Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:20:04 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123333 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #110 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 05:43:50 pm »

Thực hiện tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và quyết định của Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng, công tác Nam tiến được đặt ra một cách khẩn trương. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng có nhiệm vụ chỉ huy đánh thông con đường từ Đông Khê về Đình Cả, tổ chức đội quân Nam tiến về xuôi.

Hàng trăm cán bộ, thanh niên nam nữ tình nguyện thoát ly gia đình vào các đội Nam tiến. 19 đội xung phong Nam tiến được tổ chức.  Hoạt động của các đội rất sôi nổi. Mỗi đội xung phong được phân công đi một địa phương. Các tổ xung phong phát triển đi trước hoạt động theo lối vũ trang tuyên truyền, bắt mối điều tra tuyên truyền gây cơ sở. Các tổ xung phong củng cố đến sau, chọn cốt cán, mở lớp huấn luyện ngắn ngày rồi dựa vào cán bộ địa phương mới được đào tạo mà phát triển phong trào.

Cùng một lúc, nhiều con đường tiến về Nam được mở thông. Có những tổ xung phong được phái bí mật vượt qua những chặng đường dài, đến một địa phương có quần chúng tốt gây cơ sở rồi dần dần nối các cơ sở khác nhau lại.  Hình thức vũ trang tuyên truyền này là một hoạt động đặc biệt của đội quân cách mạng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Phương châm chung là “Phải lấy người là chính, người trước, súng sau’.

Sau 7, 8 tháng hoạt động, con đường Nam tiến trải qua nhiều gian lao, nguy hiểm đã kéo dài trên nhiều triền núi, cánh đồng, qua các làng bản của đồng bào Tày, Nùng, Dao. Tháng 8-1943, con đường Nam tiến và con đường liên lạc của Cứu quốc quân về Cao Bằng cũng được đánh thông, ôm vòng Cao-Bắc-Lạng, xuống Thái Nguyên về xuôi. Hai khu căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai thông với nhau, dựa vào nhau tạo thành một thế liên hoàn chiến đấu, tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Hai khu căn cứ nối liền nhau đã mở ra một triển vọng lớn, góp phần tạo điều kiện cho sự ra đời của Khu giải phóng sau này.

Ngoài thành quả nối liền hai khu căn cứ, hoạt động vũ trang tuyên truyền của các đội xung phong Nam tiến, của Cứu quốc quân đã góp phần quan trọng vào việc phát triển lực lượng vũ trang và hoạt động vũ trang. Cụ thể, ở Cao Bằng, toàn tỉnh có một trung đội vũ trang tập trung. Mỗi huyện có một trung đội vũ trang, hàng chục đội tự vệ chiến đấu và rất nhiều đại đội tự vệ cứu quốc ở các xã. Riêng ở huyện Hà Quảng đã có một đội vũ trang tập trung, bốn trung đội vũ trang eửa bốn tổng, gần 100 tự vệ cứu quốc ở các xã. 

Bắc Cạn có một đội vũ trang tuyên truyền hoạt động ở Ngân Sơn. Nhiều tiểu tổ bí mật của Cứu quốc quân hoạt động ở Chợ Đồn. Lạng Sơn có một trung đội vũ trang tập trung 37 người được thành lập ở Bình Gia. Nhiều đội tự vệ mạnh, gần như làm chủ nông thôn hai huyện Vũ Nhai, Định Hoá và nhiều xã ở các huyện Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ.

Tại Tuyên Quang, phong trào vũ trang phát triển góp phần vào việc ra đời của Trung đội III Cứu quốc quân. Mạnh mẽ nhất là ở Cao Bằng, tháng 7-1943 đã có cuộc tập trận của hơn 1.000 tự vệ Hoà An. Cuối năm 1943 đã có cuộc duyệt binh ban ngày giữa cánh đồng và những cuộc tập trận giả huy động từ 400 đến 500 tự vệ trong phạm vi mấy tổng tham gia. 

4. Chống khủng bố trắng ở Cao Bằng - Vận dụng loại hình chiến đấu “Phòng ngự căn cứ địa”

Loại hình chiến đấu “Phòng ngự căn cứ địa”, đã diễn ra trong cuộc chống khủng bố của du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai.  Tháng 12-1943, tiếp theo sự khủng bố khu căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai, địch tiến hành khủng bố trắng khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng.

Cao Bằng qua sự tôi luyện chống khủng bố năm 1940, lại rút kinh nghiệm của Bắc Sơn - Vũ Nhai, đã vận dụng các hình thức mới chống địch rất sáng tạo. Đó là tổ chức các đội xung phong chống khủng bố tại các làng bản. Mỗi lần quân địch đến bắn phá, thanh niên trai gái trong Ban xung phong chống khủng bố lại chia nhau đi giải thích, tuyên truyền giữ vững tinh thần nhân dân.

Trước đó, chống phá cách mạng ở Bắc Sơn - Vũ Nhai, địch đã áp dụng cách “dồn làng, tập trung dân”. Sự chống trả của ta cũng đã có hiệu quả nhất định nhờ tinh thần yêu nước và chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta. Nhưng nay kẻ thù đàn áp gắt gao hơn, dồn làng, tập trung dân chặt chẽ hơn, lùng sục cán bộ ráo riết hơn. Chính lúc đó, sáng kiến đã nảy nở trong điều kiện mới - điều kiện quân và dân đã được tổ chức và huấn luyện chính trị quân sự tốt hơn các thời kỳ trước.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #111 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 05:46:16 pm »


Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng ra chỉ thị “Tổ chức các tiểu tổ bí mật”. Các tiểu tổ bí mật này gồm các đảng viên và đội viên trung kiên đã thoát ly gia đình, có tổ Đảng lãnh đạo. Các tiểu tổ bí mật đều lánh vào rừng núi, triệt để “quân sự hoá”, vừa tiếp tục tiến hành công tác quần chúng vừa tiếp tục học tập quân sự, chính trị. Đây là một hình thái tổ chức mà trong cuộc chống khủng bố ở Cao Bằng năm 1940 và ở tám tháng chiến đấu của du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai chưa có được. Hình thức tổ chức này chỉ có thể ra đời sau cuộc vận động quần chúng, tổ chức và huấn luyện quân sự trong hai năm 1942-1943 của Cứu quốc quân, du kích quân Cao Bằng và đặc biệt là của các đội quân Nam tiến.

Lúc này “Quân sự hoá” và “Du kích hoá” đã trở thành phong trào sống và hoạt động của thanh niên trong khu căn cứ Cao- Bắc - Lạng. Các tiểu tổ bí mật phát triển nhanh, trở thành những mạng lưới vây quanh các làng bản. Từ các tiểu tổ bí mật, các tổng, châu đã tổ chức ra những đội tự vệ thoát ly, từ tiểu đội đến trung đội cao hơn hình thức tự vệ và tự vệ chiến đấu. 

Kiên quyết duy trì và phát triển các hạt nhân vũ trang làm chỗ dựa tin cậy của phong trào quần chúng, lực lượng tự vệ và tự vệ chiến đấu được tổ chức tại Cao Bằng từ cuối năm 1941 phát triển rất nhanh chóng trong hai năm 1942-1943, lúc này trải qua những thử thách, càng được tôi luyện. Số lượng hội viên và tự vệ tuy có thu hẹp nhưng vẫn còn rất đông đảo và trở nên vững chắc hơn nhiều.

Nhiệm vụ Nam tiến vẫn được tiến hành. Giao thông liên lạc không bị gián đoạn. Các cơ sở cách mạng qua đấu tranh lại vững mạnh hơn. Những lớp huấn luyện lại được mở tiếp trong rừng. Số người học rất đông, họ ít nhiều đã được tôi luyện qua cuộc đấu tranh gian khổ với kẻ địch. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vẫn được xúc tiến.

Nhân dịp kỷ mềm Cách mạng Tháng Mười Nga (11-1942), các châu huyện ở vùng giáp giới Cao Bằng - Bắc Cạn đã tổ chức một Đại hội chuẩn bị võ trang khởi nghĩa tại khu rừng Phan Thanh thuộc tổng Trần Hưng Đạo. Hàng trăm đại biểu của các dân tộc nô nức kéo về dự. Tại Đại hội, 10 đội tự vệ chiến đấu đã tham gia biểu diễn quân sự. Kẻ địch đã không ngăn được quân dân Cao- Bắc - Lạng đẩy mạnh đấu tranh đón thời cơ mới. 

5. Củng cố và mở rộng căn cứ địa.

Trung đội III Cứu quốc quân ra đời Trong khi Cao Bắc Lạng đấu tranh chống khủng bố trắng có hiệu quả thì Cứu quốc quân ở Thái Nguyên, Tuyên Quang lại đẩy mạnh hoạt động để hỗ trợ, đồng thời mở rộng khu căn cứ Địa bàn hoạt động đã phát triển xuống Vũ Nhai, Đồng Hỷ, qua Phú Lương, Đại Từ, Định Hoá thái Nguyên), sang Sơn Dương (Tuyên Quang)... thu hút được cả những chiến sĩ từ trung du lên.

Do sự tăng tiến của phong trào, ngày 25 - 2 - 1944, Trung đội III Cứu quốc quân ra đời (ở Khui Kịch, châu Sơn Dương tuyên Quang). Đội gồm những chiến sĩ hoạt động ở nam Đại Từ, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Vĩnh Yên.

Về hướng Lạng Sơn, cũng trong tháng 2-1944, Trung ương Đảng cử đồng chí Hoàng Quốc Việt lên kiểm tra tình hình. Thay mặt Trung ương, đồng chí Hoàng Quốc Việt quyết định chia khu căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai mở rộng (tức chiến khu Hoàng Hoa Thám lúc đó) thành hai phân khu: Phân khu A - phân khu Quang Trung ở tả ngạn sông Cầu, phân khu B - phân khu Nguyễn Huệ, ở hữu ngạn sông Cầu. 

Trước nhu cầu bức xúc về cán bộ và khả năng của khu căn cứ, Trung ương Đảng đã giao cho Cứu quốc quân liên hệ với chi bộ nhà tù Chợ Chu tổ chức một cuộc vượt ngục cho các chiến sĩ cách mạng đang bị kẻ thù giam giữ. Tháng 10-1944, 12 đồng chí, trong đó có các đồng chí Song Hào, Lê Hiến Mai, Tạ Xuân Thu. . . vượt ngục thành công.

Nhờ đó, cán bộ lãnh đạo của khu căn cứ được tăng cường, hoạt động của Cứu quốc quân được đẩy mạnh, hai phân khu đều phát triển. Phân khu A phát triển về phía nam Thái Nguyên, Bắc Giang.  Phân khu B phát triển mạnh từ Sơn Dương (Tân Trào - Kim Long), Thanh La lên tới Ao Bục, Khởi Phát kim Quan Thượng) qua Đèo Khế (Văn Lãng) sang Định Hoá, Chợ Chu. . .  Tất cả đã tạo thế cho căn cứ rộng lớn Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên sắp ra đời.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #112 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 05:51:07 pm »

6. Chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh về “Sửa soạn khởi nghĩa” và phong trào cách mạng của quần chúng.

Chỉ thị về “Sửa soạn khởi nghĩa” ngày 7-5-1944 của Tổng bộ Việt Minh có tầm quan trọng đặc biệt đôi với khởi nghĩa vũ trang. Chỉ thị đã phát động phong trào cách mạng trong toàn quốc khi mà cơ sở Việt Minh đã phát triển ở khắp ba kỳ; đấu tranh quân sự từ các căn cứ địa mở rộng ra toàn quốc.

Chỉ thị không đơn thuần như một mệnh lệnh mà là một văn kiện eô đúc lý luận và kinh nghiệm về chiến tranh du kích và khởi nghĩa vũ trang mà Đảng đã phổ biến qua nhiều sách báo, lời kêu gọi, lớp huấn luyện. Chỉ thị gắn đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị của toàn dân, toàn quốc, thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân, cả thành thị lẫn nông thôn, mọi người Việt Nam yêu nước, đều có thể tham gia vào cuộc đấu tranh vũ trang, đều hăng hái “Sắm võ khí, đuổi quân thù chung”.

Chỉ thị phân tích, làm sáng rõ 5 câu hỏi :

1) Ai ra đánh quân thù?

2) Lấy gì mà đánh?

3) Đánh bằng cái gì?

4) Đánh lúc nào sẽ thắng?

5) Làm thế nào đẩy mạnh phong trào tiến tới khởi nghĩa?

Chỉ thị nêu vấn đề thời cơ một cách khoa học và sáng tạo. Để tránh sai lầm hiểu khái niệm thời cơ cách mạng chỉ dựa vào yếu tố khách quan. Chỉ thị nhấn mạnh đến nhân tố chủ quan: “thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn do ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó”.  “Sửa soạn nó” thì ngoài mặt quân sự “phải làm những việc chính trì trong quần chúng” 1.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động chính trị, vận động quần chúng làm cơ sở, từ đó xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang với quy mô thích hợp với phong trào được quán triệt trong Chỉ thị. Chỉ thị cổ vũ: “Chúng ta phải biết nắm lấy cơ hội ngàn năm có một đặng giành quyền độc lập đuổi kịp năm châu”.

Nhờ vậy, phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển nhanh. Tính từ tháng 2 - 1943 đến tháng 2-1945 đã có gần 40 cuộc đấu tranh của công nhân từ Nam chí Bắc, dưới nhiều hình thức, chĩa mũi nhọn vào phát xít Nhật - Pháp và tay sai. Từ tháng 3 đến tháng 6-1943 công nhân Hà Nội, Việt Trì... đưa đơn đòi chủ không được bán gạo giá cao. Ngày 15-4-1944, 79 thợ may ở hãng may quần áo cho Nhật (đường Chaigneau, Sài Gòn) bỏ việc, đòi tăng lương và bồi thường cho những anh em có gia đình bị chết bom ở Hà Nội.

Cuối tháng 8-1944, công nhân xưởng Săng cô của Nhật đòi chủ bán gạo. Hai ngày sau, hơn 400 công nhân bãi công đòi tăng lương.  Ngày 7, 8, 9 tháng 8-1944, trên 500 công nhân thợ hồ ở các trại lính Nhật ở Chí Hoà (Chợ Lớn) lần lượt bãi công phản đối giặc Nhật vô cớ giảm tiền lương từ 2,9 đồng xuống 2 đồng. Có hàng trăm cuộc đấu tranh của nông dân nhằm chống thu thóc, thu thuế, chống bắt phu bắt lính, chống phá lúa, trồng đay, thầu dầu.

Đặc điểm của phong trào là đã kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, có tự vệ làm nòng cốt Nhiều nơi đã diễn ra xô xát với địch, có tự vệ chiến đấu tham gia, nhất là những nơi đang manh nha căn cứ địa như ở Ninh Bình, Phú Thọ, Hải Dương, Hơng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Kiến An, Hải Phòng, Thanh Hoá v.v.. Không khí “Sửa soạn khởi nghĩa” đã tràn ngập thành thị, nông thôn, thúc đẩy phong trào đấu tranh vũ trang phát triển.


_______________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 498.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #113 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 06:01:14 pm »

V. TÍCH CỰC CHUẨN BỊ VŨ TRANG KHỞI NGHĨA TẠI CHIẾN KHU CAO – BẮC – LẠNG, THÁI - HÀ - TUYÊN VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN


Cuối năm 1944, hai khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng và Thái - Hà - Tuyên đều phát triển. Phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước hướng về đây. Địch hết sức lo ngại. Chúng mở cuộc khủng bố trắng lần thứ ba vào căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai. Đấu tranh chống khủng bố lại diễn ra ác liệt.

Tại phân khu B, ban lãnh đạo do đồng chí Song Hào làm bí thư đã nắm chắc công tác trung tâm là củng cố, mở rộng tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng vũ trang, tổ chức nhân dân đứng lên đấu tranh chính trị với địch dưới các hình thức từ thấp đến cao, nhằm chống thu thóc, thu thuế, chống bắt phu, bắt lính, chống khung bố. Các tổ chức tự vệ, du kích làm nòng cốt bảo vệ, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng cùng phát triển với phong trào Việt Minh đấu tranh mặc dầu địch khủng bố, khu căn cứ vẫn ngày càng mở rộng, phong trào ngày càng lên cao.

Tại phân khu A, đấu tranh chống khủng bố diễn ra với hình thức kết hợp chính trị với quân sự. Ngày 7-11-1944 chi bộ Vũ Nhai đã huy động hàng trăm quần chúng tổ chức mít tinh thị uy ở Lân Cùng chống địch bắt cán bộ, đàn áp cơ sở cách mạng. Địch đàn áp ngày càng dữ dội. Ngày 10-11-1944 ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định phát động đấu tranh vũ trang chống khủng bố, dùng chiến tranh du kích đánh lùi các cuộc càn quét của địch làm chủ các vùng rừng núi. 

1. Chiến tranh du kích chống khủng bố ở Vũ Nhai.

Về phía địch, quân số hơn 1.000 tên, có súng cối, đại liên, sơn pháo 75 ly và cả máy bay yểm hộ. Tướng Sabattier chỉ huy chiến dịch khủng bố đã đưa đến vùng đông bắc Thái Nguyên một tiểu đoàn binh lính người âu với ý định đàn áp một cách quy mô như với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940. 

Về phía ta, Cứu quốc quân lúc đầu có hai trung đội, qua gần ba tháng chiến đấu, quân số tăng lên tới khoảng 500 người, được trang bị 56 súng và các loại vũ khí thô sơ. Để động viên tinh thần đấu tranh của quần chúng, ngày 13-11-1944, ban lãnh đạo phân khu tổ chức diễn thuyết, biểu tình tuần hành, thị uy khuấy động phong trào.

Được sự hỗ trợ của Cứu quốc quân, nhân dân vùng Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá thực hiện “Vườn không, nhà trống” vào rừng theo Cứu quốc quân, xung phong vận chuyển, cất giấu lương thực vào hang. Có gia đình dũng cảm tự tay đốt nhà mình, kéo nhau lên núi, quyết sống mái với quân thù. Thanh mến tự vệ nô nức tình nguyện gia nhập Cứu quốc quân. 

Mở đầu cuộc chiến tranh du kích chống địch khủng bố, Cứu quốc quân đã chủ động tiến công quân thù ở nhiều nơi.  Ngày 11-11-1944, phá cầu ở cây số 25, cắt đứt liên lạc của địch trên đường Thái Nguyên - Đình Cả. Ngày 12-11, tiễu trừ bọn phản động ở Lâu Thượng và Phú Thượng, tiến công đồn Đình Cả, uy hiếp đồn binh gần phố Bình Gia. Ngày 13-11, một tiểu đội Cứu quốc quân phục kích 500 lính địch khi chúng từ Thái Nguyên tiến lên Đình Cả, giết chết 10 tên, làm bị thương nhiều tên khác.

Chỉ trong vòng 20 ngày, tử 11 - 11 đến 30-11, Cứu quốc quân đã 7 lần tiến công các đồn địch, 20 lần phục kích trên các ngả đường. ở Đất Đỏ, hang Mỏ Gà, hang Phượng Hoàng, Nà Khao, Nà Phai, gốc đa La Hoá, hang Đèo Đá (Tràng Xá) đã liên tiếp diễn ra nhiều trận đánh, diệt địch.

Được nhân dân giúp sức, Cứu quốc quân đã sáng tạo ra nhiều cách đánh khôn khéo, vừa đánh, vừa làm công tác binh vận. Kẻ địch, dù đông quân, lại có pháo binh trợ lực nhưng rất hoang mang.  Tên đồn trưởng Đình Cả phải bỏ đồn chạy trốn. Trong gần ba tháng chiến đấu, Cứu quốc quân không những không bị tiêu hao mà còn phát triển cả về số quân và vũ khí. Chiến tranh du kích lại một lần nữa phát huy hiệu quả của nó. 

Tuy vậy, vì cả nước chưa có tình thế trực tiếp cách mạng nên cuộc chiến đấu ở Vũ Nhai còn lẻ loi. Nhân dân triệt để làm vườn không nhà trống chạy vào rừng, bị ốm đau bệnh tật làm khó khăn thêm cho các chiến sĩ. Địch khủng bố dữ dội.  Chúng mở nhiều cuộc càn quét, bắt bớ. Tính đến ngày 21-12 chúng bắt đi tập trung tới 200 người.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #114 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 06:02:32 pm »

Tình hình đang cho thấy: cuộc chiến đấu ở Vũ Nhai có tính chất một cuộc khởi nghĩa là chưa thích hợp. Đáng lẽ vẫn nên theo phương châm phòng ngự căn cứ địa” của chiến tranh du kích, vừa diệt địch, trừ gian, tiến hành binh vận, vừa tổ chức nhân dân đấu tranh chính trị, chống địch dồn làng, bắt người, phát triển khu căn cứ, bảo toàn và phát triển lực lượng.

Được tin cuộc khởi nghĩa Vũ Nhai nổ ra ngoài kế hoạch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã khẳng định những ưu điểm, phê phán những khuyết điểm, sai lầm, rút ra những bài học bổ ích. Đồng thời, Trung ương quyết định chuyển cuộc đấu tranh vũ trang thành cuộc chống khủng bố theo những hình thức thông thường để phá cuộc càn quét của địch và bảo toàn lực lượng. Nhân dân trở lại làng bản và tiếp tục đấu tranh với địch. Một bộ phận nhỏ Cứu quốc quân được phân tán, bí mật bám sát cơ sở, duy trì tinh thần đấu tranh của quần chúng.  Còn phần lớn rút sang Yên Thế (Bắc Giang) để đón thời cơ mới.

Mặc dầu có những thiếu sót, cuộc chiến đấu ở Vũ Nhai đã gây một tiếng vang lớn trong cả nước, cổ vũ phong trào “Sắm vũ khí đuổi quân thù chung” mà Tổng bộ Việt Minh phát động.  Nó chứng tỏ khả năng khởi nghĩa vũ trang của quần chúng là rất lớn và khẩu hiệu “Sửa soạn khởi nghĩa” của Đảng là phù hợp với tình hình cách mạng và nguyện vọng quần chúng. 

Giữa lúc nhân dân Vũ Nhai đang chiến đấu thì ở chiến khu Cao - Bắc - Lạng, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra cũng sôi động. Tháng 7- 1944, Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng đã triệu tập Hội nghị cán bộ để thảo luận về vấn đề khởi nghĩa - một cuộc hội nghị dông đủ nhất từ ngày địch tiến hành khủng bố. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh và các đồng chí trong Liên tỉnh uỷ đều có mặt. Báo cáo chính trị nhận định: “Các điều kiện đã chín muồi để phát động chiến tranh du kích trong liên tỉnh”. Cuộc thảo luận sôi nổi và mặc dầu còn những vấn đề công tác cụ thể chưa có cách giải quyết, Hội nghị cũng nhanh chóng đi đến quyết nghị khởi nghĩa.

Một không khí chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra sôi nổi trong toàn khu căn cứ. Các lớp huấn luyện được tổ chức. Phong trào mua sắm, chế tạo vũ khí, tích trữ lương thực được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Đồng bào góp thóc cho du kích vượt quá mức dự định. Có bà cụ bán phần lớn gia sản để mua súng cho con trai, con gái. ở nhiều châu, huyện, các cụ cao tuổi họp biểu quyết toàn thể thanh niên nam nữ phải tòng quân khi đoàn thể kêu gọi. Phụ nữ, người già ở lại sẽ đảm nhiệm tăng gia sản xuất, củng cố hậu phương.

Vào tháng 9-1944, kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa đã thực hiện được một phần. Tiếng súng vũ trang hành động đã nổ ở nhiều nơi. Liên tỉnh uỷ đang trù tính một cuộc hội nghị cuối cùng để quyết định ngày giờ phát động cuộc khởi nghĩa.  Giữa lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh về đến vùng căn cứ Cao Bằng. Sau khi nghe báo cáo và kiểm tra tình hình, Người chỉ thị cho Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng hoãn cuộc khởi nghĩa vì “Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong toàn quốc, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục”.

Người kết luận: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hoà bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị coi trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại phải tản cơ cả vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao cứ hoạt động vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng không để địch bắt, hại những người hoạt động...” 1. 

Người chỉ ra hướng giải quyết là tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tất nhiên phải gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, từ đó mà mở rộng cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang. Người quyết định thành lập đội quân chính quy đầu tiên của cách mạng Việt Nam.


________________________
1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 139.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #115 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 06:41:01 pm »

2. Sự ra đời và hoạt động của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

Để thành lập đội quân chính quy đầu tiên, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã vạch ra những nét chính về Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, từ nguyên tắc tổ chức đến phương châm hành động và vấn đề giải quyết trang bị, vũ khí, lương thực. Người duyệt danh sách chỉ huy Đội và các đội viên được chọn lọc từ các đội tự vệ chiến đấu và các đội du kích địa phương lên để thành lập đội chủ lực đầu tiên hoạt động trên địa bàn rộng.

Về nguyên tắc tổ chức đội quân chính quy đầu tiên, Người nhấn mạnh đến tính giai cấp, tính nhân dân, cơ cấu tổ chức ba thứ quân, địa bàn đứng chân hoạt dộng trong cả nước, từ Nam chí Bắc. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ phương châm hành động là chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến.

Trên cơ sở tư duy chín muồi về tổ chức đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam, tháng 12 - 1944, Người đã viết Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Toàn văn chỉ thị như sau:

“1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực. 

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong cán địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. 

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa cán cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật, vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân. Nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta” 1. 

Toàn văn bản Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nêu lên những quan điểm cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng ta. Đó là tư tưởng về kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân; tư tưởng về lực lượng vũ trang có ba thứ quân (quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng tự vệ du kích rộng khắp); tư tưởng về phương châm hoạt động phối hợp hành động giữa các thứ quân đó; kết hợp quân sự với chính trị, thực hiện lối đánh tài giỏi, bí mật, bất ngờ, tích cực, chủ động, mưu trí, linh hoạt 2. 

Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là văn kiện lịch sử, được coi như cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng ta. Chỉ thị đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ khởi nghĩa ở Việt Nam.

Thực hiện chỉ thị của Người, lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được tổ chức hồi 5 giờ chiều ngày 22-12-1944 tại khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, có đại diện Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng cùng đông đảo đại biểu tham dự. Quân số gồm 34 đội viên. Tất cả đều đã trải qua thử thách chiến đấu.


_________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 507-508. 
2. Xem: Võ Nguyên Giáp: Cao Bằng - Mảnh đất anh hùng, nơi ra đời của đội quân chủ lực đầu tiên. In trong sách: 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Miền đất khai sinh và quá trình phát triển, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 30.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #116 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 06:43:55 pm »

Cơ cấu lãnh đạo, chỉ huy gồm có: Đội trưởng: Hoàng Sâm, Chính trị viên: Xích Thắng. Chi bộ Đảng: Võ Nguyên Giáp, Hoàng Sâm, Xích Thắng, Hoàng Văn Thái.

Vũ khí gồm: 2 khẩu súng thập, 17 khẩu súng trường, 14 khẩu súng kíp. Ngoài ra còn một số vũ khí được Việt kiều ở Côn Minh gửi tặng, gồm: 1 khẩu súng tiểu liên Mỹ Sub Machine-gun, 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp bom nổ chậm, 5.000 đồng Đông Dương để chi về quân nhu. 

Sau khi công bố chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Mình, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và hạ lệnh cho đội tiến lên con đường vũ trang tranh đấu. Trước cờ Tổ quốc, toàn đội đồng thanh đọc 10 lời thề danh dự:

“Chúng tôi, đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, xin lấy danh dự của một người chiến sĩ cứu quốc mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh.

Xin thề:

1. Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật - Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới.

2. Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp chỉ huy, khi nhận được mệnh lệnh gì, sẽ tận tâm, tận lực thi hành cho nhanh chóng và chính xác.

3. Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước.

4. Lúc nào cũng khẩn trương, hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sĩ tiên phong giết giặc cứu nước. 

5. Tuyệt đối giữ bí mật cho bộ đội về nội dung tổ chức,về các cấp chỉ huy, tuyệt đối giữ bí mật cho tất cả các đoàn thể cứu quốc

6. Khi ra trận nếu bị quân địch bắt được, thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội.

7. Hết sức ái hộ bạn chiến đấu cũng như bản thân,hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận. 

8. Hết sức giữ gìn vũ khí, không bao giờ để vũ khí hư hỏng hay rơi vào tay quân thù.

9. Khi tiếp xúc với dân sẽ làm đúng ba điều răn: không lấy của dân - không doạ nạt dân, không quấy nhiễu dân và ba điều nên: Kính trọng dân- giúp đỡ dân - bảo vệ dân, để gây lòng tin ái cậy đối với dân chúng, thực hiện quân dân nhất trí, giết giặc cứu nước.

10. Bao giờ cũng nêu cao tinh thần tự phê bình, giữ tư cách cá nhân mô phạm, không làm điều gì hại đến thanh danh Giải phóng quân và quốc thể của Việt Nam” 1. 

Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Ra quân trận đầu nhất định phải thắng”. Các chiến sĩ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân coi việc thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh là một nghĩa vụ thiêng liêng. Do vậy, phải lựa chọn được địa bàn hoạt động và phương thức tác chiến sao cho hợp với khả năng, sát với tình thế mới thành công.  Lực lượng ta còn chưa mạnh, vũ khí, đạn dược ít. Mỗi khẩu súng trường chỉ có trung bình 20 viên đạn. Đối tượng tiến công ở khu căn cứ lúc này chỉ có thể là phục kích khi địch hành quân hay tập kích các đồn địch.

Phục kích các đội quân địch thì tương đối dễ đạt thắng lợi, đỡ bị tổn thất, nhưng thu được ít đạn dược, lại còn phải chọn địa bàn, chờ đợi thời cơ. Tập kích vào đồn trại giặc có thể thực hiện được nhưng hình thức tác chiến khó khăn hơn, phải thật bí mật, bất ngờ... Cuối cùng qua trinh sát 2 và thẩm định kỹ càng, ban chỉ huy đã quyết định chọn hai địa điểm để tập kích là: đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần.


____________________
1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 152- 153.
2. Trinh sát viên đồn Phai Khắt là thiếu niên Hồng 12 tuổi, được phân công mang bánh và rượu cho tên đồn trưởng, đã nắm sát địch tình ra báo cáo với ban chỉ huy.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #117 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 06:49:03 pm »

Tập kích đồn Phai Khắt (ngày 24-12-1944)

Đồn Phai Khắt thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đồn nằm trong xã Phai Khắt, nơi đã thành một xã “hoàn toàn” và là quê hương của một số chiến sĩ Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Đồn có 17 lính và 1 cai do 1 đồn trưởng Pháp chỉ huy. Kế hoạch tác chiến là cải trang lừa địch, tạo thế bất ngờ để đột nhập đồn, diệt địch, thu vũ khí. Toàn đội chia làm ba toán nhập đồn với giấy tờ giả 1 trót lọt. Cuộc chiến diễn ra nhanh chóng và thành công 3 .  17 lính và 1 tên cai đã đầu hàng. Giữa lúc đó, tên đồn trưởng Pháp đang trên đường Nguyên Bình - Phai Khắt về đồn, một chiến sĩ ta nổ súng tiêu diệt. Sau khi thu chiến lợi phẩm và động viên nhân dân, đặt kế hoạch đề phòng địch khủng bố, quân ta rút lui an toàn.
 
Trận Nà Ngần (ngày 25-12-1944). 

Đồn Nà Ngần cách đồn Phai Khắt khoảng 25 cây số, có 22 lính và 2 sĩ quan (1 sĩ quan người Pháp) chỉ huy. Phương thức tác chiến vẫn là cải trang thành lính địch đi tuần, tập kích bất ngờ, binh vận, dụ hàng, chỉ diệt địch khi cần. Cuộc tập kích diễn ra hồi 7 giờ sáng.

Nếu ở Phai Khắt chỉ nổ súng diệt tên đồn trưởng Pháp một cách bất ngờ, thì ở Nà Ngần, tình thế đã buộc ta phải nổ súng diệt một tên sĩ quan và bốn lính kháng cự lại 3. Trận đánh kết thúc thắng lợi trong vòng dăm phút. Toàn đội rút lui an toàn.  Hàng binh xin trở về quê quán làm ăn được trợ cấp lộ phí 4. 

Hai chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã biểu hiện tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, trí thông minh, sáng tạo của chỉ huy, lòng yêu nước và dũng khí chiến đấu của toàn thể đội viên Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Tính nhân dân của một đội quân cách mạng biểu hiện trong khi thu dọn chiến trường, đặt kế hoạch chống địch khủng bố, bảo vệ dân.

Hai trận đánh đồn Phai Khắt và Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta. Hai chiến thắng đã góp phần thực hiện được phương châm “Lấy chiến thắng để tuyên truyền vũ trang. Lấy tuyên truyền vũ trang để giành chiến thắng mới” như lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị.

Trận Đồng Mu (ngày 5-2-1945)

Sau hai chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần. Đội bắt tay ngay vào luyện tập quân sự. Chương trình luyện tập gồm có: cảnh giới, trinh sát, tập bắn súng, lợi dụng địa hình, địa vật, cách hành quân, trú quân, cách đánh tập kích, phục kích.  Đợt luyện tập ngắn ngày kết thúc. Đội tiến quân tập kích đồn Đồng Mu, một đồn địch kiên cố, được bố phòng nghiêm mật 5, việc trinh sát của ta gặp khó khăn hơn. Cách cải trang lừa địch không còn thích hợp nữa, ta buộc phải bí mật nhập đồn trong đêm tối để tiêu diệt địch 6.


__________________
1. Toàn đội cải trang thành lính dõng và một số lính tập. Giấy đi tuần giả để nhập đồn do đồng chí Võ Nguyên Giáp đánh máy, nhờ bên toà soạn báo Việt Nam Độc lập có dấu giả, chữ ký khéo bắt chước chữ ký của địch. 
2. Tiểu đội trưởng Thu Sơn mặc bộ ka ki lính tập, xách tiểu liên đi đầu đưa “giấy đi tuần”. Một tiểu đội đi theo tiến thẳng vào kho súng. Tiểu đội khác bao vây đồn. Đồng chí Sơn hô tiếng Pháp “Rátsămmăng” (Tập hợp). 17 lính và 1 cai tập hợp lại. Các chiến sĩ cách mạng chĩa súng buộc địch đầu hàng.
3. Hình thức cải trang có đổi khác: ba du kích quân đóng giả người Dao bị quân du kích bắt được, trói giải lên đồn. Khi quân du kích bằng giấy giả vào được đồn thì tên quản khố đỏ đã dậy sớm ngồi vào bàn làm việc. Du kích chĩa súng bắt hàng, nhưng y đã dùng súng ngắn kháng cự lại và bị đội trưởng Thu Sơn dùng tiểu liên tiêu diệt, bốn tên lính kháng cự lại cũng bị tiêu diệt bằng sáu phát đạn súng trường của quân du kích.
4. Đội đã vay được mấy trăm đồng của một hội viên Việt Minh để cấp lộ phí cho hàng binh.
5. Đồn nằm trên một ngọn đồi cao chơ vơ giữa cánh đồng, vì phải tuôn đối phó với thổ phỉ nên đồn có công sự khá vững chắc, có nhiều lô cốt, có tường rất dày với nhiều lỗ châu mai, có giao thông hào và dây thép gai bao bọc.
6. Đêm 22 tháng Chạp âm lịch (từ 5-2-1945) ta chia làm hai mũi tiến về đồn. . . Kế hoạch là phải bí mật nhập đồn, nhưng địch lại nhận được tín đêm đó có thổ phỉ tấn công nên đã đề phòng. Nội ứng của ta tê liệt. Các tổ xung phong nhập được đồn nhưng do bị lộ, địch chống trả quyết liệt. Cuộc chiến đấu diễn ra từ 1 đến 2 giờ sáng. Toàn đội chiến đấu dũng cảm. Tiêu biểu như đồng chí Quang Trung dùng súng và dao giết năm tên địch.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #118 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 06:57:01 pm »

Trong chiến đấu, ta tiêu diệt được khoảng hai chục tên địch. Số còn lại vẫn dai dẳng chống cự. Thấy kéo dài cuộc chiến không lợi, ban chỉ huy hạ lệnh rút khỏi đồn trước khi trời sáng. Ta thu được 5 khẩu súng, một số đạn dược, bắt 3 tù binh. Tổn thất của ta là đội trưởng Xuân Trường bị hy sinh.  “Trận tập kích đêm vào Đồng Mu tuy không thắng lợi theo như kế hoạch đã định, nhưng đã rèn luyện cho đội ta rất nhiều, và đã xây dựng cho đội một truyền thống anh dũng chiến đấu” 1.

Trận tiếp theo là phục kích địch trên đường Nà Ngần đi Benle. Trận này diễn ra toàn thắng, bắt sống được gần 1 trung đội địch, thu 16 súng và nhiều đạn dược, lương thực.  Tù binh được tuyên truyền giải thích. Một số được thả về đồn Nà Ngần để gây hoang mang cho địch, chuẩn bị cho cuộc công đồn tiếp của ta. Trận công đồn Nà Ngần lần thứ hai diễn ra ngay đêm hôm đó thắng lợi. Ta thu được gần 30 súng và nhiều đạn dược, quân trang quân dụng.

Các chiến thắng trên đạt được đúng vào lúc mà tin Nhật sắp sửa lật đổ Pháp vừa bí mật truyền tới. Toàn đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân phải sớm tiến xuống phía Nam để nhanh chóng mở đường liên lạc về xuôi.  Như vậy, quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang cũng là quá trình hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng.

Tại hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng, tư  tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có ảnh hưởng quyết định đối với việc hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược đó. Nêu cao ngọn cờ đại nghĩa dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân thông qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh, đồng thời giải quyết thành công một loạt vấn đề then chốt trong tư tưởng lý luận về khởi nghĩa vũ trang, về căn cứ địa, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và hình thức hoạt động của đội quân chính quy đầu tiên trong bước quá độ từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng trong cả nước ngày càng sôi nổi, đấu tranh vũ trang từng bước phát triển đưa đến một thời kỳ mới - thời kỳ cao trào cách mạng, tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.



Chương IV

ĐẤU TRANH VŨ TRANG TRONG CAO TRÀO TIỀN KHỞI NGHĨA
(9.3-13.8-1945)

Sự kiện Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương ngày 9-3-1945, xét trên nhiều nhiều cạnh là mốc quan trọng. Từ đây cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn mà Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã dự liệu hình dung và chờ đợi từ trước.

Đọc lại các văn kiện của Đảng từ sau Hội nghị Trung ương VI, càng thấy rõ rằng, sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945 chỉ là “cái ngẫu nhiên” nhưng là “cái ngẫu nhiên” biểu hiện “cái tất yếu của lịch sử” . Đó là Đồng minh nhất định thắng, trục phát xít nhất định bại, ở Đông Dương, Nhật nhất định phải quật ngã Pháp để trừ hậu hoạ.

Nhận rõ tất yếu lịch sử này, tháng 10-1944, Hồ Chí Minh trong Thư gửi đồng bào toàn quốc đã viết: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp ta phải làm nhanh!” 2.

Còn trước đó, ngày 28-9-1944, trong bài “Cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ’ đăng trên báo Cờ giải phóng, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Sự hoà hoãn này (hoà hoãn giữa Nhật và Pháp ở Đông Dương O.V.T) có khác chi một cái nhọt bọc, chứa chất bên trong biết bao nhiêu vi trùng và máu mủ, chỉ chờ dịp chín mõm là vỡ tung ra” 3.


_____________________
1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 178.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.505-506.
3. Ngọn cờ giải phóng (lời tựa), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1955, tr. 45. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #119 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 08:32:50 pm »

Rõ ràng, ngày Nhật đảo chính Pháp chỉ là cái ngẫu nhiên biểu hiện cái tất yếu lịch sử mà Đảng ta đã dự lường từ trước.  Nhưng điều quan trọng hơn lại là ở chỗ: khi đã nhìn thấy xu thế phát triển của tình hình, những người cộng sản Việt Nam không chỉ chờ thời cơ tới mà đã chủ động tạo ra thời cơ cũng như chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng hành động chớp lấy thời cơ cách mạng.

Công việc chuẩn bị đó được khẩn trương xúc tiến từ sau Hội nghị Trung ương VI, cụ thể là từ năm 1940 đến đầu năm 1945. Trong khoảng thời gian đó, chúng ta đã:

- Xây dựng và phát triển được Mặt trận dân tộc thững nhất - Mặt trận Việt Minh, trên khắp toàn quốc từ Bắc chí Nam.

- Xây dựng và phát triển được lực lượng vũ trang cách mạng với phương châm “Từ nhân dân mà ra...”, lấy Mặt trận Việt Minh làm nền tảng, lấy tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh làm ngọn đuốc soi đường.


I- NHẬT ĐẢO CHÍNH PHÁP

Âm mưu hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương đã được phát xít Nhật toan tính từ lâu. Sự tăng cường về mặt quân sự của Nhật qua từng năm (từ 1940 đến tháng 3-1945) tại Việt Nam đã lộ rõ mưu đồ đó. Đến ngày 9-3-1945 đảo chính đã nổ ra.

Diễn biến của cuộc đảo chính

Đảo chính diễn ra vào 8 giờ 30 tối ngày 9-3-1945. Theo giờ Tôkyô là 10 giờ 30.

Chiều 9-3, đại sứ Nhật Shunichi Matsumoto và tổng lãnh sự Kono đã triệu toàn quyền Đờ Cu vào Sài Gòn để bàn bạc. (Cũng có ý kiến cho rằng, về chiến thuật, Nhật điều Đờ Cu vào đây vì lực lượng Pháp ở Bắc mạnh nhất Đông Dương.  Vào đây Nhật dễ tóm bắt Đờ Cu hơn). Trong cuộc hội đàm, Nhật đòi Pháp phải gia tăng đóng góp vào “Quỹ chiến tranh” của Nhật, giảm bớt các biện pháp hạn chế việc thu mua thóc gạo của Nhật và đảm bảo sẽ không huỷ bỏ thoả hiệp Liên minh phòng thủ Pháp - Nhật ở Đông Dương. Đờ Cu lảng tránh, nói là phải có thời gian trao đổi với Chính phủ Pháp. 

6 giờ tối 9-3, Nhật gửi tối hậu thư yêu cầu: Pháp phải cùng Nhật phòng thủ Đông Dương trong trường hợp có cuộc xâm lược của Anh, Mỹ; tất cả các lực lượng quân sự, cảnh sát của Pháp phải đặt dưới quyền chỉ huy và kiểm soát của quân đội Nhật; Pháp phải giao cho Nhật tất cả các hệ thống giao thông, liên lạc, vận tải, hệ thống ngân hàng và các cơ quan hành chính. 

Tối hậu thư phải được trả lời trong vòng 2 giờ. Đúng 8 giờ 30 tối, phía Nhật nhận được công hàm của Đờ Cu cho biết là còn cần nhiều thời gian nữa để “trao đổi ý kiến”. Lập tức Matsumoto ra lệnh cho quân đội nắm quyền, đặt Đờ Cu dưới sự “canh giữ bảo trợ” của Nhật. Cương vị toàn quyền bị truất và tướng Yuitsu Tsuchihashi lên thay. Sài Gòn rơi vào tay quân đội Nhật.

Ở Hà Nội, tướng Ay mé biết Nhật tấn công, đã ban bố tình trạng báo động và ra lệnh cho quân lính tự vệ. Y rời khỏi Hà Nội để đến hành dinh dã chiến. Nhưng y đã bị bắt làm tù binh ngay từ giai đoạn đầu của cuộc tấn công. Nhật buộc Ay mé phải ra lệnh cho quân lính thôi kháng cự. Y đã từ chối điều này cho đến quá nửa đêm 9- 3, nhưng cuối cùng cũng chịu đầu hàng. Còn tướng Moradant, trải qua một đêm trăn trở cuối cùng cũng phải đầu hàng.

Cho tới chiều 10- 3, hầu hết quân đội Pháp tập trung ở Hà Nội đều đã đầu hàng.  Riêng tướng Gabriel Sabattier, chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ và là thủ lĩnh của phong trào kháng chiến của Pháp ở miền Bắc, sớm nhận được tin tình báo về việc Nhật đảo chính đã thoát ra khỏi Hà Nội. Hành động này của Sabattier làm cho tướng Marcel Alessandri cảnh giác, đem khoảng 2.000 quân vượt sông Đà, sông Hồng trốn lên Tây Bắc.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM