Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:35:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xe tăng của thế giới - Танки мира  (Đọc 455689 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #170 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:34:12 am »

19. T-34-85

    Hiệu quả chiến đấu thấp của pháo nòng ngắn F-34 trong các trận đấu tăng với các xe tăng mới của Đức với giáp được gia cố và pháo nòng dài là nguyên nhân dẫn đến việc hiện đại hóa triệt để T-34, được trang bị cho lực lượng xe tăng Hồng quân năm 1943. Trang bị mạnh hơn của dòng xe tăng mới yêu cầu nâng cấp tháp pháo, và việc đầu tiên trong quá trình hiện đại hóa là nâng cấp đường kính diềm che ổ đỡ tháp pháo. Pháo tăng 85mm được thiết kế tại Liên Xô từ đầu năm 1943 và những mẫu thử nghiệm của nó được chuẩn bị sau đó nửa năm. Chiến thắng trong cuộc chạy đua giành mẫu thiết kế pháo tăng là pháo 85mm do phòng thiết kế B.G.Grabina. Tuy nhiên, seri T-34-85 đầu tiên được sản xuất bởi xưởng “Kracnoe Sormovo” từ tháng 1 năm 1944, được trang bị pháo tăng D-5T, bởi vì tháp pháo mới với đường kính diềm che ổ đỡ tháp pháo 1600mm (thay cho 1420mm trên T-34-76) được xưởng này sản xuất không đảm bảo khả năng lắp S-53. Khoảng 500 T-34 hiện đại hóa được trang bi tháp pháo hai chỗ ngồi từ D-5T, có kíp xe 4 người. Bên ngoài xe tăng khác với các xe tăng cùng hệ sản xuất sau ở sự bố trí lệch hơn về phía trước của tháp nhỏ dành cho trưởng xe với hai nắp ra vào, nơi có hệ thống quan sát kính tiềm vọng. Hệ thống liên lạc vô tuyến điện bố trí trên thân xe, còn ăng ten nằm bên phải thành xe. Tháng 3 sự sản xuất T-34-85 được chuyển vào công xưởng Nhiznhitagil – nơi thiết kế cho chúng tháp pháo 3 chỗ ngồi và không có vấn đề gì xảy ra khi lắp pháo tăng S-53. Sau đó, loại pháo này được hiện đại hóa dưới tên gọi ZIS-S-53. Trên xe tăng mới, tháp chỉ huy được kéo xuống gần đuôi xe hơn, còn đài vô tuyến bố trí trên tháp pháo.
    Không tính đến tháp pháo mới được bọc thép tốt hơn và kíp xe tăng lên 5 người, khối lượng xe tăng nâng lên không đáng kể và sự linh hoạt, cơ động cũng như T-34-76. Pháo 85mm S-53 nòng dài bắn đạn với tốc độ đầu nòng 792m/s. Trong cự ly 500m, đạn xuyên giáp có thể bắn thủng giáp dày 111mm, trên khoảng cách 1000m – 102mm. Cơ số đạn 55 viên gồm các kiểu đạn phá mảnh, đạn xuyên thép và đạn dưới cỡ nòng.
    T-34-85 đi vào hoạt động vào mùa xuân năm 1944. Vào thời điểm đó, sự xuất hiện của chúng được tình theo nguyên tắc từng Lữ đoàn xe tăng Cận vệ. Tuy nhiên, vào mùa hè, xe tăng được tiếp nhận với số lượng lớn trong thời gian tấn công giải phóng Belarus, còn trong chiến dịch Berlin, chúng đóng thay thế vai trò làm lực lượng trên tuyến đầu của các T-34 thế hệ trước. Trong thời gian chiến tranh, tăng phun lửa với tên gọi OT-34-85 cũng được sản xuất. Cùng với súng máy, phần đầu xe còn trang bị súng phun lửa ATO-42 với tầm hoạt động từ 60 đến 100m. Trên cơ sở T-34 còn có các loại pháo tự hành Su-122, Su-100 và Su-85. Tổng cộng đến cuối chiến tranh, hơn 23.000 T-34-85 đã được sản xuất. Sự sản xuất T-34-85 còn được tiếp tục trong thời kỳ sau chiến tranh. Đến những năm 50 (Tk20) những chiếc xe tăng này lại được hiện đại hóa một lần nữa và nhận hệ thống trang bị mới. Động cơ và tổ hợp truyền động được nâng cấp, còn dành cho lái xe khi hoạt động trong điều kiện ban đêm có hệ thống nhìn đêm với đèn pha bên phải thành xe. T-34-85 được sử dụng một cách rộng rãi ở nước ngoài, còn giấy phép sản xuất của chúng được chuyển cho Tiệp Khắc và Ba Lan. Tổng cộng đến năm 1985, T-34-85 đạt đến gần 70.000 xe. T-34 tham gia vào nhiều cuộc xung đột cục bộ. Chúng chiến đấu trên bán đảo Triều Tiên, Việt Nam, một số lượng lớn trong các cuộc xung đột tại Trung Cận Đông. T-34 cũng được sử dụng tại Apghanistan, còn trong 10 năm cuối cùng của thế kỷ trước, chúng tham gia vào các cuộc xung đột ở Nam Tư cũ.

    Các thông số chính:
Tên gọi: T-34-85
Phân loại: hạng trung
Kíp xe: 4 người
Khối lượng chiến đấu: 30,9
Chiều dài,m: 6,62
Chiều rộng,m: 3,00
Chiều cao,m: 2,52
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/85
Hỗ trợ/mm: 2/7,62
Độ dày giáp đầu: 47mm
Độ dày giáp bên: 45mm
Độ dày giáp đuôi: 45mm
Độ dày tháp pháo: 75-90mm
Động cơ: V-2, diezen, 500 sức ngựa.
Tốc độ tối đa: 55km/h
Tầm hoạt động: 300km.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:45:18 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #171 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:34:48 am »

 Sơ đồ T-34-85:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #172 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:35:42 am »

 T-34-85 trưng bày trong Bảo tàng Quân đội Liên Xô:

 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #173 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:36:44 am »

 Các loại pháo tự hành trên cơ sở T-34-85:
 Su-85:
 

 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #174 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:37:06 am »

 Su-100:
 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #175 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:37:51 am »

 Su-122: (ảnh tại Kubinka):

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #176 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:46:33 pm »

20. T-44

   T-44, được thiết kế bởi phòng thiết kế xe tăng Uran dưới sự lãnh đạo của tổng công trình sư A.A.Morozov và được sản xuất thời giạn gần cuối chiến tranh dựa trên những kinh nghiệm thiết kế và thực tế chiến trường to lớn từ T-34. Đây là loại xe tăng hạng trung Xô viết tốt nhất trong thời kỳ chiến tranh, và thiết kế của nó cũng là bước chuyển tiếp cho các thế hệ xe tăng sau chiến tranh.
   Về hình dáng bên ngoài, T-44 gần giống với thế hệ trước nó là T-34-85. Điểm khác biệt rõ rệt nhất của T-44 nằm ở kích thước, kết cấu và các trang thiết bị. Động cơ xe tăng được bố trí nằm ngang, cho phép rút ngắn chiều dài thân xe, tiết kiệm được khối lượng, và sự tiết kiệm đó được sử dụng vào việc gia tăng giáp bọc thép cho xe tăng. Buồng chiến đấu được mở rộng, kéo theo điều kiện làm việc của kíp xe cũng trở nên thuận lợi hơn. Thành xe được thiết kế kiểu thẳng đứng và đầu xe được lắp bởi các tấm thép dưới góc nghiêng 60 độ. Hệ thống thông tin liên lạc được di chuyển lên trung tâm tháp pháo – được thiết kế theo dạng thuôn hơn, tăng khả năng chống đạn. Chỗ trống bên trái dưới tháp pháo được thiết kế lắp cửa ra vào cho lái xe – như trên đầu xe T-34. Toàn bộ các hệ thống và máy móc của xe tăng được nâng cấp rất nhiều. Đến cuối chiến tranh, công xưởng ở Khaccov đã kịp sản xuất 190 T-44. Mặc dù nó không tham gia chiến đấu, nhưng các lữ đoàn xe tăng cận vệ được trang bị T-44 đã trở thành những lực lượng dự bị mạnh của Hồng quân.
   Sự sản xuất T-44 kéo dài tới năm 1947 và đã có 1823 xe tăng được sản xuất. Năm 1961, xe tăng được hiện đại hóa một lần nữa với mục đích thống nhất hóa các tổ hợp truyền động và bộ truyền động với xe tăng hạng trung T-54. Dưới tên gọi T-44M, xe tăng được trang bị hệ thống nhìn đêm cho lái xe và trưởng xe, đồng thời tăng cơ số đạn. Trên cơ sở T-44M – phát triển xe tăng chỉ huy T-44MK. Trên nó, cơ số đạn tăng lên không nhiều và được lắp thêm hệ thống vô tuyến điện thứ hai.
   Năm 1966, xe tăng được nâng cấp lần cuối cùng, khi T-44 được trang bị hệ thống cân bằng tầm và hướng cho pháo, tăng khả năng chính xác khi tác xạ. Xe tăng này là T-44S. Số T-44M năm 1965 được chuyển thành xe kéo BTS-4. T-44 được rút khỏi lực lượng vũ trang cuối những năm 70 và sau đó, được sử dụng là bia bắn trên các thao trường.
   Về sau này, T-44 còn tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại trong … bộ phim “Giải phóng” trong sự hóa trang thành Pz VI “Tiger” trong phim “Giải phóng”, mặc dù sự hóa trang đó không giống hoàn toàn.

    Các thông số chính:
Tên gọi: T-44
Phân loại: hạng trung
Kíp xe: 4 người
Khối lượng chiến đấu: 31,8
Chiều dài,m: 7,65
Chiều rộng,m: 3,18
Chiều cao,m: 2,41
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/85
Hỗ trợ/mm: 2/7,62
Độ dày giáp đầu: 90mm
Độ dày giáp bên: 75mm
Động cơ: V-44, diezen, 500 sức ngựa.
Tốc độ tối đa: 51km/h
Tầm hoạt động: 300km.


Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #177 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:47:09 pm »

 Sơ đồ cấu tạo T-44:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #178 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 06:47:41 pm »

 T-44:
 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #179 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 09:29:12 pm »

21. T-50


   Xe tăng hạng nhẹ T-50 được chế tạo nhằm thay thế các xe tăng T-26 và hỗ trợ cho bộ binh trên chiến trường. Nó được thiết kế tại Phòng thiết kế Leningrad. Kinh nghiệm thiết kế xe tăng dựa trên cơ sở các kinh nghiệm thu được từ Nội chiến Tây Ban Nha và theo các kế hoạch ban đầu là sản xuất xe tăng số lượng lớn tái trang bị cho lực lượng xe tăng Hồng quân. Mẫu thí nghiệm mang tên “Công trình 126” (T-126SP) đã bị loại khỏi các phân xưởng từ năm 1940, nhưng hệ thống giáp bảo vệ xe tăng thuộc công trình đó sau này được sử dụng đáp ứng cho xe tăng hạng trung T-34. Các tấm thép cán trên thân xe gắn với nhau qua phương pháp hàn được lắp theo độ nghiêng hợp lý, có độ dày 45mm, mái và đáy – dày 20mm. Trên tháp pháo được hàn với nhiều góc cạnh gắn pháo 45mm và một súng máy 7,62mm đồng trục DT. Còn một súng máy mang cỡ đạn súng trưòng DS, bố trí trên ụ hình cầu phía đầu xe, bên trái cửa khoang dành cho lái xe. Bộ phận truyền động của xe tăng mỗi bên có 6 trục với bộ giảm sóc bên trong, bánh dẫn động bố trí phía sau, để dẫn hướng và 3 trục đỡ. Động cơ diezen V-3 250 sức ngựa cho phép xe tăng nặng 17 tấn di chuyển với tốc độ tối đa 35km/h.
   Mẫu thí nghiệm thứ hai của xe tăng T-26SP được gia công thêm cho phù hợp với yêu cầu chiến tranh. Các trục xe được đơn giản hóa, còn súng máy bố trí trên ụ hình cầu bị tháo bỏ. Trên nguyên mẫu thứ hai được thiết kế dưới sự lãnh đạo của tổng công trình sư A.S.Trozanov (Troyanov hoặc Troianov), được hoàn thành vào tháng 1 năm 1941. Công việc có mục tiêu rõ ràng: rút gọn khối lượng xe và tăng tính cơ động cũng như tốc độ. Sau kết quả của việc tăng độ dày giáp bảo vệ của các tấm giáp và tiếp nhận nguyên tắc phân hóa giáp bảo vệ trên các bộ phận khác nhau, khối lượng xe tăng giảm xuống còn 13,8 tấn. Cùng với việc lắp động cơ mới mạnh hơn tăng động cơ xe tăng lên 50km/h. Ngoài ra, xe tăng mới còn có tháp pháo dạng hình thuôn mới, trên nóc phía sau tháp pháo có tháp nhỏ dành cho trưởng xe với hệ thống quan sát trên chiến trường. Sau tháp pháo bố trí của ra vào.
   Trang bị và giáp bảo vệ của T-50 là các tính năng nổi trội của nó. Nó không gặp vấn đề gì khi thực hiện khả năng leo dốc 43 độ và vượt hố rộng 2,2 mét. Tuy nhiên, việc sản xuất hàng loạt xe tăng diễn ra chậm chạp do sự phức tạp trong kết cấu của nó mặc dù nó hơn hẳn T-26. Việc sản xuất và lắp ráp động cơ V-4 cũng gặp nhiều khó khăn. Vì thế, không nhìn vào việc T-50 được trang bị cho quân đội tháng 4 năm 1941, việc sản xuất được 50 đầu tiên xe tăng vào nửa đã là một nỗ lực lớn.
   Cuối mùa hè năm 1941, công xưởng số 174, nơi sản xuất xe tăng đã sơ tán xuống Sibir và Uran. Tại Baranaul đã quyết định việc sản xuất T-50 trên hai công xưởng: 1 nơi sản xuất gần như toàn bộ xe tăng, công xưởng còn lại chuyên sản xuất động cơ diezen V-4 cho xe tăng. Tuy nhiên, tháng 1 năm 1942, việc sản xuất T-50 bị ngừng lại, còn công xưởng số 174 chuyển sang sản xuất T-34 cần thiết cho chiến trường hơn.
    Mặc dù T-50 hơn hẳn các xe cùng dòng xe tăng hạng nhẹ với nó về chất lượng chiến đấu, nhưng nó được sinh ra muộn hơn hơn, vì thế thành tích chiến đấu của nó không nhiều. T-50 chỉ được trang bị cho một lữ đoàn xe tăng hoạt động tại eo đất Karelia. Trong thời gian xung đột Liên Xô – Phần Lan và trong Chiến tranh Vệ quốc, một số T-50 đã bị quân đội Phần Lan chiếm đoạt và sau đó phục vụ trong quân đội Phần Lan.

    Các thông số chính:
Tên gọi: T-50
Phân loại: hạng nhẹ
Kíp xe: 4 người
Khối lượng chiến đấu: 13,8
Chiều dài,m: 5,2
Chiều rộng,m: 2,47
Chiều cao,m: 2,17
Số lượng vũ khí:
Pháo chính/mm: 1/45
Hỗ trợ/mm: 1/7,62
Độ dày giáp đầu: 37mm
Độ dày giáp bên: 37mm
Động cơ: V-4, diezen, 300 sức ngựa.
Tốc độ tối đa: 52km/h
Tầm hoạt động: 340km.

 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM