Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:26:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung  (Đọc 113276 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #60 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 01:04:27 pm »

Trong một bài báo của Thanh Thương hội Huế năm 1974 đã có quan điểm trái ngược với Lê Văn Hoàng, cho lăng Ba Vành là mộ của Quang Trung. Vì các lý do sau:

- Không nên tin vào lời khai của lý trưởng làng Cơ Chánh.

- Bản gia phả do Đinh Như Nghi đính kèm theo có thể là giả mạo.

- Theo quan niệm á Đông, không ai chôn trồng lên mộ người khác trừ khi không biết chỗ mình chôn là đã có mộ, một đại thần chôn nhờ mộ người khác mà chỉ giả tạo cái bia là khó tưởng tượng lắm. 

- Nếu dời mộ thì phải đào lên hết để tìm từng đốt xương, nhưng đằng này mộ Ba Vành chỉ mới đào ¼, còn ¾ còn nguyên vẹn, nên có thể suy đoán rằng người ta chỉ muốn lấy thô sơ xác người để phá thôi. 

- Ở tấm bia lớn, những chữ bị xoá, thay vào đó là những chữ mới, màu sơn còn đẹp lắm. Như vậy, có muốn phá bia để xoá sự thật, khó tưởng tượng được một đại thần mà làm chuyện đó.

- Ở bia nhỏ, có ghi “Sơn nhạc chung linh” nghĩa là: Khí sông núi hun đúc thành linh thiêng, chỉ có một “ông trời” mới dám đề như vậy. Một ông đại thần đâu dám khi quân đến thế. 

- Cổng lăng bị hỏng và một tảng đá Thanh đã bị lấy đi (dùng làm lăng khác của nhà Nguyễn) tảng đá to đến nỗi phải dùng voi để chở, thì trước đây ai dám chở viên đá hàng tấn ấy.

- Thường thì mộ người Việt Nam ít hướng về Bắc. Mộ Ba Vành lại có hướng phù hợp với hoài bão của vua Quang Trung là giành lại đất Lưỡng Quảng cho Việt Nam.

- Trong buổi tọa đàm ngày 21 tháng 6 năm 1977 học giả Phan Văn Dật cho hay, thời còn rất nhỏ, ông cùng bạn bè Trần Thanh Mại, Trần Thanh Địch, Trần Quang Long có đến lăng, ông đọc được chữ Hán và phần lăng có ghi “Hạ mã” (sau này không còn nữa) (1).

Vì những lý do trên nên chúng ta thêm tin rằng lăng Ba Vành là mộ của vua Quang Trung” (2)
 
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), công việc tìm kiếm lăng mộ Quang Trung đã lôi cuốn nhiều cơ quan, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều trường Đại học ở Huế và Hà Nội. Trong đó, vấn đề chủ nhân của lăng Ba Vành vẫn là nguồn khơi của nhiều cuộc tìm kiếm tranh luận sôi nổt. 

Hơn mười năm qua, hai xu hướng kết luận về chủ nhân của lăng Ba Vành là của vua Quang Trung hay của Lê Quang Đại vẫn tồn tại trong giới nghiên cứu ở Huế và cũng tạo ra nhiều băn khoăn, thắc mắc cho người đọc, người nghe.

Với một tâm Huế nồng nàn đối với vua Quang Trung và quê hương thành phố Huế, cùng với sự nỗ lực và sức kiên trì cả chục năm, cụ Nguyễn Hữu Đính, nguyên là Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Huế có xây dựng công trình khảo cứu “lăng vua Quang Trung ở đâu?”.

Bộ sưu tập về lăng Ba Vành công phu này hoàn thành trong dịp 200 năm Nguyễn Huệ giải phóng Phú Xuân (1986).  Bản chính cụ đã gửi cho Viện Sử học Hà Nội và cơ quan lãnh đạo cao nhất của tỉnh Bình Trị Thiên.  Cụ chỉ đọc một tham luận ngắn “Một phương pháp để khám phá lăng Ba Vành ở làng Cơ Chánh, Huế là của ai? Của Ý Đức hầu Lê Quang Đại hay của Quang Trung, Nguyễn Huệ” trong hội nghị khoa học tại Huế về “Nguyễn Huệ giải phóng Phú Xuân, thống nhất đất nước” tháng 6 năm 1986.


_____________________
(1) Trước đây, có lần tôi đã gặp cụ Phan Văn Dật để kiểm tra lại “sự nhớ” của cụ về tấm bảng “Hạ mã” ở lăng Ba Vành, cụ Dật đã không nhận chi tiết đó mà cụ đã hướng tôi đi tìm ở một vị trí khác.
(2) Bài không ký tên tác giả, nhưng có lẽ do luật sư Nguyễn Hữu Thứ viết, Nguyễn Hữu Thứ là chủ bút của Bản tin số 28.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #61 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 01:05:30 pm »

Theo cụ Nguyễn Hữu Đính thì chủ nhân của lăng Ba Vành có thể tiếp cận được với lăng của vua Quang Trung với những lý do sau đây:

1. Đối chiếu các lăng, đặc biệt là lăng chúa Nguyễn Phúc Chu mà Ý Đức hầu từng phục vụ, lăng quốc sư Tuấn Đức hầu mà Ý Đức hầu gọi bằng ông nội và ngay cả lăng Gia Long, thì lăng Ba Vành có quy mô lớn hơn về kích thước, đây là điều tối kỵ trong thời phong kiến.

2. Sự kiện Lê Xuân dời mộ Ý Đức hầu theo lời khai của Đinh Như Nghi có những chi tiết không bình thường như con cháu dời mộ mà chỉ đục phá một phần để lôi xác ra, lại đục xoá tên tuổi tổ tiên khắc trên bia mộ, và tại sao dời mộ gia đình mình mà dân làng Cơ Chánh, một nơi không quan hệ thân thuộc lại bị “nghiêm trách dữ dội” đến nỗi sợ mà phải bỏ làng trốn vào Đà Nẵng rồi chết ở đó.  Trong lúc họ Lê Quang ở làng Đồng Di lại không phản ứng gì? và chỉ sau 6 năm “phản ứng dữ dội” (1895-1901) mà dân làng Cơ Chánh lại không biết lăng Ba Vành là của ai? Thân nhân ở đâu, lý trưởng lại cho người khác đưa thân nhân vào chôn trong làng là phi lý.

3. Họ Lê Quang đã mất gia phả từ lâu, con cháu Ý Đức hầu không còn gia phả, chỉ còn hương phả của làng Đồng Di chép về Tuấn Đức hầu, Hiến Đức hầu, Ý Đức hầu. Dòng họ chỉ biết mộ của Tuấn Đức hầu ở Lương Văn, còn hai mộ còn lại không rõ. Trong họ không ai biết có chuyện Lê Xuân cải táng mộ ý Đức hầu?

4. Còn bia mộ có niên hiệu “Cảnh Hưng thất niên tứ nguyệt. . .” có thể khắc tên một vị quan đã mất từ trước để nguỵ trang ngôi mộ Nguyễn Huệ.  Bia “Sơn Nhạc chung linh” gợi lên hình ảnh triều Tây Sơn.

Quy mô lăng tương đối lớn nhưng trang trí đơn giản, phù hợp với lời dặn của vua Quang Trung trước khi chết.

5. Nếu Gia Long đã phá sạch lăng Quang Trung ở nơi nào khác thì cũng không thể thủ tiêu hoàn toàn dấu vết đã tàn phá, chắc chắn ở vùng Nam Sông Hương còn tồn tại một khu vực gạch đá lớn, thậm chí còn có dấu tích móng thành. Và như thế thì lăng Ba Vành trở thành một “lăng vua thừa” là điều phi lý.

Từ những chi tiết đáng ngờ nói trên, cụ Nguyễn Hữu Đính còn dựa vào quan niệm phong thủy và quan niệm chọn sính phần của vua chúa Việt Nam, cụ đã kết luận “Lăng Ba Vành chỉ có thể là lăng Quang Trung được triều Tây Sơn nguỵ trang để phòng nguy cơ Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, tàn phá lăng mộ Nguyễn Huệ”.

Công trình của cụ Nguyễn Hữu Đính không có điều kiện để công bố rộng rãi toàn văn nhưng cũng đã làm nhiều người chú ý, nhất là trong giới nghiên cứu Cụ đã nhiều lần trao đổi với tôi về những chi tiết mà cụ đã khám phá một cách thú vị ở lăng Ba Vành, chúng tôi không dám làm cụ thất vọng một cách đột ngột, đó cũng là tâm lý của Trương Thị Cúc và Nguyễn Xuân Hoa khi viết bài lăng Ba Vành trong mục ABZ về di tích lịch sử và văn hoá Huế ở Tạp chí Sông Hương (số 24, năm 1987).

Tuy thế, cụ Nguyễn Hữu Đính nhận ra là con đường cụ đi từ lăng Ba Vành đến mộ Quang Trung tuy ngắn ngủi nhưng thật vất vả và lẻ loi. Nếu được mọi người chấp nhận thì phải mất nhiều thời gian và công sức. Điều đó không hoàn toàn cho phép ở điều kiện và tuổi tác của cụ hiện nay nên cụ dừng lại và tự cảm nhận là mình đã làm một việc thật xứng đáng ở đời?

Thế rồi nhiều người không ngờ, kể cả cụ Nguyễn Hữu Đính, chỉ sau một năm, từ tháng 11 năm 1987, ở Huế đã rộ lên “Sự kiện lăng Ba Vành và vấn đề lăng mộ Quang Trung” do Trần Viết Điền, cán bộ giảng dạy khoa Vật lý trường Đại học Sơ phạm Huế làm tác nhân chính.

Trần Viết Điền đã đi sâu về nguyên lý dịch học và phong thuỷ, khai thác triệt để những chi tiết “có lý” về lăng mộ Quang Trung trong các bài thơ của Ngô Thì Nhậm và Phan Huy ích để xây dựng “bản thiết kế lăng Quang Trung qua thơ tịch cổ”.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #62 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 01:10:36 pm »

Theo tác giả, về cơ bản thiết kế đó phù hợp với cảnh quan lăng Ba Vành hiện nay ở làng Cơ Chánh.  Vấn đề còn lại là tấm bia có khắc các chữ “Cảnh Hưng thất niên tứ nguyệt”, theo tác giả thì dòng chữ trên bia bị đục xoá và sửa chữa ấy là “Cảnh Thịnh nguyên niên tứ nguyệt cát nhật tạo”. (1)
 
Kể từ ngày bắt đầu triển khai nghiên cứu về lăng Ba Vành, anh Trần Viết Điền thường xuyên đến trao đổi với tôt. Tôi ủng hộ anh về những chi tiết đáng ngờ mà anh đã tìm thấy trong hồ sơ lăng Ba Vành của Cadière để lại, được Bửu Kế giới thiệu trên Bách khoa vào năm 1961 là:

Tại sao Cadière không công bố về lăng Ba Vành, phải chăng sự im lặng của Cadière là một cách đánh giá mức độ tin cậy không cao về những chi tiết đã nêu trong phúc thơ của bộ Lễ? Tại sai Cadière không tiếp tục nghiên cứu mà gợi ý cho Nguyễn Thiệu Lâu? Tại sao bộ Lễ không yêu cầu chính tộc trưởng họ Lê Quang ở làng Đồng Di trực tiếp khai gia phả mà là theo lời khai của một người như Đinh Như Nghi? Tại sao có tên Nôm “Ba Vành trong bản gia phả một cách chính thức’?

Tôi quý mến anh Trần Viết Điền vì hiếm thấy có một con người nhiệt thành, có một cảm xúc mãnh liệt với vua Quang Trung như anh. Nhưng tôi không tán thành phương pháp nghiên cứu và những kết quả công bố vội vàng của anh.

Anh đã tổ chức diễn thuyết hàng chục buổi kể cả cơ quan cao nhất của lãnh đạo tỉnh Bình Trị Thiên đến một câu lạc bộ thanh niên ở trong thành phố, anh viết bài cho báo Bình Trị Thiên, Tin Huế và Tạp chí Sông Hương.

Mỗi lần công bố là một lần tự phủ định mình và có sự rút lui cần thiết. Từ việc khẳng định lăng Ba Vành là của Quang Trung, nhưng đến khi viết thì cho đó là một giả thuyết “lăng Ba Vành có phải là lăng Quang Trung, Nguyễn Huệ” (2).

Rồi “Chưa thể xếp lại hồ sơ về lăng Ba Vành” (3) gần đây là “lời giải của phương trình nửa thế kỷ: “Lăng Ba Vành” (4)

Trong bài này tác giả giới thiệu:

Bản thiết kế mô hình lăng Đan Dương trong sách vở chính là lăng Ba Vành trên thực địa hiện nay. Điều đáng chú ý là tác giả đã tìm ra được mộ Lê Quang Đại ở làng Xuân Hoà, xã Hương Long, thành phố Huế, người khai canh ra làng Xuân Hoà từ thế kỷ XVIII còn lăng Ba Vành chưa có chủ nhân.  Như vậy vô hình trung, tác giả dẫn dắt người ta phải suy nghĩ - lăng Lê Quang Đại đã tìm được ở làng Xuân Hoà rồi thì ai là chủ nhân của lăng Ba Vành? Trong khi đó bản thiết kế về lăng Đan Dương mà tác giả mô hình hoá về căn bản giống lăng Ba Vành hiện nay?

Phải nói là, trong những năm đầu sau ngày miền Nam được giải phóng, giáo sư Phan Huy Lê là người có những tác động mạnh mẽ đối với việc nghiên cứu các di tích thời Tây Sơn ở Huế, trong đó có vấn đề lăng mộ vua Quang Trung. Một thông báo ngắn trong hội nghị Khảo cổ học năm 1977 đã thể hiện một cách nhìn khoa học đối với lăng Quang Trung như sau:

“Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy di tích quan trọng đó, nhưng kết quả khảo sát công phu, cho phép khẳng định rằng lăng Ba Vành ở làng Cơ Chánh không phải là lăng của Quang Trung, đó là lăng của một viên quan chúa Nguyễn, họ Lê, tước hiệu Ý Đức hầu chôn vào năm 1746 với tấm bia bị đục nhưng còn có thể đọc được niên hiệu “Cảnh Hưng thất niên tứ nguyệt” (5).

_________________
(1) Báo Bình Trị Thiên, ngày 4 tháng 12 năm 1987.
(2) Báo Bình Trị Thiên, số 1862, ngày 4 tháng 12 năm 1987.
(3) Tin Huế số 48, tháng 1 năm 1988.
(4) Sông Hương, số 30 tháng 3 và 4 năm 1988 và gần đây là bài Xung quanh vấn đề lăng Ba Vành về bộ "Hồ sơgiả". Báo Bình Trị Thiên số 1430, ngày 21 tháng 5 năm 1988.
(5) Phan Huy Lê. Một số di tích Tây Sơn tại các tỉnh phía Nam. Những phát hiện mới. Khảo cổ học năm 1977, tr. 226. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #63 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 01:15:07 pm »

Nhân dịp kỉ niệm 190 năm ngày mất của vua Quang Trung, chúng tôi đã thông báo kết quả nghiên cứu của mình về lăng mộ Quang Trung ở Huế.  Căn cứ kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, đọc được các tài liệu của sử quán triều Nguyễn kết hợp với việc khảo sát lăng Ba Vành và các địa phương có liên quan, chúng tôi đã đi đến kết luận chủ nhân của lăng Ba Vành là của Ý Đức hầu Lê Quang Đại, làm quan Hộ bộ kiêm Binh bộ dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát, chết vào đầu năm 1746 (1).

Đầu năm 1984, Bảo tàng Bình Trị Thiên đã tổ chức hội thảo khoa học về “Sự nghiệp vua Quang Trung trên đất Bình Trị Thiên”. Trong hội thảo này, anh Phan Thuận An đã có một tham luận về lăng Ba Vành và mộ Quang Trung ở Huế, sau đó được in trong cuốn Nguyễn Huệ - Phú Xuân. 

Sau khi mô tả lăng Ba Vành và giới thiệu sơ lược tình hình nghiên cứu về lăng Ba Vành trước đó; anh Phan Thuận An đã chú ý đến “tận pháp trừng trị” mà Gia Long cho “quật phá” mộ Quang Trung thì chắc chắn không còn để lại một cách tương đối nguyên vẹn như lăng Ba Vành ngày nay và nhất là dòng chứ tuy đã bị đục xoá nhưng vẫn đọc được Cảnh Hưng thất niên tứ nguyệt nghĩa là chết vào năm 1746.

Dựa vào các sử sách của triều Nguyễn có nhân vật Lê Quang Đại giữ chức bộ Hộ kiêm Binh bộ chết vào tháng 12 năm Ất Sửu, tặng chính trị thương khanh, thuỵ Trung Thành khớp với bản gia phả họ Lê ở làng Đồng Di do Đinh Như Nghi khai, kèm trong hồ sơ của lăng Ba Vành ở tu viện Thiên An mà Bửu Kế đã công bố năm 1961 “Chánh dinh Hộ bộ kiêm Binh bộ tặng Tá lý công thần đặc tấn trụ quốc kim tử Vĩnh lộc đại phu chánh trị Thượng khanh Ý Đức hầu Lê Quý Công đời thứ 3, mộ gọi là Ba Vành tại làng Cơ Chánh chắc hẳn là ông Lê Quang Đại” (2).
 

Nguyễn Đắc Xuân không tin lăng Ba Vành là của vua Quang Trung, hướng đi tìm lăng Quang Trung vẫn còn mờ mịt, nhưng nay thay tác giả đã tìm được một tín hiệu về chiếc “lăng đỏ”, lăng Đan Dương mà Ngô Thì Nhậm đã ghi chú rõ là “Sơn lăng phụng chứa bảo y của Tiên hoàng ta (3) ; dành một khổ giấy không nhiều, tác giả đã làm rõ tên gọi Đan Dương và dẫn thêm một số tài liệu có liên quan. Cuối cùng Nguyễn Đắc Xuân kết luận “Bước đầu ta có thể kết luận Điện Đan Dương là cung điện được làm dưới thời Quang Trung, sau đó trở thành Đan Lăng là lăng mộ của vua Quang Trung còn địa điểm tọa lạc ở đâu phải tiếp tục đi tìm” (4). 

Thông báo của Nguyễn Đắc Xuân trong hội nghị Bảo tồn di tích tích sử và văn hoá Bình Trị Thiên tháng 1 năm 1985 về Đan Lăng đã gây được sự chú ý của nhiều người. Chúng tôi cho đó là một khả năng mới để cùng nhau tìm kiếm lưu vết của lăng mộ vua Quang Trung trên đất Huế”. (5).
 
Như vậy, chung quanh vấn đề chủ nhân của lăng Ba Vành cho đến nay vẫn còn tồn tại hai ý kiến khác nhau.

Một số nhà nghiên cứu chuyên nghiệp thì cho đó là lăng của Lê Quang Đại, một viên quan cao cấp của thời chúa Nguyễn.

Một số người khác thì cho đó là mộ của vua Quang Trung.

Ở đây; chúng tôi muốn trở lại vấn đề chủ nhân của lăng Ba Vành với kết quả nghiên cứu mới.

____________
(1) Đỗ Bang: Lăng Quang Trung một ẩn số lịch sử, Báo Dân ngày 17 1982; Nửa thế kỷ tìm lăng Quang Trung. Những phát hiện khảo cổ học năm 1982, tr. 258, 260; Vấn đề lăng Quang Trung ở Huế, tạp chí Tổ quốc số 9 năm 1982.
(2) Nguyễn Huệ - Phú Xuân, Thuận Hoá, 1984, tr. 159 - 163.
(3) Thơ văn của Ngô Thời Nhậm, tập I, Hà Nội, tr. 338. 
(4) Nguyễn Đắc Xuân: Một vài di tích có liên quan thời Quang Trung ở Huế.
(5) Đỗ Bang: Những dấu tích thời Tây Sơn - mười năm khảo tìm và suy nghĩ, tập san Văn hoá Bình Trị Thiên, số 4, năm 1986, tr.3.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #64 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 05:51:38 pm »

1. Lê Quang Đại không phải là người khai canh ra làng Xuân Hoà, xã Hương Long, thành phố Huế vào thế kỷ XVIII.

Anh Trần Viết Điền đã chứng minh Lê Quang Đại không phải là chủ nhân của lăng Ba Vành, mà lăng của Lê Quang Đại đã tìm được ở làng Xuân Hoà. Lê Quang Đại là người khai canh ra làng đó. 

Sở dĩ có kết luận như vậy vì hiện nay ở làng Xuân Hoà có miếu thờ khai canh, lăng mộ và sắc phong của một nhân vật có tước hiệu như sau “khai canh Hộ bộ Binh Thượng thơ hành hạ Thuận Hoá, Quảng Nam đẳng xứ Lê Quý Công - thần hiệu Dực bảo trung Hưng linh phò tôn thần”.

Tác giả của bài báo trên thấy rằng người mang họ Lê có chức vụ “Hộ bộ kiêm Binh bộ Thượng thư” đúng như nhân vật Lê Quang Đại mà sử sách triều Nguyễn đã ghi và người ta thừa nhận đó là chủ nhân của lăng Ba Vành ở làng Cơ Chánh.

Trong sách Ô châu cận lục, Dương Văn An viết năm 1553 thì trước đây làng Xuân Hoà đã có tên là Hà Khê rồi, trong sách Ô châu cận lục, có ghi về nhân vật Lê Văn như sau; “Ông người Hà Khê, huyện Kim Trà, khi Lê Thánh Tông chưa làm vua, ông là bạn đồng học. Một hôm Thánh Tông phê đùa vào quyển vở thi của ông dòng chữ sau: “Định hôm nay cất Lê Văn làm thượng thư”. Văn đem quyển ấy về cất đi. Khi Thánh Tông làm vua, ông đem quyển ấy dâng lên, liền được chức ấy (1).
 
Trong sách Đại Việt sử ký toàn thơ có ghi hai chi tiết về Lê Văn với các chức vụ sau:

- Năm Mậu Thìn (1448) giữ chức Tham tri nội mật viện.

- Năm Đinh Hợi 1467 giữ chức Điện tiền tướng quân.

Vậy Lê Văn trong Đại Việt sử ký toàn thư và Lê Văn trong Ô châu cận lục là một nhân vật sống dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460- 1497).  Chúng tôi cũng tìm được bài thơ của vua Lê Thánh Tông có nhan đề: Đăng Long Đại Sơn đề Sùng thiện Diên Linh bảo tháp bi hậu do Lê Văn chép vào năm Quang Thuận thứ 8 (1467).

Nhưng điều làm nhiều người thắc mắc đó là tại sao Lê Văn người làng Hà Khê tức làng Xuân Hoà, thành phố Huế hiện nay là con nhà thế nào mà được học chung với vua Lê Thánh Tông và trở thành bạn thân, về sau được làm Thượng thư? 

May mắn, vào năm 1985, trong khi đi khảo sát một số làng xã ở Quảng Trị, Thừa Thiên, chúng tôi về làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong và được biết làng Bích Khê có chung nguồn gốc với làng Hà Khê (Huê) và tìm được tập gia phả Lê Đại Tông tộc phổ, căn cứ vào bài tựa, cho biết - họ Lê này gốc ở Lam Sơn (Thanh Hoá) đồng tộc với Lê Lợi, người mở đầu cơ nghiệp nhà Lê.

Đời thứ 5 của bản gia phả có ghi về nhân vật Lê Văn như sau: “Lê Văn con thứ của ngài Thuận Thành hầu Lê Thức, sinh vào mùa xuân năm Bính Ngọ (1426) tại Thuận Thành, bạn học của vua Lê Thánh Tông, ngài tự Thanh Lưu, hiệu Thuỵ Khuê.  Vua Lê Thánh Tông phong chức Hộ bộ Thượng thư kiêm Binh bộ hành hạ Thuận Hoá, Quảng Nam đẳng xứ khai canh lập làng Hà Khê, có sắc phong “Bổn thổ khai canh Dục bảo Trung Hưng linh phò tôn thần”. Mất ngày 26 tháng 9 năm Ất Mùi (1505), thọ 79 tuổi, có miếu và lăng ở Hà Khê. Cẩn án.

Theo Lê Triều Ngọc phổ ngài Lê Văn là chú đồng đường của vua Lê Thánh Tông.  Như vậy, các di tích và tước hiệu của vị khai canh làng Hà Khê trước đây, tức làng Xuân Hoà hiện nay là làng của Lê Văn từ thế kỷ XV chứ không phải của Lê Quang Đại vào thế. kỷ XVIII như Trần Viết Điền đã nhầm tưởng.


______________________
(1) Bản dịch của Bùi Lương, Sài Gòn, 1962, tr.87.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #65 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 05:52:49 pm »

2. Có tìm thấy nhân vật Ý Đức hầu giữ chức Chính dinh bộ Hộ kiêm Binh bộ ở làng Đồng Di, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang.

Thật ra, hồ sơ lăng Ba Vành của Cadière lưu trữ ở tu viện Thiên An, được cụ Bửu Kế sưu tầm và công bố vào năm 1961 có nhiều điều đáng ngờ là ngay cả phúc thư của bộ Lễ và nhất là lời khai của Đinh Như Nghi và bản trích gia phả họ Lê Quang ở làng Đồng Di đính kèm.

Sở dĩ có sự đáng ngờ và thiếu chính xác nói trên là do phương pháp tiếp cận chân lý chưa khoa học lắm. Hơn nữa, một vấn đề vốn có từ lâu nhưng lại mới bắt đầu sưu khảo theo yêu cầu của nhà nước bảo hộ nên không những tài liệu đã mai một mà còn xen lẫn động cơ không trong sáng và thiếu tinh thần trách nhiệm của người thực hiện. 

Trước những nghi vấn khoa học nói trên, buộc tôi phải trở lại vấn đề này, trở lại từ thời điểm năm 1977, khi chúng tôi bắt tay vào việc khảo sát lăng mộ vua Quang Trung.

Trong hồ sơ khoa học “Về vấn đề lăng Quang Trung ở Huế” được lưu trữ tại phòng tư liệu khoa lịch sử của trường Đại học Khoa học Huế, có các phúc trình của Phan Đăng và Dương Đình Khôi, trong đó đáng chú ý là bản phúc trình ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Phan Đăng là đáng chú ý. 

Phan Đăng cho biết: Chiều ngày 10 tháng 5 năm 1977, đoàn nghiên cứu đã đến khảo sát ở làng Đồng Di, gặp cụ Lê Quang Thức tộc trưởng họ Lê, được xem bản “Hương phổ” của làng và một tờ “sắc phong” cho Tuấn Đức hầu. Bản Hương phổ mang tên “Đồng Di xã Hương Phổ” lập ngày 13 tháng 10 năm Kỷ Dậu, trong đó có ghi:

Đệ nhất khai canh: họ Phạm Quang

Đệ nhị khai canh: họ Lê Quang

Đệ tam khai canh: họ Dương Quang. .

Riêng phần họ Lê Quang được chép như sau:

Đời thứ nhất: Chính dinh ký tục tặng Đại lý tự khanh tham khánh Tuấn Đức hầu gia tặng thị giảng quốc sư Đoan túc dực bảo trung Hưng Tuấn Đức hầu Lê Quý Công muội huý, mộ táng ở Dương Xuân. 

Đời thứ hai: Chính dinh tham nghị tặng Đôn Hậu công thần, đặc tấn trụ quốc kim tử Vinh Lộc đại phu, đại lý tự khanh Hiến Đức hầu Lê Quý Công, muội huý (con nuôi của Tuấn Đức hầu, mộ táng ở Lương Văn) .

Đời thứ ba: Chính dinh Hộ bộ kiêm Binh bộ tặng tá lý công thần đặc tấn trụ quốc kim tử Vinh Lộc đại phu chính trị thượng khanh, Ý Đức hầu, Lê Quý Công, muội huý.  Ý Đức hầu có con là Bình Thuận dinh cai bộ Khánh tuy hầu Lê Quý Công.

Như vậy, căn cứ vào bản Hương phổ này, thì bản sao gia phả họ Lê do Đinh Như Nghi đính kèm ở hồ sơ lăng Ba Vành về cơ bản là giống, chỉ có mộ táng của 3 vị trên là khác với bản Hương phổ mà làng Đồng Di lưu giữ.

Mộ Tuấn Đức hầu ghi táng ở Lương Văn.

Mộ Hiến Đức hầu  ghi táng ở Cự Sĩ .

Mộ ý Đức hầu thì ghi thêm “mộ gọi là Ba Vành ở tại làng Cơ Chánh”. Thêm chi tiết đó, không rõ Đinh Như Nghi có tìm được gia phả nào của họ Lê mới tu soạn lại sau này không?

Theo các cụ Lê Quang Đẩu, Lê Quang Kham thì cách đây trên 80 năm, gia phả của họ Lê bị cháy trong một vụ hoả hoạn. Hiện còn một nhánh về cơ ngụ ở làng Bàng Môn xã Lộc An huyện Phú Lộc. Cuộc điều tra của nhóm nghiên cứu lăng Ba Vành của trường Đại học Tổng hợp Huế lúc đó về Bàng Môn sau đó cũng không mang lại một kết quả khả quan, ngoài một bản gia phả như đã từng gặp ở Đồng Di. . .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #66 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 05:56:44 pm »

Dù các gạch nối giữa nhân vật họ Lê có tước ý Đức hầu ở làng Đồng Di với lăng Ba Vành như trong bản sao của. Đinh Như Nghi “mộ gọi là Ba Vành” ở làng Cơ Chánh, chẳng hạn như cụ Nguyễn Ngạn, nguyên lý trưởng của làng Cơ Chánh cho biết thời Pháp thuộc, hàng năm thường bắt cụ lên khai chủ nhân của lăng Ba Vành có phải Phan Bá Vành không?

Cụ Ngạn xác định đó là lăng của Ba Thiềng (Thành) chứ không phải của Phan Bá Vành.  Và cũng chính vì sự thúc bách, ứng phó với quan trên hàng năm như vậy nên cụ Ngạn phải đi tìm hiểu chủ nhân của lăng Ba Vành.

Theo cụ, lăng đó là của một người ở làng Đồng Di không rõ họ tên, ông này không có con, về sau có người con nuôi nghi dưới mộ có vàng bạc, bèn quật lên tìm, rồi dời đi đâu không biết. Sau đó, ông chủ Chiến (làm chủ sự ở trong nội) người làng Nghĩa Lộ, huyện Hương Trà chết, con cháu đến xin ông lý trưởng Trần Hoàn để được táng vào đó. Sau đó cũng rời đi đâu không rõ?

Như vậy sự hiểu biết của cụ Nguyễn Ngạn, lý trưởng của làng Cơ Chánh cũ có thể phù hợp với cuộc điều tra ở làng Đồng Di về nhân vật Ý Đức hầu.  Các bô lão ở làng Đồng Di cho biết, hai vị Tuấn Đức hầu và Hiền Đức hầu thuộc đời thứ nhất và thứ hai thì hàng năm làng lo tế lễ, còn riêng đời thứ ba - Ý Đức hầu thì làng chỉ biết một cách mơ hồ, chỉ được ghi lại danh hiệu trong bản Hương phổ của làng mà thôi, cho nên có thể có lý do đào mộ tìm vàng của một người nhân danh là con cháu Ý Đức hầu. Sau đó trốn đi mất nên không ai hay biết, để rồi lăng Ba Vành bị thân nhân “cố tình” bỏ quên xem như là mồ vô chủ?

3. Nhân vật Ý Đức hầu giữ chức Chính dinh bộ Hộ kiêm Binh bộ ở làng Đồng Di có tên là Lê Quang Đại như trong sử sách của triều Nguyễn đã ghi

Sách Đại Nam thực lục tiền biên có ghi chép về nhân vật Lê Quang Hiến làm Ký lục chính dinh (1). 

Mùa đông năm Kỷ Dậu ( 1719), lấy văn chức Lê Quang Đại (con tham nghị Lê Quang Hiến) làm tham mưu chính dinh Bình Thuận (2).
 
Như vậy nhân vật có tước hiệu “chính dinh tham nghị Hiến Đức hầu" trong hương phổ làng Đồng Di chính là nhân vật Lê Quang Hiến ghi trong Đại Nam thực lục tiền biên.

Sách Đại Nam thực lục tiền biên ghi nhân vật Lê Quang Đại như sau:

Năm Ất Mão (1735) làm Cai bạ dinh Quảng Nam. 
Năm Mậu Ngọ (1738) làm Cai bạ phó Đoán sự chính dinh .
Tháng 4 năm Giáp Tý (1744) chúa Phúc Khoát xưng vương lập ra 6 bộ, lấy Lê Quang Đại làm Hộ bộ kiêm Binh bộ.

Tháng 12 năm Ất Sửu (tức tháng 1 năm 1746) Hộ bộ kiêm Binh bộ Lê Quang Đại chết, tặng Chính trị thượng khanh thuỵ Trung Thành (3). 

Như vậy nhân vật Ý Đức hầu (tước vị) con của vị có tước hiệu Hiến Đức hầu như trong bản Hương phổ của làng Đồng Di mang tên là Lê Quang Đại, con của Tham nghị Lê Quang Hiến như trong Đại Nam thực lục tiền biên đã chép. 

Sách Đại Nam nhất thông chí còn cho biết nhân vật Lê Quang Đại được thăng làm Hộ bộ kiêm Binh bộ năm 1744, sau chết được tặng Chính trị thượng khanh, là người huyện Phú Vang (4).


_______________________
(1) (2) Tập 1, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 180 và 192.
(3) sđd, tr. 209.
(4) Thừa Thiên phủ, tập trung, Nguyễn Tạo dịch, Sài Gòn, 1961, tr.  50. Huyện Phú Vang tức địa phương có làng Đồng Dị, xã Phú Hồ hiện nay.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #67 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 05:57:52 pm »

4. Về niên đại tấm bia ở lăng Ba Vành đã bị đục xoá.

Tấm bia chính, đặt ngay trước mộ, đầu bia hơi nghiêng về phía trước 15o . Vị thế đó hơn 10 năm nay vẫn không thay đổt.

Bia có hai loại chữ thuộc hai thế hệ khắc trên bia khác nhau. Các chữ khắc nguyên thuỷ thuộc thế hệ khắc thứ nhất . Cho đến ngày 29 tháng 3 năm 1988, chúng tôi trở lại khảo sát, thì 6 chữ đầu dù bị đục xoá nhưng vẫn còn đọc được niên hiệu mà không bị nhầm lẫn là Cảnh Hưng thất niên tứ nguyệt. Còn ba chữ sau không thể đọc được vì đã trát kín xi măng và khắc chữ mới lên đó là Bá? Tự Như hành phủ quân chi mộ (?)

Thế hệ viết thứ hai, ngoài dòng chính có 8 chữ như trên, hai bên còn có chữ La Phú, đối diện hai góc trên của bia qua dòng chữ chính diện, dưới chứ Phú là Nhâm Tuất mạnh đông, dòng 3 góc trái dưới là các chữ Tự tôn Võ Bá Đạm phụng lập. 

Như vậy, người đầu tiên chôn ở lăng Ba Vành vào tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ bảy, tức là vào năm 1746. Vậy năm đó quá xa so với năm Quang Trung mất - 1792. Và cũng khó tin rằng đó là tấm bia giả của ngôi mộ Quang Trung thật. Vì thời điểm lập bia và những chi tiết xung quanh chủ nhân ngôi mộ Ba Vành phù hợp với nhân vật Lê Quang Đại người làng Đồng Di mà sử sách triều Nguyễn đã ghi chép.

Nhưng rất có thể người đục xoá các chữ nguyên thuỷ trên lại là Võ Bá Thương hoặc thân nhân của ông này, khi đưa người nhà của mình vào táng ở đó rồi tận dụng tấm đá cũ để khắc tên, và khắc một cách muộn màng vào năm Nhâm Tuất - 1922 chính vì thế mà Võ Bá Không có điều kiện để nhớ rất rõ tước hiệu của người trên bia đã chôn trước đó như đã khai với bộ Lễ rằng “ngôi mộ là của Chính dinh bộ Hộ kiêm binh bộ tặng Tá lý công thần đặc tấn trụ quốc kim tử Vinh lộc đại phu Chính trị thượng khanh Ý Đức hầu Lê Quý Công chi mộ” .

Còn hai chữ La - Phú đối diện với dòng chữ ở giữa nằm ở góc trên, có thể là tên đầu của làng mang chữ La . . . và huyện Phú . . . (tức Phú Vang) quê hường của người họ Võ, mà con cháu đem chôn, rồi khắc vào để về sau khỏi nhầm lẫn quê quán?

* TẠM KẾT LUẬN

Như vậy, lý lịch của láng Ba Vành thật đơn giản, nhưng người đời sau cứ nghi ngờ, quan trọng hoá nên làm cho to chuyện mà bắt đầu bằng sự tò mò của Cadirère (1928) đến sự nồng nhiệt quá mức của Nguyễn Thiệu Lâu (1941 - 1961) và sôi nổi nhất là trong một vài năm gần đây.

Tuy còn có một vài chi tiết cần được tiếp tục xác minh rõ hơn, nhưng có thể tạm kết luận về lăng Ba Vành của Lê Quang Đại một quan chức cao cấp thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, chết vào đầu năm 1746, bốn tháng sau chôn và lập bia mộ ở làng Cơ Chánh (lăng Ba Vành).

Mộ của Lê Quang Đại đã bị kẻ gian đào trộm để lấy của quý, lấy cớ là di chuyển thi hài đến một nơi khác. Hiện nay con cháu dòng đích của Lê Quang Đại không còn ai ở làng Đồng Di nữa nên mộ Ba Vành để hoang phế từ lâu.

Cũng có thể, Lê Quang Đại đã lạm dụng chức quyền để chọn cho mình huyệt mộ “đế vương” kèm theo tấm bia với bốn chữ “Sơn nhạc chung linh”, mà có người cho là chỉ có “ông trời” mới dám làm như thế, vì việc làm khi quân này nên lăng Ba Vành bị các vua chúa “thấy” cay mắt nên đã ra lệnh phải cải táng đi một nơi khác? Như Gia Long đã từng trừng phạt Nguyễn Văn Thành vì viên đại thần này đã chọn huyệt táng “đế vương” cho thân mẫu của mình.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #68 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 05:59:40 pm »

Vào đầu thế kỷ XX, con cháu họ Võ đem thân nhân vào chôn ở đó. Muốn tận dụng tấm bia sẵn có nên đã đục xoá những chữ trên bia nhằm xác lập quyền sở hữu mới của mình trên một tấm bia cũ. 

Có thể tiến hành khai quật ở đáy nấm mộ, biết đâu sẽ tìm được những cứ liệu đáng tin hơn.  Dù sao lăng Ba Vành vẫn là một địa điểm nghiên cứu quan trọng gần nửa thế kỷ qua. Đó là di tích mộ táng lâu đời, đặc sắc của thời phong kiến, gắn liền với đô thành Phú Xuân trong buổi đầu được thành lập vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, cần được bảo vệ chu đáo và tiến hành nghiên cứu hoàn chỉnh hơn.

5. Hướng đi tìm.

- Về lăng Đan Dương: Chúng ta không thể bỏ qua cung điện Đan Dương và về sau trở thành lăng Đan Dương để thờ vua Quang Trung, như ghi chú của Ngô Thì Nhậm “sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta” (1).
 
Nhiều bài thơ của Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích đều xác nhận có một lăng Đan Dương của vua Quang Trung trong đó có bài “Khâm vãn Đan Dương lăng” .

Như vậy có một lăng Đan Dương của vua Quang Trung như Nguyễn Đắc Xuân đã khám phá ra từ trong thư tịch cổ (1984), lăng Đan Dương là điện thờ của Quang Trung được xây dựng từ lúc vua Quang Trung còn sống - điện Đan Dương.

Cho nên lăng Đan Dương nằm đâu đó ở gần trung tâm thành phố Huế hiện nay, chứ không ở vị trí quá xa như ở làng Cơ Chánh. Vì tuần thời quan lại thường đến thăm viếng, và là nơi thường trú của Ngọc Hân.  Và biết đâu ở lăng Đan Dương có lập một ngôi mộ tượng trưng của vua Quang Trung, Nhưng chắc chắn điện Đan Dương và sau đó sử dụng làm lăng của vua Quang Trung là một toà lâu đài đồ sộ đã bị Nguyễn Ánh cho san thành bình địa nên khó hy vọng tìm ra dấu vết trên thực địa.

Trong tình hình bế tắc như vậy mà có ai tái tạo một đồ án thiết kế về lăng Đan Dương cũng rất cần thiết, mặc dù nó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của người đời nay. Nhưng nếu phân tích bài thơ “Khâm vãn Đan Dương lăng”, coi đây là “mã số” để xây dựng đồ án thiết kế lăng Đan Dượng và đi tìm lăng Quang Trung thì thật là hư huyễn, sẽ dẫn đến một cuộc phiêu lưu nguy hiểm.

Còn có cách nào khác nữa?

Chúng ta loại trừ khả năng là mộ Quang Trung được chôn ở Hà Nội, Nghệ An hoặc Bình Định, mà nên tập trung đi tìm ở Thừa Thiên Huế. Nhưng cũng không hoàn toàn tin vào sử sách của nhà Nguyễn cho là “táng vu Hương Giang chi Nam” để làm kim chỉ nam cho việc đi tìm.

Bà chính cung Hoàng hậu họ Phạm rất mực yêu quý của vua Quang Trung, chết trước ông hơn một năm, mộ được chôn ở dưới chân núi Kim Phụng, cách trung tâm thành phố Huế 10 km về phía Tây Nam và biết đâu ở đó cũng có lăng mộ của Quang Trung? Và nếu cùng song táng thì đã bị Nguyễn Ánh cho quật từ năm 1801. Vì chính mộ Phạm Hoàng hậu, mẹ của Cảnh Thịnh đã bị khai quật và làm lễ hiến phù ở tôn miếu. Nhưng có thể tìm được dấu tích của khu lăng mộ ở đước chân núi Kim Phụng, Hải Cát.

Nhưng trước tình thế cấp bách và nguy hiểm sau ngày vua Quang Trung mất, ngôi mộ Quang Trung đã hoàn toàn giữ được bí mật mà cho đến nay vẫn chưa khám phá ra. Trong các ngôi mộ mà Nguyễn Ánh cho khai quật vào năm 1801, bên trong chỉ là một thi hài giả của Quang Trung mà thôi.


_______________________
(1) Thơ văn Ngô Thì Nhậm, tập I, bản dịch Hà Nội, tr. 838.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #69 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2009, 06:08:32 pm »

Vua Quang Trung với một tinh thần cảnh giác cao, xung quanh cái chết và lễ an táng, xây đắp lăng mộ trong vòng hai tháng được giữ bí mật tuyệt đối cho phép chúng ta không tránh khỏi một sự hoài nghi, dù chỉ là hi vọng lẻ loi về một ngôi mộ thật của vua Quang Trung còn đâu đó trong lòng đất xứ Huế của chúng ta hôm nay (1).
 
6. Chuyện về “Ba ông Vò”.

Suốt cả thế kỷ XIX, ở Huế có rất nhiều người biết và bí mật kể chuyện về “ Các ông Vò” cho nhau nghe, nhất là các quan chức, lính tráng và những phi tần trong nội cung.

Chuyện kể bắt đầu từ một “lõi lịch sử” đã được sử sách triều Nguyễn ghi lại: Mùa đông năm 1802, xa giá của vua trở lại kinh đô, cáo ở tôn miếu và dâng hiến các tù binh Tây Sơn, đều bị giết và trừng trị. Mộ Nhạc, Huệ đào phá thi thể đổ nát rồi bỏ, nhốt sọ đầu vào ngục thất” (2).

Hoặc đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vứt đi, xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Huệ thì đều giam ở nhà Đồ Ngoại, Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất, cấm cố mãi mãi” (3).

Như vậy trong suốt 20 năm, từ 1802-1821, đầu lâu của các lãnh tụ Tây Sơn bị giam ở nhà Đồ Ngoạt. Nhà Đồ Ngoại tức là Võ Khố sau này, nằm trong kinh thành thuộc khuôn viên trường Đại học Nông nghiệp hiện nay. Còn từ năm 1822 đến 1885 thì đem giam ở Khám đường, giam chung với những người mắc tội đại hình hoặc những người bị tử tội trước khi đưa ra hành quyết. Khám đường nằm ở phía Tây Bắc trong kinh thành ở khoảng giữa An Hoà và cửa Chánh Tây, chiếm một diện tích chừng 100 x60m.

Những người lính canh ngục đã kể lại rằng:

“Trong Khám đường có ba cái vò đậy kín, một cái nhốt sọ Nguyễn Nhạc, một cái dùng để nhốt đầu Quang Trung và cái thứ ba có thể là của Quang Toản” .

Cả ba chiếc vò đều bị xiềng và đưa giam riêng trong những ngăn cách biệt nhau ở nhà ngục, ngoài cửa niêm phong rồi bắt lính canh phòng cẩn mật, hàng tháng có một phái đoàn đặc biệt của triều đình đến tận nơi để kiểm tra. Ba chiếc vò được tù nhân tôn xưng làm “ông vò”, còn những người lính canh ngục thì gọi là “chúa Nguỵ” .  Những người sống và làm việc ở Khám đường đều tỏ ra kính cẩn “Ba ông Vò”. Họ thường xuyên cúng bái, xem “Ba ông Vò” như các vị thần hộ mệnh cho họ. Tội nhân cầu khẩn “ông Vò” phù hộ cho họ được bình an nơi chốn lao tù, và mong sớm được xoá án, lính gác xin các “chúa Nguỵ” giúp cho họ “canh giữ an toàn” .

Trong suốt 63 năm, nhiều thế hệ lính canh ngục và nhiều thế hệ tù nhân đại hình đã chung sống với “Ba ông Vò”, đến năm 1885, sau vụ binh biến ở kinh thành Huế thì “Ba ông Vò” biến mất.  Còn Khám đường cũng không sử dụng với chức năng như trước đó nữa.

Sự mất tích của “Ba ông Vò” trong những ngày biến động của kinh thành đã làm hẫng đi một sinh hoạt tinh thần cần thiết, tình cảm và tín ngưỡng vốn có từ lâu của một bộ phận người dân xứ Huế, được các bà trong Nội cung rỉ tai nhau là: “Một trong ba cái sọ ấy đã hiện ra trong cung điện nơi vua ở, khi Đồng Khánh vừa nhận ra, chiếc sọ biến thành con mèo rừng. Đồng Khánh là một tay chơi súng cự phách, ông vừa đưa súng lên nhắm bắn, lập tức con mèo hoá thành con gà vàng, nhảy lên đứng trên chiếc tủ, rồi biến mất”. Liền sau đó Đồng Khánh ngả bệnh, rồi chết bất đắc kỳ tử giữa lúc tuổi mới 25 và làm vua có 3 năm (1886-1888) (4). 


______________________
(1) Những nỗ lực gần đây của một số nhà nghiên cứu ở Huế để chứng minh: Bình An là khu mộ táng và lăng tẩm của vua Quang Trung, nhưng khó thuyết phục. Vì chưa đủ những tư liệu chỉ dẫn trực tiếp khai quật từ lòng đất (1992).
(2)Đại Nam chính biên liệt truyện, Q.30, t.55b
(3) Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, tập II, Sử học Hà Nội, tr.63
(1) Nguyễn Đình Hoè, Notes sur les cendes Tây Sơn danh la prison du Khám đường , B. A. H. ,1914, tr. 145-146.   
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM