Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:47:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung  (Đọc 113236 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #80 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:19:14 pm »

Các mũi tiến công rất chính xác giữa không gian chiến trường và thời gian trong toàn bộ chiến dịch và luôn giữ thế áp đảo, đứng trên đầu thù từ lúc trận mở màn của chiến dịch đánh vào Gián Khẩu, Hạ Hồi. . . mặc dù lượng quân chỉ bằng 1/3 của địch. 

Cũng như trận thắng Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút 1785, trận thắng quân Thanh oanh liệt ở Thăng Long (1789) khi kẻ địch còn nguyên vẹn, sung sức làm cho chiến công của vua Quang Trung trở nên oanh liệt hơn.

Nguyễn Huệ đã thực hiện một chính sách toàn dân đánh giặc, toàn diện đánh giặc, kết hợp giữa tiến công của binh sĩ và nổi dậy của quần chúng nhân dân, tạo thành một phong trào đấu tranh yêu nước rộng rãi mang đậm nét một cuộc chiến tranh nhân dân. Điều mà các đội quân đương thời không thể có được.

Phẩm chất yêu nước và chống áp bức của quần chúng nhân dân lao động sẽ phát huy cao độ khi họ tìm ra được ở lãnh tụ của họ có những tài năng, tinh hoa của truyền thống và thời đại gom tụ lại.  Nguyễn Huệ đã xứng đáng với sự ngưỡng mộ đó nên được đông đảo nhân dân tin theo.

Ngày 1 tháng 5 năm 1787, trong một bức thơ gửi về Pháp, Giáo sĩ Longer ở Thuận Hoá đã viết: “Tất cả mọi người từ 15 tuổi trở nên đều đi lính, những người già cả, phụ nữ thì sửa sang cầu cống, đường sá, xay thóc, giã gạo”.

Giáo sĩ Sếrard cũng ghi lại như sau: “Đàn ông thì đi lính, đàn bà trẻ con thì tạp dịch, kẻ thì cày cấy người thì xay thóc giã gạo”.

Giáo sĩ Doussain cho biết, nhân dân Thuận Hoá đã thực hiện khẩu hiệu “tận xuất vi binh”, tức toàn dân đều tòng quân.

Đã từng thúc bách bởi lệnh tuyển quân và từng chứng kiến quân đội Tây Sơn, Giáo sĩ Léfroy trong một lá thư đề ngày 6 tháng 7 năm 1789, có đoạn ông viết: “Vì ông ta (tức Nguyễn Huệ) là người can đảm và được coi là Alexandre đại đế ở đây, nên ông lập tức xuất chinh đem theo cả thanh thiếu niên và bô lão mà ông đã bắt gặp. Quân đội của ông giống như một toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một đoàn chiến binh. Nhưng không can gì, những binh lính khốn khổ ấy đã tiêu diệt được quân Trung Hoa vào hồi đầu năm” .

Nhiều lá thư khác gửi về Pháp, Sérard cũng cho biết cụ thể, như “nhà nào có mấy người thì bắt đi lính hết cả, sáu người thì đi cả sáu, năm người thì đi cả năm, không kể già, trẻ ốm yếu” hay “họ bắt trẻ con từ 7 đến 8 tuổi bổ sung vào đoàn binh cận vệ của Hoàng tử” (thư đề ngày 6 tháng 3 năm 1792). 

Trong đợt khảo sát, tìm hiểu những lưu dấu của thời kỳ Tây Sơn tại thành phố Huế vào mùa hè năm 1988, chúng tôi đã sưu tầm được nhiều văn bản quý thời Tây Sơn, trong đó có một bản khai dân đinh của làng Thanh Phước, lập vào ngày 10 tháng 1 năm Quang Trung thứ 5 (1792) gồm có 202 người, kể cả những người còn vị thành niên.  Còn trong bản khai ngày 20 tháng 1 năm Quang Trung thứ 5 (1792) có khai danh sách tên của những người 8 tuổi có tám người và bảy tuổi có 5 người để nộp lên quan trên.

Quân đội Tây Sơn bao gồm nhiều thành phần, nhiều tầng lớp xã hội, nông dân, thương nhân, phú nông, quan chức, trí thức. Có cả người Hoa và các dân tộc ít người, có cả tín đồ Thiên Chúa giáo và Phật giáo, nên trong việc xây dựng quân kỷ, Nguyễn Huệ rất chú ý đến tính nghiêm lệnh để đảm bảo có một đội quân có kỷ luật cao.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #81 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:23:12 pm »

Sau cuộc kháng chiến chống Xiêm thắng lợi, Nguyễn Huệ được đối phương xem như “tướng nhà trời” và đã có nhận xét về Nguyễn Huệ: “Có nhiều mưu lược, hiệu lệnh như lửa, hễ ai phạm vào luật cấm thì chém tươi không tha, tướng sĩ đều kinh sợ như thần minh” (1).

Năm 1786, khi ra Thăng Long, bấy giờ Nguyễn Huệ đã vào thành, hạ lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc của nhân dân (2).  vào năm 1787, cũng đội quân đó, nhưng do Vũ Văn Nhậm chỉ huy thì: “Nhậm thả lính lùng khắp các nhà dân ở phố phường, lấy được rất nhiều của báu đến cả của tư cũng lấy hết”, nên nhân dân Thăng Long đã ca thán: “Đời trước hành quân không hề chạm đến mảy may của dân, có người lấy cái nón của dân che áo giáp của quan cũng không cho, sao nay dân gian lại bị hại thế” (3).

Là một giáo sĩ truyền đạo lâu năm ở Thuận Hoá, trong một bức thư gửi cho Letondal ngày 11 tháng 6 năm 1788, La Bartette có đoạn viết: “quân Tây Sơn đôi khi điều động được từ 200 đến 300.000 quân, thực sự thì đa số bọn họ bị cưỡng bức, nhưng tất cả đều quyết tử kẻ nào nhìn về phía sau trận địa lập tức bị chém đầu” (4).

Tướng sĩ tuyệt đối tin tưởng vào Nguyễn Huệ, không những vì ông có một năng lực tổ chức quân đội tài ba, mà còn thán phục ở tầm nhìn chiến lược, dự báo chính xác và tài ứng biến như thần của ông.  Điều đó ngay cả Nguyễn Nhạc cũng thán phục ông. 

Năm 1786, nghe tin Nguyễn Huệ đã ra Thăng Long, Nguyễn Nhạc đã tức tốc ra để “chặn sự phiêu mạng của em”, nhưng phải nói chữa lời rằng: “Tướng ở ngoài nếu gặp việc có ích lợi cho nước nhà thì cứ tự ý mà làm cũng được, Bắc Hà khó lấy mà đệ lấy ngay được là chỗ thần diệu trong phép dùng binh” (5)

Trên đường tiến quân ra đánh giặc Thanh, khi đến Tam Điệp, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ra đón và xin chịu tội vì bỏ 11 trấn cho quân Thanh vào vua Quang Trung nói: “Binh pháp dạy rằng: “quân thua chém tướng”. Tội của các ngươi đều đáng chết một vạn lần. Song ta nghe các ngươi đều thuộc hạng võ dõng chỉ biết giặc là đánh, đến như việc tuỳ cơ ứng biến thì không có tài” (6).

Đến ngày 30 tết, Quang Trung mở tiệc khao quân, cho binh sĩ ăn Tết trước rồi báo tin với các tướng sĩ rằng: “Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho ta nói khoác” (7). 

Và quả thật, với sức tiến công vũ bão và một quyết tâm cao, vua Quang Trung đã đưa nghĩa quân Tây Sơn vào Thăng Long ăn Tết vào sáng mồng 5, sớm hơn 2 ngày so với kế hoạch đã định.  Tuy nhiên, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, nhưng nghệ thuật dụng binh của ông vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá.

___________________
(1) Minh Đô sử, Q. 30.
(2) Hoàng Lê nhất thống chí, tập 1, tr. 185, 148. 
(3) Hoàng Lê nhất thống chí, tập 1, tr. 44, 185, 148. 
(4) Thư gửi Letondal, Cochinchine, tập 801, tr. 177. 
(5) (6) Hoàng Lê nhất thống chí, tập I, tr. 148.
(7) Hoàng Lê nhất thống chí, Sđd, tập II, tr. 180, 182. 
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 09:28:40 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #82 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:26:20 pm »

1. Về tổ chức lực lượng

Tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ ra Thăng Long, tiếp đó Nhạc cũng ra, các thủ lĩnh Tây Sơn bàn rút lui khỏi Thăng Long nhưng sợ Nguyễn Hữu Chỉnh biết và đi theo. Thế là chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, từ canh hai của ngày 17 tháng 7 (âm lịch), hai vạn quân Tây Sơn đã bí mật triệt thoái khỏi Thăng Long. Trước một sự cố lớn lao nhưng cả kinh thành hầu như yên trong giấc ngủ, chỉ trừ một người biết là Lê Chiêu Thống, nhưng Chiêu Thống cũng chỉ biết tin đúng vào giờ G của thời điểm rút quân, còn Nguyễn Hữu Chỉnh và bộ hạ dù đã thức suốt đếm để canh chừng vẫn không hay biết gì cả!

Đến canh năm, quân Tây Sơn ra khỏi Thăng Long xuôi về Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh mới được tin “trong bụng cực kỳ hoang mang, tự biết mình thất thế, ở lại thì không dám, bỏ mà đi thì cũng dở, đường thuỷ không có thuyền, đường bộ không có quân, muốn trốn thì không có chỗ trốn, không biết nên đi đường nào’. Trong lúc sống chết nguy cấp như vậy, nhưng Chỉnh vẫn tự trấn an: “Ta đi khắp bốn biển chín châu, chẳng lẽ khi trở về xó bếp, lại bị chuột chù cắn chân ư? Không sợ? Không sợ! Ta cứ ở đây xem sao” (1).

Ngày 21 tháng 12 năm 1788, đô đốc Nguyễn Văn Tuyết mang tin về tình hình quân Thanh vào chiếm đóng ở thành Thăng Long về đến Phú Xuân để cấp báo cho Nguyễn Huệ, trong khi các tướng sĩ hoảng hốt thì Nguyễn Huệ tỏ ra rất bình thản, ông ra lệnh đắp đàn Nam Giao ở núi Bân, một quả đồi ở phía Tây, cạnh núi Ngự Bình để làm lễ lên ngôi Hoàng đế, một bước chuẩn bị cho cuộc phản công. 

Ngày hôm sau (22 tháng 12) (2), đại lễ được cử hành, hơn 6 vạn nghĩa quân Tây Sơn được lệnh tập trung quanh lễ đàn nghe Nguyễn Huệ đọc Chiếu lên ngôi và hạ lệnh xuất quân.

Với phương tiện thông tin liên lạc và vận chuyển hồi đó còn rất sơ sài, nhưng chỉ cần sau 12 tiếng đồng hồ mà hơn 6 vạn binh sĩ được lệnh triệu tập để có mặt tại lễ đàn với đầy đủ trang bị, tinh thần chiến đấu để kịp thời lên đường, quả là một sự tổ chức tài tình của Quang Trung mà chúng ta không thể hiểu nổi.

Ngay trên đường hành quân, Quang Trung đã cho tuyển thêm hàng vạn binh lính, số tân binh này được luyện tập, trang bị tinh thần, vũ khí, quân trang, quân dụng như thế nào để khi ra trận giáp mặt với quân thù mà vẫn đảm bảo được tiêu chuẩn của một đội quân tinh nhuệ bách chiến bách thắng. 

Lúc bình thường, Nguyễn Huệ cho tuyển quân tuổi từ 15, nhưng đến ngày tiếp cận với cuộc kháng chiến chống Thanh, ở Thuận Hoá bình Trị Thiên ngày nay), số tân binh được tuyển từ độ tuổi 12.  Với một đội quân quá trẻ như vậy, không biết Quang Trung đã tổ chức luyện tập và bồi dưỡng, trang bị và sử dụng như thế nào mà vẫn đạt yêu cầu của cuộc kháng chiến, đánh bại được đội quân nhà nghề của giặc Trung Quốc dưới thời Thanh triều đã được Hán hoá.

____________________
(1) Hoàng Lê nhất thống chí, tập I, tr. 157.
(2) Theo bài Chiếu lên ngôi thì ngày 22 tháng 11 âm lịch tức vào ngày 19 tháng 12 năm 1788. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #83 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:28:11 pm »

2. Vế tốc độ hành động.

Năm 1788, Quang Trung hai lần ra Thăng Long, lần đầu vào tháng 4 để phán xét tên phản bội Võ Văn Nhậm, đội quân có 150 voi với 100 võng. . . thế mà đoạn đường từ Phú Xuân ra Thăng Long chỉ đi chưa đầy 10 ngày.

Lần thứ hai là cuộc phản công tiêu diệt quân xâm lược Mãn Thanh, ra đi từ Phú Xuân vào ngày 22 tháng 12 năm 1788 đến 30 tháng 1 năm 1789 đã vào Thăng Long, chỉ mất 40 ngày.

Bằng phương tiện vận chuyển thơ sơ, điều kiện đi lại hiểm trở khó khăn của nước ta vào thế kỷ XVIII, trên đường hành quân lại vừa tuyển quân, bồi dưỡng sức chiến đấu, vừa đánh địch trên hệ thống phòng thủ Thăng Long ở tuyến phía Nam, dày đặc gần 100 km, đó là các cứ điểm quan trọng của quân địch, là nơi xảy ra những trận đánh quyết định của cuộc kháng chiến. 

Riêng đoạn đường từ Phú Xuân đến Nghệ An dài hơn 300 km mà nghĩa quân di chuyển chỉ mất 4 ngày. Các đội quân bộ, quân thuỷ và tượng binh đều ra quân cùng một lúc ở Phú Xuân và hẹn tập kết ở Tam Điệp trước Tết để sẵn sàng triển khai lực lượng ở vị trí chiến đấu.

Có người cho rằng, quân bộ di chuyển cứ 3 người một chiếc cáng, thay phiên nhau để di chuyển (hai người gánh một người nằm). Nhưng trong thực tế, việc di chuyển như vậy không nhanh, không an toàn, cơ động và thoải mái được, có chăng là dùng để vận chuyển lương thực, vũ khí, quân nhu hoặc lúc rút quân, nghĩa quân đã mang theo những thương binh trên những chiếc cáng?

Những giả thiết để cắt nghĩa về tốc độ “hành quân như bay” “xuất quỷ nhập thần” của nghĩa quân Tây Sơn vẫn chưa đủ sức thuyết phục như một thực tế mà Trần Công Xán đã từng chứng kiến, Xán đã nói với Ngô Nho: “Người Tây Sơn hành binh như bay, tiến quân rất gấp, xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được đuổi không thể kịp, xưa nay chưa từng nghe nói có giặc nào như thế” (1).

Không phải chỉ người Việt mà cả người Pháp cũng phải ngạc nhiên và lo sợ lối hành binh của quân Tây Sơn. Ngày 11 tháng 6 năm 1788, trong một lá thư gửi cho ông Letondal, giáo sĩ La Bartette có viết: “tôi không rõ cuộc viễn chinh của người Pháp khi nào sẽ xảy ra, nhưng tôi sợ rằng quân Pháp của chúng ta vì khinh thường bọn này (Tây Sơn) và không am hiểu tường tận về cách hành binh của họ, sẽ không đủ sức mạnh thì có thể trở thành nạn nhân bi thảm” (2).

Trên tuyến hành quân từ Phú Xuân ra Thăng Long, đường bộ bị cắt ngang bởi những sông lớn (lúc đó chưa có cầu) làm chậm trễ cho việc di chuyển của quân bộ, còn đối với đoàn voi chiến và ngựa chiến muốn qua sông quả là khó khăn hơn. 

Có người cho rằng, ngoài con đường thượng đạo ở miền núi dành cho voi đi (thực tế khó và chậm hơn), nhân dân ở các vùng hai bên bờ sông đã ghép thuyền lót ván để binh sĩ, voi và ngựa di chuyển qua sông như đi trên một chiếc cầu phao dã chiến, cơ động nên đội quân Tây Sơn dễ dàng vượt sông một cách nhanh chóng mà đảm bảo tốc độ của cuộc hành quân.

Cuộc hành quân từ Phú Xuân ra Bắc chống giặc Thanh đúng vào lúc gió mùa đông bắc, dù ngược gió nhưng đoàn thuyền chiến Tây Sơn vẫn tiến quân kịp thời. Có người cho rằng, đội thuyền Tây Sơn đi lệch gió theo hình Z nên thuyền có thể căng buồm và tiến quân được.

Có phải Quang Trung đã áp dụng các biện pháp vận chuyển nói trên không? Trong thực tế, Quang Trung đã thực hiện kỹ thuật tiến quân của các loại binh chủng như thế nào nhằm đạt được tốc độ vận hành thần tốc, để khi tập kết dưới chân núi Tam Điệp, binh sĩ vẫn không mỏi mệt, còn đủ sức khoẻ, ý chí và tinh thần chiến đấu để đánh định tan tành trong những ngày đầu xuân Kỷ Dậu (1789).

Có phải Quang Trung đã áp dụng các biện pháp vận chuyển nói trên không? Trong thực tế, Quang Trung đã thực hiện kỹ thuật tiến quân của các loại binh chủng như thế nào nhằm đạt được tốc độ vận hành thần tốc, để khi tập kết dưới chân núi Tam Điệp, binh sĩ vẫn không mỏi mệt, còn đủ sức khoẻ, ý chí và tinh thần chiến đấu để đánh định tan tành trong những ngày đầu xuân Kỷ Dậu (1789).

_______________________
(1) Hoàng Lê nhất thống chí, tr. 47.
(2) Tài liệu của Hội truyền giáo hải ngoại ở Paris, Cochinchine, tập 102, tr. 176.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 09:29:50 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #84 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:33:00 pm »

3. Khoa học và kỹ thuật quân sự

Chỉ riêng về trang bị, nghĩa quân Tây Sơn đã đạt một trình độ kỹ thuật của tiêu chuẩn quốc tế mà các nước phương Đông, phương Tây hồi bấy giờ không thể so sánh kịp. Chính sự cải tiến và phát triển võ trang dưới thời Quang Trung là một trong những nhân tố thắng lợi mang ý nghĩa thời đại của đội quân Tây Sơn.

Thuyền chiến: Nhiều tài liệu cho biết, một thuyền chiến Tây Sơn có thể chở được từ 700 đến 800 thuỷ thủ và mang được 60 - 70 đại bác. Trong khi đó thuyền chiến phương Tây trang bị cho Nguyễn Ánh chỉ chở được chừng 30 đại bác và số thuỷ thủ chỉ bằng một nửa mà thôt.

Barizy, một sĩ quan người Pháp từng “giúp” cho Nguyễn Ánh kể lại rằng, trong trận Thị Nại năm 1801, quân Nguyễn đã gặp đội thuỷ quân Tây Sơn phòng thủ ở cửa cảng, có 9 thuyền chiến loại lớn, mỗi thuyền trang bị 60 đại bác và có 500 lính, 40 thuyền loài nhỏ mỗi thuyền mang 16 đại bác và có 200 lính (1).
 
Vẫn theo Barizy thì trong trận thuỷ chiến này, quân Nguyễn ánh có 26 thuyền chiến, mỗi chiếc chở 1 đại bác và 200 lính.

Chaigneau, một sĩ quan Hải quân Pháp theo Nguyễn Ánh đã từng va chạm với quân Tây Sơn, mới thấy thực tế là ông đã nhầm lẫn. Chaigneau viết: “Trước khi nhìn thấy thuỷ quân của địch, tôi rất khinh thường, nhưng tôi bảo đảm với các ông rằng đó là sai lầm. Họ có những thuyền chiến mang từ 50 đến 60 đại bác cỡ lớn” (2).

Vậy ở bên bờ đầm Thị Nại, dọc theo sông Hương, sông Gianh. . . là nơi Tây Sơn cho lập các công xưởng đóng thuyền chiến. Địa điểm cụ thể ở đâu? Hiện còn vết tích gì? Một mẫu thuyền đích thực với các cấu kiện cùng quá trình hoàn chỉnh ra làm sao? Các công trình sư và kỹ thuật gia đóng thuyền thời Tây Sơn là những ai, họ đã áp dụng phương pháp chế tác như thế nào để đạt được trọng tải kỷ lục đó?

Chúng ta có thể biết được một vài chi tiết do giáo sĩ Sérard tiết lộ trong một bức thư viết tại làng Lữ Đăng châu Bố Chánh (Quảng Bình) ngày 17 tháng 7 năm 1791, với sự huy động sức dân trong việc cung cấp gỗ đóng thuyền chuẩn bị đánh Nguyễn ánh như sau: “Bởi vậy, ông (Quang Trung) ra lệnh đóng biết mấy trăm “ghe sai” hay nhiều chiến thuyền. Riêng ở Bố Chánh, nơi tôi cư ngụ từ 15 ngày nay đã đóng hơn 100 ghe . . . số ván gỗ cung cấp cho việc này là 2.500 tấm, mỗi tấm phải dài từ 30 đến 35 thước và rộng vài phân (3), nếu mua thì mỗi tấm giá 15 quan”. Tất cả phải hoàn tất trong 3 tháng”.

Voi chiến: Từ thuở đầu công nguyên, Hai Bà Trưng đã huy động voi vào sự nghiệp cứu nước của dân tộc. Bà Triệu cưỡi voi đi đánh giặc Ngô. Nhưng phát huy hết khả năng vốn có của nó là vào thời Tây Sơn, Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân. . . là những tướng lính chỉ huy tượng binh xuất sắc.

Voi Tây Sơn có thể chở 13 người mang theo cả đại bác trên mình hoặc kéo theo sau. Do đó, voi Tây Sơn vừa là phương tiện của hoả lực, xung trận theo nhịp trống trận và tiếng tù và của người chỉ huy. Vòi voi và thân voi có khả năng quật đổ và chà nát đối phương và các chướng ngại vật khi chúng mở đường, phá huỷ cho bộ binh tiến lên.

_______________________
(1) Thư viết ngày 11 tháng 4 năm 1804, tài liệu AMEP, tập 801, tr. 867. 
(2) Dẫn theo Cadière, Documents relatfs à l’époque de Gia Long, B.E.F. E.O, 1912, tr. 867.
(3) 1 phân = 1 thốn = 2,7 cm
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #85 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:35:02 pm »

Đội tượng binh Tây Sơn dũng mãnh trong cuộc kháng chiến chống Thanh làm đối phương vô cùng khiếp sợ.  Bởi thế, trước khi đưa quân sang xâm lược nước ta, quân Thanh đã bày trận voi giả để cho người và ngựa của chúng tập làm quen. Trong 8 điều quân luật mà Tôn S Nghị ban bố, đã dành một điều (điều thứ 4), hướng về việc chống voi chiến Tây Sơn.

Nhưng thực tế, khi nghe đồn Ngọc Hồi bị đánh, đoàn ngựa chiến của quân Thanh vừa mới ra trận, thấy mặt voi Tây Sơn đã hí chạy, giẫm đạp lên nhau và đạp luôn cả danh giá của Thiên triều làm Tôn Sĩ Nghị hốt hoảng, liền bỏ chạy qua bên kia sông Nhị, vội vàng cho cắt luôn cầu phao tạo chướng ngại vật cho cuộc truy bức của đội tượng binh Tây Sơn. 

Vậy việc huấn luyện voi và đội tượng binh như thế nào để voi chiến Tây Sơn trở thành loại “vua chiến trường” trong cuộc kháng chiến chống Thanh? 

Vũ khí: Một quả đạn đại bác của pháo binh Tây Sơn nổ có thể làm sập một cây cổ thụ, phá vỡ một mảng thành bằng gạch một cách dễ dàng, hơn hắn loại đại bác của triều Nguyễn chế tạo vào thế kỷ XIX. Năm 1786, khi quân Tây Sơn ra Thăng Long chặn đuổi bọn quan lại nhà Lê, lính Bắc Hà tận mắt chứng kiến tác năng của đại bác Tây Sơn:

“Bỗng nhiên nghe tiếng súng ầm ầm như sấm, khói lửa ngút trời, quân lính hoảng sợ, đều nói nhao lên rằng “giặc đã chặn mất đường về rồi” (1).  Nhưng đáng chú ý hơn là hoả hổ, một thứ vũ khí chế bằng thuốc cháy, đó là một loại súng tung lửa, có thể xem là một thứ tên lửa thủ công bắn vào kẻ địch, biến tên địch thành cây đuốc sống, làm mồi lửa để bắn phá thành luỹ, đốt dinh trại của địch. Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho tất cả binh chủng lục quân.

Hoả hổ đã mở màn cho thắng lợi trong trận đánh quân Trịnh ở Thăng Long vào năm 1786, tài liệu có ghi lại trận ác chiến ở cung Tây Long như sau: “Các đội quân Trịnh thấy mũi giáo Tây Sơn quá sắc liệu không chống nổi, cố sức lấy súng lớn bắn ra, quân Tây Sơn đều cúi đầu tránh đạn mà nhảy vào. Chúa Trịnh mặc nhung phục, đứng trên voi phất cờ hồng thúc các quân. Quân Tây Sơn lấy ông Hỏa hổ tung ra, quân Trịnh đều tan vỡ, vứt gươm, bỏ giáo, xô nhau chạy trốn thể như núi đổ (2).

Quân Thanh nghe tiếng Hoả hổ của Tây Sơn cũng khiếp sợ, nên trong 8 điều quân luật, có điều thứ 5 để chống lại Hoả hổ như sau: “Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng ống phun lửa làm lợi khí, gọi là hoả hổ”. Khi hai quân giáp nhau, trước hết họ dùng thứ đó để đốt cháy quần áo người ta, buộc người ta phải rút lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế thôi, so với súng ống của ta thì họ kém rất ra.

Hiện nay, ta chế sẵn vài trăm lá chắn da trâu sống. Nếu gặp Hoả hổ của người Nam phun lửa, thì quân tay cầm lá chắn ấy đỡ lửa một tay cầm dao chém bừa chắc rằng chúng bỏ chạy tan tác”.

Một dạng Hoả hổ là “rồng cỏ” trang bị cho thuỷ quân. Rồng cỏ thực chất là một loại bãi cháy dùng đánh hoả công để vây đốt binh thuyền của địch mà trận đánh hoả công do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đốt cháy tàu chiến của Manuel ở chiến trường Gia Định vào năm 1782. Đây là một trong những trận hoả công bằng “rồng cỏ” ngoạn mục nhất.

________________________
(1) Hoàng Lê nhất thống chí, tập II, tr. 121.
(2) Minh Đô sử, Q. 32. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #86 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:37:35 pm »

Nghĩa quân Tây Sơn đã được trang bị súng cá nhân, đó là loại súng ngắn có miệng loe, bắn từng phát một, tầm bắn chừng vài trăm mét, kết hợp giữa xung lực và hoả lực mỗi khi tấn công. 

Cũng có tài liệu ghi rằng, nghĩa quân Tây Sơn đã sử dụng súng máy liên thanh với công sức phá có thể bắn sập cả cột buồm của thuyền địch. Trận do Ngô Văn Sở chỉ huy đánh quân Nguyễn Việt Tuyển vào năm 1788 được mô tả như sau: Văn Sở giương cao cờ chiến, xung thẳng vào trận, súng bắn liên thanh phát nào trúng khói bay, nước sủi. Một cột buồm bỗng ngã xuống, quân Tây Sơn bỗng reo vang như sấm dậy. Chốc sau nhũng cột buồm khác cũng ngã xuống (1). 
 
Các loại vũ khí trên, về hình dạng, kỹ thuật chế tác, xạ năng sử dụng như thế nào cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nói rõ. 

4. Vấn đề tình báo.

Cũng như chiến thắng Phú Xuân năm 1786, một trong những nhân tố đưa đến thắng lợi oanh liệt của chiến dịch xuân Kỷ Dậu (1789) là nhờ Quang Trung đã tổ chức được đội quân tình báo giỏi, nhanh nhẹn, chính xác, nhờ đó mà Quang Trung nắm chắc được tình hình địch, rõ được ý đồ của chúng để đưa ra phương án tốt nhất, giải quyết chiến tranh.

Quang Trung chủ trương “quân lính cốt hoà thuận chứ không cốt đông, cốt tinh nhuệ chứ không cốt nhiều”.

Khi ra hội binh ở Tam Điệp, Quang Trung tuyên bố. “Lần này ta ra trận, hành quân phương lược tiến đánh đã có sẵn, chẳng qua mươi ngày là đuổi được quân Thanh “ (2)

Một ngày cuối tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), Quang Trung cho binh sĩ ăn Tết trước rồi tuyên bố đợi sang xuân ngày mồng 7 vào Thăng Long sẽ mở tiệc lớn, các ngươi hãy nhớ lấy lời ta xem ta nói có sai không, không hề sai đấy!” (3). 

Đêm 30 Tết, Quang Trung mở đầu chiến dịch đánh vào Gián Khẩu chủ yếu để diệt gọn đội thám báo “Quân tình báo nhà Thanh bị đánh úp bất ngờ, bắt gọn cả và giết sạch để dứt tuyệt tin tức quân báo”. Nếu không thấy được sự lợi hại của địch, cũng như không phát huy tài năng của đội quân tình báo Tây Sơn, Quang Trung không thể dự đoán một cách chính xác và tin tưởng về ngày thắng lợi như thế được.

Chắc chắn các mật tin từ trong nội bộ địch, đã cung cấp cho vua Quang Trung biết rằng:

Ngày mồng 6 tháng Giêng, quân địch từ Thăng Long sẽ kéo vào đánh Phú Xuân. Biết tin, Quang Trung đã chủ động đưa chiến trường ra tận bắc Hà và hạ quyết tâm vào ăn Tết ở Thăng Long ngày mồng 7 và quả thật trưa mồng 5 Tết, Quang Trung và đội quân chủ lực đã có mặt giữa kinh thành, sớm hơn một ngày so với ngày chúng quy định kéo quân vào Phú Xuân.

Nhờ có tin tình báo cho biết, địch sẽ mở hai mũi tiến công, quân bộ từ Thăng Long, quân thuỷ từ Trung Quốc kéo vào đánh Phú Xuân sau Tết nên Quang Trung vừa chuẩn bị chu đáo cho Phú Xuân để sẵn sàng chiến đấu tại chỗ, vừa bảo vệ Kinh đô và mảnh đất Thuận Hoá quê hương.  Nhưng mặt khác, Quang Trung cử đại quân ra Bắc quyết đưa chiến trường chống Thanh ra Thăng Long, chủ động tấn công vào đầu não xâm lược của chúng.

Nhờ có tình báo giỏi, Quang Trung biết được từng cứ điểm phòng vệ của địch, ông đã chuẩn bị tốt về lực lượng, vũ khí, chiến thuật phù hợp và phối hợp để tấn công.

_________________
(1) Minh Đô sử, Q. 40.
(2) Hoàng Lê nhất thống chí, tập II, tr. 181. 
(3). Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 30, t. 33a, 34a.  
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #87 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:38:49 pm »

Với đồn Hà Hồi (cách Thăng Long 30 km), nửa đếm ngày mồng 3 Tết (28 - 1 - 1789), Quang Trung cho binh sĩ bí mật bất ngờ vây chặt đồn luỹ. Ở trong đồn quân giặc hốt hoảng, nửa hư nửa thực.  Quang Trung bắc loa gọi hàng, nghe lời truyền gọi của Quang Trung, binh sĩ dạ vâng như sấm, “địch kinh hoàng” ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, liền xin ra hàng, đồn Hà Hồi bị hạ trong chốc lát, không tốn một viên đạn, không đổ một giọt máu.

Với đồn Ngọc Hồi (cách Thăng Long 14 km), quân địch phòng bị rất kiên cố. Quang Trung cho thực hiện lối đánh công thành dữ dội, được vận động từ trước nên nhân dân Thăng Long mang ván, rơm ra ủng hộ. Ván được bện thành từng chiếc một như những phiến ghép che tên đạn để đội tiền đạo tinh nhuệ mang đi đầu, những phiến mộc đỡ đạn đó sẽ biến thành những chiếc thang leo, tiếp theo là đội cảm tử và đội voi chiến có đại bác xạ kích phá thành.

Với lối đánh thần tốc, tài tình ấy, làm tên tướng Tôn Sĩ Nghị phải kinh hoàng, hắn thốt lên: “Sao mà thần đến thế”.

Như vậy, trong cuộc kháng chiến chống Thanh có sự đóng góp to lớn của lực lượng tình báo của Tây Sơn, nhưng đội quân “thầm lặng” đó có bao nhiêu người, được tổ chức huấn luyện như thế nào, tướng lĩnh nào chỉ huy? Cho đến nay, chưa một ai biết đến.

5. Vấn đề hậu cần

Những lần viễn chinh trong các cuộc chiến tiền cơ giới thì vấn đề hậu cần rất phức tạp. Quân Trịnh vào đánh quân Nguyễn ở vùng sông Gianh phải đưa theo cả gia đình, vợ con để tải lương thực cho chồng. Quân Thanh xâm lược nước ta, cứ một tên lính đi kèm theo hai tên dân binh để làm hậu cần, còn nghĩa quân Tây Sơn nhiều lần đánh ra Thăng Long, với tốc độ hành quân thần tốc như vậy thì việc tổ chức hậu cần sẽ như thế nào?  Nhiều tài liệu cho biết, nghĩa quân Tây Sơn đã giải quyết hậu cần tại chỗ, đã chuẩn bị trước từ trong dân, dân giúp, dân nuôi?

Hiện nay dân nhiều làng ở Hà Nội có tục lệ sau khi nấu bánh chưng xong, vứt xuống ao đến ngày mùng 5 Tết mới lấy nên ăn. Tục này bắt nguồn từ sự kiện đánh quân Thanh đầu năm 1789. Dân Thăng Long lúc đó nấu bánh chưng vứt xuống hồ là quân Thanh không cướp lương được. Đến ngày mồng 5 Tết, quân Tây Sơn ra đánh, nhân dân mang ra để khao quân.

Có người cho rằng, nhờ hành quân vào dịp Tết nên nghĩa quân Tây Sơn được dân chúng ở các nơi trên đường hành quân mang bánh chưng ra để đón tiếp. Có tài liệu cho rằng, nghĩa quân Tây Sơn đã sử dụng bánh tráng nhẹ làm lương khô để tiện mang theo nên sau ngày thắng trận Đống Đa, loại bánh này được gọi là Bánh Đa- một món ăn truyền thống và thông dụng của nhân dân Bình Định, quê hương của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Cũng có tài liệu cho rằng, ở làng Dương Xuân nới có phường Đúc nổi tiếng của xứ Huế, dưới thời Tây Sơn, các thợ đúc đã đúc được một thứ nồi có thể vừa nấu (thổi cơm) vừa di chuyển, mà truyền thống hội xuân của dân làng Cảnh Dương vẫn còn lưu giữ.

Đây là một chứng cứ thực tế về lịch sử hay chỉ là những sản phẩm tưởng tượng do lòng cảm phục của người đời sau nhằm góp phần giải mã những bí ẩn về cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Quang Trung.

Một hiện thực quá vĩ đại nên bản thân Quang Trung cùng nghệ thuật dụng binh của ông dễ bị thần thánh hoá cũng là điều dễ hiểu.  Người đương thời tôn ông là anh hùng, là Thần, là Trời vì một sự kì diệu mà trước đó không thể tìm thấy ở một nhân vật nào khác.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #88 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:40:18 pm »

14. HOÀI BÃO CỦA VUA QUANG TRUNG


Nửa sau thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam đứng trước một sự khủng hoảng nghiêm trọng. Nho giáo vốn là cương lĩnh chính trị của tầng lớp quan lại dùng để trị dân đã mất tác dụng ngay trên chính thân phận của họ.

Tiến sĩ Phạm Công Thế, sau khi tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật thất bại, mạng sống nằm trong tay quân Trịnh vẫn khẳng khái nói:

“Danh phận chưa sáng tỏ đã lâu rồi, còn phân biệt thế nào là thuận nghịch nữa” .

Tiến sĩ Ngô Trọng Khuê giữ chức thượng thư dưới triều Lê - Trịnh, khi về hưu đã hối hận “tôi lúc nhỏ lập chí sai lầm, theo đường cử nghiệp, trộm được đỗ làm nhục đường sĩ hoạn, biết vinh mà không biết nhục, biết tiến mà không biết thoái, lần lữa trên đường kinh sợ đến mười năm?”

Vậy điều gì đã làm cho tiến sĩ Phạm Công Thế đứng vào hàng ngũ chống triều đình Lê - Trịnh, khi bị thất bại vẫn xác định là mình không sai, và điều gì làm cho tiến sĩ Ngô Trọng Khuê - một quan lại cao cấp đã cho mình là sai lầm khi về hưu rồi vẫn còn kinh sợ đến mười năm?

Đó là một hệ thống lý luận chính trị đã lỗi thời dẫn đến chủ trương sai, quan điểm trị nước không còn phù hợp, tạo nên mọi tầng lớp quan liêu sâu mọt, sa đoạ, sống trên mồ hôi nước mắt của nhân dân lao động, mà Ngô Trọng Khuê hay bất cứ ai đã tham gia vào bộ máy cai trị đó, khi tỉnh ngộ, biết mình sai nhưng sửa thì đã quá muộn. Cái tội làm quan đã làm ông kinh sợ đến mười năm!

Và cuối cùng lịch sử sẽ phán xét cả tập đoàn vua Lê - chúa Trịnh.

Mùa hè năm 1786, khi nghe tin Nguyễn Huệ ra Thăng Long, chúa Trịnh bỏ thành chạy, 9 thớt voi, hơn 10 con ngựa và hơn một ngàn quân hộ tống chúa đến Từ Liêm, thì mọi người đã cao chạy xa bay, khi đến Đông Ngàn thì chỉ còn lại 5, 6 viên hoạn quan theo chúa.

Chúa nghi ngờ có việc chẳng lành sắp xảy ra liền tìm hỏi một tiến sĩ nào đó ở trong vùng để hầu nương cậy. Viên thuộc quan Lý Trần Quán và Nguyễn Trang được dịp ra mắt chúa. Nhưng chúa không dám để lộ tung tích của mình.

Sau đó, Quán từ biệt chúa, giao cho người học trò cũ là Nguyễn Trang đưa 50 quân mộ hộ vệ chúa cho được an toàn. Nhưng mới đi được nửa đường, Trang đưa chúa vào một ngôi nhà để tra hỏt. Chúa ngán ngẩm sự đời nên đành nhận mình là Đoan Nam Vương Trịnh Tông.

Trang đưa chúa hồi kinh và cho người đi báo với Tây Sơn.

Nghe tin chúa bị bắt, Lý Trần Quán đến chỗ chúa bị nạn và bảo Trang: “Chúa là chúa chung của thiên hạ, mà ta lại là thầy anh, vua tôi là nghĩa lớn, sao anh lại làm như thế”.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:28:07 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #89 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:42:14 pm »

Trang đáp: “Quan lớn không bảo tôi trước, khiến tôi trót lầm đến gặp chúa. Nếu chúa trốn thoát ở tay tôi, rồi nữa quân Nam đến hỏi tội tôi, liệu quan lớn có thể biện bạch cho tôi không? Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa không bằng yêu thân mình. Tôi không thể để cho quan lớn làm cho lỡ việc đâu" (1)
 
Thế mới biết cái giềng mối “tam cương”: quân - thần, sư - phụ, phụ - tử tưởng là bất biến của Nho giáo, giờ bị tan hoang trước sự bùng dậy mạnh mẽ của cái Tôi tham vọng và sức giải phóng Nhân bản - cuồng nhiệt của con người vốn bị triền miên ức chế, khổ đau.

Và sau này, đó là hình ảnh vua Lê Chiêu Thống bị lột cả chân tướng đích thực trước những đám quân thần “trung nghĩa” dưới tay vua.

Nguyễn Hữu Chỉnh vốn là quân thần của triều đình Lê - Trịnh, bỏ Lê - Trịnh vào Quy Nhơn theo Tây Sơn. Năm 1786 đưa Tây Sơn ra Thăng Long đánh Lê - Trịnh. Nguyễn Huệ biết Chỉnh là kẻ mang tâm phản phúc nên đã quyết định đưa quân trở về Phú Xuân để Chỉnh một mình ở lại với Thăng Long cho dân Bắc Hà trị tội.

Loạn nổi lên khắp nơi, Chiêu Thống mời Chỉnh về cung để tăng thêm quân lực vương đế. Lúc Vũ Văn Nhậm được Nguyễn Huệ cử ra hỏi tội Chỉnh, Chỉnh đưa vua Lê Chiêu Thống trốn lên Kinh Bắc. Chỉnh lên thuyền qua trước còn để vua và thái hậu lại bên này sông.

Trong đếm tối, chờ lâu không có thuyền, cũng không thấy Chỉnh trở lại Lê Chiêu Thống hoang mang, vua Lê gọi trấn thủ Kinh Bắc là Nguyễn Cảnh Thước đến hỏt. Thước tâu: “Các thuyền không có ở đâu , bệ hạ muốn sang sông gấp thì xin cho thần ít nhiều vàng lụa mới có thể thuê được. Nếu không thì đến sáng mai vẫn còn đây, giả sử quân giặc đuổi đến, thần xin dùng thùng gỗ để đưa bệ hạ qua sông, nhưng chỉ e những đồ ngự dụng không thể giữ được mà thôi”. 

Vua nói: Trẫm có cả thiên hạ còn không giữ được bây giờ còn tiếc cái gì nữa. .

Rồi sai mở hòm cho Thước xem Trong hòm chỉ có con dấu truyền quốc và 40 lạng vàng mà thôi.  Vua nói: Tuỳ nhà ngươi, muốn lấy gì thì lấy? 

Thước nói: Đội ơn bệ hạ ban cho, thần xin chia nhận một nửa.

Thấy sự đời quá ngao ngán nên Chiêu Thống cho Thước tất cả. Thước liền gọi lái đò đưa thuyền đến chở nhà vua và đám người cùng đi qua sông.  Khi đã lên bờ, Thước cho người đuổi theo, đòi lột luôn chiếc ngự bào mà vua đang mặc trong người Vua ứa nước mắt nhưng đành phải cởi ngự bào, cái nghi thức nhà vua cuối cùng còn lại trên thân mình để trao cho chúng, rồi chạy lên núi".

Thế mới biết cái sai lầm của hệ tư tưởng trị nước lạc hậu, rập khuôn, không chịu đổi mới cùng sức phát triển sản xuất và xã hội. Để đến lúc tiếng sấm Tây Sơn bùng nổ, mọi khả năng nhạy cảm xã hội đều quay chiều vào đó.

Chỉ một bộ phận bảo thủ mới thề nguyền hai chữ “ngu trung” như trường hợp Lý Trần Quán đã đào hầm rồi tự mình nằm vào trong chiếc quan tài, sai người đem chôn sống, vì cho mình đã nhầm lẫn để cho người học trò Nguyễn Trang bắt chúa Trịnh nộp cho nghĩa quân Tây Sơn .

____________________-
(1) Hoàng Lê nhất thống chí, tập I, tr. 113.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM