21. T-50
Xe tăng hạng nhẹ T-50 được chế tạo nhằm thay thế các xe tăng T-26 và hỗ trợ cho bộ binh trên chiến trường. Nó được thiết kế tại Phòng thiết kế Leningrad. Kinh nghiệm thiết kế xe tăng dựa trên cơ sở các kinh nghiệm thu được từ Nội chiến Tây Ban Nha và theo các kế hoạch ban đầu là sản xuất xe tăng số lượng lớn tái trang bị cho lực lượng xe tăng Hồng quân. Mẫu thí nghiệm mang tên “Công trình 126” (T-126SP) đã bị loại khỏi các phân xưởng từ năm 1940, nhưng hệ thống giáp bảo vệ xe tăng thuộc công trình đó sau này được sử dụng đáp ứng cho xe tăng hạng trung T-34. Các tấm thép cán trên thân xe gắn với nhau qua phương pháp hàn được lắp theo độ nghiêng hợp lý, có độ dày 45mm, mái và đáy – dày 20mm. Trên tháp pháo được hàn với nhiều góc cạnh gắn pháo 45mm và một súng máy 7,62mm đồng trục DT. Còn một súng máy mang cỡ đạn súng trưòng DS, bố trí trên ụ hình cầu phía đầu xe, bên trái cửa khoang dành cho lái xe. Bộ phận truyền động của xe tăng mỗi bên có 6 trục với bộ giảm sóc bên trong, bánh dẫn động bố trí phía sau, để dẫn hướng và 3 trục đỡ. Động cơ diezen V-3 250 sức ngựa cho phép xe tăng nặng 17 tấn di chuyển với tốc độ tối đa 35km/h.
Mẫu thí nghiệm thứ hai của xe tăng T-26SP được gia công thêm cho phù hợp với yêu cầu chiến tranh. Các trục xe được đơn giản hóa, còn súng máy bố trí trên ụ hình cầu bị tháo bỏ. Trên nguyên mẫu thứ hai được thiết kế dưới sự lãnh đạo của tổng công trình sư A.S.Trozanov (Troyanov hoặc Troianov), được hoàn thành vào tháng 1 năm 1941. Công việc có mục tiêu rõ ràng: rút gọn khối lượng xe và tăng tính cơ động cũng như tốc độ. Sau kết quả của việc tăng độ dày giáp bảo vệ của các tấm giáp và tiếp nhận nguyên tắc phân hóa giáp bảo vệ trên các bộ phận khác nhau, khối lượng xe tăng giảm xuống còn 13,8 tấn. Cùng với việc lắp động cơ mới mạnh hơn tăng động cơ xe tăng lên 50km/h. Ngoài ra, xe tăng mới còn có tháp pháo dạng hình thuôn mới, trên nóc phía sau tháp pháo có tháp nhỏ dành cho trưởng xe với hệ thống quan sát trên chiến trường. Sau tháp pháo bố trí của ra vào.
Trang bị và giáp bảo vệ của T-50 là các tính năng nổi trội của nó. Nó không gặp vấn đề gì khi thực hiện khả năng leo dốc 43 độ và vượt hố rộng 2,2 mét. Tuy nhiên, việc sản xuất hàng loạt xe tăng diễn ra chậm chạp do sự phức tạp trong kết cấu của nó mặc dù nó hơn hẳn T-26. Việc sản xuất và lắp ráp động cơ V-4 cũng gặp nhiều khó khăn. Vì thế, không nhìn vào việc T-50 được trang bị cho quân đội tháng 4 năm 1941, việc sản xuất được 50 đầu tiên xe tăng vào nửa đã là một nỗ lực lớn.
Cuối mùa hè năm 1941, công xưởng số 174, nơi sản xuất xe tăng đã sơ tán xuống Sibir và Uran. Tại Baranaul đã quyết định việc sản xuất T-50 trên hai công xưởng: 1 nơi sản xuất gần như toàn bộ xe tăng, công xưởng còn lại chuyên sản xuất động cơ diezen V-4 cho xe tăng. Tuy nhiên, tháng 1 năm 1942, việc sản xuất T-50 bị ngừng lại, còn công xưởng số 174 chuyển sang sản xuất T-34 cần thiết cho chiến trường hơn.
Mặc dù T-50 hơn hẳn các xe cùng dòng xe tăng hạng nhẹ với nó về chất lượng chiến đấu, nhưng nó được sinh ra muộn hơn hơn, vì thế thành tích chiến đấu của nó không nhiều. T-50 chỉ được trang bị cho một lữ đoàn xe tăng hoạt động tại eo đất Karelia. Trong thời gian xung đột Liên Xô – Phần Lan và trong Chiến tranh Vệ quốc, một số T-50 đã bị quân đội Phần Lan chiếm đoạt và sau đó phục vụ trong quân đội Phần Lan.
Các thông số chính:
Tên gọi: T-50
Phân loại: hạng nhẹ
Kíp xe: 4 người
Khối lượng chiến đấu: 13,8
Chiều dài,m: 5,2
Chiều rộng,m: 2,47
Chiều cao,m: 2,17
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/45
Hỗ trợ/mm: 1/7,62
Độ dày giáp đầu: 37mm
Độ dày giáp bên: 37mm
Động cơ: V-4, diezen, 300 sức ngựa.
Tốc độ tối đa: 52km/h
Tầm hoạt động: 340km.
