôi cùng đơn vị đã áp sát khu vực đoạn Bến Súc, mạn bờ bắc sông Sài Gòn để vượt sang bên kia vào xã Phú Mỹ Hưng, Củ Chi.

Dẫn đường cho đơn vị tôi là năm du kích, một nam, bốn nữ hãy còn rất trẻ.

Địa bàn hoạt động của Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 88 chúng tôi là xã Tân Thạnh Đông. Nhiệm vụ được giao là phục kích, chặn diệt bộ binh, cơ giới Mỹ từ căn cứ Đồng Dù nống ra càn quét.

Dọc đường hành quân, đơn vị liên tục bị thám báo và pháo địch ngăn chặn. Đêm tối, địa bàn thì mới, không có vật che khuất, ruộng vườn xung quanh bom phạt gần như trống trơn, vì thế đội hình hành quân của chúng tôi nhiều lúc bị cắt quãng. Nhưng rồi mò mẫm mãi, cuối cùng chúng tôi cũng đã đến được nơi tập kết.

Đó là trong lòng một nhánh địa đạo hết sức chật chội. Hơi người, mùi đất lại thêm không khí oi nồng, mồ hôi người nào người nấy cứ nhễ nhại. Đã vậy, vài ba con dế trong ngóc ngách chốc chốc lại ré lên đến khó chịu. Ấy vậy mà chúng tôi cứ nhỏ to chuyện trò không ngớt. Dần dà khá lâu tôi mới biết các em trong tổ du kích kia mới mười bốn, mười lăm, ba má đều đã bị địch giết chết, có em không còn một người thân trong gia đình.

Qua hơn một ngày đêm chờ đợi, đến mùng 5-4-1968 thì có lệnh chuẩn bị tác chiến. Tôi cùng đơn vị chui lên khỏi địa đạo. Đêm Củ Chi trời tối như mực. Trên đường cách nơi bố trí trận địa chừng hai cây số nữa thì bị pháo địch từ căn cứ Đồng Dù bắn ra tới tấp. Kế đó là pháo sáng ở các đồn xung quanh cũng thi nhau ném lên không trung những chùm lửa sáng lòa. Trong cái mớ hỗn tạp của mùi đạn pháo khét lẹt cùng với những âm thanh chát chúa xé lên bên cạnh. Dù hai tai lùng bùng khó chịu nhưng tôi vẫn còn nghe được có tiếng ai đó giật cục ở sau lưng: Bị rồi, bị rồi chú ơi.

Quay lại phía sau tôi thấy một em du kích có lẽ là lớn tuổi nhất trong tổ đang khẩn khoản nói như ra lệnh:

- Cứ đưa các chú đến cho kịp. Thương binh cáng đi, liệt sĩ để tui lo.

Để em nói xong, sáp lại gần tôi hỏi:

- Em nhỏ thế này, sao khiêng nổi?

- Không sao đâu chú ơi.

Trong trận bị pháo địch đêm hôm ấy, trung đội tôi hy sinh một, bị thương năm. Người hy sinh là Nguyễn Văn Cơ quê ở Hà Nam. Anh bị một mảnh đạn pháo găm vào ngực thấu phổi. Máu từ ngực anh qua mấy lớp vải băng cứ ục ra thấm đỏ cả vùng bụng. Mọi người trườn tới vây quanh anh, còn tôi thì lặng người đi với niềm thương đau vô hạn. Tuy mới bổ sung về đơn vị, lại phải di chuyển nhiều và tác chiến liên tục nên Cơ và tôi chưa có dịp nào để kể cho nhau nghe về chuyện riêng của mỗi người. Giờ thì đã muộn mất rồi. Tôi như muốn ôm chầm lấy anh mà khóc.

Biết không sống được, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Cơ cố móc trong túi ra đưa cho tôi một gói nhỏ ni lông và đôi mắt cứ nhìn tôi chằm chặp. Hai tay run run anh cố đưa gói nhỏ ni lông lên khỏi ngực để tôi cầm lấy. Hiểu ý Cơ, tôi ghé sát tai vào miệng anh, trong tiếng thở gấp, Cơ thều thào: "Mẹ tôi… mẹ tôi… đưa về… về…”. Cơ không nói được hết câu thì mặt anh đã biến sắc và đôi mắt cũng dần nhắm lại.

Không ai bảo ai, nhưng tất cả chúng tôi đều đau đớn đến lặng người, ai nấy mắt cay xè. Theo đó, xác anh đã được du kích gói trong chiếc võng ni lông vừa lấy trong bồng của ai đó ra. Những cái thít cuối cùng của từng nốt dây dù bó lấy hai đầu võng như những chiếc ghim cứ dần xoáy sâu vào tim tôi đau nhói. Tôi thầm nghĩ: "Rồi mai mốt có thể tôi cũng là người như vậy. Chiến tranh mà".

Mọi việc vừa xong, một du kích giương khẩu AR.15 chĩa thẳng lên trời bóp cò. Hai, rồi ba loạt đạn vang lên khô khốc. Tôi đang phân vân lo làm sao để nhanh chóng đưa liệt sĩ ra khỏi nơi này, bởi tiếng súng vừa nổ rất dễ làm mồi cho thám báo quanh đây. Thế nhưng không phải đợi lâu, chưa đầy 20 phút sau tôi đã thấy có một tốp bốn người xuất hiện. Họ đến để mang Cơ đi. Trước khi mang Cơ đi, mấy em du kích còn nhắc chúng tôi ghi rõ quê quán, tên tuổi, đơn vị của anh để sau này hòa bình người thân ở quê vào dễ kiếm.

Tuy có thương vong, nhưng khoảng ba giờ sáng hôm sau, đơn vị tôi cũng đã đến được vị trí theo quy định. Vừa đến nơi là chúng tôi bắt tay ngay vào củng cố trận địa. Đến tờ mờ sáng thì mọi việc đã hoàn tất.

Sau những giờ phút hiếm hoi được yên tĩnh, đến gần 8 giờ sáng thì bỗng có chiếc I.L9 bay qua. Tiếp theo là hai chiếc trực thăng cá lẹp vừa bay vừa bắn. Hàng loạt rốc két cắm xuống các khu vực khả nghi, khói lửa tung lên mặt đất mịt mờ. Linh tính báo cho tôi hay: "Sắp đụng địch rồi".

Chỉ một lát sau, từ trong hầm, tôi đã nghe có tiếng xích sắt rít lên cùng với tiếng nổ ầm ầm của động cơ xe tăng vọng lại mỗi lúc một gần. Tôi thít lại thắt lưng, kiểm tra lại súng đạn, buộc chắc hơn con dao găm cùng túi thương và mấy thứ khác cho khỏi lỉnh kỉnh.

Tôi nhìn sang xung quanh, tất cả đều đã sẵn sàng.

Theo hiệu lệnh, tất cả chúng tôi đều bật mở nắp ngụy trang, sẵn sàng xuất kích. Khoảng 10 giờ sáng thì lực lượng chặn đầu của Tiểu đoàn 8 bên đường đã nổ súng trước. Trên trời những chiếc máy bay lượn qua, lượn lại bắt đầu rải bom.

Pháo địch ở căn cứ Đồng Dù cũng đồng loạt câu vào yểm trợ. Mặt đất như đánh võng, bên trên là những đụn khói đen bốc lên kín cả một góc trời. Tiếp theo sau đợt oanh kích của phi pháo là hơn chục xe tăng và bộ binh Mỹ xuất hiện. Chúng la hét om sòm, đứa khom, đứa đứng lố nhố chạy phía sau tay lăm lăm súng tiến vào đội hình của đại đội 1 của Tiểu đoàn 7.

Chưa kịp nghĩ được gì thêm thì từ vị trí chỉ huy pháo hiệu của tiểu đoàn trưởng Cận đã vút lên không trung. Lệnh xuất kích.

Chỉ chờ có vậy, tôi và mọi người nhanh chóng bật lên khỏi công sự lao thẳng vào đội hình địch.

Bị đánh bất ngờ, địch không còn giữ được đội hình. Cả xe tăng và bộ binh Mỹ bắn như vãi đạn ra tứ phía. Tiếng súng hai bên cũng bắt đầu rộ lên không ngớt. Tiếng xung phong vang dậy, tiếng đạn chiu chíu, đan qua đan lại như mặt bàn cờ. Những quả đạn chống tăng như bắp chuối đỏ lừ thi nhau lao ra hướng vào những chiếc M.41 đang nháo nhào như những con bọ hung bị nhốt trong chảo lửa. Từ một góc trái đội hình bỗng tôi thấy một, rồi hai, ba chiếc tăng nữa, theo sau là một tốp lính Mỹ đang cố quay lại phản kích. Xoáy lại quả đạn cho chắc thêm, giương súng và bật thước ngắm lên. Tôi cố nín thở, bặm môi xiết cò. Một luồng lửa phóng thẳng vào chiếc M.41 nằm giữa đội hình. Sau ánh lửa xanh lè, chiếc xe khựng lại, rung lên, tiếp theo là tiếng nổ đến long óc. Cả khối thép bỗng chốc trở thành đống lửa khổng lồ. Bên cạnh là tiếng la ghê rợn của những tên Mỹ. Thừa thắng xốc tới, tôi và đơn vị lao vào đánh giáp lá cà với chúng. Cả trận địa mịt mù trong khói lửa. Bị đánh thọc sườn, trở tay không kịp cùng lúc bị diệt đến năm xe nên buộc số còn lại phải chạy tháo ra lộ. Đơn vị tiếp tục truy kích. Còn tôi sau khi bắn cháy chiếc tăng thì bị thương vào đầu. Vết thương khá nặng nên phải nằm lại ngay cạnh chiếc M.41 đang cháy nham nhở. Trong khi mê man tôi nghe như có tiếng ai đó gọi tên mình. Há miệng định kêu lên nhưng hai thái dương cứ đau nhói. Tôi cố sức trở mình sang một bên, căng mắt nhìn qua lớp khói mịt mờ bao quanh xem có còn ai không thì từ phía trước một bóng đen loạng choạng lao đến.

- Tám, Tám2 đó phải không?

Đúng là tiếng anh Mão, trung đội trưởng rồi.

Có lẽ trong đội hình truy kích địch ở phía trước của đơn vị thấy vắng tôi nên anh quay lại tìm và đã bị thương. Tôi như không còn tin vào mắt mình nữa, khắp ngực anh máu ra nhiều quá. Một lỗ thủng của loại đạn nhọn từ phía sau lưng xuyên ra trước, máu thấm ướt đầm. Hai chúng tôi ôm chặt lấy nhau mà chẳng biết làm gì hơn. Bông băng cứu thương thì đã hết. Áo quần loang lổ bê bết dính đầy cát bụi. Buông tôi ra anh móc trong túi đựng cơm đưa cho tôi gói lương khô và bi đông còn không đầy nửa nước. Chúng tôi uống mỗi người một hớp. Như được tăng thêm sinh lực, anh bảo: Súng, đạn đây nếu còn sống trở về thì giao cho đơn vị. Anh vòng tay ra sau vai cố tháo dây súng và băng đạn AK đưa cho tôi.

Khẩu súng vừa chuyền qua tay cho tôi thì cũng là lúc sức anh kiệt lắm rồi. Anh đã trút hơi thở cuối cùng ngay trên tay tôi. Mặc dù bị thương rất nặng trên đầu nhưng tôi vẫn cố sức lê từng bước nhọc nhằn giữa những khoảng đất đã bị cày xới còn đang bốc mùi khét lẹt của thuốc súng. Tôi cố định vị, nhắm hướng công sự bò về với mong muốn may ra gặp được du kích. Vừa bị thương lại phải mang hai khẩu súng và xác anh Mão đi theo nên tôi đã ngất đi lúc nào không hay. Sau này chỉ nghe kể rằng khi thu dọn chiến trường thì du kích đã phát hiện ra tôi và xác anh Mão nằm kẹp bên nhau. Riêng tôi thì du kích đã đưa về cứ để cấp cứu, nhưng rồi vào nửa đêm hôm sau thấy người khá hơn, tỉnh dậy tôi liền xin phép tìm về đơn vị giao lại hai khẩu súng cho anh Sinh là chính trị viên phó tiểu đoàn và sau đó trở lại thì được du kích đưa về trạm quân y ở Thanh An-Bến Cát. Qua hai tháng điều trị bệnh tôi đã lành và được về đơn vị cũ tiếp tục chiến đấu.

… Sau đợt 2 Mậu Thân3, chiến tranh ngày càng lan rộng, kẻ thù điên cuồng đánh phá khắp nơi. Cũng như toàn miền Nam, vùng Củ Chi bom đạn ngày càng trở nên ác liệt. Đơn vị tôi qua năm 1968 địa bàn tác chiến cũng đã trải dài xuống tận Tây Nam bộ vùng Cai Lậy, Mỹ Tho, Tiền Giang, Đức Hòa, Đức Huệ của tỉnh Long An.

Bốn mươi năm từ sau trận đánh ấy đến nay. Và 32 năm chiến tranh đã đi qua, không biết ai còn, ai mất và hiện nay cuộc sống ra sao.

Trưởng thành từ một người lính, hơn mười năm gắn bó với chiến trường, sau giải phóng tôi cũng đã mấy lần ra Hà Nội hội họp hoặc về phép thăm quê. Dù công việc có bận rộn đến mấy, nhưng tôi không quên về vùng Hà Nam, Vĩnh Phúc với mong muốn tìm gặp lại được người thân trong gia đình của anh Cơ, anh Mão để trao lại những kỷ niệm thiêng liêng mà các anh trước khi nhắm mắt đã gởi gắm cho tôi. Nhưng rồi lần nào cũng trở nên vô vọng. Bạn bè, đồng đội mỗi đứa một quê chẳng ai còn nhớ được gì, có người vì mưu sinh cuộc sống thì nay đã lập nghiệp tận Tây Nguyên, Bình Phước…

Lỗi hẹn với các anh, có những đêm tôi trằn trọc đến khó ngủ. Một mùa xuân nữa lại về. Từ trong sâu thẳm của lòng mình, ký ức ở một vùng ven ngày nào lại cứ hiện lên trong tôi như một kỷ niệm dù bi thương nhưng cũng rất tự hào.

Logged
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #63 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2008, 12:31:54 am »

hình như bạn là một người khá am hiểu về lịch sử thì phải. những tóm tắt xen lẫn bình luận của bạn về TCCNT 68 tôi thấy rất sắc nét đó Undecided
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #64 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2008, 02:22:47 am »

những tóm tắt xen lẫn bình luận của bạn về TCCNT 68 tôi thấy rất sắc nét đó Undecided

Một ông Na bô lông tóm, ông kia Rôm men bình, lại chả sắc.  Shocked
Logged
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #65 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2008, 02:28:11 am »

Link đọc bài báo của Pribbenow (được bác Tmct cung cấp), còn cụ thể hơn bài tham luận ở Lubbock, ở đây:

http://viet-studies.info/kinhte/VNGiap_Tet_JVS.pdf
Logged
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #66 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2008, 07:00:44 am »

Em thì thấy bài viết này nêu ra nhiều nhận xét chủ quan, thiếu dẫn chứng tin cậy, đọc thấy cứ như người viết ngồi trong lòng BCT mà theo dõi vậy.
Logged

Chết vì ghét người!
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #67 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2008, 02:31:46 pm »

Em thì thấy bài viết này nêu ra nhiều nhận xét chủ quan, thiếu dẫn chứng tin cậy, đọc thấy cứ như người viết ngồi trong lòng BCT mà theo dõi vậy.

Tôi thì nghĩ với hiện trạng tài liệu công bố của ta, có hai lựa chọn: Một là không viết gì cả, cho đến khi có bằng chứng mười mươi. Tuy nhiên bằng chứng cho những việc như ông Dũng gặp riêng ông Duẩn, ông Duẩn bàn với ông Dũng chuyện XYZ thì nhiều khả năng là sẽ chả bao giờ có bằng chứng muời mươi cả.

Cách thứ hai là làm như Pribbenow, tức là vừa đọc vừa đoán, có phương pháp, có phối kiểm, và nói rõ tại sao lại đoán thế này mà không phải thế kia (chẳng hạn trong phần footnote lão giải thích một số giả thiết khá chi tiết). Tôi nghĩ làm như thế có thể xem là đàng hoàng. Vừa cung cấp thông tin, lập luận, vừa chỉ rõ chỗ nào là đoán.
Logged
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #68 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2008, 02:42:46 pm »

He he, đùa vậy thôi, em mong được đọc bài bác này.
Logged

Chết vì ghét người!
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #69 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2008, 04:59:55 am »

Tôi xin dịch lại bài báo này để các bác tham khảo.

====

Tướng Võ Nguyên Giáp và diễn biến kỳ bí của kế hoạch Tiến Công Tết 1968

Merle L. Pribbenow II.

Cuộc Tiến công Tết 1968, mà người Việt Nam gọi là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy (nb. Tổng công kích – Tổng Khởi Nghĩa ) có lẽ là sự kiện then chốt nhất trong lịch sử cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Phía Việt Nam ưa tuyên bố rằng cuộc Tổng tiến công đã “thay đổi bộ mặt”, hay (thay đổi) bản chất của cuộc chiến. Hầu hết các sử liệu về cuộc chiến đều chia ra làm hai giai đoạn – trước và sau Tết.

Trong khi những gì thuộc về phía Mỹ trong Tết 1968 đều đã được kể lại với độ chi tiết đến cùng cực, từ tầm chiến lược cho tới cấp chiến thuật, thì thông tin về nguồn gốc các kế hoạch của phía Việt Nam lại ít đến mức ngạc nhiên. Giới sử gia từng tranh luận (các) nhân vật nào trong lãnh đạo Việt Nam đã đưa ra ý tưởng cho cuộc Tổng tiến công, ai đã ủng hộ và ai đã phản đối nó, tuy nhiên các suy đóan đó thường dựa trên rất ít bằng cứ. Một số cho rằng người chủ trương cuộc TTC là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh QĐNDVN, một nhà chiến luợc quân sự nổi danh toàn thế giới, người hơn mười năm trước đó, năm 1954, đã chiến thắng quân Pháp tại Điện Biên Phủ. Một số khác lại cho rằng ý tưởng của cuộc TTC xuất phát từ Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, người đã chỉ huy những nỗ lực của phía Cộng sản chống lại Hoa Kỳ tại VNCH, cho đến khi ông từ trần vào tháng 7 năm 1967. Một số người nhận định rằng cuộc tiến công là một nỗ lực cuối cùng của phe Cộng sản hòng xoay chuyển một tình thế có chiều hướng dẫn họ tới chỗ thất bại không tránh khỏi, trong khi một số khác thì cho rằng cuộc tiến công là kết quả của việc lãnh đạo Cộng sản đã đánh giá tình hình miền Nam quá lạc quan. Một số khác nữa gắn quyết định tiến hành cuộc tấn công với các tranh chấp trong nội bộ Bộ Chính trị giữa các bè phái có các lập trường đối nghịch nhau, thể theo sự rạn nứt giữa phe Liên Xô và phe Trung Quốc trong khối cộng sản (tại thời điểm đó Liên Xô đang ra sức ép, yêu cầu Hà Nội đàm phán với Mỹ, còn Trung Quốc thì khăng khăng cho rằng Việt Nam cần tiếp tục chiến đấu và không đàm phán với Mỹ) [1].

Cho đến khi, và trừ phi, phía Việt Nam cho mở các hồ sơ nội bộ của Bộ Chính trị và Bộ Tổng Tư lệnh tại Hà Nội, sẽ không thể có được câu trả lời dứt khóat cho những câu hỏi trên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có thêm một số sử liệu, tài liệu của Việt Nam mang lại một ánh sáng mới cho các nghi vấn, giúp ta có được một nhận định có cơ sở hơn. Các thông tin mới này thiên về phía nhận định rằng tác giả của cuộc Tổng tiến công không phải là Tướng Võ Nguyên Giáp, mà cũng không phải là Tướng Nguyễn Chí Thanh, rằng chính Hồ Chí Minh cũng phản đối cuộc tiến công, rằng kế họach được đưa vào thực hiện trong thực tế là sản phẩm của một thỏa thuận hậu trường giữa Tướng Văn Tiến Dũng, thuộc cấp cao cấp nhất của Tướng Võ Nguyên Giáp, và Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, kình địch lâu năm của Tướng Võ Nguyên Giáp; rằng Tướng Võ Nguyên Giáp đã phản đối cuộc Tổng tiến công này đến mức sau khi ông bị phủ quyết, ông không những đã không tham gia vào quá trình lập kế hoạch, mà còn rời Việt Nam đi Đông Âu, và chỉ về sau khi cuộc Tổng tiến công đã bắt đầu. Tuy có một số nghi vấn về tầm quan trọng và vai trò của các dị biệt về tư tưởng trong cuộc đấu tranh giữa các phái trong nội bộ Bộ Chính trị trong quá trình ra quyết định, có thể nhận định rằng các dị biệt này, có thật hay tưởng tượng, đã được phe thắng dùng làm phương tiện củng cố cho quan điểm của mình.   
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM