Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:27:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123292 lần)
0 Thành viên và 5 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #20 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 04:57:04 pm »

Hình thái tác chiến chung mà đồng bào các dân tộc nơi đây sử dụng là du kích chiến bảo vệ buôn làng và khu vực cư trú của từng bộ tộc chứ không thực hiện du kích vận động chiến trong toàn miền như của nghĩa quân Yên Thế hay nghĩa quân sông Đà.

Các hoạt động đó, nhìn chung, tương đối phong phú, linh hoạt, với những vũ khí và cách đánh như: chặn quân địch lấn chiếm đất đai, phục kích lúc địch hành quân, tập kích khi chúng trú quân hay lập đồn bốt, dụ địch vào nơi hiểm yếu để phát huy thế mạnh của vũ khí truyền thống như giáo, mác, hầm chông, cạm bẫy, tên tẩm thuốc độc. . . .

Mục tiêu tác chiến phát triển theo tiến trình chống địch lấn chiếm và khai thác. Từ chống các cuộc càn quét, bình định lấn chiếm đất đai theo kiểu tằm ăn lá của địch, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã chủ động mở các cuộc tiến đánh căn cứ, đồn bốt địch mới xây dựng, tiến tới cao hơn là tìm diệt những tên thực dân, quân sự lẫn dân sự tàn ác...

Về phía địch, sau khi đàn áp xong phong trào văn thân ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Phan Rang. . . , chúng bắt đầu tiến lên lấn chiếm bình định vùng Tây Nguyên. Chúng vừa mua chuộc, dụ dỗ các tù trưởng, vừa cho quân xâm lấn, chiếm tới đâu xây dựng đồn bốt tới đó, bắt dân phu làm đường, xây bốt, tăng cường thu thuế, bắt xâu.

Trong việc chiếm đất, bình định vùng Tây Nguyên, giạc Pháp đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của đồng bào các dân tộc. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra khắp vùng Tây Nguyên. Sau đây là những nét tiêu biểu về tinh thần chiến đấu của đồng bào Thượng và các bộ tộc ở vùng Tây Nguyên và các tỉnh lân cận :

Ở Quảng Nam, từ năm 1900 người Xơ Đăng, do Thăng Mậu lãnh đạo, đã nổi dậy ở Phương Xá.

Đầu tháng 3-1904, khoảng 100 nghĩa quân người Thượng phục kích toán lính khố xanh ở bến đò sông Trình, cách đồn Mang ta vài kilômét, diệt một lính và một tên cai, thu vũ khí của chúng. 

Cuối tháng 6-1905 người Kà Tu ở các làng A Sơ, A Yeung, A Bác nối dậy, mở đầu là trận tiến công đồn Đại Lộc.  Địch huy động 50 tên lính khố xanh, lính Thượng và dân phu, do tên đội Phêrê (Férez) chỉ huy, kéo tới đánh ba làng kể trên. Cuộc chiến đấu chống càn diễn ra ác liệt ở A Sơ.

Dựa vào công sự và với giáo mác, tên nỏ, nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, bẻ gãy các đợt tiến công của địch, buộc chúng phải rút lui. Địch tập trung lực lượng đánh sang A Yeung và A Bác.

Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau một thời gian chiến đấu, nghĩa quân rút sang nơi khác để bao toàn lực lượng. Sau khi chiếm A Yeung, A Bác, địch tiếp tục đánh vào A Sơ. Nghĩa quân chiến đấu quyết liệt, làm bị thương tên đội Phêrê và một số lính.

Ở Quảng Ngãi, từ tháng 2 - 1901, nghĩa quân người Hrê đã nổi dậy chống Pháp ở huyện Mộ Đức . Đầu tháng 11 - 1901, nghĩa quân phục kích giết một phó quản khố xanh ở ngay cổng đồn.

Tháng 9-1903, người Hrê do Tia Cao lãnh đạo, đứng lên khởi nghĩa, mở rộng địa bàn hoạt động ở vùng Huấn Phong, giáp giới Bình Định. Giám binh Haghê (Haguet) và tên đội Phung (Founé) tập trung quân đến đàn áp. Nghĩa quân đánh chặn địch, lập chiến công oanh liệt ở Mang Gia, Lang Mút, Mu Lang, Nước Vo....

Tháng 2-1904, phong trào nổi lên mạnh mẽ ở đèo Đá Chạc và Đá Đen. Nhiều cuộc giao chiến giữa nghĩa quân với địch diễn ra ở thung lũng sông Nước Dinh (nhánh của sông An Lão).

Ở Bình Định, từ cuồl thế kỷ XIX, trong cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ, Đề Nam và Chu Sử ở Vân Canh, Đồng Xuân đã có sự phối hợp chiến đấu giữa người Kinh và người Thượng
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #21 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 04:57:56 pm »

Tháng 5-1900, sau khi Võ Trứ bị địch bắt, nghĩa quân người Kinh và người Thượng vẫn phối hợp chiến đấu. Đầu năm 1904, nông dân ở Châu Vào (Đak Giơpan) nổi dậy chống các tên chủ đồn điền Đơlinhông (Delignon) và Pa ri (Paris) cướp không 500 mẫu đất để lập đồn điền trồng dâu nuôi tằm.  Khâm sứ Trung Kỳ phải huy động năm tên đội và một đơn vị lính khố xanh do một giám binh chỉ huy, lên An Khê trấn áp, dụ dỗ, mua chuộc nghĩa quân nhưng không thành.

Ở Phú Yên, hai bộ tộc Gia Rai và Xơ Đăng đã chiến đấu chống Pháp ngay từ cuối thế kỷ XIX. Năm 1893, nghĩa quân phục kích nhằm bắt sống tên công sứ Ôđăngđan (Odendhal) đi kinh lý nhưng không thành. Sang đầu thế kỷ XX, khi địch lập được đồn điền để khai thác, nghĩa quân đã bày mưu dụ địch vào để tiêu diệt chúng.

Tháng 4-1904, Ôđăngđan giả danh đi kinh lý Plâyku và y đã ngỏ ý xin vào yết kiến tù trưởng Nước và tù trưởng Lửa.  Tù trưởng Lửa Ôiát trá hàng mời địch vào dự lễ quy thuận.  Tại bữa tiệc, khi công sứ Ôđăngđan và hai bồi bếp đến, nghĩa quân bất ngờ giết bằng chày giã gạo.

Địch huy động 200 lính khố xanh, do giám binh Vanhxiliôni (Vincilioni) chỉ huy, càn quét làng Pa Tau Pui, căn cứ của nghĩa quân. Dựa vào công sự nghĩa quân chiến đấu dũng cảm bảo vệ Pa Tau Pui. Sau một thời gian đánh địch, các tù trưởng tạm rút nghĩa quân sang nơi khác tiếp tục hoạt động.

Cuối năm 1902, nghĩa quân vùng Trê Lương Pê (Phan Rang) lập căn cứ, dùng chông, bẫy đánh giặc. Ngày 6-12-1902, giám binh Canivây (Canivey) và thiếu uý Bácbuy (Barbu) chỉ huy 20 lính Pháp, 15 nguỵ binh, có tri huyện Đinh Văn đem một con voi tải lương theo giặc tiến đánh Trê Lương Pê. Nghĩa quân đã dùng mưu dụ địch sa vào nơi bố trí sẵn rồi bất ngờ đánh chúng. Kết quả, tên giám binh Canivay, tri huyện Đinh Văn và bốn lính khố xanh bị thương vì tên nỏ, một lính khố xanh bị bắn chết.

Năm 1905, sau khi đánh chiếm thị xã Plâyku, địch cố khuất phục các tộc người để ổn định việc khai thác. Nhưng tháng 1-1905, người Ba Na đã nổi dậy ở Kon Chơ Rắk. Địch phải huy động 150 lính khố xanh đến đàn áp. Chúng dụ dỗ và dùng vũ lực uy hiếp được tù trưởng Khuôn của 8 làng xung quanh Plâyku.

Riêng tù trưởng Tai, người Gia Rai thủ lĩnh của 21 làng ở Lây Bring nhất định không chịu theo địch. Người Gia Rai bất hợp tác với địch, không bán lương thực eho chúng. Do không có chỗ dựa và gặp khó khăn, địch buộc phải rút quân. Nghĩa quân phục kích diệt một số binh lính địch.

Đầu năm 1907 nghĩa quân đẩy mạnh hoạt động ở Đa Kri và Kon Klot. Nghĩa quân vận dụng chiến thuật phòng thủ bảo vệ cứ điểm Kon Klot. Ngày 26-1-1907, cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ diễn ra ác liệt. Dầu chỉ có tên nỏ, nghĩa quân đã mưu trí đánh lui đượm nhiều đợt xung phong của địch, diệt và làm bị thương hàng chụt tên, trong đó có tên chủ đồn điền Pa ri bị tên xuyên ngực, phải rút súng tự tử.

Ở Kon Tum và Đắc Lắc, phong trào phúng Pháp diễn ra muộn (từ 1914) nhưng quyết liệt hơn. Nổi bật là trận diệt đồn Ban Pou Sra. Tên giám binh Hăng ri Mét (Henri Mai tre) chỉ huy quân Pháp càn quét vùng Kon Tum, rồi huy động người Thượng làm phu đến xây đồn Pa Pou Sra. Không chịu nổi khổ cực, một đêm nghĩa quân kéo đến vây đồn và giết toàn bộ lính Pháp.

Trong khi đó, tên giám binh Hăng ri Mét huy động quân lính và dân phu xây đồn Bù Đốp (Đắc Lắc) đã bị nghĩa quân người Mơnông chống lại kịch liệt. Nghĩa quân do tù trưởng Nơ Trang Lững lãnh đạo đã đốt hết nhà cửa tạm rời buôn làng vào rừng lập chiến khu chống giặc. Pháp đem quân đánh phá mấy lần, đều bị nghĩa quân phục kích và làm thiệt hại nặng.

Tháng 8-1914, địch dùng thủ đoạn dụ dỗ mua chuộc. Nghĩa quân giả cách đình chiến, tổ chức buổi “lễ giao hảo”. Nhân lúc địch sơ hở, nghĩa quân bất ngờ xông vào giết chết tên giám binh Hăng ri Mét và 50 lính, thu toàn bộ vũ khí của chung. Cay cú trước tổn thất, địch dùng mảy bay đánh phá khu căn cứ.  Nghĩa quân vẫn tồn tại và hoạt động một thời gian nữa.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #22 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 04:58:49 pm »

4. Khởi nghĩa của người Dao ở Tây Bắc

Cùng với những cuộc khởi nghĩa của người Mường, người H’ Mông, người Thượng như đã nói ở trên, các dân tộc Thái, Dao, Tày, Nùng... cũng đứng lên chống Pháp, trong đó nổi bật là các cuộc nổi dậy của người Dao.

Ngày 19-10-1904, khoảng 100 đồng bào Dao ở các vùng Lục Yên, Bảo Hà, Đông Cuộng, do thầy mo Lý Văn Minh chỉhuy, tiến công đồn Pháp ở Trái Hút; tiếp đó đánh vào Yên Bái. Địch đàn áp và bắt đi 67 người. Ngày 20-10-1904 một đội nghĩa quân người Dao do Trương Nhị chỉ huy, tiến công đồn Lục Nam (Bắc Giang).

Ngày 21-10, đồng bào Dao cơ trú dọc Phố Ràng, Nghĩa Lộ kéo đến vây đánh đồn Bảo Hà, phá nhà ga Bảo Hà (Yên Bái).  Trong khi đó, một đội nghĩa quân do Triệu Tất Tiến lãnh đạo (xưng là vua Dao) làm lễ tế cờ rồi kéo xuống hoạt động ở vùng Lục Yên châu, phối hợp với người Dao đánh địch ở làng Quang Đô vùng núi Con Voi. Nhìn chung, các cuộc nổi dậy của người Dao nổ ra lẻ tẻ ở các địa phương, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, nên địch dễ dàng bao vây, đàn áp.

Mặc dù vậy, hoạt động của đồng bào Dao cũng như các dân tộc thiểu số khác, đã nói lên tính toàn dân của phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của nhân dân ta đầu thế kỷ XX. 

Trong cuộc đấu tranh này, sự phối hợp chiến đấu giữa các dân tộc ở vùng biên giới Việt - Lào ngày càng chặt chẽ hơn. Từ năm 1901, ở Lào đã có các cuộc khởi nghĩa của Phò Cà Đuột và Ong Kẹo (tức Phumibun), khởi nghĩa ở Bôlôven (Hạ Lào).

Cùng thời gian này, tại Kon Tum có cuộc nổi dậy của người Xơ Đăng, do tù trưởng Ê Đê lãnh đạo.  Nghĩa quân hai nước Việt - Lào đã phối hợp tập kích đồn Si trên sông Psi, diệt tên đội Rô be (Robert). Phong trào chống Pháp lan rộng về phía tây và phía bắc biên giới Việt - Lào.

Tháng 8-1901 nghĩa quân hai nước tiến công đồn Nongpôi. Đồn bị phá và tên đội Hăng ri (Hen ri) bị giết. Tiếp đó nghĩa quân phục kích địch ở Kapeu, diệt tên đội Sicơrơ (Sicre). Cuộc chiến đấu của nghĩa quân kéo dài tới năm 1902 thì bị dập tắt.

Các cuộc khởi nghĩa tuy bị thất bại, nhưng đã thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc hai nước Việt - Lào trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc.  Nhìn chung, phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc miền núi đầu thế kỷ XX đã có những nét nổi bật sau đây:

- Nhiều cuộc nổi dậy tuy có phối hợp với các thành phần dân tộc khác, nhưng dân tộc miền núi ở địa phương đó chiếm địa vị chủ đạo như người H’Mông ở Tây Bắc, người Mường ở Hoà Bình, người Thượng ở Tây Nguyên. . . Các cuộc nổi dậy của đồng bào ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của các trào lưu chính trị mới, nhất là của Việt Nam Quang phục hội.

- Những cuộc nổi dậy đã phát triển trước, trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, với những nét mới như: kết hợp binh biến với khởi nghĩa, chú ý tới ngoại giao và ngoại viện (nhờ ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục hội...), biết lợi dụng lúc lực lượng vũ trang của địch bị phân tán hoặc giảm bớt do phải điều đi các chiến trường Tây âu, Bắc á, mà nổi dậy ở nhiều nơi, gây cho chúng nhiều tổn thất và khó khăn, lúng túng trong việc chống đỡ. . . .

Các cuộc nổi dậy đó làm đậm thêm, phong phú thêm trang sử đấu tranh vũ trang chống ách nô dịch của đế quốc thực dân của dân tộc Việt Nam trong những tháng năm vận nước gặp nhiều thử thách.... Cùng với các phong trào yêu nước khác thời kỳ này, nó vừa có tác dụng kích khởi sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức dân tộc, vừa chứng thực trong thực tế yêu cầu cấp bách phải có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn đặng dẫn dắt phong trào yêu nước của nhân dân ta, đảm bảo cho nó phát triển mạnh mẽ, đúng hướng nhằm mục tiêu giành lại độc lập tự do cho non sông đất nước Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #23 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 04:59:55 pm »

III. CÁC PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÓ XU HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN:
VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI VÀ PHONG TRÀO DUY TÂN


Các cuộc vận động cứu nước có xu hướng dân chủ tư sản sâu rộng nhất, có tác dụng lớn nhất trong hơn thập kỷ đầu thế kỷ XX là phong trào Đông Du (1904-1908), Đông Kinh nghĩa thục (1907) và phong trào Duy Tân (1906-1908). Cả ba phong trào này đều hướng tới bạo động vũ trang, nhưng trực tiếp dẫn tới vũ trang tranh đấu phải kể đến Duy Tân hội và Việt Nam Quang phục hội của phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân với cuộc “xin xâu, chống thuế’ ở nam Trung Bộ. 
 

A. VŨ TRANG TRANH ĐẤU CỦA DUY TÂN HỘI VÀ VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI

1. Thời kỳ trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất

a) Chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang của phong trào Đông Du.


Nhà yêu nước Phan Bội Châu, từ khi tiếp thu tư tưởng tư sản dân chủ qua Tân thơ, Tân văn từ Trung Quốc, Nhật Bản truyền về, đã coi trọng tuyên truyền, cổ động cho tư tưởng mới, tán thành các chủ trương duy tân, cải cách của Phan Châu Trinh và phong trào Đông Kinh nghĩa thục (của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền...), nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là đấu tranh vũ trang.

Từ thực tiễn của phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX, Phan Bội Châu cho rằng, phải xây dựng phong trào toàn quốc, phải có tổ chức mới và biện pháp đấu tranh mới là “bạo động” mới mong có thể đánh đuổi được giặc Pháp.

Năm 1904 một tổ chức cách mạng mang tên Duy Tân hội, do Phan Bội Châu khởi xướng, được thành lập ở Quảng Nam. Mục đích của Hội là: chuẩn bị một kế hoạch bạo động và tổ chức lực lượng xuất dương sang Nhật Bản cầu viện.  Thực hiện chủ trương trên, Phan Bội Châu tìm cách liên hệ với các văn thân sĩ phu yêu nước trong các phong trào đấu tranh chống Pháp lúc bấy giờ.

Từ năm 1901, Phan Bội Châu đã liên hệ với các tướng lĩnh của phong trào Cần Vương còn sót lại như Nguyễn Hàm, tướng cũ của Nguyễn Duy Hiệu (khởi nghĩa ở Quảng Nam năm 1886); phó lãnh binh Ngô Quảng và tán tương Nguyễn Quýnh - các tướng cũ còn sót lại trong khởi nghĩa Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh); Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước (Thanh Hoá); liên lạc với Đảng Bạch Sỉ tuyên truyền và tổ chức các thổ hào, đầu mục của các dân tộc miền núi theo xu hướng vũ trang. . .

Năm 1902, Phan Bội Châu ra Yên Thế nhưng bấy giờ, vì Hoàng Hoa Thám bị ốm nên chỉ gặp Cả Trọng. Dù vậy, cuộc gặp giữa Phan Bội Châu và Cả Trọng đã đi đến thống nhất: nếu Trung Kỳ khởi nghĩa, Yên Thế sẽ hưởng ứng. Năm 1903, ông đến Huế định liên kết những người có thế lực trong triều đình ủng hộ chủ trương bạo động nhưng không thành. Tiếp đó ông vào Nam Kỳ vận động nhân dân lụe tỉnh và ra miền Trung liên hệ với những nhà yêu nước thuộc giáo dân các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An giúp đỡ phối hợp bạo động.

Nhưng lúc này, các lực lượng trong phong trào đấu tranh vũ trang đã bị suy yếu dần sau các cuộc đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp, còn các lực lượng mới thì chưa xuất hiện và khó tổ chức xây dựng làm nòng cốt cho bạo động ở trong nước. Vì thế, Phan Bội Châu nhận thấy cần gấp rút đưa người ra nước ngoài học tập quân sự.

Theo chủ trương đó, trong tháng 8-1905 có ba học sinh được đưa sang Nhật, đến đầu năm 1907, đã hơn 100 người (40 từ Nam Kỳ, 60 từ Trung và Bắc Kỳ) và năm 1908 tăng lên gần 200 người (hơn 100 người Nam Kỳ, 50 người Trung Kỳ và hơn 40 người Bắc Kỳ).

Sau khi sang Nhật, học sinh Việt Nam vào học trường Chấn, quân sự học hiệu và Đông Á Đồng Văn thư viện cùng một số trường khác. Một trong những nội dung được chú trọng trong chương trình học tập là học về quân sự.  Hằng ngày, việc luyện tập quân sự được duy trì vào buổi chiều.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Năm, 2009, 05:03:13 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 05:01:48 pm »

Trước những ảnh hưởng và uy tín của phong trào Đông Du, thực dân Pháp một mặt tăng cường khủng bố, mặt khác thoả hiệp với Nhật trục xuất những người yêu nước Việt Nam khỏi đất Nhật. Chấp nhận với Pháp, tháng 9-1908, chính quyền Nhật trục xuất tất cả các học sinh Việt Nam khỏi Nhật Bản.

Một số ít nhờ mượn được quốc tịch Trung Quốc, nên ở lại tiếp tục học tập. Một số chuyển về Trung Quốc tìm cách vào học quân sự ở một số trường của Trung Quốc. Nhờ vậy, việc xuất dương du học về quân sự cũng đưa lại một số kết quả, tuy chưa cao nhưng cũng gây được số vốn quân sự.

Một số trong số đó sau này đã thực hiện bạo động vũ trang như:

Lương Lập Nham (tức Lương Ngọc Quyến), học sinh tốt nghiệp Chấn võ quân sự học hiệu ở Nhật Bản, bị trục xuất khỏi Nhật đã chuyển vào học ở trường Quân nhu học hiệu Quảng Đông, tiếp đó là trường Sỹ quan học hiệu ở Bắc Kinh.  Khi về Hương Cảng ông bị mật thám Pháp bắt giải về Hà Nội, sau đưa lên giam ở nhà tù Thái Nguyên. Năm 1917, ông trở thành linh hồn của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, được Phan Bội Châu đánh giá “Thật là tướng tiên phong cho quân cách mạng” 1.

Đặng Tử Mẫn, sau khi bị trục xuất khỏi Nhật Bản đã về Trung Quốc kết giao với cách mạng Trung Hoa; đến Hương Cảng lập xưởng chế thuốc súng không khói và lựu đạn, rồi trở về biên giới Xiêm - Lào, dự định khởi sự chống Pháp ở Trung Kỳ, vận động cho cách mạng Việt Nam trong giới Việt kiều ở Xiêm.

Hoàng Trọng Mậu vào Học viện quân sự ở Nhật Bản, chủ tâm nghiên cứu khoa học và luyện tập quân sự. Khi về Trung Quốc được chuyển vào Binh dình của Đường Chấn Hồng ở Quảng Tây. Ở đây, ông đã “thực tập việc binh, học phép xạ kích, phép trận ngũ, thao luyện quân sự”. Tiếp đó, khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông trở thành một yếu nhân, tham gia soạn thảo Quang Phục quân phương lược, đồng thời tổ chức một đội quân vài nghìn người hoạt động ở Lạng Sơn.

Trần Hữu Lực, học tập quân sự ở Nhật Bản, sau học tiếp ở Trường Lục quân cán bộ học đường Quảng Tây. Tốt nghiệp, ông được phong thiếu uý và được điều về chỉ huy một đội quân ở Quảng Đông. Khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông tự nguyện sang Xiêm tổ chức toán quân Việt kiều quang phục, vận động Việt kiều sắm sửa vũ khí, chuẩn bị vũ trang bạo động ở vùng biên giới phía tây của Tổ quốc.

Nguyễn Quỳnh Lâm lưu lại làm “khổ công học sinh” ở Nhật thêm một năm rưỡi. Khi về Trung Quốc chuyển vào Binh dinh Quảng Đông nghiên cứu chế tạo thuốc súng và lựu đạn; tham gia quân đội Trung Hoa, giữ chức trung đội trưởng. Khi Việt Nam Quang phục hội thành lập, ông liên hệ với Trung Hoa quốc dân đảng mong cầu ngoại viện. 

Trên đây là năm trong số hàng chục du học sinh của phong trào Đông Du sang Nhật, Trung Quốc học tập về quân sự để chuẩn bị cho bạo động vũ trang trong những năm đầu thế kỷ XX. 

b) Chủ trương bạo động, xây dựng Việt Nam Quang phục quân.

Nói đến phong trào đấu tranh vũ trang ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ thứ XX, trước hết phải kể đến các cuộc bạo động và khởi nghĩa. Hình thái đấu tranh của Việt Nam Quang phục hội là sử dụng bạo động vũ trang.

Đó là sự thể hiện đúng mục tiêu và thủ đoạn mà nhà lãnh đạo Phan Bội Châu đề ra: “Đánh giặc phục thù, mà thủ đoạn là bạo động”. Đánh giặc phục thù có thể “thành công cũng có thể chỉ là “thành nhân”, nhưng thủ đoạn nói chung phải là bạo động. 

Năm 1912, Việt Nam Quang phục hội ra đời 2 ở Trung Quốc trong một hoàn cảnh đặc biệt: Về chủ quan, năm 1912 không phải là thời cơ đã chín muồi cho tổ chức chính trị này ra đời, mà việc ra đời là để cứu vãn tình thế thất bại do những du học sinh bị trục xuất khỏi đất Nhật, nay cần phục hồi và phát triển tổ chức để tạo nên một phong trào mới.


________________________
1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Nxb. Thuận Hoá, Huế, 1990, t.6, tr. 170.
2. Về ngày tháng và năm thành lập Việt Nam Quang phục hội, Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Sđd, t.3, của Trần Huy Liệu - Văn Tạo nói là năm 1911, là không chính xác, đúng ra, đó phải là năm 1912. Còn ngày tháng thì phần chú thích (2) trang 211, Phan Bội Châu: Toàn tập, tập 6 ghi là 5 tháng 5 Nhâm Tý tức ngày 19-6-1912. Ngày, tháng, năm thành lập Việt Nam Quang Phục hội được xác định như thế là phù hợp với cuốn Cuộc đời cách mạng của Cường Để, có lẽ là đúng hơn cả. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #25 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 05:04:47 pm »

Việc chuyển từ Duy Tân hội với xu hướng tôn quân sang Việt Nam Quang phục hội với xu hướng dân chủ tư sản, phù hợp với tiến triển lịch sử, nhân lúc lực lượng còn lại của phong trào Đông Du tụ hội ở đây gần 100 người. 

Lực lượng trong nước và từ Xiêm ra cũng nhân cơ hội Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công mà có những điều kiện mới. Mai Lão Bang từ Xiêm, Nguyễn Trọng Thường từ trong nước sang đã đem tới cho Phan Bội Châu một niềm lạc quan như cụ đã nói về Đại hội thành lập Việt Nam Quang phục hội: “Thượng tuần tháng 2, mượn Lưu Thị từ đường ở Sa Hà làm sở tập hội, nhóm toàn thể đảng nhân mới Đại hội nghị, người ba Kỳ thấy đủ mặt cả...” 1

Về khách quan, trong giới lãnh đạo cuộc Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (nổ ra năm 191l) có những nhà lãnh đạo có cảm tình với cách mạng Việt Nam. Thực tế đó đã được Phan Bội Châu ghi lại: “Năm Canh Tý (1912), mùa Xuân, tháng Giêng, Tôn Trung Sơn được cử làm Trung Hoa lâm thời Đại tổng thống. Bạn cũ của tôi là Hồ Hán Dân làm Quảng Đông đô đốc. Đô đốc Thượng Hải là Trần Kỳ Mỹ lại là người tương đắc với tôi lắm” 2.
 
Cần phải khẳng định rằng, đấy đã là một điều kiện khách quan thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Nhưng Trung Hoa dân quốc lúc đó cũng đang ở thời kỳ khó khăn trong việc chuyển giao quyền lực từ Tôn Trung Sơn sang Viên Thế Khải, do vậy, sự trợ giúp nặng về danh nghĩa hơn là thực tế.

Tôn chỉ của Việt Nam Quang phục hội là: “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hoà dân quốc”. Nhiệm vụ hàng đầu là bạo động vũ trang . Người chỉ huy tối cao của Hội là Phan Bội Châu, tuy giữ chức Phó Bộ trưởng (Cường Để làm Bộ trưởng) nhưng kiêm Tổng lý của Hội. Đại đa số những người nắm cương vị chủ chốt của Hội là thuộc phong trào Đông Du, được đào tạo về quân sự tại Nhật Bản, Trung Quốc, như:

- Quân vụ uỷ viên là Hoàng Trọng Mậu và Lương Lập Nham (tức Lương Ngọc Quyến), hai học viên quân sự xuất sắc của phong trào Đông Du.

- Kinh tế bộ uỷ viên: Mai Lão Bang, Đặng Tử Mẫn.

- Giao tế uỷ viên : Lâm Đức Mậu, Đặng Bỉnh Thành...

Ngoài uỷ viên bộ chấp hành, có ba uỷ viên vận động trong nước: Lâm Quảng Trung (Trung Kỳ), Đặng Xung Hồng (Bắc Kỳ), Đặng Bỉnh Thành nam Kỳ).

Việt Nam Quang phục hội thành lập một đội quân gồm phần lớn đồng bào miền núi vùng biên giới Việt -Trung. Cán bộ là những người từng học ở các trường quân sự như Trường sĩ quan Bắc Kinh, Trường quân nhu Bắc Kinh, Trường lục quân cán bộ Quảng Tây. Hội tổ chức biên soạn Việt Nam Quang phục phương lược quân, gồm năm chương trong đó Phan Bội Châu viết hai chương đầu, Hoàng Trọng Mậu viết ba chương sau.

Trong lịch sử quân sự Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam Quang phục phương lược quân là một trong những bản quy định đầu tiên về cách tổ chức quân đội. Nội dung tài liệu này gồm:

1. Chủ nghĩa và tôn chỉ Quang phục quân.

2. Kỷ luật.

3. Cách biên chế.

4. Chức viên và lương bổng.

5. Những kế hoạch tiến hành đã được dự tính trước. 


__________________________
1, 2. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.167, tr. 211- 212.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #26 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 05:06:19 pm »

Về vũ khí, ngoài một số súng mua sắm, Hội lập xưởng chế bom.

Hội phát hành Việt Nam Quang phục quân dụng phiếu, được Việt kiều và những nhà cách mạng Trung Quốc hưởng ứng tiêu thụ. Số tiền thu được là khá lớn dùng để mua vũ khí cũng như chi tiêu cho các công việc chuẩn bị tiến hành bạo động vũ trang. Hội định ra Quốc kỳ nền vàng sao đỏ và Quân kỳ nền đỏ sao vàng.

Để tranh thủ ngoại viện, tháng 7-1912, Hội thành lập Hội Chấn Hoa Hưng á thu hút nhiều nhà cách mạng Trung Quốc thám gia. Hội trưởng là Đặng Cảnh A, người Quảng Đông và Phan Bội Châu làm Phó hội trưởng.

Ngoài ra, Hội còn lợi dụng mâu thuẫn đế quốc với đế quốc chủ yếu là mâu thuẫn giữa Đức và Pháp khi chiến tranh Pháp - Đức bùng nổ để tranh thủ viện trợ. Lãnh sự Đức ở Xiêm hứa sẽ giúp cách mạng Việt Nam số tiền thu được từ các cuộc ủng hộ và bán Quân dụng phiếu. Với số tiền thu được, Hội sử dụng mua sắm một số vũ khí trang bị cho Quang phục quân.

Sau một thời gian củng cố về tổ chức và sắm sửa vũ khí, Hội quyết định tổ chức các cuộc bạo động ở trong nước: “Nếu ở ngoài có cái gì làm tiên thanh (lên tiếng trước), thì khí thế ở trong nước khắc sống lại” 1 (Lời thỉnh cầu trong nước do Nguyễn Trọng Thường chuyển ra). 

Theo chủ trương đó, các cuộc bạo động do Việt Nam Quang phục hội tổ chức đã nổ ra dưới nhiều hình thức như ám sát cá nhân, trù tính kế hoạch tổng bạo động trong toàn quốc trước tiên là đánh chiếm Hà Nội, tập kích một số đồn ở Phú Thọ, Nho Quan (Ninh Bình), Móng Cái, Lạng Sơn, phá ngục Lao Bảo (Quảng Trị) . . . 

c) Ám sát tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn

Trong đấu tranh vũ trang, ám sát cá nhân là một hình thức thấp, mà vạn bất đắc dĩ các nhà cách mạng mới phải dùng đến. Với Việt Nam Quang phục hội, do yêu cầu cần gây được tiếng vang nhằm cổ vũ nhân dân trong nước, nên ám sát trở thành biện pháp chủ yếu nhằm giết những tên đầu sỏ thực dân ở cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Cuối năm 1912, Hội tổ chức ba nhóm theo ba đường: một nhóm từ Lạng Sơn về Bắc Kỳ, hai nhóm từ Xiêm về Trung Kỳ và Nam Kỳ. Do khó khăn dọc đường, hai nhóm về Trung Kỳ và Nam Kỳ không hoàn thành nhiệm vụ. Đối với nhóm về Bắc Kỳ, mục tiêu lúc đầu là ám sát toàn quyền An be Sa rô trong dịp phát mũ áo cho thí sinh khoa thi Hương ở Nam Định tháng 11 - 1912 nhưng không thành.

Ngày 13-4- 1914, một tổ gồm Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Khắc Cần do Phạm Văn Tráng phụ trách đã tổ chức giết tuần phủ Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình. Ngày 26-4, Nguyễn Khắc Cần ném lựu đạn vào khách sạn Hà Nội, giết hai tên trung tá Pháp là Mônggrăng (Montgrand) và Sapuy (Chapuis), làm một số khác bị thương.

Những vụ ám sát này đã gây tiếng vang lớn trong nhân dân. Nhưng hành động ám sát cá nhân đó do không có cơ sở quần chúng làm hậu thuẫn, cho nên dù có gây được vài vụ nổ, diệt được một vài tên đầu sỏ, cũng không bù lại được những tổn thất do địch gây ra. Thực dân Pháp khủng bố nhân dân, bắt 254 người, kết án tử hình 7 người, trong đó có Nguyễn Khắc Cần trong vụ ném bom ở Hà Nội; Phạm Văn Tráng, Phạm Đệ Quý, Vũ Ngọc Thuỵ trong vụ ném bom ở Thái Bình. . .

Tháng 1-1914, Phan Bội Châu cũng bị bắt và giam đến tháng 4-1916. Hoạt động của Việt Nam Quang phục hội tạm lắng xuống, đến Chiến tranh thế giới lần thứ nhất lại được khôi phục, tiếp tục hoạt động . 


________________________
1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.212.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #27 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 05:36:06 pm »

d) Kế hoạch đánh chiêm Hà Nội (tháng 9-1914)

Tháng 8-1914, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Thực dân Pháp tăng cường vơ vét sức người, sức của ở Việt Nam phục vụ chiến tranh, đồng thời thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố nhằm duy trì thuộc địa của chúng.  Đây là thời cơ dân tộc Việt Nam có thể “phục thù, cứu nước” như Phan Bội Châu hy vọng.

Nhân cơ hội này, Việt Nam Quang phục hội đẩy mạnh hoạt động. Hội gây dựng được cơ sở ở Vân Nam, tiến hành vận động, tổ chức các cuộc nổi dậy ở nhiều nơi trên miền Bắc, trong đó mục tiêu đầu tiên là Hà Nội.

Tháng 9-1914, một hội viên của Hội là Đỗ Chân Thiết, từng theo học Trường quân sự Nam Kinh được cử phụ trách xây dựng cơ sở tuyên truyền, tổ chức thu hút khoảng 50 Việt kiều, thành lập Chi bộ Quang phục hội ở Vân Nam (Trung Quốc).

Kế hoạch của chi bộ này là sử dụng tuyến giao thông đường sắt Vân Nam - Hà Nội - Hải Phòng để bí mật liên kết với binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp đánh chiếm Hà Nội. Họ lập cơ sở chế bom ở Hà Nội và vận động binh lính, chuẩn bị bạo động. . .

Theo Phan Bội Châu, người thực hiện kế hoạch này là Đậu Cơ Quang (tức Đỗ Chân Thiết) . “. . . Đường Quảng Đông, Quảng Tây đã nghẹt. Đậu Cơ Quang xin lãnh một ít lữ phí đi theo đường xe lửa Vân Nam về Bắc Kỳ. Tôi nhân đó mới đem việt vận động lính tập mà cậy ông. . . Đồng bào nước ta cả thảy đến Vân Nam, nào là lính giữ đường, nào là thông, ký, bồi, bếp gồm hơn 50 người thảy đều gia nhập Quang phục hội. . . . Ông còn được lãnh sự Đức ở Mông Tự giúp giùm cho, vận động càng có thế lực. ông tới nhờ lính tập đường xe lửa che chở cho, lén về Hà Nội ngầm kết với hai ông đội lính tập, ăn thề kín với nhau. Việc đang toan bùng ra mà đột nhiên ông bị bắt. Người can liên vào vụ án của ông là một người đội lính tập và một số người ta theo Tây ở Vân Nam, từ ông Ký Lan sắp xuống hơn 50 người đồng một ngày bị chém chết ở Hà Khẩu" 1.

Kế hoạch đánh chiếm Hà Nội không thực hiện được.  Chi bộ Quang phục hội ở Vân Nam và một số cơ sở gây dựng được ở Hà Nội bị tan vỡ. Kế hoạch đánh Hà Nội bị lộ là do tên Hắc Sơn phản bội gây ra.

Ngày 3-9-1914, lãnh sự Pháp ở Vân Nam thông báo cho phủ thống sứ Bắc Kỳ biết Đỗ Chân Thiết (tức Đậu Cơ Quang) bị bắt ở Hà Nội. Ngày 13-9, cơ sở Quang Phục hội ở phố Sinh Từ, Hà Nội, do Nguyễn Quang Lâm đứng đầu bị khám phá.

Ngày 23- 10-1914, địch bắt tám người trong một ngôi chùa gần Hà Nội với nhiều vật liệu chế bom. Nhiều người từng tham gia bạo động với Đỗ Chân Thiết, trong đó có 12 người từ Vân Nam về nước, bị bắt ở Lào Cai, Yên Bái, Hải Dương. Tổng số bị bắt là 58 người, Pháp đưa ra tòa án binh Yên Bái xét xử, tuyên án 18 người tử hình (4 người vắng mặt), số người khác bị giam cầm tù đày.

Sự kiện lịch sử này để lại cho các phong trào yêu nước sau đấy những bài học lịch sử sâu sắc mà một trong số đó là bài học về hậu quả của hành động “phiêu lưu, manh động, thiếu cảnh giác”.

2. Thời kỳ trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất

a) Tập kích trại lính khố xanh Phú Thọ (6 - 7-1-1915)


Sau thất bại ở Vân Nam, Việt Nam Quang phục hội cử một đại biểu với bí danh là Lý Văn Thao về hoạt động ở Hà Nội, Sơn Tây, Phú Thọ nhằm bước đầu chuẩn bị cho kế hoạch nổi dậy ở Sơn Tây, Phú Thọ, Hoà Bình, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Hà Đông vào tháng 6-1915.

Trở về địa phương, Lý Văn Thao cùng với Khuất Văn Bục (Tổng Chê), Nguyễn Văn Dậu, Nguyễn Văn Nguyên xây dựng cơ sở, chuẩn bị vũ khí. Tại làng Hạnh Đàn (Hà Đông) một xưởng chế tạo bom đã ra đời.  Sau một thời gian làm việc khẩn trương, những người thợ ở xưởng này chế được 800 quả bom. Lý Văn Thao chủ trương chuẩn bị, sẵn sàng chờ quân của Trần Hữu Lực và Hoàng Trọng Mậu từ biên giới về tiếp ứng mới nổi dậy.


______________________
1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr . 238.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #28 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 05:37:22 pm »

Nhưng do Lý văn Quyên, người từng chủ trương đánh chiếm Hà Nội từ 3 năm trước, bị bắt giam ở Thái Nguyên thúc giục phải hành động sớm để ông mau thoát ngục về chỉ huy chiến đấu. Vì thế, thời gian khởi nghĩa quyết định là đêm mồng 6 rạng ngày 7-1- 1915 (sớm hơn kế hoạch đã định năm tháng) . 

Cuộc tập kích đồn địch ở Phú Thọ đã diễn ra theo kế hoạch. 150 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Hoàng Văn Khoa, tuỳ tướng của Tổng Chế và Nguyễn Văn Lộc (tức Bang Hạnh), tuỳ tướng của Nguyễn Văn Dậu, đã đánh vào sở chỉ huy và trại lính khố xanh ở tỉnh ly Phú Thọ. Nghĩa quân vượt hàng rào, dùng súng, mã tấu, gậy, đánh chiếm nhà ở của tên thanh tra Lăm be (Lambert). Sau một thời gian chiến đấu nghĩa quân diệt một tên lính, làm hai tên bị thương và vợ tên giám binh bị thương nhẹ, sau đó rút lui.

Giặc Pháp tập trung lực lượng đàn áp dã man. Tổng Chế, Bang Hạnh cùng 45 nghĩa quân bị bắt. Ngày 28-4-1915 chúng tuyên án xử tử 28 người, khổ sai chung thân 10 người, 6 người khổ sai có hạn.

Cùng ngày 7-1, một nhóm nghĩa quân dưới danh nghĩa Quang phục quân, do Tạ Quang Hổ và Quách Chanh chỉ huy tiến công đồn Nho Quan (Ninh Bình), gây cho địch một số thiệt hại. 

b) Tập kích đồn Tà Lùng (13-3-1915)

Nếu kế hoạch đánh chiếm Hà Nội hay tập kích đồn khố xanh Phú Thọ đã có sự chủ động chỉ đạo của Phan Bội Châu, thì việc đánh đồn Tà Lùng ở Cao Bằng, sát biên giới Việt - Trung lại được xúc tiến trong tình thế bị động.

Sau khi Phan Bội Châu bị bắt, Việt Nam Quang phục hội do Nguyễn Thượng Hiền, Đặng Tử Kính phụ trách. Năm 1915, hai ông thay mặt Việt Nam Quang phục hội sang Xiêm liên hệ và nhận được khoản viện trợ 10.000 đồng tiền Xiêm của công sứ Đức Áo ở Xiêm (1 đồng Xiêm tương đương với 2,2 Frăng, tức 0,5 đồng bạc Đông Dương bấy giờ).

Theo Phan Bội Châu: “Cụ Mai Sơn tức Nguyễn Thượng Hiền) đến Xiêm bắt đầu do Thân vương giới thiệu đến hai công sứ Đức, Áo. Ngày hội kiến, công sứ Đức lấy một vạn đồng bạc Xiêm trao cho Nguyễn Thượng Hiền và Đặng Tử Kính. Họ nói: “Nếu ở trong nước, quý ngài làm sao cho phát sinh ra một ảnh hưởng, miễn cho nghe thấu được đến chính phủ hai nước chúng tôi. Tất nhiên sẽ được hai chính phủ chúng tôi giúp đỡ...”.

“Nhận được số bạc ấy đem về Quảng Đông, anh em đồng chí ta chia ra làm ba phần: Một phần thì con cụ Tán Nguyễn (tức Nguyễn Mạnh Hiếu, còn gọi là Hai Thạc, con cả Nguyễn Thiện Thuật) nhận về Đông Hưng, toan đánh lên Móng Cái.  Một phần do cụ Mai Sơn (tức Nguyễn Thượng Hiền) nhận lấy về Long Châu, toan đánh lén vào Lạng Sơn. Một phần thì cấp cho Hoàng Trọng Mậu, toan đánh lén vào Hà Khẩu” 1. 
 
Thực hiện kế hoạch tiến về phía Lạng Sơn, các nhà lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội có hai chủ kiến: Hoàng Trọng Mậu được cử làm chỉ huy chung chủ trương đánh Đông Khê để cắt đứt liên hệ giữa Lạng Sơn với Cao Bằng. Còn Nguyễn Hải Thần chủ trương đánh Tà Lùng và nhận làm Tổng chỉ huy. Hoàng Trọng Mậu từ chối chức chỉ huy, nhưng vẫn bố trí lực lượng ứng cứu khi cần thiết.

4 giờ 30 ngày 13-3-1915, khoảng 100 nghĩa quân đeo phù hiệu Việt Nam Quang phục quân trang bị bằng bom, mã tấu, dao găm, súng lục, súng trường từ Long Châu vượt biên giới - Việt - Trung, chia làm hai mũi tập kích đồn Tà Lùng. Mũi tiên phong khoảng 30 người liệng bom vào phá nhà bọn sĩ quan. Mũi thứ hai đánh phá các cửa đồn.

Mặc dù đã bắt mối liên lạc với một số lính tập làm nội ứng, nhưng Nguyễn Hải Thần đem quân tới đánh không làm đúng mật hiệu, nên không được bên trong hưởng ứng. Khoảng 5,6 quả bom ném vào chỉ làm mấy lính khố đỏ bị thương và mái nhà của bọn sĩ quan bị sập. Nghĩa quân dùng thang định vượt tường vào, nhưng bị binh linh trong đồn bắn ra dữ dội ngăn chặn. Sau 45 phút chiến đấu, một số nghĩa quân bị chết và bị thương.  Nguyễn Hải Thần phải rút lực lượng ra.


________________________
1. Phan Bội Châu: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.251.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 05:40:10 pm »

Trận tập kích đồn Tà Lùng thất bại. Thực dân Pháp vừa mua chuộc bọn quân phiệt Trung Quốc hỗ trợ phá hoại phong trào cách mạng Việt Nam,vừa ra sức truy quét, bắt bớ khiến hàng chục người thuộc Việt Nam Quang phục hội sa vào tay giặt. Hoàng Trọng Mậu cùng sáu người bị Pháp xử bắn ở Ninh Bình. 

c) Phá ngục Lao Bảo (tháng 9-1915)

Tuy cách xa biên giới Việt - Trung, nhưng cuộc bạo động ở Lao Bảo (Quảng Trị) vẫn chịu ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục hội. Liêu Thanh, từng hoạt động trong phong trào Đông Du, là hội viên của Việt Nam Quang phục hội và Hồ Bá Kiên, yếu nhân của Duy Tân hội trước kia nay là những người chỉ huy cuộc nổi dậy. Khoảng 200 tù nhân ở Lao Bảo đã hưởng ứng cuộc nổi dậy.

Ngày 22-9-1915, một tên cai và ba tên lính dẫn một số tù nhân, trong đó có Liêu Thanh ra làm tạp dịch. Theo kế hoạch đã vạch ra từ trước, Liêu Thanh đã ra lệnh cho phạm nhân xông vào giết tên cai và ba tên lính gác. Các tù nhân nổi dậy, phá xiềng gông, giết lính gác, cướp súng trong đồn đánh lại số lính còn kháng cự.

Kết quả ba tên lính bị giết, bảy tên khác bị thương. Nghĩa quân thu 29 súng, 16 lưỡi lê và 5.000 viên đạn. Ngay sau đó, những người nổi dậy đã đốt hết bốt gác, cắt đứt dây điện thoại rồi rút lui lên vùng núi phía tây bắc.

Ngày 29-9, Khâm sứ Trung Kỳ lệnh cho giám binh Pê rê (Perez) huy động 80 lính khố xanh, do thiếu uý Pagini (Pagini) chỉ huy truy kích nghĩa quân. Liêu Thanh chỉ huy nghĩa quân tiến theo đường Làng Cơn - Lao Bảo sang lập căn cứ ở vùng Bantacha. Căn cứ nằm trên địa bàn có suối bao quanh thuộc tỉnh Savanakhẹt (Lào).

Nghĩa quân dựa vào địa thế hiểm trở, đào công sự chiến đấu. Địch bao vây lùng sục khắp nơi. Do bị giam giữ lâu ngày, sức khoẻ suy kiệt, lại không được tiếp tế, nên lực lượng nghĩa quân bị hao mòn chỉ còn 36 người. Mặc dù vậy, họ vẫn quyết tâm chiến đấu.

Ngày 8-10, địch mở cuộc tiến công vào Bantacha. Dựa vào căn cứ, nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, diệt một tên Pháp, làm bị thương hai tên khác. Nghĩa quân hy sinh năm người. Sáng hôm sau, lợi dụng nước mưa ở suối cạn, địch xông vào làng thì nghĩa quân đã rút sang nơi khác.

Ngày 15-10, nghĩa quân đánh úp một đoàn xe vận tải lương thực của địch tiếp tế cho Bantacha ở Bataloi, thu một số lương thực rồi rút về vùng A Xồi.

Cuối tháng 10- 1915, trong một trận chiến đấu với địch, Liêu Thanh và Hồ Bá Kiền cùng một số nghĩa quân hy sinh, một số bị bắt, số còn lại sau đó dần tan rã.

Cuộc phá ngục Lao Bảo của các tù nhân cuối cùng thất bại, nhưng nó đã một lần nữa chứng tỏ tinh thần bất khuất của các chiến sĩ từng đứng trong tổ chức Việt Nam Quang phục hội, ghi thêm vào trang sử đấu tranh vũ trang của nhân dân ta những năm đầu thế kỷ XX.

B. TỪ “XIN XÂU, CHỐNG THUẾ” ĐẾN BẠO ĐỘNG VŨ TRANG
 CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN Ở NAM TRUNG BỘ (1908)


Sang đầu thế kỷ XX, trong khi các phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của nghĩa quân Yên Thế và các dân tộc thiểu số còn mang nặng tính nông dân hay phong kiến, thì những phong trào mới xuất hiện lại có xu hướng cải cách dân chủ tư sản.

Đó là phong trào Đông Du, do Phan Bội Châu đề xướng dẫn tới những hoạt động vũ trang hồi đầu thế kỷ và phong trào Duy Tân, do Phan Châu Trinh đề xướng dẫn tới cuộc đấu tranh “xin xâu, chống thuế’ mà phạm vi lan toả và ảnh hưởng của nó khá rộng lớn.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM