Điểm qua về một số loại vũ khí hiện có của NC thì có lẽ loại phù hợp nhất để nâng cấp, hiện đại hóa là loại PPK 23mm. Dưới đây sẽ điểm qua một số thông tin về loại pháo này:
PHÁO PHÒNG KHÔNG TỰ ĐỘNG ZU-23-2 HAI NÒNG DO CÁC NƯỚC THUỘC LIÊN XÔ CŨ SẢN XUẤT
Quá trình phát triển Năm 1954, Bộ Tư lệnh pháo binh của Nga yêu cầu chế tạo các loại pháo 23mm một nòng, hai nòng và bốn nòng để thay thế các loại pháo ZPU-1, ZPU-2, ZPU-4 cỡ nòng 14,5mm.
Năm 1995, KBP (sau này là TsKB-14) đã đưa ra khái niệm về loại pháo ZU-1 23mm một nòng và ZU-2 23mm hai nòng. Kiểu ZU-1 đầu tiên được hoàn thiện vào năm 1956 và ZU-2 được hoàn thiện vào năm tiếp sau đó. ZU-1 giống với pháo ZPU-1 14,5mm, với tháp pháo kí hiệu là 6U3.
Việc thử nghiệm pháo ZU-1 và ZU-2 đã được hoàn thành vào năm 1996 nhưng ZU-1 đã không được tiếp tục phát triển và chưa bao giờ được đưa vào sản xuất. Các mẫu pháo ZU-2 ban đầu có hai hoặc bốn bánh nhưng cuối cùng kiểu hai bánh được chọn làm kiểu chính thức. Việc thử nghiệm tổng thể hệ thống ZU-2 được hoàn thành vào năm 1960 và cuối cùng loại pháo này được chấp thuận đưa vào trang bị với ký hiệu là ZU-23 (hoặc ZU-23-2). Hệ thống ZU-23 hoàn chỉnh có ký hiệu là 2A13, còn pháo được ký hiệu là 2A14. Việc sản xuất loại pháo này được tiến hành tại Nhà máy 535.
Trong Quân đội Nga, mỗi sư đoàn đổ bộ đường không được biên chế 24 khẩu, mỗi sư đoàn pháo binh 12 khẩu, trong đó mỗi trung đoàn có 4 khẩu. Các sư đoàn đổ bộ đường không được biên chế lại thành phần các trung đoàn phòng không và loại pháo ZU-23-2 có xe kéo không còn sử dụng trong trang bị nữa. Thay vào đó, họ sử dụng hệ thống tên lửa đất đối không 48 SA-9 "Gaskin", mỗi trung đoàn phòng không thuộc lực lượng đổ bộ đường không được biên chế 12 hệ thống tên lửa này và mỗi sư đoàn pháo binh cũng được biên chế 12 hệ thống.
Mô tả Khi triển khai ở thế bắn, các bánh xe được nâng lên khỏi mặt đất và hệ thống được đỡ bằng đế ba chân, đế này có các kích nâng kiểu trục vít. Các nòng có thể thay nhanh được và có loa che lửa. Pháo 23mm được sử dụng trong hệ thống ZU-23-2 cũng được sử dụng trong hệ thống pháo phòng không tự hành ZSU-23-4 nhưng kiểu ZSU-23-4 sử dụng nòng được làm nguội bằng nước.
ZU-23-2 bắn loại đạn lắp liền, vỏ đạn có kích thước giống với kích thước loại đạn pháo phòng không 23mm cũ kiểu VYa. ZU-23-2 bắn hai loại đạn cỡ 23mm, đó là đạn API-T (quán tính xuyên giáp- vạch đường - BZT) và HEI-T (nổ phá - vạch đường - MG-25).
Đầu đạn API-T nặng 0,189kg, sơ tốc 970m/s và có thể xuyên vỏ thép thông thường với chiều sâu xuyên 25mm, khi góc chạm là 0
0 (xuyên vuông góc với bề mặt) từ tầm bắn 500m. Đầu đạn nổ phá HEI-T nặng 0,19kg, sơ tốc 970m/s. ZU-23-2 có tầm bắn hiệu quả là 2012m, đầu đạn tự huỷ ở cự ly 3.780m.
ZU-23-2 là hệ thống chỉ có thể bắn trong điều kiện thời tiết quang đãng và không có hệ thống điều khiển hoả lực bằng radar. Điều khác biệt giữa ZPU-2 14,5mm và ZU-23-2 là chúng có loa che lửa khác nhau, một loại sử dụng thùng đạn ngang, còn một loại sử dụng thùng đạn đứng có thể đặt ở bên nào cũng được. ZU-23-2 còn được các nước như Ba Lan, Iran, Ai Cập, Trung Quốc và Bungary sản xuất dựa trên mẫu của Liên Xô.
