Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:31:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung  (Đọc 113202 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #50 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 11:45:46 pm »

Vua Quang Trung chết đúng vào năm ông có dự án đánh và tiêu diệt quân Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp ở Gia Định. Đây cũng là năm đã hoàn thành một bước “chọc thủng” Thiên triều với nhiều tài liệu đã xác nhận là đoàn Sứ thần của vua Quang Trung đã đến gõ cửa kinh đô Trung Quốc với hai yêu cầu: xin cưới công chúa nhà Thanh và đòi đất của Lưỡng Quảng để đóng đô.

Vua Thanh đã chuẩn phê hai yêu câu trên thì bên này được tin là vua Quang Trung đã từ trần.  Vũ Văn Dũng đang ở trước điện rồng tại Bắc Kinh nghe tin dữ, liền té xỉu, lúc tỉnh dậy ông có bài thơ.’

Bố y phân tích ngũ niên trung
Mai cổ thi vị tự bất đồng
Thiên vị Ngô Hoàng tằng nhất kỷ
Bất ư Đường Tông thuyết anh hùng.


Nghĩa là:

Năm năm dựng nghiệp tự thần nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường Tông hết khoe hùng
(1).

Thông thường với quan hệ hoà hiếu như nước ta và Trung Quốc thuở đó mà sau khi Quang Trung mất vào mùa thu nam 1792, thế mà đến gần nửa năm sau mới qua báo tang? Đến nỗi khi viên thuộc quan Quách Thế Huân trình báo lên về việc “Quốc vương Nguyễn Quang Bình đã mất ở Nghệ An vào tháng 9 năm ngoái, vua Càn Long liền phê bình người đưa tin như vậy là quá chậm, chắc bấy giờ đã tống táng rồi” (2).

Không những báo chậm mà còn báo không đúng chỗ, có phải vua Quang Trung chết ở Nghệ An đâu?  Tại sao phải làm mộ giả ở bên Hồ Tây để đón sứ Thanh qua phúng điếu. Tại sao sứ Thanh muốn vào Phú Xuân mà quan quân Tây Sơn dắt trái lên đường Sơn Tây để đánh lạc hướng, để cuối cùng y tự nhận ra là mình bị mắc lừa mới bảo đưa quay lại, nhưng quan Tây Sơn vẫn không chịu đưa sứ Thanh vào Phú Xuân mà chỉ dừng lại ở Thăng Long? 

Tại sao hồi năm 1789, sang phong vương cho vua Quang Trung, viên sứ Thành Lâm không chịu vào Phú Xuân để sắc phong vì lý do trái lệ thường, để cuối cùng Phạm Công Trị từ Phú Xuân đóng vai Quang Trung ra Thăng Long nhận thụ phong.  Nhưng lần này qua dự lễ điếu tang vua Quang Trung vẫn viên sứ giả Thành Lâm đó, y nằng nặc đòi vào Phú Xuân thì quan chức Tây Sơn không chịu?  Tại sao vua Quang Trung lánh mặt các vua quan nhà Thanh mà chỉ chọn người tài thay mình làm vua giả để đi thù tiếp?

Bụng dạ nhà Thanh thì Quang Trung đã biết rõ, nhưng phải tạo mối giao hiếu nhún nhường.  Như vậy, để rảnh tay nhằm đối phó và đánh quân Nguyễn ở Gia Định, vì sau khi đánh bại quân Thanh ở Thăng Long thì quân Nguyễn là đối thủ nguy hiểm nhất và trực tiếp nhất. Điều đó nhiều lần vua Quang Trung đã thổ lộ với các cận thần của mình. .

Vua Thanh Càn Long và Tổng đốc Lưỡng Quãng Phúc Khang An thật sự có “tốt bụng” với Quang Trung như đã thể hiện bên ngoài đến như thế không? Hình thức tiếp đón, ân sủng “đặc biệt” có đồng nhất với sự suy nghĩ sâu thẳm và lòng dạ khó lường của vua quan nhà Thanh không? 

Còn đối với vua Quang Trung, việc cảnh giác cao độ đã trở thành “nghệ thuật đối ngoại - không là bạn” trong toàn bộ quá trình giao hảo với nhà Thanh là một bằng chứng. Còn Càn Long, trong suốt hơn 60 năm cai trị (1736- 1796), y đã từng tuyên bố “một mình ta đã từng mở đất hàng vạn dặm” thì việc thất bại đau đớn nhất ở Việt Nam vào năm 1789 : là lần duy nhất trong cuộc đời làm thiên tử của mình, y biết thế nào là thua, là nhục nhã, một ông vua đã 80 tuổi, già dặn về mọi mưu chước chính trị như Càn Long thì sự đau đớn lại càng nặng trĩu hơn.

_______________________________
(1) Tập san Sử địa, số 9,1986, tr. 154.
(2) Đông hoa toàn lục, Q. 117, t. 5a. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #51 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2009, 11:48:33 pm »

Cuối năm 1788, trong khi những tin thắng trận từ Thăng Long được Tôn Sĩ Nghị tiếp báo về Bắc Kinh, vua Thanh vô cùng mừng rỡ, ban chức tước bổng lộc, thưởng thêm một tháng lương cho đội quân viễn chinh ăn tết ở đất người.

Tại Bắc Kinh, vua Càn Long đã chọn ngày mồng 5 Tết làm ngày “Hội mừng công bình định được An Nam “.  Chủ đề đó được các đại thần, đại học sĩ, văn nhân, quan chức hưởng ứng từ trước, tụ về kinh để xướng họa, bình phẩm và cũng để vua quan chúc thọ đầu năm. Mừng nhau năm mới thắng lợi mới.

Chúng có ngờ đâu cái ngày hôm ấy, số phận cả đội quân xâm lược nhà Thanh đã bị quyết định ở chiến trường Thăng Long. Đột ngột như thế, đau đớn như thế, đáng lẽ phải tức hộc máu ra mà chết.  Nhưng Càn Long thì không, Thanh đế rất bình tĩnh, ra lệnh chiêu an Tôn Sĩ Nghị, cho là Chiêu Thống hèn nhát bỏ chạy trước nên ảnh hưởng đến tinh thẩn chiến đấu của quân đội Thiên triều, chỉ là do binh lính “trượt ngã” mà thôi.

Khi Tôn Sĩ Nghị trốn về nước, số tàn tốt cũng lục tục kéo qua được biên giới trong số 29 vạn quân đi, kiểm kê lại chỉ còn 5.500 lính về. Càn Long mới ra lệnh bãi chức, thu tước công của Tôn Sĩ Nghị và chiếu theo luật quân để nghiêm trị.

Càn Long điều Phúc Khang An sang thay, làm Tổng đốc Lưỡng Quảng và cho thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới. Thế nước tức khắc chuyển sang hoà.

Trong khi vua Quang Trung cho các tướng sĩ thu dọn chiến trường Thăng Long, các chiến tù bắt được lệnh cho cấp khẩu phần lương thực và được chọn đất để ăn ở. . . thì việc quan đạo Tả Giang là Thanh Hùng Nghiệp gửi thư cho vua Quang Trung nói rằng: “Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) đã trốn ra khỏi nước, Thiên triều không ủng hộ cho y làm vua nước Nam nữa.  Vậy, trong khi chưa có người đến gõ cửa quan xin thụ phong, thì người nên đến sớm sẽ được đặc ân (1). 
 
Thế mới biết Thanh đế không phải là tay vừa so với các triều vua trước đó. Vì Càn Long biết đánh lại cũng không thắng, 50 vạn quân hay gấp nhiều lần hơn nữa thì cũng chuốc lấy thất bại vì tinh thần binh sĩ lúc đó đã khiếp nhược kinh hoàng. . .  Ao ước vào tận sào huyệt Tây Sơn ở Phú Xuân để bắt sững Nguyễn Huệ như kiểu Tôn Si Nghị trước đây thực tế đã trả lời, đó chỉ là một ý nghĩ ngông cuồng.

Cũng do ảo tưởng như vậy nên cả đội quân thiên triều phải chịu trả giá rất đắt trước lịch sử. Chỉ còn một cách là mở đường thông hiểu, tạm chung sông hoà bình để chờ thời cơ trả thù dưới một thủ đoạn khác. Làm sao để tướng không bị mất, quân không bị chết, dân không ca oán mà vẫn đạt mục tiêu của cuộc phục thù?

Và nếu không tỉnh táo, tự giác mở đường hoà hiếu trước, biết đâu Quang Trung thừa thắng cho quân sang hỏi tội thiên triều thì cả cơ nghiệp Thanh đế cũng phải tan nát như dư luận đã truyền đi khắp phía Nam Trung Quốc.

Hoàng Lê nhất thống chí thuật lại cảnh di tản như sau: “. . . Thấy Nghị về, nhân tình đến nhốn nháo, sợ hãi. Tiếp đó lại được tín Tây Sơn đuổi đến Lạng Sơn, phao tin rằng sẽ giết hết rợ hung nô. Do đó, ở đất Trung Quốc, dân chúng lại càng nhốn nháo. Từ cửa ải Nam Quan trở về Bắc, trai gái, trẻ già, bồng bế dắt díu nhau chạy trốn, suốt vài trăm dặm, lặng ngắt không một bóng người” (2).

Còn vua Quang Trung đang lúc trong lòng rực lửa chiến công thì nhận được thư của Thang Hùng Nghiệp, nên có thái độ “nhà Thanh muốn giảng hoà thì tỏ lòng khinh bỉ” (3).


_______________________________
(1) Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 30, t. 36a.
(2) Hoàng Lê nhất thống chí, tập II, 1984, tr. 190
(3) Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 80, t. 36a. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #52 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 12:31:15 pm »

Như hiểu hết ý đồ của giặc, vua Quang Trung nói với Ngô Thì Nhậm... “Họ mượn tiếng để mưu đồ riêng mà thôt. Nay họ bị ta đánh thua, nhịn đi thì thẹn, báo thù thì khó” (1).

Thế là vua Quang Trung chấp nhận yêu cầu giải quyết chiến tranh có lợi cho cả hai bên. Ngô Thì Nhậm được giao thảo một bức thư để trả lời cho nhà Thanh.

Còn Phúc Khang An “đã chính mắt thấy Nghị trơ trọi một mình chạy về. Sau đó, tai lại được nghe thanh thế của vua Quang Trung nên trong bụng không khỏi rụt rè, lo sợ. . . bèn nói nhỏ với viên thuộc quan rằng: Nam - Bắc thôi việc binh đao, đó là phúc của sinh dân, mà là điều may mắn cho quan ở ngoài bờ cõt. Ta nghe nói viên quan coi việc giấy tờ của nước Nam tên là Ngô Thì Nhậm, bao nhiêu thư từ từ trước đến nay đều do tay y mà ra. Vậy ngươi nên viết thư trả lời, bảo y chuyên tâm chủ trương việc giảng hoà, gấp rút viết tờ biểu tạ tội đưa sang, ta sẽ ở trong giúp đỡ cho, việc ấy thế nào cũng xong” (2).

Ngô Thì Nhậm thảo xong tờ biểu cầu phong, vua Quang Trung cử tướng Hô Hổ hầu làm chính sứ đi Trung Quốc, trực tiếp gặp Thang Hùng Nghiệp.  Bài biểu có lời lẽ nhún nhường và giải thích một cách có lý có tình về việc tôn phế Lê Chiêu Thống, về việc đón đánh quân Thiên triều là do Tôn Sĩ Nghị cả.

Nhưng có đoạn bài biểu lại rất đanh thép, đe dọa, mỉa mai: “Tôn Sĩ Nghị lấy địa vị đại thần ở biên cương, lại vì tiền hay vì gái mà đem tờ biểu chương của thần xé ném xuống đất, làm nhục sử giả, ý muôn động binh dấy quân, không biết việc đó quả do Đại Hoàng đế sai khiến hay do Tôn Sĩ Nghị vì một người đàn bà sai khiến do mong lập công ở biên cương mà cầu lợi lớn”. 

Phần kết lại tiếp tục nhấn mạnh: “Nay đang đường là triều đình thiên tử lại đi so hơn thua với một nước rợ nhỏ, ắt là muốn cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái cái lòng tham lam tàn bạo thì chắc lòng dạ của Thánh thượng cũng không nhẫn.

Còn nếu như chiên tranh kéo dài, tình thực đến nỗi nào thì thật không phải do thần muốn, mà thần cũng không dám nói trước rồi tình thế sẽ đi đến đâu
”. 

Muốn thay đổi cách đánh trong một ván bài mới, nhưng chưa vào cuộc thì con chủ bài của mình đã bị đối phương lật tẩy. Thang Hùng Nghiệp nghe rợn cả người nhưng vẫn giữ thái độ ôn tồn, y nói với sứ giả Hô Hổ hầu rằng: “ Nay không phải là hai nước đánh nhau sao lại hành sự toàn là một giọng giận dữ. Nói như thế, là để cầu phong vương hay muôn gây hấn can qua chăng (3)

Nhận tờ biểu của sứ thần Tây Sơn như đội một tảng đá trên đầu, nhưng không biết làm cách nào khác, cũng không dám đề đạt lên Thanh đế, từ đó Thang Hùng Nghiệp bị mất uy tín trước vua Thanh. Về sau việc giao thiệp với Tây Sơn, Càn Long giao trực tiếp cho Tổng đốc Phúc Khang An, Khang An đã thực hiện đúng ý đồ của Thanh đế.  Bề ngoài thì Càn Long tỏ ra hoà hiếu, thân thiện, phúc Khang An lại rất chu đáo, kiêng nể nhưng trong bụng thì thật khó hiểu.

Càn Long đã quan tâm, theo dõi một cách đặc biệt đến Quang Trung và tình hình nước ta. Tháng 11 năm 1789, khi nghe tin Tôn Vĩnh Thanh tâu gặp Thành Lâm sang phong vương cho Quang Trung đã về, Càn Long chỉ thị cho Tôn Vĩnh Thanh có đoạn: “Trẫm xét Thành Lâm sang Thăng Long tuyên phong tất chắc mục kích được quốc vương và phong thổ nước ấy. Trẫm muôn xét hỏi đích thân viên ấy thì được rõ ràng hơn lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh. Phải cho ngay Thành Lâm tiến kinh đô để trẫm hỏi” (4).


____________________________
(1) Hoàng Lê nhất thông chí, Sđd, tr. 190.
(2) Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 30, t. 86b, 37a. 
(3) Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 80,t. 36b, 37a. 
(4) Đại Thanh thực lục, Q. 1342, t. 17a. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #53 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 12:33:47 pm »

Năm 1789, khi Thành Lâm được cử sang Thăng Long trao sắc phong cho vua Quang Trung, Càn Long có tặng cho Quang Trung chiếc áo màu có thêu kim tuyến bảy chữ: Xa tâm chiếc trục đa điền thử. Mọi người không hiểu ý nghĩa của các đại tự trên chiếc áo mà Càn Long tặng là gì?

Đến năm 1792, Khi vua Quang Trung chết, Càn Long có làm một bài thơ tặng, trong đó có câu thứ bảy là:

Thất tự bất năng bãi ai thuật.

Có nghĩa là: “7 chữ không dứt được niềm xót xa của Trẫm”. Cũng không ai hiểu 7 chữ gì đã gây ra niềm xót xa của Càn Long? Và tại sao Càn Long cứ nhắc mãi chiếc áo?

Trong năm 1789, khi tặng áo, Càn Long có thơ trong đó có câu Phát dị Nam bang y dữ qua.  Có nghĩa là: “Mũ áo không khác gì người nước Nam”.

Rồi sau khi Quang Trung chết, năm 1792, lại có thơ tặng, cũng có câu : Thu trung thượng ức y quan túc.

Có nghĩa là: “Trong mùa thu trước, trẫm nhớ Quốc vương đã có áo mão đoan trang”.

Rồi tại sao Càn Long cứ nói với Quang Trung nhiều lần về lệ cống người vàng thời Minh lấy làm xấu hổ, chê trách, còn đối với Thanh đế chỉ cần lòng thành của Quang Trung và yêu cầu Quốc vương tiến kinh, triều cận.

Năm 1790, đoàn sứ giả vương Phạm Công Trị sang, Càn Long có tặng thơ, trong đó có câu: “Thắng triều Uống Sự bỉ kim nhân Có nghĩa là: Triều trước bắt cống người vàng là đáng khinh bỉ.

Năm 1793, sau khi được báo tin vua Quang Trung chết, cũng có tặng thơ với câu:

Hoài nghi khan tiếu đại kim nhân.

Có nghĩa là: Trẫm hoài nghi và đáng cười về việc triều trước đòi được bỏ lệ công người vàng có từ thời Minh là không đúng, từ đầu đền cuối, đây là tự ý của Càn Long .

Nhà Minh biết đau xót khi Liễu Thăng chết nên bắt nước ta phải cống người vàng để thay thế. Nhà Thanh có Hứa Thế Hanh và nhiều viên tướng cao cấp khác chết sao vua Thanh không đau xót được. Thế nhưng không những bỏ lệ cống người vàng mà còn chê nhà Minh chẳng biết điều, đáng khinh bỉ.  Giữa người vàng tiến cống và người thật tiến kinh đều là hai yêu sách bức thiết của hai triều đại Minh - Thanh sau khi xua quân đánh ta nhưng đều bị bại trận có ẩn dụ gì?

Việc Càn Long sai họa sĩ vẽ truyền thần về giả vương Quang Trung năm 1790, có ý đồ gì trong đó không? (1)

Không những nhà Thanh bãi lệ cống người vàng mà còn bỏ tiền ra tiếp đón, quà cáp, tặng biếu rất chu tất đối với các phái đoàn của ta. Phía đoàn đi chúc thọ Càn Long năm 1790, quan các tỉnh đều phản đối về việc chi phí quá đáng khi ứng tiếp với đoàn và truy việc do Phúc Khang An khơi ra nên Khang An bị Càn Long cảnh cáo.

____________________________
(1) Trong khi đó giả vương Quang Trung đã đề nghị xin một bức chân dung Càn Long lại không được thoả mãn. Trong tờ thiếp gửi cho Phúc Khang An trình lại cho Càn Long có đoạn nói: “Nay hạ thần muốn xin một bức chân dung của hoàng đế để mang về nước, kính cẩn cung phụng ở điện Kính Thiên” . 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #54 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 12:40:31 pm »

Và có lần Càn Long đã bộc lộ ý đồ của mình. Trong ngày 10 tháng 6 âm lịch (1790), Thanh đế có ra dụ gửi cho các đại thần trong đó có đoạn đáng lưu ý: “Lại tính mỗi ngày tiêu 4.000 lạng bạc, mà Nguyễn Quang Bình vừa đi vừa về mất 200 ngày thì phải chi dùng hơn 80 vạn lạng. Giá lấy số tiền ấy mà làm quân phí đem sang đánh báo thù cho bọn Hứa Thế Hanh còn hơn, Trẫm sở dĩ không dùng binh ở An Nam là vì Trẫm tiếc của và thương dân, lẽ nào Phúc Khang An lại không hiểu ý đồ của Trẫm ư” (1). 
 
Như vậy, với tâm địa nhà Thanh, việc báo thù là mục đích cuối cùng, nhưng báo thù bằng cách nào ít tốn của, dân khỏi kêu mà vẫn đạt yêu cầu thì Càn Long đã hạch toán kinh tế - xã hội như trên.  Đó là con đường hoà hiếu giữa hai nước.

Năm 1792, vua Quang Trung chết, sau một thời gian lâu người ta mới nghiệm ra. Chiếc áo bào mà Càn Long tặng Quang Trung vào năm phong vương 1789 có 7 đại tự: Xa tâm chiếc trục đa điền thử có nghĩa là chữ xa và chữ tâm ghép lại thành chữ Huệ nghĩa là Huệ gãy trục - Huệ là tên vua Quang Trung. Thử là con chuột là con vật chỉ năm Tý. Có nghĩa là: Nguyễn Huệ sẽ chết (gãy trục) vào năm 1792 (năm 1792 tức là Nhâm Tý). Thế mới biết cái linh diệu khó lường của Hoàng đế Trung Quốc.

Càn Long chỉ là người “tri thiên mệnh” giỏi hay là kẻ chủ mưu ám hại vua Quang Trung?  Cho đến nay, bí mật về cái chết của vua Quang Trung chưa được vén lên thì mọi giả thuyết đưa ra có cơ sở dù chỉ mang ý nghĩa tham khảo nhưng vẫn có ích . ‘

Cũng như về ngày chết của vua Quang Trung cũng không thể giữ bí mật lâu dài được. Vì hàng năm, thời tuần, triều đình và gia quyến tổ chức giỗ kỵ cho ông. Nhưng cũng không phải vì thế mà các tài liệu ghi lại đã thống nhất với nhau.

Nguỵ Nguyên, sử gia Trung Quốc đời Thanh viết trong cuốn “ Càn Long chinh vũ An Nam ký” (1842) ghi vào tháng 3 âm lịch năm Nhâm Tý là sat. Vì đến ngày 1 tháng 5 năm đó, vua Quang Trung còn viết chiếu gửi cho La Sơn phu tử ở Nghệ An. Đến ngày 10 tháng 7, vua Quang Trung năm thứ 5 (1792) nhà vua vẫn còn sống để ra lệnh cho dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn chuẩn bị đánh quân Nguyễn Ánh ở Gia Định.

Sách Hoàng Lê nhất thông chí ghi là tháng Tám, nhưng không ghi ngày cụ thể (2).

Sử sách dưới triều Nguyễn như Đại Nam chính biên liệt truyện và Tây Sơn thuỷ mạt thảo đều ghi là ngày 29 tháng 9 năm Nhâm Tý (3).  Triều đình Tây Sơn báo tang với nhà Thanh cùng ngày 29 tháng 9. Trong khi đó các sách Tây Sơn thực lục (4), Lê Quý Dật sử (5) ghi là ngày 30 tháng 7, Phan Huy Ích trong bài thơ Thu phụng quốc tang cảm thuật, phần nguyên dẫn của Phan có ghi là ngày 30 tháng 7 thì vua Quang Trung về chầu trời (6). 

Ngày 21 tháng 12 năm 1792, ông Longer có thư viết rằng: “Người ta đồn rằng vua đã chết vì bệnh. . . tuy nhiên cũng cần xác nhận nguồn tin đó” .  Ngày 21 tháng 12 năm 1792, ông Longer lại gửi thơ cho ông Blandin như sau: “ông La Mothe (7) cũng báo cho tôi rằng cái chết của vua Quang Trung được giữ bí mật gần hai tháng trời, bây giờ mới được công bố bởi một sắc lệnh bắt buộc toàn quốc phải chịu tang vị Hoàng đế anh minh của mình. Nhưng chúng tôi chưa biết ông mất vì bệnh gì?” (Cool. 

Như vây, ông La Mothe đã trao cho chúng ta chiết chìa khoá góp phần tìm ra mã số về ngày mất của vua Quang Trung. Ngày mất đối ngoại công bố rộng rãi và báo tang tới nhà Thanh là ngày 29 tháng 9 năm Nhâm Tý. Còn ngày mất thực sự thì trước đó gần hai tháng.

____________________________
(1) Đại Thanh thực lục, Q. 1856, t. 26a.
(1) Sđd, tập 11, tr. 208.
(3) Liệt truyện, Q. 30, t. 42b.
(4) Bản chữ Hán, chép tay, tài liệu khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nột.
(5) Bản dịch Phan Văn Thám, KHXH, HN, 1987, tr. 108. 
(6) Thơ văn Phan Huy Ích, tập II, Dụ am ngâm lục, KHXH, HN,
(7) Charle La Mothe (1751 - 1816) giáo sĩ sang Bắc Hà từ 1782 - 1793 làm phụ tá cho giám mục Longer ở địa phận Vinh. 
(Cool Tập Tonkin 692, tr. 41517
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #55 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 12:45:23 pm »

Vậy cái ngày mà Tây Sơn thực lục, Lê Quý Dật sử và Phan Huy Ích ghi: 30 tháng 7 là ngày mất thực sự của vua Quang Trung.

Lê Quý Dật sử còn ghi: Tuân theo di lệnh của vua cha, để tang ngắn ngày, 3 tháng thôi mặc áo tang, sai sứ sang báo tang cho nhà Thanh (1).  Như vậy theo lời dặn của vua Quang Trung, tang lễ chỉ cần tổ chức nhanh gọn, đơn giản, 3 tháng sau khi mất là thôi để tang, xem như việc bình thường, khi đã ổn định xong việc nước việc nhà mới sai sứ sang Trung Quốc báo tang.
 
Bởi thế ngày mồng một tháng chạp, Ngô Thì Nhậm mới ra đi từ Phú Xuân, nên đến tháng giêng năm sau Càn Long mới nhận được tin, nhưng vẫn không báo tháng 7 mà báo là ngày 29 tháng 9. Hai tháng thật hư đó là hai tháng ổn định tình hình, chuẩn bị đối phó với mọi bất trắc có thể xảy ra từ nhiều phía:

Nhà Thanh, Nguyễn Ánh và có thể là Nguyễn Nhạc nữa, như dạo bà Phạm Hoàng hậu mất, Nhạc nghe tin đồn, tưởng vua Quang Trung đã chết, liền đưa quân ra đánh chiếm Phú Xuân, sau mới biết mình bị hố nên phải rút về. Tình thế đã được lường trước nên không thể không giữ bí mật với một tinh thần cảnh giác cao.

Trong các tài liệu ghi lại thì lời ghi chú của Phan Huy Ích trong bài thơ Mùa thu cung phụng quốc tang cảm thuật là đáng tin hơn cả. Phan Huy ích vào Huế dự lễ tang của vua Quang Trung. Phan Huy Ích còn chuẩn bị hành trang cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm từ Phú Xuân đi Trung Quốc báo tang và bản thân mình cũng ra Thăng Long để đón sứ thần nhà Thanh sang làm lễ phúng điếu bên ngôi mộ giả của vua Quang Trung ở cạnh Hồ Tây.

Ngày 30 tháng 7 mà Phan Huy Ích ghi lại và cảm xúc thành thơ là ngày khó quên trong cuộc đời của Phan.  Ngày 30 tháng 7 mà Phan Huy ích chú dẫn trong bài thơ của mình, trùng hợp với ngày ghi của biên niên sự kiện trong sách Lê Quý Dật sử, của một tác giả đương thời (2) và về sau là của Tây Sơn thực lục.  Có điều là việc sử dụng lịch lúc đó không thống nhất, lịch Tây Sơn, lịch Nguyễn, lịch Trung Quốc có khác nhau đôi chút về tháng nhuận, tháng thiếu và tháng đủ.

Nếu đối chiếu với dương lịch theo cuốn Niên biểu Việt Nam thì tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) là tháng thiếu nghĩa là không có ngày 30. Ở đây chúng ta không thể nghi ngờ người như Phan Huy ích mà có thể nhầm lẫn về ngày chết của ca Quang Trung được và nhiều tài liệu khác cũng xác nhận ngày đó Nếu tháng 7 năm Nhâm Tý đó có cả ngày 30 như Phan Huy Ích đã ghi, thì ngày vua Quang Trung từ trần là ngày 16 tháng 9 năm 1792.  Nếu tháng 7 đó chỉ có 29 ngày mà thôi (do tháng thiếu) thì tính ra dương lịch là 15 tháng 9 năm 1792. Ngày mất đó của vua Quang Trung cũng được giáo sĩ Longer ghi lại.

Trong bức thư đề ngày 4 tháng 9 năm 1801, Longer gửi cho hai ông Boiret và Descourvieres đã tiết lộ như sau:

“Vous n’ignorez par que le Tyran Quang Trung père de Canh Thinh, mort le 15 Sêptmbre 1792” (3).  Dịch là: Ông đâu phải không biết rằng bạo chúa Quang Trung cha của Cảnh Thịnh mất ngày 15 tháng 9 năm 1792 (4).


____________________________-
(1) Lê Quý Dật sử, Sđd, tr. 108.
(2). Nhiều nhà nghiên cứu cho đó là của Bùi Dương Lịch.
(3) Tài liệu Archives de Misson Etrangère de Paris (AMEP) Tonkin, 693, tr. 512. Jacques Belamin Longer, sinh ở Ronen đến Nam Hà ngày 4 tháng 12 năm 1775, năm 1790 được tấn phong làm giám mục cai quản địa phận Tây Bắc Việt Nam, chết năm 1831, thọ 80 tuổi
(4) Trước đây (1946), Hoàng Xuân Hãn tính ngày mất của vua Quang Trung là giờ dạ Tý của ngày 29 tháng 7 tức ngày 19 tháng 9 năm 1972. Gần đây, Lê Thành Lân cho là vua Quang Trung mất vào ngày 16 tháng 9 là chưa chính xác, vì cho tháng 7 Nhâm Tý là tháng thiếu thì ngày 30 sẽ là ngày 1 đến 2 tháng tám, thế nhưng khi tính ra dương lịch lại bị thụt lại một ngày (?), còn lại là 15 tháng 9 năm 1792 (báo Nhân dân ngày 13 tháng 8 năm 1987).   
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #56 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 12:50:01 pm »

Như vậy, theo ông Longer, có thể là vuaQuang Trung mất vào đếm 15 rạng ngày 16 tháng 9 năm 1792 chăng? GS Hoàng Xuân Hãn cho là giờ dạ Tý? Hay Longer với một bức thư ghi đã sau 9 năm, nên ngày 15 tháng 9 là ngày kỵ của vua Quang Trung? Còn ngày mất là ngày 16 tháng 9?  Như vậy ngày Quang Trung từ trần là rạng ngày 16 tháng 9 năm 1792 là hợp lý nhất (1).

Như vậy nếu vua Quang Trung có bị ốm nặng, cũng chỉ nằm trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Tý thì mất. Chứ không thể kéo dài hàng tháng, hàng năm như cách diễn đạt của cơ quan viết sử triều Nguyễn trong cuốn Đại Nam chính biên liệt truyện (2) và không phải chết một cách đột ngột như một số giả thuyết trước đây đã đưa ra.

Vấn đề lăng mộ của vua Quang Trung ở Huế. Kẻ thù thì nhiều, nhưng cứ như cách mô tả của các sử sách triều Nguyễn thì trong những ngày trước khi lâm chung, vua Quang Trung luôn bị ám ảnh bởi sự phục thù của Nguyễn Ánh.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về việc vua Quang Trung trước khi mất đã trối trăng lại với Trần Quang Diệu và triều thần rằng: “Sau khi ta mất rồi, phải trong một tháng lo chôn cất sơ sài cho xong việc mà thôt. Các ngươi phải phò Thái tử sớm ra Vĩnh Đô đế khống chế thiên hạ. Nếu không bị quân Gia Định kéo ra, các ngươi không còn chỗ chôn đấy” (3). 

Sách Tây sơn thuật lược lại ghi: “thường ngảy Huệ hay sợ Đức Cao Hoàng Gia Long ta, lúc đau nguy cấp Huệ nói với kẻ bầy tôi rằng: Hắn sẽ phục quốc được hoặc có kẻ thưa rằng, nếu hắn ra thì bọn hạ thần xin đánh. Huệ nói: Ngươi chớ cho lời ta nói láo, nếu hôm nay ta chết, thì ngày mai hắm ắt ra, nếu mai ta chết thì ngày sau hắn ắt ra. Ngươi còn sống ngươi xem. Nói xong Huệ liền mất” (4). 

Không biết chôn ở đâu, khi báo tang với nhà Thanh thì báo là chết ở Nghệ An nhưng chôn ở gần Hồ Tây (Thăng Long). Và cố tình giấu địa điểm Phú Xuân lúc báo tang và ngay cả sau này khi sứ thần Trung Quốc là Thành Lâm sang điếu tang cũng bị Tây Sơn ngăn cản.

Sử sách nhà Nguyễn thì ghi: tháng 10 mới lo lễ an táng, mộ chôn ở phía Nam sông Hương, nhưng chỉ chôn qua loa (5).  Chắc là trong hai tháng, tước khi công bố công khai cho dân chúng và báo với nhà Thanh là thời gian chuẩn bị mọi tang lễ, chôn cất, xây đắp lăng mộ.

Việc chôn cất có lẽ cũng tuyệt đối bí mật và chắc đó là bí mật quan trọng nhất, trong tình thế đất nước vào năm 1792. Và mọi thứ trả thù tàn bạo của nhiều đối phương sau khi Quang Trung chết chắc mọi người cũng đều nhận ra.

Vậy chúng ta có thể hiểu rằng, trong vòng từ một đến hai tháng, theo di huấn của vua Quang Trung, lăng mộ của ông sẽ được chôn cất, xây đắp trong vòng bí mật nên tang lễ sẽ không linh đình và lăng mộ sẽ không quy mô, tráng lệ như thường được.

Đó là một sự thật, và biết đâu cũng có mộ giả như kiểu lập mộ ở Linh Đường để đón sứ Thanh?  Còn điện thờ, thì đó là sử dụng cung điện Đan Dương có từ trước, lúc vua Quang Trung còn sống, giờ làm nơi thờ tự, thăm viếng, hương khói sớm hôm và cũng là nơi chứa đồ nhật dụng của nhà vua. Điện Đan Dương chắc ở đâu đó gần trong khu vực thành Phú Xuân để Ngọc Hân và gia đình ở, triều thần tiện đi lại chiêm bái.

Còn lăng mộ thực sự, như sách Đại Nam chính biên liệt truyện đã xác định ở Nam Sông Hương (táng vu Hương Giang chi nam) (6), nhưng độ tin của tài liệu này cũng cần dè dặt, vì Liệt truyện ghi ngày chết, tháng chôn cất của vua Quang Trung đã không đúng rồi.

______________________________-
(1) xác định lại giờ ngày mất của vua Quang Trung, chúng tôi muốn gián tiếp trả lời với bạn đọc của Tạp chí Kiên thức ngày nay số 260 (10-10 1997), mục Chuyện đông chuyện tây do An Chi phụ trách. 
(2) Quyển 30, t. 42a - 42b.
(3) Quyển 30, t. 42b.
(4) Vô danh, Tạ Quang Phát dịch. Sử địa số 9 - 1968, tr. 165. 
(5) Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 30, t. 43a. 
(6) Q. 30, t. 43a và 55b.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #57 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 12:54:22 pm »

Nhưng chi tiết này chỉ có thể đúng: thị đông xa giá hoàn kinh, cáo miếu hiến phù, tận pháp trừng trị, quật phá Nhạc, Huệ mộ, đào khí hài cốt, vu kỳ đầu vu ngục thất, có nghĩa là: Mùa Đông (1802) xa giá Gia Long về kinh đô Phú Xuân, cáo ở tôn miếu và dâng hiến các tù binh của quân Tây Sơn, đều bị giết và trừng trị. Mộ của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bị đào phá, thi hài bị giã nát rồi đổ bỏ, nhốt sọ đầu vào ngục thất.

Sách Đại Nam thực lục chính biên cũng ghi rằng: “Phá huỷ mộ Tây Sơn Nguyễn Huệ bổ săng phơi thây, bêu đầu ở chợ. Con trai, con gái họ hàng và tướng hiệu của giặc 31 người đều bị lăng trì, cắt nát thây (1).
 
Ngày 7 tháng 11 năm Nhâm Tuất(1802), Gia Long làm lễ hiến phù ở Thái Miếu, sử quán triều Nguyễn ghi lại rằng: “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh túc trực và Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Bộ Hình áp dẫn Nguyễn Quang Toản và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành xử án lăng trì cho năm voi xé (dùng năm con voi cho buộc vào đầu, hai tay, hai phân rồi cho voi xé đó là một thứ cực hình), đem hài cốt Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vứt đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toàn và mộc chủ của vợ chồng Huệ thì đều giam ở nhà đồ ngoại” (2).

Một chứng nhân đã mục kích được toàn bộ tấn thảm kịch của triều Tây Sơn đã cung cấp tài liệu cho De la Bissaehère viết vào năm 1807. Trích đoạn như sau:

Tôi xin bắt đầu kể về các sự việc đối với vua trẻ Tây Sơn. Trước hết người ta bắt vua đó nhìn tận mắt một cảnh tượng đau lòng. Hài cốt của cha mẹ vua chết đã mười, mười hai năm nay. Cùng hài cốt của những người bà con thân cận của vua đều bị quật lên, người ta lấy các xương của Quang Trung, cha vua và các xương của mẹ vua là những người đã chết mười năm qua.. Theo tục lệ mê tín của người trong xứ, người ta đem các xương của hai vị sinh thành ra vua đem chém cổ (chém lệ dưới hình thức yểm) vừa làm sỉ nhục nhưng quan trọng nhất là làm cho các xương đó không còn sinh phúc cho con cháu. Hốt tất cả các xương đó dồn vào trong cái giỏ lớn để binh sĩ tiểu tiện vào. Xong, nguội ta nghiền ra thành bột bỏ vào một cái giỏ khác đặt trước mặt vua trẻ Tây Sơn để làm cho vua đó đau khổ.  Để tỏ ra tôn trọng ngôi vị đế vương, theo tục lệ ở trong nước đối với người sắp bị tử hình, người ta dọn cho vua một bữa tiệc khá thinh soạn.

Em vua can đảm hơn vua, thấy vua ăn thì trách nói: “Nhà mình thiếu gì mâm, cần gì phải ăn mâm mướn”. Ăn xong, người ta nhét giẻ vào miệng vua và nhiều người khác để họ khỏi chửi mắng vua mới.

Đoạn trói tay vua vào 4 con voi để cho voi xé.  Một con đã kéo nát đùi để lòi gân vua ra, nhưng vua vẫn còn quay mặt phía cái giỏ chứa xương cha mẹ vua.

Tên đao phủ dùng một con dao, dao này không có ở châu Âu, để phanh các phần còn lại ra làm bốn phần, cộng với đùi đã xé nữa là năm. Người ta đem bêu các phần đó lên đầu các cọc cao cắm ở năm chợ đông người nhất ở trong đô thành. Các cọc đó được canh giữ ngày đêm và người ta đe doạ sẽ phạt nặng nhũng ai làm mất đi. Bắt phải để như vậy cho đến lúc bị vữa thối hoặc bị quạ ăn
! (3).

Đoạn cuối của bài tế cáo của tôn miếu, Gia Long đọc: “Nhạc, Huệ trời đã giết rồi cũng đem phanh xác, tán quang để trả thù cho miếu xã, rửa hờn cho thần dân”.

Năm 1805, một người họ Lê, biệt hiệu Ôn Phủ từ Thanh Hoá vào Huế trông thấy cái củi bỏ hài cốt của vua Quang Trung đã có bài thơ Kiến Quang Trung quỷ, như sau:

___________________________
(1) Tập II, sử học Hà Nội, 1962, tr.451.
(2) Tập III, tr. 85.
(3) La Relation sur le Tonkin ét la Cochinchine de Mí De la Bissa-chère 1807 của Charles B. May bon, Champion, Paris, tr. 116 - 117.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #58 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 12:56:03 pm »

Gầm thét bao năm chuyển gió mây
Anh hùng hiếm thấy tự xưa nay
Giờ còn một khối xương cô độc
Tám thước thân rồng thảm thương thay
Mối hận nghìn thu ai có biết
Cớ sự làm sao đến nỗi này
Giữa đường đứt gánh, đời nghiêng ngả
Cơ trời ngắn ngủi, biết chăng ai?


Sau cái ngày thảm khốc, kinh hoàng vào mùa đông năm Nhâm Tuất (1802), nhân dân Huế nơm nớp lo sợ rằng bất cứ lúc nào tai ương cũng có thể xảy ra. Gia Long rồi Minh Mạng cồn tiếp tục truy bức con cháu và các tướng lĩnh Tây Sơn trên cả nước, dù họ đã lẩn trốn, mai danh ẩn tích.

Cả một thế kỷ XIX hận thù vẫn đối mặt với triều Tây Sơn, nên không một ai dám nghĩ đến việc đi tìm lăng mộ, dấu vết thời Tây Sơn. Chuyện kể về Tây Sơn cũng không còn chỗ đứng trên đất kinh đô cũ của Quang Trung.

Thế rồi bước qua thế kỷ XX, một học giả người Pháp ở Huế, là L. Cadière, lúc làm chủ bút tập san Đô thành hiếu cổ (B.A.V.H.)... năm 1928, Cadière đã công phu khảo sát 317 ngôi mộ ở vùng ngoại Ô Huế (1), ông ta dừng lại trước lăng Ba Vành với bao nỗi thắc mắc. Sự băn khoăn đó cũng không riêng gì Cadière mà bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng cần có những giải đáp thoả đáng là - tại sao giữa khu rừng âm u xa thành phố mà có một ngôi mộ lớn thế, nấm mộ bị đào, bia lại bị đục xoá?

Chính cái mất căn cứ để tìm hiểu về chủ nhân của ngôi mộ cũng như những hoài nghi về hành động “không bình thường” của người đời sau đối với lăng Ba Vành mà vị trí, quy mô của nó cũng đã nằm ngoài dự tưởng của người đi sưu khảo nên đã gây sự tò mò của nhiều người.

L. Cadière đã đi tìm một hướng giải đáp. Ông đã gửi thư cho R.Orband đương chức là Hộ lý bộ Hộ, dựa vào quyền lực của Nhà nước bảo hộ ở Huế để làm sáng tỏ một nghi vấn khoa học. Cadière đã yêu cầu làm rõ cho.

- Nhờ bộ Lễ (hay một bộ khác) hỏi gấp làng Cơ Chánh, ai đã chôn trong cái lăng gọi là Ba Vành?

- Tại sao người chôn trong cái lăng đó lại bị đào và dời đi?

- Ngôi mộ về sau chôn trong lăng là của ai?

- Vì sao bia lại bị búa đập?

Sau một cuộc điều tra nhiều ngày của các bộ phận và địa phương có liên quan, R. Orband đã viết thư trả lời Cadière và kèm theo một phúc thư của bộ Lễ có nội dung như sau: “Bộ tôi đã thư cho Thừa Thiên phủ chuyển hỏi làng Cơ Chánh, nay xã ấy khai rằng - Ngôi mộ chôn ai và con cháu thuộc xã thôn nào thì chưa được rõ, chỉ biết rằng mộ ấy là mộ xưa. Nguyên đắp ba lớp thành, tục xưng là Ba Vành, bỏ phế đã từ lâu, chỉ lưu lại một toà bia đá, tự tích bị phá huỷ. Năm Thành Thái thứ 13 (1901), lý trưởng lúc bấy gìơ là Nguyễn Bút (nay đã chết) cho Cơ mật viện thừa biện là Vũ Bá Thương nay chủ sự chính phủ đem thân nhân chôn vào lăng ấy. Bộ tôi hỏi viên chủ sự Vũ Bá Thương thì viên ấy khai rằng. Ngôi mộ Ba Vành là của chính dinh Hộ bộ kiêm Binh bộ tặng tá lý công thần đặc tấn trụ quốc kim tử Vinh lộc đại phu chánh trị thượng khanh ý Đức hầu Lê Quý Công chi mộ.

Có một người làng Đồng Di là Đinh Như Nghi, khai rằng: Năm Thành Thái thứ 7 (1895), con cháu của ngôi mộ là Lê Xuân (nay đã chết) cải táng hài cốt trong mộ đem qua chôn ở núi Ngự Bình. . .  thì bị dân làng Cơ Chánh nghiêm trách dữ dội nên Lê Xuân hoảng sợ bỏ vào ở Đà Nẵng làm nghề thợ thiết, nay đã từ trần.

_______________
(1) Tombeaux Annamite danh les Environs de Huế, B.A.V.H, 1928, số 1 tr. 1 - 99.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #59 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 01:01:06 pm »

Đinh Như Nghi đính kèm bản trích gia phả họ Lê vào hồ sơ với ba thế hệ kế tiếp, trong đó, nhân vật đời tíư ba, có tước hiệu như sau. Con của Tham Nghị, Chánh dinh Hộ bộ kiêm Binh bộ tặng tá lý công thần đặc tấn trụ quốc kim tử Vinh lộc đại phu chính trị thượng khanh Ý Đức hầu Lê Quốc Công mộ gọi là Ba Vành ở làng Cơ Chánh.  Kết quả của bản phúc trình đó, vẫn không đánh tan được mối hoài nghi của Cadière về chủ nhân của lăng Ba Vành ở làng Cơ Chánh.

Năm 1941, Cadière lại gợi ý cho Nguyễn Thiệu Lâu, giáo viên dạy môn Sử địa tại trường Quốc Học Huế đi tìm lăng mộ vua Quang Trung, sau một thời gian tìm kiếm, Nguyễn Thiệu Lâu đã phát hiện một ngôi mộ kỳ lạ, khá lớn, nằm giữa rừng, cấu trúc đặc biệt, bia bị đục, nấm mộ bị đào, quá xúc động ông đã khẳng định “đây là mộ của Hoàng đế Quang Trung” (1).

Một sự khẳng định như vậy đã gây chấn động và nghi ngờ của nhiều người trong đó có Bửu Kế, một học giả quen thuộc của xứ Huế. Bửu Kế đã cẩn thận lật lại hồ sơ Ba Vành của Cadière lưu trữ tại tu viện Thiên An.

Sau khi nghiên cứu phúc thư của bộ Lễ và các lời khai cùng các văn bản kèm theo, thấy có lý, Bửu Kế đã đi đến kết luận lăng Ba Vành là của “Trụ quốc kim tử Vĩnh Lộc đời thứ 3 trong gia phả của Lê Xuân chứ không phải là của vua Quang Trung như nhiều ngươi đã nhầm tưởng” (2).

Cho đến năm 1974, vụ lăng Ba Vành lại rộ lên trong giới báo chí ở Gài Gòn và những người ở Huế có quan tâm. Nhiều nhật báo ở Sài Gòn trong tháng 4 năm 1974 được Bản tin số 28 của Chi hội Thanh Thương hội tại Huế tổng kết một năm công tác văn hoá giáo dục như sau:

“Ngày 29 tháng 4 năm 1974, có một phái đoàn Thanh Thương hội và thân hữu dùng trực thăng đến Lăng Ba Vành, trong phái đoàn có các ông Lê Văn Hoàng, Lê Đình Cai là giáo sư Viện Đại học Huế.  Sau đó, ông Lê Văn Hoàng viết bài “Nói về lăng Ba Vành” trong tập san Đại chúng.

Trong bài viết của mình, Lê Văn Hoàng đã sử dụng cả ký ức của thời trai trẻ, vào năm 1940, lúc còn làm văn phòng đáng lý Ngự tiền thời Bảo Đại, ông tình cờ tìm được một tập hồ sơ về việc Cadière gửi cho Orband, bản chính của tờ khai của Đinh Như Nghi và bản trích gia phả họ Lê đính kèm, cùng tờ khai của việc cải táng lăng mộ vào năm Ất Tỵ (1905).  Các chi tiết Lê Văn Hoàng đưa ra về cơ bản giống hồ sơ lăng Ba Vành lưu trữ ở Thiên An và Bửu Kế đã sưu tầm và công bố, chỉ có khác là năm ngôi mộ cải táng là 1905, trong khi hồ sơ ở Thiên An là 1895 (3).

Căn cứ vào hồ sơ của lăng Ba Vành mà Lê Văn Hoàng có điều kiện trực tiếp tìm hiểu từ năm 1940 cùng việc khảo sát do Thanh Thương hội tổ chức. Lê Văn Hoàng đã đi đến kết luận dứt khoát “Ngôi mộ Ba Vành chắc chắn không phải là mộ Quang Trung” (4).

Mặc dù có nguồn tài liệu đáng tin cậy như sự quả quyết của Lê Văn Hoàng đã làm không ít người bằng lòng. Họ cảm thấy thất vọng trước một lòng tin bị sụp đổ, ngay cả những người trong Thanh Thương hội có trực tiếp đến lăng Ba Vành với Lê Văn Hoàng trong ngày 24 tháng 3 năm 1974.

__________________________-
(1) Bách khoa số 99 ngày 15 tháng 2 năm 1961 và Quốc sử tạp lục, tr. 438.
(2) Bách khoa số 102 ngày 1 tháng 4 năm 1961 và Nguyễn triều cố sự (bản thảo đánh máy). 
(3) Thật ra còn có sự khác biệt giữa hai hồ sơ lưu trữ về những câu hỏi do Cadiêre đặt ra và phúc thơ trả lời của bộ Lễ, nhưng có thể do cách hành văn, lời dịch hoặc do một ký ức tiếp cận của sự chính xác mà thôi.
(4) Gần đây, ngày 15 tháng 3 năm 1988 cụ Lê Văn Hoàng cung cấp cho độc giả báo Bình Trị Thiên về “Quang Trung mộ hồi ký”.  Cụ Lê Văn Hoàng cho biết, năm 1937 theo chỉ thị của Phạm Quỳnh, cụ đã di sưu khảo tài liệu của lăng Ba Vành, thì một hôm, không rõ ai sắp đặt trước, có lý trưởng làng Cơ Chánh đem thầy cò Đinh Như Nghi đến tại phòng làm việc của cụ ... có mang theo bản gia phả họ Lê ở làng Đồng Di, cuộc đôi chất giữa cụ Hoàng và khách, lắm lúc “khách” tỏ ra bôi rôl vì những lập luận không vững của mình. Cụ Hoàng cho đó là ý đồ của Pháp và Chính phủ Nam triều, biết thế nhưng sợ liên luỵ đành làm ngơ (bài Xung quanh vấn đề lăng Ba Vành về bộ hồ sơ giả ... của Trần Viết Điền... Báo Bình Trị Thiên ngày 21 tháng 5 nam 1988).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM